1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN: ĐẠI TỪ CHỈ ĐỊNH ĐÂY, NÀY, ĐẤY, ĐÓ, KIA, ẤY TRONG TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN: KẾT HỌC, NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC

26 375 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 79,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ học, từ loại luôn là vấn đề được nghiên cứu từ rất sớm. Khi ngữ pháp chức năng ra đời, ngôn ngữ học không chỉ đơn thuần được xem xét trên bình diện kết học mà còn được nghiên cứu trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học. Lúc này, vấn đề từ loại vẫn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Và từ loại cũng bắt đầu được soi chiếu bởi ánh sáng lí thuyết ba bình diện. 1.2. Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, đại từ tuy chiếm một số lượng ít nhưng lại có một vị trí quan trọng, tần số sử dụng rất cao; có vai trò cần thiết trong ngôn ngữ và giao tiếp. Nó chi phối rất nhiều đến hoạt động giao tiếp của con người. Nhóm đại chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy chỉ là một tiểu loại của đại từ tiếng Việt. Tuy nhiên, nó lại khá quan trọng, đa dạng và phức tạp trong cách phân loại và sử dụng. Có nhiều quan điểm khác nhau về nhóm từ này, bởi đây là nhóm từ đặc biệt. Nó phản ánh mối liên hệ định vị của sự vật trong thực tại. Khi người Việt nói Tôi thích cái áo kia có khác gì khi họ nói Tôi thích cái áo này? Cùng sự vật cái áo nhưng khi đi với kia và này, nó đã định vị sự vật trong thực tế ở những khoảng cách vị trí khác nhau so với người nói. 1.3. Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy cũng đã được một số nhà ngôn ngữ học đề cập đến. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện nhóm từ này trên ba bình diện của ngôn ngữ. Hầu hết các tác giả chỉ tìm hiểu đại từ chỉ định trên một khía cạnh, phương diện nào đó mà thôi. Lựa chọn đề tài luận văn “Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt nhìn từ lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học”, chúng tôi mong muốn sẽ góp phần vào việc nghiên cứu nhóm từ này một cách sâu sắc và toàn diện hơn trên quan điểm của ngữ pháp chức năng.Đây là một việc làm cần thiết và là một hướng đi mới mẻ và hứa hẹn những phát hiện bất ngờ, thú vị.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -NGUYỄN THỊ THU CHANG

ĐẠI TỪ CHỈ ĐỊNH ĐÂY, NÀY, ĐẤY, ĐÓ, KIA, ẤY TRONG TIẾNG VIỆT

NHÌN TỪ LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN: KẾT HỌC, NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -NGUYỄN THỊ THU CHANG

ĐẠI TỪ CHỈ ĐỊNH ĐÂY, NÀY, ĐẤY, ĐÓ, KIA, ẤY TRONG TIẾNG VIỆT

NHÌN TỪ LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN: KẾT HỌC, NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Mã số : 60 22 02 40

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kim Phượng

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ học, từ loại luôn là vấn đề được nghiên cứu từrất sớm Khi ngữ pháp chức năng ra đời, ngôn ngữ học không chỉ đơn thuần được xem xét trênbình diện kết học mà còn được nghiên cứu trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học.Lúc này, vấn đề từ loại vẫn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Và từ loại cũng bắt đầu được soichiếu bởi ánh sáng lí thuyết ba bình diện

1.2 Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, đại từ tuy chiếm một số lượng ít nhưng lại có một vịtrí quan trọng, tần số sử dụng rất cao; có vai trò cần thiết trong ngôn ngữ và giao tiếp Nó chi phối

rất nhiều đến hoạt động giao tiếp của con người Nhóm đại chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy chỉ là

một tiểu loại của đại từ tiếng Việt Tuy nhiên, nó lại khá quan trọng, đa dạng và phức tạp trongcách phân loại và sử dụng Có nhiều quan điểm khác nhau về nhóm từ này, bởi đây là nhóm từ đặc

biệt Nó phản ánh mối liên hệ định vị của sự vật trong thực tại Khi người Việt nói Tôi thích cái áo kia có khác gì khi họ nói Tôi thích cái áo này? Cùng sự vật cái áo nhưng khi đi với kia và này, nó

đã định vị sự vật trong thực tế ở những khoảng cách vị trí khác nhau so với người nói

1.3 Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy cũng đã được một số nhà ngôn ngữ học đề

cập đến Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện nhóm từnày trên ba bình diện của ngôn ngữ Hầu hết các tác giả chỉ tìm hiểu đại từ chỉ định trên một khía

cạnh, phương diện nào đó mà thôi Lựa chọn đề tài luận văn “Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt nhìn từ lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học”, chúng

tôi mong muốn sẽ góp phần vào việc nghiên cứu nhóm từ này một cách sâu sắc và toàn diện hơntrên quan điểm của ngữ pháp chức năng Đây là một việc làm cần thiết và là một hướng đi mới mẻ

và hứa hẹn những phát hiện bất ngờ, thú vị

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học

Trong luận văn này, trên cơ sở của lí thuyết ba bình diện, người viết chủ yếu đi sâu nghiên

cứu đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt ở phương diện từ loại Tuy nhiên, khi

đi vào hoạt động hành chức, các đại từ này lại không tồn tại độc lập, riêng lẻ mà gắn với câu – mộtđơn vị cơ bản của ngôn ngữ Bởi vậy, cần phải xem xét các từ loại này trong mối quan hệ với câuchứa chúng

Điều đáng lưu ý là việc nghiên cứu câu đã có có sự thay đổi lớn cùng với những thành tựuđáng ghi nhận Trước đây, ngôn ngữ nói chung và ngữ pháp nói riêng chịu sự chi phối rất lớn củangữ pháp học truyền thống nên câu chỉ được nghiên cứu ở mặt cấu trúc ngữ pháp, ở dạng tĩnh.Nghiên cứu câu chủ yếu thiên về mặt hình thức, không xem xét ở mặt đến nội dung, ý nghĩa màcâu biểu hiện và hoàn cảnh, mục đích sử dụng nó Tuy nhiên, ngữ pháp chức năng (Functional

Trang 4

Grammar) ra đời đã tạo ra một bước ngoặt lớn cho lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học Với lí thuyết

ba bình diện (ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng), ngữ pháp chức năng đã khắc phục được nhữnghạn chế của trường phái cấu trúc luận đồng thời khẳng định được mối quan hệ mật thiết và mangtính tất yếu của ba bình diện ngôn ngữ

Ở Việt Nam, trước những năm 90 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu câu còn mới chỉ lànhững bước đầu và cũng chịu ảnh hưởng lớn từ trường phái cấu trúc luận Các nhà ngữ pháptiêu biểu là Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đái Xuân Ninh, Diệp Quang Ban, Từ saunăm 1990 đến nay, đặc biệt là khoảng hơn mười năm trở lại đây, các nhà ngôn ngữ học ViệtNam đã nhanh chóng tiếp thu những thành tựu của ngữ pháp chức năng để vận dụng vào việcnghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung và câu nói riêng nhằm giúp ngôn ngữ học Việt Namtheo kịp các bước tiến của ngôn ngữ học thế giới Các lí thuyết của ngữ pháp chức năng đặcbiệt là lí thuyết ba bình diện đã được vận dụng vào việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt Cóthể nói ngữ pháp chức năng lúc này đã trở thành cơ sở lí luận cho các nhà Việt ngữ nghiên cứu

Người có công đưa ngữ pháp chức năng vào Việt Nam và ứng dụng nó vào việc nghiên cứu ngôn

ngữ là Cao Xuân Hạo với cuốn Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991) Đây là công trình ngữ pháp có ý

nghĩa to lớn trong việc đánh dấu sự ra đời của ngữ pháp chức năng ở Việt Nam Lần đầu tiên, các vấn đềcủa ngôn ngữ được tác giả tiếp cận, nghiên cứu dưới ánh sáng của lí thuyết này Và điều đó đã mang đếncho nền ngôn ngữ của chúng ta lúc bấy giờ một luồng gió mới, tạo ra một bước ngoặt mới cho việc nghiêncứu cú pháp tiếng Việt

Trong Đại cương ngôn ngữ học tập 1 (2003), tác giả Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán đã

chỉ ra rằng bắt nguồn từ lí thuyết kí hiệu học do Ch Morris khởi xướng mà ngôn ngữ học hiện đạixem xét, khảo sát câu ở ba bình diện khác nhau: bình diện nghĩa học (nghĩa của câu), bình diện kếthọc (bình diện cú pháp) và bình diện ngữ dụng Và tác giả cũng cho rằng đây là sự khác biệt lớn sovới quan điểm ngữ pháp truyền thống, vốn chỉ xem xét câu ở bình diện cú pháp Ngữ pháp hìnhthức truyền thống không coi bình diện nghĩa và bình diện sử dụng của câu là đối tượng nghiên cứucủa nó

Như vậy, có thể thấy rằng lí thuyết ba bình diện, thành tựu của ngữ pháp chức năng, đã vàđang ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của nó trong việc nghiên cứu các vấn đề ngônngữ Và chúng tôi cũng lấy lí thuyết ba bình diện để làm cơ sở lí luận tìm hiểu các vấn đề của luậnvăn

2.2 Lịch sử nghiên cứu đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy

Trước hết, đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy có mặt trong nhiều cuốn từ điển Chúng tôi đã khảo sát và nghiên cứu trên một số cuốn từ điển sau: Từ điển tiếng Việt (2013), Hoàng Phê; Đại từ điển tiếng Việt (2013), Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nguyễn Văn Khang, Vũ Quang Hào,

Trang 5

Phan Xuân Thành, Các tác giả đã chỉ ra ý nghĩa của các từ đây, này, đấy, đó, kia, ấy và cả vai trò

từ loại của chúng

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại (1980), tác giả Hữu Quỳnh đã nêu định nghĩa về

đại từ chỉ định và cũng phân đại từ chỉ định ra làm hai loại: đại từ chỉ định sự vật và đại từ chỉ định

không gian (vị trí) thời gian Đại từ chỉ định sự vật bao gồm: này, nọ, kia, ấy, đó Đại từ chỉ định không gian thời gian: đây, đấy, đó, kia, này, nay, giờ, bây giờ, bấy giờ Trong đó, đây, đấy, đó, kia

được xếp vào nhóm đại từ chỉ định không gian, số còn lại thuộc nhóm đại từ chỉ định thời gian.Như vậy, ở sự phân loại này, ranh giới giữa các đại từ chỉ định không rõ ràng, nhiều từ vừa thuộc

nhóm này lại vừa thuộc nhóm khác, ví dụ như từ này, đó, kia Từ này vừa là đại từ chỉ định sự vật vừa là đại từ chỉ định thời gian; từ đó, kia vừa là đại từ chỉ định sự vật vừa là đại từ chỉ định không

gian

Trong Ngữ pháp tiếng Việt (1983), Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, các tác giả gọi các

từ đây, này, đấy, đó, kia, ấy là đại từ không gian, thời gian và xếp chúng vào một nhóm nhỏ thuộc tiểu loại đại từ sự vật (đại từ dùng để trỏ sự vật) Đồng thời, các tác giả cũng cho rằng những

từ như: này, kia, ấy, đó, này là những từ có đặc điểm của một thứ phụ từ thường làm phụ tố chỉ

vị trí cho một chính tố là danh từ [40, 88].

Trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại (1996), Lê Biên xếp đại từ vào lớp từ loại trung gian

giữa thực từ và hư từ Tác giả chia đại từ ra làm 6 loại: Đại từ xưng hô, đại từ chỉ định, đại từ để

hỏi, đại từ chỉ khối lượng, tổng thể; đại từ phiếm chỉ và các đại từ thế, vậy Lê Biên dựa vào nghĩa, chia đại từ chỉ định làm hai tiểu loại: Đại từ xác định (đây, này, nay) và đại từ không xác định (ấy,

đó, nọ, kia, đấy ) Ông còn lưu ý cách sử dụng cặp đại từ chỉ định: đây đó, đi đây, đi đó, này nọ; trường hợp đấy, ấy, đây làm đại từ xưng hô; trường hợp đó, đấy, đây làm phương tiện liên kết các

đoạn văn trong văn bản

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt từ loại (2010), ở chương VI, khi nói về đại từ, Đinh Văn

Đức cũng đề cập tới các đại từ chỉ định Trước hết, ông cho rằng trong hệ thống từ loại, đại từkhông xếp vào thực từ hay hư từ mà nằm ở vị trí trung gian Tiếp đó, ông chỉ ra hai cách để phânloại đại từ Nếu coi đại từ là một từ loại với chức năng ngữ pháp chung là chỉ trỏ, thay thế thì nội

bộ đại từ sẽ được phân loại thành hai loại nhỏ: đại từ chỉ người và đại từ chỉ định Về đại từ chỉ

định, tác giả cho rằng những đại từ chỉ định đây, đấy, đó, kia được dùng khá cơ động về phương diện chức năng (thay thế, chỉ trỏ) Những từ này, kia, ấy là những từ phụ của danh từ, làm phần cuối của danh ngữ với tư cách là những định tố (mang ý nghĩa chỉ trỏ, xác định) Này và kia là hai

từ hạt nhân của nhóm chỉ định

Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học (2012), Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), đại từ được xếp vào nhóm thực từ Đây, này, đấy, đó, kia, ấy là những đại từ có khả năng thay thế cho nhiều

Trang 6

từ loại khác nhau và thay thế cho cả một câu, một chuỗi câu và chúng được gọi là đại từ chỉ định.Chúng thuộc cùng một tiểu loại của đại từ và chưa được đề cập nhiều.

Diệp Quang Ban gọi những đại từ này với cái tên “chỉ định từ” (ngoại chiếu – quy chiếu ngoàivăn bản) để phân biệt với đại từ (nội chiếu – quy chiếu trong văn bản) Ông phân chỉ định từ làm ba loại:

chỉ định từ không gian, chỉ định từ thời gian và chỉ định từ số lượng Các từ đây, này, đấy, đó, kia, ấy

thuộc loại chỉ định từ không gian Ba chỉ định từ đây, đó, đấy vốn là chỉ định từ không gian cũng được

dùng vào định vị thời gian [3, 527]

Trong Đại cương ngôn ngữ học – ngữ dụng học, tập hai, Đỗ Hữu Châu có nói đến các đại từ này trong phần chỉ xuất Từ này, kia, đây được người Việt dùng để định vị không gian, thời gian (trong phần chỉ xuất không gian, thời gian chủ quan) Riêng từ ấy được tác giả đề cập đến nhiều ở phần chỉ

xuất không gian, thời gian khách quan và phần chỉ xuất trong diễn ngôn (văn bản)

Bên cạnh các công trình ngữ pháp học, phong cách học, dụng học còn có một số luận văn

cũng đề cập đến những đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy như: Luận văn Nhóm từ chỉ vị trí trong tiếng Việt nhìn từ lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học của Phạm Thị Thu Hưng (2011), luận văn Đại từ nhân xưng tiếng Việt nhìn từ lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học (2013) của Nguyễn Thị Hải Trong những luận văn này, các tác giả đề cập đến

đại từ chỉ định trên những góc độ, phương diện khác nhau Ví dụ như những đại từ nhân xưng cónguồn gốc từ đại từ chỉ định, khả năng kết hợp của những từ chỉ vị trí với đại từ chỉ định Ngoài

ra, có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, các kỷ yếu tiêu biểu là bài viết của PGS.TS Trần Kim

Phượng đăng trên Kỷ yếu Hội thảo Ngữ học toàn quốc năm 2013 với nhan đề: Từ “ấy” trong tiếng Việt nhìn từ lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Trong bài viết, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu từ “ấy” trên lí thuyết ba bình diện và với tư cách là những từ loại khác nhau: đại từ,

trợ từ, thán từ, Từ đó, phân tích bản chất ngữ pháp và chức năng của nó khi đi vào hoạt độnghành chức

Trên đây là những công trình nghiên cứu về đại từ chỉ định mà chúng tôi đang tiến hànhkhảo sát, chúng tôi nhận thấy hầu hết các công trình chỉ mới đề cập đến một mặt riêng lẻ của nhómđại từ này, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện trên cả ba bình diện: kếthọc, nghĩa học và dụng học Dựa trên việc kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi

trước, chúng tôi tiến hành tìm hiểu sáu đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trên cả ba bình

diện: kết học, dụng học, nghĩa học

3 Ý nghĩa của luận văn

3.1 Về mặt lí luận

Tiến hành đề tài “Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt nhìn từ lí

thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học”, chúng tôi muốn có được những đóng góp

nhất định về phương diện lí luận vào việc nghiên cứu nhóm đại từ chỉ định này trên ba bình diện

Trang 7

3.2 Về mặt thực tiễn

Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng những đại từ chỉ định mà chúng tôi chọn để tìm hiểu cótần xuất sử dụng vô cùng lớn trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho việc dạy vàhọc tiếng Việt trong nhà trường thuận lợi hơn Người dạy và người học có thể hiểu rõ hơn về mộtnhóm từ loại khá phức tạp để từ đó hiểu và sử dụng đúng hoàn cảnh, mục đích giao tiếp Đồng thời,chúng tôi cũng mong muốn luận văn sẽ góp phần nào đó vào việc dạy tiếng Việt cho người nướcngoài vì đối với người nước ngoài, việc học đại từ chỉ định tiếng Việt là một vấn đề khó Kết quảluận văn cũng có thể là cơ sở để giúp cho việc so sánh đối chiếu nhóm từ này với nhóm từ kháctrong tiếng Việt; cho thấy nét độc đáo trong sự tri nhận không gian, thời gian của người Việt

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện luận văn này, chúng tôi nhằm mục đích đưa ra cái nhìn toàn diện và hệ thống về nhómđại từ chỉ định trên quan điểm của ngữ pháp chức năng

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích nêu trên, chúng tôi đề ra những nhiệm vụ sau:

- Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài: lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ học theo

quan điểm của ngữ pháp chức năng, các vấn đề về từ loại tiếng Việt

- Khảo sát các đại từ chỉ định xuất hiện trong các văn bản tiếng Việt và trong hội thoại

của người Việt Sau đó tiến hành thống kê, phân loại

- Miêu tả và phân tích các đại từ chỉ định trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng

học

5 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và tư liệu khảo sát

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là 6 đại từ chỉ định: đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong

tiếng Việt

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn chỉ nghiên cứu đại từ chỉ định, không nghiên cứu các nhóm đại từ khác như

đại từ nhân xưng, đại từ chỉ tổng lượng

- Chúng tôi chỉ nghiên cứu 6 đại từ chỉ định: đây, này, đấy, đó, kia, ấy mà không nghiên

cứu các các đại từ chỉ định khác (ví dụ như: nọ, nay, nãy ) Sở dĩ như vậy là bởi vì theo chúng tôi

đây là những đại từ chỉ định tiêu biểu và có tần số sử dụng cao, phổ biến Hơn nữa, chúng mangnhững đặc trưng cơ bản của nhóm đại từ chỉ định

5.3 Tư liệu khảo sát

Để giải quyết những vấn đề mà đề tài luận văn đặt ra, chúng tôi đã tiến hành khảo sátnhững đại từ chỉ định này trên những tư liệu sau:

Trang 8

- Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (2012), NXB Văn học Hà Nội

- Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (2005), NXB Hội nhà văn

- Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam (2012), NXB Văn học Hà Nội

Ngoài ra, chúng tôi còn lấy một số câu nói trong giao tiếp đời thường, lời bài hát để làm tưkhảo sát

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi lựa chọn một số phương pháp và thủ pháp sau:

- Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ: Luận văn sử dụng phương pháp này để làm

rõ những đặc trưng của đối tượng

- Phương pháp phân tích từ loại: Vì đối tượng mà chúng tôi tiến hành khảo sát thuộc lớp

từ loại khác đặc biệt cho nên trong luận văn, cụ thể trong chương 2, chúng tôi đã sử dụng phươngpháp này để tiến hành xác định bản chất từ loại cho từng từ một cách rõ ràng trong từng trường hợp

cụ thể

- Thủ pháp thống kê, phân loại: Trong luận văn, chúng tôi sử dụng phương pháp này để

thống kê các trường hợp xuất hiện của đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tư liệu khảo

sát Sau đó, tiến hành tập hợp, phân loại và đưa ra những con số thống kê theo những tiêu chí nhấtđịnh Đây sẽ là cơ sở để chúng tôi rút ra những kết luận quan trọng cho luận văn

- Thủ pháp phân tích vị từ - tham thể: Phương pháp này được chúng tôi sử dụng ở

chương 2, khi chúng tôi nghiên cứu 6 đại từ này trên bình diện nghĩa học Mục đích để phân tíchvai trò của đại từ chỉ định trong cấu trúc vị tố - tham thể (cấu trúc nghĩa miêu tả)

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó, phầnnội dung chính là phần trọng tâm của luận văn và được chia làm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận

- Chương 2: Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt trên bình diện kết

Trang 9

1.1 Lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học

1.1.1 Bình diện kết học

Kết học (syntactics) theo Ch Morris đó là lĩnh vực nghiên cứu kí hiệu trong các mối quan hệkết hợp với các kí hiệu khác Nói cách khác, kết học là lĩnh vực của các quy tắc kết hợp tín hiệu thànhmột thông điệp Có thể nói đây là bình diện của các mối quan hệ ngữ pháp giữa các đơn vị ngữ pháp

và các kiểu cấu tạo ngữ pháp trong câu Riêng về việc nghiên cứu các thành phần ngữ pháp của câuchính là xem xét cấu tạo, đặc điểm hình thức, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp của các thành phầnngữ pháp và quan hệ giữa các thành phần đó trong câu

1.1.2 Bình diện nghĩa học

Bình diện nghĩa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa tín hiệu và cái được biểu đạt Trongngôn ngữ học, các biểu thức ngôn ngữ luôn có mối quan hệ mật thiết với cái mà biểu thức này miêu

tả Đó chính là mối quan hệ về ngữ nghĩa

Bình diện nghĩa của câu quan tâm nghiên cứu hai thành phần cơ bản là nghĩa biểu hiện(nghĩa miêu tả, nghĩa sự vật) và nghĩa tình thái

1.1.3 Bình diện dụng học

Đây là bình diện nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm đạt được mộtmục đích nhất định nào đó Nó không nghiên cứu các đơn vị ngôn ngữ tồn tại ở trạng thái tĩnh(trong hệ thống) mà nghiên cứu các đơn vị ngôn ngữ ở trạng thái động (trong sử dụng)

Ngữ dụng học quan tâm đến các vấn đề như sau: chiếu vật, hành động ngôn ngữ, các thànhphần nghĩa ngữ dụng của câu (nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn), lí thuyết lập luận, lí thuyết hộithoại, cấu trúc thông tin

Tóm lại, ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học tuy là ba lĩnh vực khác nhau nhưng chúngkhông tồn tại độc lâp, tách biệt nhau mà lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời Hìnhthức của câu biểu thị nội dung nghĩa của câu nhưng để hiểu được đúng nghĩa của câu cần đặt nó trong ngữcảnh Bởi vậy, cần xem xét câu trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học

1.2 Từ loại và sự phân định từ loại tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm về từ loại

Khi đưa ra khái niệm từ loại, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh đến bản chất,

đặc trưng ngữ pháp của từ loại Và chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng từ loại là kết quả phânđịnh các từ theo bình diện ngữ pháp Nó là những lớp từ được phân chia theo những đặc điểm ngữpháp giống nhau Những từ có đặc điểm ngữ pháp giống nhau được quy vào một loại từ

1.2.2 Sự phân định từ loại

1.2.2.1 Mục đích của sự phân định từ loại

Trang 10

Mục đích của việc phân định từ loại là thiết lập một danh sách các từ loại của một ngôn ngữ cụ

thể Đặc biệt, mục đích chủ yếu đó chính là nhằm phát hiện bản chất ngữ pháp, tính quy tắc trong hoạt động ngữ pháp và sự hành chức của các lớp từ loại trong quá trình thực hiện những chức năng cơ bản của ngôn ngữ: làm công cụ giao tiếp, để tư duy trừu tượng Từ đó có thể sử dụng các lớp từ cho đúng quy tắc, hợp với phong cách và chuẩn của tiếng Việt hiện đại [4, 9]

1.2.2.2 Tiêu chuẩn phân định từ loại tiếng Việt

Việc phân định từ loại dựa trên ba tiêu chuẩn cơ bản sau:

- Thứ nhất là tiêu chuẩn về ý nghĩa khái quát (ý nghĩa phạm trù chung)

- Thứ hai là tiêu chuẩn về khả năng kết hợp

- Thứ ba là tiêu chuẩn về chức vụ cú pháp

1.2.2.3 Hệ thống từ loại tiếng Việt

Có thể mô hình hóa hệ thống từ loại trong tiếng Việt như sau:

Thực từ Trung gian Hư từ

Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, đại từ có một vị trí đặc biệt Nó nằm ở nhóm trung giangiữa thực từ và hư từ Có thể thấy rằng đại từ là từ loại vừa giống hư từ lại vừa giống thực từ Nórất gần với thực từ nhưng lại không phải là đại từ đích thực vì nó chiếm số lượng hữu hạn như hư

từ, không mang tính định danh, thường không làm thành tố trung tâm mà chỉ làm thành tố phụ củađoản ngữ Vì thế, không thể xếp đại từ vào nhóm thực từ Nhưng cũng không thể xếp nó vàonhóm hư từ được vì đại từ có thể đảm nhiệm rất nhiều các chức vụ cú pháp khác nhau trong câu,trong khi hư từ thì không thể Như vậy, trong hệ thống từ loại tiếng Việt, đại từ có vị trí trung giangiữa đại từ và hư từ

1.3 Khái quát về đại từ tiếng Việt

1.3.1 Khái niệm đại từ

Trong luận văn này, dựa vào chức năng của đại từ, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng

đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Chính chức năng trỏ và thay thế đã làm nên đặc trưng riêng

cho từ loại đại từ tiếng Việt, giúp phân biệt với các từ loại khác Tuy nhiên, vai trò của chức năng “thay

Từ loại tiếng Việt

Phụ từ

Đại từ

Số từ

Tính từ Động từ

Trang 11

thế”, “chỉ trỏ” cụ thể như thế nào, chức năng nào nổi trội hơn chức năng nào, thì còn tùy thuộc vào từngtiểu loại của nó.

1.3.2 Phân loại đại từ

Việc phân loại đại từ tiếng Việt chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ.Với quan điểm của mình, họ đưa ra những cách phân loại đại từ khác nhau

- Nguyễn Lân chia đại từ làm bốn nhóm: đại từ chỉ tên, đại từ để trỏ, đại từ để hỏi và đại từ dùng

để nói trống

- Nguyễn Kim Thản chia đại từ thành hai loại lớn: đại thể từ và đại vị từ Trong đó, đại thể từbao gồm: đại từ nhân xưng, đại từ phản thân, đại từ tương hỗ, đại từ phiếm chỉ, đại từ chỉ số

lượng và thời gian, đại từ chỉ định Đại vị từ gồm đại từ thế và vậy.

- Lê Biên phân loại đại từ thành các tiểu loại sau: đại từ xưng hô, đại từ chỉ định, đại từ để hỏi;

đại từ chỉ khối lượng, tổng thể và đại từ phiếm chỉ

- Nguyễn Hữu Quỳnh dựa vào ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp, chia đại từ tiếng Việt thành 6 nhóm nhỏ: đại từ xưng hô, đại từ chỉ định sự vật, đại từ chỉ định không gian (vị trí) thời gian, đại từ chỉ trạng thái, đại từ chỉ số lượng, đại từ để hỏi

- Hoàng Văn Thung chia đại từ thành hai loại lớn là đại từ xưng hô và đại từ chỉ định

- Diệp Quang Ban chia đại từ thành 4 loại:Nhân xưng từ, chỉ định từ, đại từ nội chiếu, đại từ nghi vấn và đại từ phiếm chỉ

Chúng tôi cho rằng đại từ tiếng Việt có thể chia làm sáu loại (nhóm) chủ yếu sau:

- Đại từ nhân xưng

Như vậy, đại từ chỉ định không phải là một từ loại riêng biệt mà là một tiểu loại của đại từ Nhóm

đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy sẽ được chúng tôi xem xét cụ thể ở các chương tiếp theo của luận

văn

Tiểu kết chương 1

Trên đây, chúng tôi đã hệ thống lại toàn bộ cơ sở lí thuyết có liên quan đến luận văn Đó là

lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ học, vấn đề từ loại và sự phân định từ loại, khái niệm đại từ

và sự phân loại đại từ tiếng Việt

Thứ nhất là những vấn đề về lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Líthuyết này sẽ soi sáng cho các vấn đề của luận văn

Trang 12

Thứ hai, dựa trên ba tiêu chuẩn cơ bản (ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ cúpháp), chúng tôi phân chia từ loại trong tiếng Việt ra làm ba nhóm: thực từ, hư từ và trung gian.Trong đó, đại từ được xếp vào nhóm trung gian bởi nó có những đặc điểm vừa giống thực từ vừagiống hư từ.

Thứ ba, trong chương một của luận văn, chúng tôi cũng làm rõ khái niệm đại từ và sự phân

loại đại từ tiếng Việt Đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Định nghĩa này được chúng tôi đưa ra dựa trên chức năng chính là thay thế và chỉ trỏ của đại từ Về sự phân loại đại từ, đại từ có

sự phân loại khá đa dạng Chúng tôi chia đại từ thành sáu nhóm chủ yếu: Đại từ nhân xưng, đại từthay thế, đại từ chỉ định, đại từ nghi vấn, đại từ phiếm chỉ và đại từ tổng lượng Từ đó, chúng tôi điđến khẳng đại từ chỉ định là một tiểu loại của đại từ tiếng Việt

Những nội dung được trình bày ở chương này sẽ là cơ sở, là tiền đề quan trọng để chúng

tôi tìm hiểu về đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và

dụng học ở chương 2 và chương 3

Trang 13

Chương 2

ĐẠI TỪ CHỈ ĐỊNH ĐÂY, NÀY, ĐẤY, ĐÓ, KIA, ẤY TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN BÌNH

DIỆN KẾT HỌC VÀ NGHĨA HỌC

2.1 Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trên bình diện kết học

2.1.1 Bản chất từ loại của các từ đây, này, đấy, đó, kia, ấy

+ Này là trợ từ biểu thị ý nhấn mạnh tính cụ thể và xác định của những sự vật, sự việc, tính

chất nào đó đang được liệt kê ra

+ Dùng này với tư cách là thán từ.

- Từ đấy/đó:

Vì đấy và đó khá giống nhau về vai trò từ loại nên chúng tôi không tách chúng ra Đôi khi,

trong nhiều trường hợp, chúng còn có thể thay thế cho nhau

+ Đấy/đó dùng như một đại từ nhân xưng lâm thời ngôi thứ 2, số ít

+ Đấy/đó còn dùng như một trợ từ thường đặt ở cuối câu.

Phổ biến hơn, ấy thường kết hợp với các đại từ xưng hô tạo nên một lớp từ xưng hô ngôi

thứ ba: ông ấy, lão ấy, anh ấy, bà ấy, cô ấy, mụ ấy

+ Ấy là một thán từ (Hoàng Trọng Phiến gọi là ngữ khí từ) Nó dùng ở đầu câu, để gợi sự chú

ý, hoặc tỏ ý ngăn cản, không bằng lòng hoặc khẳng định

+ Ấy là trợ từ dùng để đưa đẩy, nhấn mạnh (tương tự í )

Ngày đăng: 01/06/2017, 15:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng : Các chức vụ cú pháp của đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt - TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN: ĐẠI TỪ CHỈ ĐỊNH ĐÂY, NÀY, ĐẤY, ĐÓ, KIA, ẤY TRONG TIẾNG VIỆT  NHÌN TỪ LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN: KẾT HỌC, NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC
ng Các chức vụ cú pháp của đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w