1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tóm tắt luận văn: Chế độ tài sản vợ chồng pháp định theo Luật HNGĐ Việt Nam năm 2014

27 421 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 47,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tài sản có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của mỗi gia đình. Bởi lẽ, trong cuộc sống chung, vợ và chồng phải thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình. Những quan hệ này được pháp luật HNGĐ của mỗi nước điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, truyền thống, đạo đức, tập quán của quốc gia đó. Mặt khác, tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên vợ, chồng, mà còn liên quan đến người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại. Chính vì thế mà vấn đề này lúc nào cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, phổ biến nhất là sau khi vợ chồng ly hôn. Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấp của vợ chồng có liên quan đến tài sản. Theo đó, chế độ tài sản của vợ chồng đã trở thành một trong những nội dung quan trọng mà Luật HNGĐ cần xây dựng, hoàn thiện. Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm tổng hợp các quy định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản vợ chồng. Giữa các nước khác nhau thường có những quy định khác biệt về tài sản của vợ chồng, tuy nhiên, về cơ bản chế độ tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định). Luật HNGĐ năm 2014 đã quy định cụ thể về chế độ tài sản của vợ chồng. Đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định về chế độ tài sản vợ chồng pháp định trên cơ sở Luật HNGĐ năm 2000. Việc phân tích những vấn đề lý luận và nội dung của chế độ tài sản vợ chồng pháp định trong Luật HNGĐ năm 2014 là một vấn đề mang tính khách quan và cấp thiết hiện nay nhằm hiểu rõ hơn quy định pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng pháp định, không ngừng hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng nói riêng và hoàn thiện pháp luật HNGĐ Việt Nam nói chung. Qua đó góp phần xây dựng và phát triển gia đình hạnh phúc, bền vững. Do vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Chế độ tài sản vợ chồng pháp định theo Luật HNGĐ Việt Nam năm 2014” làm đề tài cho luận văn Thạc sỹ của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu tổng quát Mục tiêu tổng quát của Luận văn là nghiên cứu khái niệm, đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng pháp định; chế độ tài sản vợ chồng pháp định trong pháp luật Việt Nam và trong pháp luật ở một số nước; phân tích những quy định cụ thể chế độ tài sản vợ chồng pháp định trong pháp luật hiện hành, nhận thức rõ nội dung, ý nghĩa của những quy định đó; tìm hiểu thực tiễn xét xử liên quan đến chế độ tài sản vợ chồng để thấy được những tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong quá trình áp dụng, qua đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng, góp phần xây dựng hành lang pháp lý để phát triển gia đình hạnh phúc, ổn định, bền vững.

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tài sản có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của mỗigia đình Bởi lẽ, trong cuộc sống chung, vợ và chồng phải thực hiện nhữngquan hệ về tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình.Những quan hệ này được pháp luật HN&GĐ của mỗi nước điều chỉnh phùhợp với điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống, đạo đức, tập quán của quốcgia đó

Mặt khác, tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của haibên vợ, chồng, mà còn liên quan đến người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồngtham gia vào hoạt động giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại Chính vìthế mà vấn đề này lúc nào cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, phổ biến nhất làsau khi vợ chồng ly hôn Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấpcủa vợ chồng có liên quan đến tài sản

Theo đó, chế độ tài sản của vợ chồng đã trở thành một trong những nộidung quan trọng mà Luật HN&GĐ cần xây dựng, hoàn thiện Chế độ tài sảncủa vợ chồng bao gồm tổng hợp các quy định của pháp luật về căn cứ xác lậptài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng,nguyên tắc phân chia tài sản vợ chồng Giữa các nước khác nhau thường cónhững quy định khác biệt về tài sản của vợ chồng, tuy nhiên, về cơ bản chế độtài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thoả thuận bằngvăn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các quy định của phápluật (chế độ tài sản pháp định)

Trang 2

Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định cụ thể về chế độ tài sản của vợchồng Đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định về chế độ tài sản vợchồng pháp định trên cơ sở Luật HN&GĐ năm 2000.

Việc phân tích những vấn đề lý luận và nội dung của chế độ tài sản vợchồng pháp định trong Luật HN&GĐ năm 2014 là một vấn đề mang tínhkhách quan và cấp thiết hiện nay nhằm hiểu rõ hơn quy định pháp luật về chế

độ tài sản vợ chồng pháp định, không ngừng hoàn thiện pháp luật về chế độtài sản của vợ chồng nói riêng và hoàn thiện pháp luật HN&GĐ Việt Nam nóichung Qua đó góp phần xây dựng và phát triển gia đình hạnh phúc, bềnvững

Do vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Chế độ tài sản vợ chồng pháp định

theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014” làm đề tài cho luận văn Thạc sỹ của

xử liên quan đến chế độ tài sản vợ chồng để thấy được những tồn tại, hạn chế,vướng mắc trong quá trình áp dụng, qua đó, đề xuất một số kiến nghị hoànthiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng, góp phần xây dựng hành lang pháp

lý để phát triển gia đình hạnh phúc, ổn định, bền vững

2.2 Mục tiêu cụ thể

Trang 3

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát nêu trên, Luận văn thực hiện những mụctiêu cụ thể như sau:

- Nghiên cứu những vẫn đề lý luận về chế độ tài sản vợ chồng phápđịnh Cụ thể là đưa ra một số khái niệm khoa học trong nội hàm chế độ tài sản

vợ chồng pháp định; các đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng pháp định đốivới sự tồn tại và phát triển của gia đình và xã hội

- Tìm hiểu một cách có hệ thống về lịch sử phát triển của chế độ tài sản

vợ chồng pháp định trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và trong phápluật ở một số nước trên thế giới

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản vợchồng pháp định Để thực hiện được nhiệm vụ này, Luận văn đi sâu vào phântích nội dung các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng pháp định theoLuật HN&GĐ năm 2014; tìm hiểu mục đích, cơ sở của việc quy định các điềuluật này; đồng thời, phân tích tính kế thừa, phát triển và những điểm mới củachế độ tài sản của vợ chồng pháp định trong Luật HN&GĐ năm 2014

- Tìm hiểu thực tiễn xét xử liên quan đến chế độ tài sản vợ chồng phápđịnh, chỉ ra những điểm tồn tại, hạn chế của những quy định này Qua đó, đềxuất những kiến nghị hoàn thiện chế độ tài sản vợ chồng pháp định

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

3.1 Tính mới của đề tài

Trong khoa học pháp lý ở nước ta, từ trước đến nay, ngoài những vănbản hướng dẫn áp dụng Luật HN&GĐ, đã có những công trình, bài viếtnghiên cứu, đề xuất kiến nghị một số vấn đề liên quan đến chế độ tài sản của

vợ chồng Trước hết là các giáo trình giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạoluật học, như giáo trình Luật dân sự Việt Nam, giáo trình Luật HN&GĐ Việt

Trang 4

Nam… đã đề cập đến chế độ tài sản vợ chồng một cách cơ bản, phổ thông vàkhái quát nhất

Việc nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng cũng đã được nhiều tácgiả đề cập đến trong một số cuốn sách hoặc luận văn cao học luật Ví dụ:Sách chuyên khảo của tác giả Nguyễn Văn Cừ về “Chế độ tài sản của vợchồng theo pháp luật HN&GĐ Việt Nam” được Nhà xuất bản Tư pháp xuấtbản năm 2008; Luận văn thạc sỹ năm 2002 của tác giả Nguyễn Hồng Hải về

“Xác định tài sản của vợ chồng, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; Bài viếtcủa tác giả Bùi Minh Hồng về “Chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồngtrong pháp luật cộng hoà Pháp và pháp luật Việt Nam” đăng trên Tạp chí Luậthọc số 11 năm 2009; Bài viết của tác giả Đoàn Thị Phương Diệp về “Chế độtài sản giữa vợ chồng trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân vàgia đình” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 08 năm 2014; Hoặc một

số bài viết về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt nam khác trêncác Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nhà nước và phápluật… Các cuốn sách, luận văn, bài viết nêu trên đều nghiên cứu chế độ tàisản của vợ chồng dựa trên Luật HN&GĐ Việt Nam và các văn bản hướng dẫnthi hành, cho đến trước ngày Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành(01/01/2015)

Vừa qua, có một số luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu chế độ tài sản vợchồng theo Luật HN&GĐ năm 2014 như: Luận văn thạc sỹ năm 2014 của tácgiả Nguyễn Thị Kim Dung về "Chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận trongpháp luật Việt Nam"; Luận văn thạc sỹ năm 2015 của tác giả Nguyễn Thị ThuThủy về “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo Luật Hôn nhân vàgia đình Việt Nam năm 2014” Song các luận văn này chỉ nghiên cứuchuyên sâu về chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận

Trang 5

Theo đó, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về chế độ tài sản

vợ chồng pháp định theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 Luận văn làcông trình khoa học đầu tiên nghiên cứu riêng và chuyên sâu về chế độ tài sản

vợ chồng pháp định theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 một cách toàndiện, đầy đủ trong hệ thống khoa học pháp lý Việt Nam

- Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển chế độ tài sản vợ chồng phápđịnh trong pháp luật của Việt Nam và của một số nước trên thế giới, so sánhchế độ tài sản vợ chồng pháp định giữa các nước để thấy được sự tương đồng

và sự khác biệt mang tính dân tộc

- Phân tích nội dung Chế độ tài sản vợ chồng pháp định theo LuậtHN&GĐ Việt Nam năm 2014 để hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của chế độ tài sản

vợ chồng pháp định; đồng thời, phân tích tính kế thừa, phát triển và nhữngđiểm mới quy định về chế độ tài sản vợ chồng pháp định theo Luật HN&GĐViệt Nam năm 2014

- Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn xét xử liên quan đến chế độ tài sản vợchồng pháp định, Luận văn chỉ ra những điểm tồn tại, hạn chế của những quyđịnh này, đồng thời, đề xuất những kiến nghị hoàn thiện chế độ tài sản vợchồng pháp định, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật HN&GĐ

Trang 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả sẽ phân tích, đánh giánhững vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng chế

độ tài sản vợ chồng pháp định với ý nghĩa là quan hệ sở hữu tài sản giữa vợchồng

Luận văn không nghiên cứu về quan hệ cấp dưỡng và quyền thừa kế tàisản của nhau giữa vợ chồng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi những quy định của pháp luậtViệt Nam về chế độ tài sản vợ chồng; một số nội dung cơ bản của chế độ tàisản vợ chồng trong BLDS Pháp, Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, Luậthôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; thực tiễn áp dụng các quy địnhpháp luật hiện hành về chế độ tài sản vợ chồng

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn đã vận dụng một số phương phápnhư: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử để thấyđược sự phù hợp của các quy định pháp luật đối với xã hội, giữa chúng cómối quan hệ biện chứng lẫn nhau, hay nói cách khác pháp luật là tấm gươngphản chiếu xã hội, còn xã hội là cơ sở thực tiễn của pháp luật

Đồng thời, luận văn cũng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và pháttriển gia đình

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu,phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp vàmột số phương pháp khác Trong đó, phương pháp chính là tổng hợp và phân

Trang 7

tích Cụ thể là tổng hợp và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật,những thông tin thu được trong quá trình nghiên cứu đề tài Sau đó, phân tích

và đưa ra đánh giá về từng vấn đề Cuối cùng rút ra kết luận chung về vấn đề

đã nghiên cứu

6 Kết cấu Luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungLuận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về chế độ tài sản vợ chồng pháp định

Chương 2: Nội dung quy định chế độ tài sản vợ chồng pháp định trongLuật HN&GĐ Việt Nam năm 2014

Chương 3: Thực tiễn xét xử liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng

và một số kiến nghị

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG PHÁP ĐỊNH

1.1 KHÁI NIỆM CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG

Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật hoặcthỏa thuận của vợ chồng về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, gồm: căn cứxác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sảnriêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng

1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG PHÁP ĐỊNH

1.2.1 Khái niệm

Chế độ tài sản vợ chồng pháp định là chế độ tài sản vợ chồng do pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ xác định các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từng loại tài sản đó trong mối quan hệ giữa hai vợ, chồng và trong quan hệ với

Trang 8

người thứ ba; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản nợ chung hay riêng của vợ chồng

1.2.2 Đặc điểm

Xuất phát từ tính chất được pháp luật dự liệu từ trước, chế độ tài sản vợchồng pháp định có những đặc điểm riêng biệt so với chế độ tài sản ước định,như sau:

Thứ nhất, về cơ sở pháp lý, chế độ tài sản pháp định được quy định

trong pháp luật hôn nhân và gia đình, trong đó, quy định cụ thể căn cứ xáclập, chấm dứt, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản, nguyên tắcphân chia tài sản

Thứ hai, hình thức sở hữu trong chế độ tài sản của vợ chồng, trong chế

độ tài sản của vợ chồng pháp định chỉ có duy nhất một hình thức sở hữu đốivới tài sản chung là sở hữu chung hợp nhất

Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong chế độ tài sản của

vợ chồng pháp định Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, vợ, chồng có

quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) đối với sảnriêng (nếu có); nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung Tuynhiên, quyền sở hữu đối với tài sản riêng bị hạn chế trong một số trường hợp

cụ thể Trong khi đó, chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận, quyền sở hữuđối với tài sản riêng của vợ, chồng không bị hạn chế trong những trường hợpnêu trên, vợ chồng có thể tự do thỏa thuận về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồngđối với từng loại tài sản

1.2.3 Ý nghĩa

Chế độ tài sản vợ chồng pháp định phản ánh trung thực và chính xáctrình độ phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội và ý chí của Nhà nước

Trang 9

Chế độ tài sản vợ chồng pháp định quy định cụ thể căn cứ xác định tàisản chung, tài sản riêng của vợ, chồng Pháp luật hôn nhân và gia đình đã dựliệu trước các căn cứ xác lập, nguồn gốc, thành phần tài sản chung, tài sảnriêng của vợ, chồng.

Chế độ tài sản vợ chồng pháp định có ý nghĩa xác định quyền, nghĩa vụcủa vợ, chồng với nhau và với người thứ ba

Chế độ tài sản vợ chồng pháp định còn là cơ sở pháp lý để giải quyếttranh chấp trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng hoặc với người thứ ba thamgia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng, nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của vợ, chồng hoặc người thứ ba

Ngoài ra, chế độ tài sản vợ chồng pháp định còn là những quy địnhmang tính định hướng cho các cặp vợ chồng lựa chọn thỏa thuận chế độ tàisản phù hợp quy định của pháp luật, đảm bảo thỏa thuận chế độ tài sản vợchồng không bị vô hiệu do vi phạm quy định pháp luật

1.3 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG PHÁP ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.3.1 Chế độ tài sản vợ chồng pháp định trong cổ luật Việt Nam

Vấn đề tài sản của vợ chồng mặc dù đã được quy định, nhưng không rõràng, hệ thống cổ luật không có chế định riêng rẽ và cụ thể về chế độ tài sản

vợ chồng Điều này được thể hiện trong hai Bộ luật lớn nhất của hệ thống cổluật Việt Nam (Quốc triều hình luật được ban hành dưới triều Lê trongkhoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1479), Hoàng Việt luật lệ được ban hànhdưới triều Nguyễn vào năm 1812) và những tục lệ cổ

1.3.2 Chế độ tài sản vợ chồng pháp định trong thời kỳ Pháp thuộc

Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp áp dụng chính sách “chia để

trị” chia nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) Vì thế, đối với

Trang 10

mỗi miền, thực dân Pháp ban hành và áp dụng các bộ luật riêng để điều chỉnhcác quan hệ trong xã hội, trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình: Ở Bắc

Kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1931 (Dân luật Bắc Kỳ); ở Trung Kỳ ápdụng Bộ luật Dân sự năm 1936 (Dân luật Trung Kỳ); ở Nam Kỳ áp dụng tậpDân luật giản yếu năm 1883 (Dân luật giản yếu)

1.4.3 Chế độ tài sản vợ chồng pháp định ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 (chế độ ngụy quyền Sài Gòn)

Hoàn cảnh lịch sử trong giai đoạn này là thời kỳ quá độ xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc và chế độ ngụy quyền Sài Gòn ở miền Nam Theo

đó, quan hệ hôn nhân và gia đình ở miền Nam nước ta được điều chỉnh bởi bavăn bản pháp luật, gồm: Luật gia đình ngày 02/01/1959 được ban hành dướichế độ Ngô Đình Diệm; Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 được ban hànhdưới chế độ Nguyễn Khánh; Bộ luật Dân sự ngày 20/12/1972 được ban hànhdưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu

1.4.4 Chế độ tài sản vợ chồng pháp định trong pháp luật hôn nhân

và gia đình giai đoạn từ năm 1945 đến nay

Trong hệ thống pháp luật của nước ta từ năm 1945 đến nay, những vănbản đầu tiên điều chỉnh về quan hệ hôn nhân và gia đình là Sắc lệnh số 97/SLngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950, sau đó đến Luật Hônnhân và gia đình năm 1959 Những văn bản này quy định về chế độ tài sản vợchồng pháp định còn quá cô đọng, khái quát, chưa dự liệu được hết cáctrường hợp, nguyên tắc Ngày 29/12/1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm

1986 ra đời, gồm 10 chương, 57 điều Bên cạnh Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1986, chế độ tài sản vợ chồng pháp định còn được hướng dẫn bởi Nghịquyết số 01-NQ/HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng một số quy định của Hônnhân và gia đình năm 1986 Chế động cộng đồng toàn sản ở Luật Hôn nhân

Trang 11

và gia đình năm 1959 được thay thế bằng chế độ cộng đồng tạo sản và chế độtài sản của vợ chồng pháp định đã được quy định rõ nét hơn, cụ thể hơn,nhưng vẫn mang tính khái quát, định khung, khi áp dụng vào thực tế còn nảysinh nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa dự liệu được hết các trường hợp đểgiải quyết tranh chấp phát sinh giữa vợ, chồng Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 ra đời vào ngày 08/6/2000, gồm 13 chương 110 điều, là hệ thốngcác quy định về chế độ hôn nhân và gia đình trên cơ sở pháp lý là Hiến phápnăm 1992 Nhìn chung, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 kế thừa toàn bộnội dung chế độ tài sản vợ chồng pháp định của Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1986, đồng thời bổ sung những quy định mới nhằm giải quyết những khókhăn vướng mắc còn tồn tại mà Luật Hôn nhân và gia đình chưa giải quyếtđược Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày19/6/2014, gồm 9 chương, 133 điều Trong đó, chế độ tài sản vợ chồng phápđịnh được quy định tại các điều từ Điều 29 đến Điều 46 và từ Điều 59 đếnĐiều 64 Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chế độ tài sản vợ chồngpháp định có những điểm mới nổi bật trong quy định thành phần khối tài sảnchung của vợ chồng; quy định về đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung;quy định về việc định đoạt tài sản chung; quy định về nghĩa vụ chung về tàisản của vợ chồng; quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; quyđịnh về tài sản riêng và nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng, cũng nhưnghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung…

1.5 CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG PHÁP ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC.

Trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán,truyền thống văn hóa, các quốc gia quy định chế độ tài sản vợ chồng phù hợp.Sau đây, xin được điểm qua một số nội dung cơ bản của chế độ tài sản vợchồng pháp định trong pháp luật HN&GĐ của một số nước:

Trang 12

2 Chế độ tài sản vợ chồng pháp định là chế độ tài sản của vợ chồng dopháp luật dự liệu trước về căn cứ xác định các loại tài sản chung và tài sảnriêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từngloại tài sản đó trong mối quan hệ giữa hai vợ, chồng và trong quan hệ vớingười thứ ba; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ

chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản nợ chung hay riêng

của vợ chồng

3 Chế độ tài sản vợ chồng pháp định phản ánh trung thực và chính xáctrình độ phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội và ý chí của Nhà nước;quy định cụ thể căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;xác định quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng với nhau và với người thứ ba; tạo cơ

sở pháp lý để giải quyết tranh chấp trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồnghoặc với người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng;

là những quy định mang tính định hướng cho các cặp vợ chồng lựa chọn thỏathuận chế độ tài sản phù hợp quy định của pháp luật

4 Hệ thống pháp luật HN&GĐ nói chung và chế độ tài sản vợ chồngnói riêng ở nước ta đã trải qua nhiều thời kỳ, chế độ tài sản pháp định được

Trang 13

quy định ngay cả trong cổ Luật, từ những quy định mang tính khái quát, côđọng, đã ngày càng được hoàn thiện, cụ thể qua các văn bản Luật HN&GĐ.

Về nội dung, chế độ tài sản vợ chồng pháp định đi từ chế độ cộng đồng toànsản, đến chế độ cộng đồng tạo sản với những quy định tiến bộ, phù hợp với sựphát triển điều kiện kinh tế - xã hội

5 Trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán,truyền thống văn hóa, các quốc gia lựa chọn chế độ tài sản vợ chồng phápđịnh theo hình thức nhất định, trong đó có các loại chế độ tài sản cơ bản như:chế độ cộng đồng toàn sản; chế độ cộng đồng động sản và tạo sản; chế độcộng đồng tạo sản

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG PHÁP ĐỊNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG

Những quy định chung của vợ chồng được quy định tại các Điều từĐiều 29 đến Điều 32 Các quy định này được thực hiện sẽ đảm bảo các chế độtài sản của vợ chồng, bao gồm cả chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sảntheo thỏa thuận được thực hiện theo một trật tự phù hợp, hài hòa giữa lợi íchcủa gia đình và lợi ích của cá nhân, mở rộng quyền tự do định đoạt tài sản của

vợ chồng phải luôn đi cùng lợi ích của gia đình, quyền lợi của các con và cácthành viên khác trong gia đình

Nội dung của những quy định chung bao gồm: nguyên tắc chung về chế

độ tài sản của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứngnhu cầu thiết yếu của gia đình; giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhấtcủa vợ chồng; giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoảnngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định củapháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng

2.2 TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

Ngày đăng: 01/06/2017, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w