1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tóm tắt khóa luận: Viết lại Hà Nội: diễn ngôn về thành phố trong sáng tác của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Bình Phương

26 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 47,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cho đến nay, chúng ta có thể khẳng định sự tồn tại cả một dòng văn học nghệ thuật về thành phố. Bởi sự hiện diện của thành phố trong tác phẩm nghệ thuật không còn đơn giản chỉ là phông nền, bối cảnh cho những câu chuyện, những tâm tình mà nó chính là “nhân vật chính” của những tác phẩm ấy. Sự hiện diện của thành phố trong văn chương nghệ thuật cũng không đơn thuần là sự chuyển hóa hình ảnh thành phố vật chất vào tác phẩm mà quan trọng hơn, hình ảnh thành phố được thể hiện như thế nào, bản thân nó đã là một ý tưởng. Trong những tác phẩm đầu tiên về thành phố ở phương Tây, thành phố đã hiện lên như một ý niệm tinh thần hơn là một thực thể vật chất. Người Germain đã xây dựng hình ảnh Riga như một ngụy tạo văn hóa phục vụ cho mục đích mở rộng lãnh thổ của mình. Trong sách Khải huyền của Thánh Augustine, thành phố hiện lên như là một đối cực của thành phố trên cao thành phố của Chúa trật tự hoàn hảo, vì thế thành phố của con người là một biểu tượng tha hóa, cái bất toàn. Thànnh phố như là những huyễn tưởng được xây dựng trong Utopia của Thomas Moore hay Thành phố mặt trời của Thomas Campanella. Paris thường xuyên hiện diện với huyền thoại về kinh đô ánh sáng, Rome với huyền thoại về thành phố tình yêu… Do những khác biệt về điều kiện phát triển kinh tế xã hội nên những thành phố ở châu Á xuất hiện muộn hơn và ít nhiều chịu ảnh hưởng từ phương Tây. Tuy kém về bề dày lịch sử nhưng những thành phố châu Á vẫn tạo dựng một dòng mạch riêng. Châu Á có những dòng văn học nghệ thuật về Bắc Kinh như là thành phố của giấc mơ Xã hội chủ nghĩa, Hồng Kông như là một thành phố quốc tế… Hà Nội, với vị trí của một thủ đô 1000 năm tuổi, cũng có một dòng mạch riêng viết về nó, khởi đầu từ năm 1010, liên tục phát triển, tổng hợp, rẽ nhánh cho đến tận hôm nay. Khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu các tác phẩm văn chương về Hà Nội như là một phần của dòng văn học thành phố. Khi tiếp cận dòng văn chương viết về Hà Nội, chúng tôi nhận thấy một hình ảnh Hà Nội không cố định và không thuần nhất ngay tại một thời điểm. Vì thế có thể thấy rằng hình ảnh Hà Nội trong văn học nghệ thuật không thể hiểu đơn giản là sự phản ánh đời sống vào tác phẩm. Các tác phẩm văn học nghệ thuật về Hà Nội cần được nhìn nhận ở bản chất diễn ngôn tức là mỗi hình ảnh Hà Nội được kiến tạo nên đều nhằm một mục đích nào đó, chịu sự chi phối của một tư tưởng hệ, một mĩ cảm nào đó, thậm chí đi theo một số công thức biểu đạt nhất định… Hà Nội trong văn học nghệ thuật là một kiến tạo ngôn ngữ với nhiều ảo tưởng, nhiều tham vọng chứ không phải là một thực thể trong suốt có thể quy chiếu về thành phố thực tại như ta vẫn tưởng. Ba mươi năm 1945 1975 là giai đoạn đầy biến động trong lịch sử dân tộc. Bão táp chiến tranh đã cuốn vào trong nó cuộc đời của những cá nhân, lịch sử của những gia đình và cả lịch sử của những thành phố như Hà Nội. Ba mươi năm khốc liệt ấy không chỉ để lại dấu ấn trên cảnh quan của thành phố với sự hiện diện của những lỗ châu mai, của những hầm trú ẩn, những mảng tường lở loét vì bom đạn chiến tranh, những tượng đài quyết tử… mà còn để lại dấu ấn trong văn học nghệ thuật và vẫn còn hằn sâu trong kí ức của những người Hà Nội hôm qua và hôm nay. Thời đại này đã sản sinh ra những cảm thức hêt sức mới mẻ, trước đây chưa từng có về chốn kinh kì văn hiến, nơi đô thị phồn hoa và tạo dựng cho thành phố này một diện mạo tinh thần mới. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Lịch sử nghiên cứu về Hà Nội như một diễn ngôn trong văn học nghệ thuật Hà Nội với bề dày lịch sử của mình đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành như địa lí, lịch sử, khảo cổ, xã hội học, kiến trúc, khảo sát văn hóa phong tục… Các nhà nghiên cứu cũng đã nghiên cứu về Hà Nội, con người Hà Nội, bản sắc văn hoá Hà Nội trong văn học nghệ thuật, tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu mang tính chất mô tả, quy chiếu về diện mạo của thành phố thực chứ không nhìn nó như một thực thể tinh thần, không lí giải nguyên nhân hay cơ chế thẩm mĩ nào dẫn đến sự kiến tạo hình ảnh Hà Nội qua các thời kì như ta thấy. Trong số các nghiên cứu về Hà Nội trong văn học nghệ thuật, đáng kể nhất là hội thảo Về bản sắc văn hóa Hà Nội trong văn học nghệ thuật thế kỉ XX do trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức. Tuy nhiên trong hội thảo này cũng chỉ có duy nhất bài tham luận “Nghệ thuật và thành phố Chân dung Hà Nội trong mắt nghệ sĩ Việt Nam” của TS Natalia Kraevskaya và Lisa Drummond “xem xét những xu hướng trong việc diễn giải và khái niệm hóa Hà Nội như một chủ thể nghệ thuật”. Các bài tham luận khác hầu hết có tính chất khái quát những đặc điểm của Hà Nội được thể hiện qua sáng tác, nghĩa là nhìn nhận nó như là một đối tượng phản ánh của nghệ thuật và quan tâm đến cách thức xử lí những hình ảnh đó bằng phương tiện của các loại hình nghệ thuật. Trong khóa luận tốt nghiệp Viết lại Hà Nội: diễn ngôn về thành phố trong sáng tác của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Bình Phương, chúng tôi cũng đã bước đầu xác lập Hà Nội với tư cách một văn bản liên tục được viết lại theo thời gian. Các diễn ngôn song song tồn tại với nhau, thay thế nhau, giao thoa nhau trong từng thời kì tạo nên diện mạo Hà Nội trong văn học nghệ thuật. Trong dòng mạch đó chúng tôi định vị và nhận diện diễn ngôn về Hà Nội trong sáng tác của hai nhà văn. Tuy nhiên đây chỉ là những bước đi ban đầu, chúng tôi cảm thấy cần phải có sự nghiên cứu sâu sắc hơn đối với diễn ngôn về Hà Nội trong từng giai đoạn, đặc biệt là một giai đoạn có nhiều nhánh diễn ngôn đa dạng, phong phú như giai đoạn 1945 1975.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cho đến nay, chúng ta có thể khẳng định sự tồn tại cả một dòng văn học nghệ thuật

về thành phố Bởi sự hiện diện của thành phố trong tác phẩm nghệ thuật không còn đơngiản chỉ là phông nền, bối cảnh cho những câu chuyện, những tâm tình mà nó chính là

“nhân vật chính” của những tác phẩm ấy Sự hiện diện của thành phố trong văn chươngnghệ thuật cũng không đơn thuần là sự chuyển hóa hình ảnh thành phố vật chất vào tácphẩm mà quan trọng hơn, hình ảnh thành phố được thể hiện như thế nào, bản thân nó đã làmột ý tưởng Trong những tác phẩm đầu tiên về thành phố ở phương Tây, thành phố đãhiện lên như một ý niệm tinh thần hơn là một thực thể vật chất Người Germain đã xâydựng hình ảnh Riga như một ngụy tạo văn hóa phục vụ cho mục đích mở rộng lãnh thổ của

mình Trong sách Khải huyền của Thánh Augustine, thành phố hiện lên như là một đối cực

của thành phố trên cao- thành phố của Chúa- trật tự hoàn hảo, vì thế thành phố của conngười là một biểu tượng tha hóa, cái bất toàn Thànnh phố như là những huyễn tưởng được

xây dựng trong Utopia của Thomas Moore hay Thành phố mặt trời của Thomas

Campanella Paris thường xuyên hiện diện với huyền thoại về kinh đô ánh sáng, Rome vớihuyền thoại về thành phố tình yêu… Do những khác biệt về điều kiện phát triển kinh tế xãhội nên những thành phố ở châu Á xuất hiện muộn hơn và ít nhiều chịu ảnh hưởng từphương Tây Tuy kém về bề dày lịch sử nhưng những thành phố châu Á vẫn tạo dựng mộtdòng mạch riêng Châu Á có những dòng văn học nghệ thuật về Bắc Kinh như là thành phốcủa giấc mơ Xã hội chủ nghĩa, Hồng Kông như là một thành phố quốc tế… Hà Nội, với vịtrí của một thủ đô 1000 năm tuổi, cũng có một dòng mạch riêng viết về nó, khởi đầu từ năm

1010, liên tục phát triển, tổng hợp, rẽ nhánh cho đến tận hôm nay Khi lựa chọn đề tài này,chúng tôi muốn nghiên cứu các tác phẩm văn chương về Hà Nội như là một phần của dòngvăn học thành phố

Khi tiếp cận dòng văn chương viết về Hà Nội, chúng tôi nhận thấy một hình ảnh

Hà Nội không cố định và không thuần nhất ngay tại một thời điểm Vì thế có thể thấyrằng hình ảnh Hà Nội trong văn học nghệ thuật không thể hiểu đơn giản là sự phản ánhđời sống vào tác phẩm Các tác phẩm văn học nghệ thuật về Hà Nội cần được nhìn nhận

ở bản chất diễn ngôn- tức là mỗi hình ảnh Hà Nội được kiến tạo nên đều nhằm một mụcđích nào đó, chịu sự chi phối của một tư tưởng hệ, một mĩ cảm nào đó, thậm chí đi theomột số công thức biểu đạt nhất định… Hà Nội trong văn học nghệ thuật là một kiến tạongôn ngữ với nhiều ảo tưởng, nhiều tham vọng chứ không phải là một thực thể trongsuốt có thể quy chiếu về thành phố thực tại như ta vẫn tưởng

Trang 2

Ba mươi năm 1945- 1975 là giai đoạn đầy biến động trong lịch sử dân tộc Bãotáp chiến tranh đã cuốn vào trong nó cuộc đời của những cá nhân, lịch sử của những giađình và cả lịch sử của những thành phố như Hà Nội Ba mươi năm khốc liệt ấy khôngchỉ để lại dấu ấn trên cảnh quan của thành phố với sự hiện diện của những lỗ châu mai,của những hầm trú ẩn, những mảng tường lở loét vì bom đạn chiến tranh, những tượngđài quyết tử… mà còn để lại dấu ấn trong văn học nghệ thuật và vẫn còn hằn sâu trong

kí ức của những người Hà Nội hôm qua và hôm nay Thời đại này đã sản sinh ra nhữngcảm thức hêt sức mới mẻ, trước đây chưa từng có về chốn kinh kì văn hiến, nơi đô thịphồn hoa và tạo dựng cho thành phố này một diện mạo tinh thần mới

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về Hà Nội như một diễn ngôn trong văn học nghệ thuật

Hà Nội với bề dày lịch sử của mình đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rấtnhiều ngành như địa lí, lịch sử, khảo cổ, xã hội học, kiến trúc, khảo sát văn hóa phongtục… Các nhà nghiên cứu cũng đã nghiên cứu về Hà Nội, con người Hà Nội, bản sắcvăn hoá Hà Nội trong văn học nghệ thuật, tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếumang tính chất mô tả, quy chiếu về diện mạo của thành phố thực chứ không nhìn nó nhưmột thực thể tinh thần, không lí giải nguyên nhân hay cơ chế thẩm mĩ nào dẫn đến sựkiến tạo hình ảnh Hà Nội qua các thời kì như ta thấy Trong số các nghiên cứu về HàNội trong văn học nghệ thuật, đáng kể nhất là hội thảo Về bản sắc văn hóa Hà Nội trongvăn học nghệ thuật thế kỉ XX do trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Tuy nhiêntrong hội thảo này cũng chỉ có duy nhất bài tham luận “Nghệ thuật và thành phố- Chândung Hà Nội trong mắt nghệ sĩ Việt Nam” của TS Natalia Kraevskaya và LisaDrummond “xem xét những xu hướng trong việc diễn giải và khái niệm hóa Hà Nộinhư một chủ thể nghệ thuật” Các bài tham luận khác hầu hết có tính chất khái quát nhữngđặc điểm của Hà Nội được thể hiện qua sáng tác, nghĩa là nhìn nhận nó như là một đốitượng phản ánh của nghệ thuật và quan tâm đến cách thức xử lí những hình ảnh đó bằngphương tiện của các loại hình nghệ thuật

Trong khóa luận tốt nghiệp Viết lại Hà Nội: diễn ngôn về thành phố trong sáng tác của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Bình Phương, chúng tôi cũng đã bước đầu xác lập

Hà Nội với tư cách một văn bản liên tục được viết lại theo thời gian Các diễn ngônsong song tồn tại với nhau, thay thế nhau, giao thoa nhau trong từng thời kì tạo nên diệnmạo Hà Nội trong văn học nghệ thuật Trong dòng mạch đó chúng tôi định vị và nhậndiện diễn ngôn về Hà Nội trong sáng tác của hai nhà văn Tuy nhiên đây chỉ là nhữngbước đi ban đầu, chúng tôi cảm thấy cần phải có sự nghiên cứu sâu sắc hơn đối với diễnngôn về Hà Nội trong từng giai đoạn, đặc biệt là một giai đoạn có nhiều nhánh diễnngôn đa dạng, phong phú như giai đoạn 1945- 1975

Trang 3

2.2 Lịch sử nghiên cứu diễn ngôn về Hà Nội trong văn học giai đoạn 1975

1945-Giai đoạn 1945- 1975 là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình văn học ViệtNam thế kỉ XX, vì thế nó nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu văn học,nghệ thuật Tuy nhiên, do những đặc trưng về hoàn cảnh lịch sử xã hội, chủ trương vănhóa văn nghệ đại chúng, thi pháp thời đại mà các nhà nghiên cứu chưa chú trọng đếnnghiên cứu diễn ngôn về các vùng miền trong văn học, nhất là diễn ngôn về thành phố

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các diễn ngôn về Hà Nội trong văn họcmiền Bắc Việt Nam 1945- 1975

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát các diễn ngôn về Hà Nội trong giai đoạn

từ 1945 đên 1975, tập trung khai thác những diễn ngôn văn chương tiêu biểu ở miềnBắc (bao gồm các thể loại văn xuôi, thơ, kí)

5 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của chúng tôi khi lựa chọn nghiên cứu đề tài này là:

- Thứ nhất: nhận diện các diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc ViệtNam 1945- 1975 trong dòng mạch các diễn ngôn liên tục viết tiếp và viết lại về Hà Nộitrong hơn 1000 năm qua

- Thứ hai: chỉ ra được những công thức diễn ngôn tiêu biểu, cơ chế kiến tạo vàgiá trị của những công thức diễn ngôn này trong việc kiến tạo hình ảnh Hà Nội trongvăn học nghệ thuật cũng như trong tâm thức con người

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu sự kiến tạo hình ảnh Hà Nộigiai đoạn 1945- 1975 trên cơ sở kết hợp các diễn ngôn lịch sử, văn hóa, các diễn ngônvăn học, mỹ thuật, âm nhạc , điện ảnh, các nghiên cứu trên lĩnh vực kiến trúc, quyhoạch đô thị

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích văn bản và liên văn bản

7 Cấu trúc luận văn

Phần nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:

Chương I: Diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam 1975- những vấn đề chung

1945-Chương II: Thủ đô/ đô thị- hai diễn ngôn độc lập, tương tranh

Trang 4

Chương III: Thủ đô và đô thị- khi các diễn ngôn tìm được sự hòa giải.

Trang 5

NỘI DUNG

CHƯƠNG I

DIỄN NGÔN VỀ HÀ NỘI TRONG VĂN HỌC MIỀN BẮC

VIỆT NAM 1945- 1975- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Thành phố- một thực thể diễn ngôn

Lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự ra đời của những thành phố đầu tiên từ cáchđây mấy nghìn năm “Thành phố là gì?” hiển nhiên là câu hỏi mà bất cứ ai cũng trả lờiđược, thậm chí có thể trả lời rất nhanh chóng và dễ dàng Nó đã quá đỗi quen thuộctrong sự quan sát, trải nghiệm và suy nghĩ của chúng ta Xác lập lại định nghĩa về thànhphố dường như đã trở thành một việc không cần thiết Tuy nhiên chúng tôi sẽ bắt đầu từchính điểm dường như không cần thiết này để khám phá diện mạo và bản chất của thànhphố cũng như sự xuất hiện của thành phố trong văn học với tư cách diễn ngôn thay vìchỉ là bối cảnh, phông nền cho những truyện kể

1.1.1 Thế nào là một thành phố?

1.1.1.1 Thành phố- một thực thể vật chất

Sở dĩ chúng ta có thể dễ dàng đưa ra một định nghĩa về thành phố bởi nó khôngphải là một ý niệm trừu tượng, một sản phẩm thuần túy của suy tưởng Thành phố làmột thực thể vật chất đang hiện hữu ngay bên cạnh chúng ta, thậm chí nó chính làkhông gian bao bọc sự tồn tại của chúng ta, là cuộc sống thường ngày, gắn bó trongnhững thói quen, trong từng bước đi, từng hơi thở Trong từng tháng ngày đang sống, tavừa cảm nhận về thành phố mơ hồ trong cảm giác vừa sống động trong sự tiếp xúc củatất cả các giác quan Thành phố không phải là những hình dung xa xôi hay là một miềntưởng tượng, thành phố ở rất gần và rất thực, là những hình ảnh mắt ta trông thấy,những âm thanh tai ta nghe thấy, những cảm giác chật chội, nóng bức hay rộng dài,thênh thang, bay bổng hàng ngày đọng lại thành những ấn tượng, lưu lại trong trí nhớ

Trong cách hiểu phổ biến nhất, thành phố thường được định nghĩa là một khuvực tập trung dân cư, được xác định bởi một diện tích giới hạn, quy mô dân số nhấtđịnh, các hoạt động kinh tế, chính trị văn hóa xã hội đặc trưng và các công trình cơ sở

hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại… Thành phố vẫn được nhận diện rõ nét nhấttrong sự đối sánh với không gian trái ngược là nông thôn Trong sự phân biệt muôn thuởnày, thành thị và nông thôn luôn là hai đối cực Nông thôn luôn được nhắc đến là miềnkhông gian rộng lớn, dân cư thưa thớt, nhắc đến không gian nông thôn là nhắc đến sựthoáng đãng và khoáng đạt Trong khi đó, dù diện tích thường được đo bằng những con

số rất lớn nhưng không gian đô thị chưa bao giờ thôi đem đến cảm giác chật chội cho

Trang 6

những cư dân của nó Cho dù diện tích có được mở rộng đến đâu thì hình như vẫn cứ làchưa đủ so với quy mô dân số ngày càng phình to và mật độ cư dân nơi đô thị Nôngthôn là không gian liền khối còn không gian thành phố liên tục phân mảnh Nông thônthôn giản dị, thành phố lộng lẫy, xa hoa Sự nhận diện một thành phố có thể dựa trênnhững tiêu chí tổng thể, vĩ mô, đôi khi có thể chỉ bắt đầu từ cảm nhận hết sức quenthuộc giữa đời thường

1.1.1.2 Thành phố- một ý niệm tinh thần

Diện mạo vật chất của thành phố chỉ là lớp vỏ, chỉ là cái áo ẩn chứa tận sâu bêntrong, phía sau bao nhiêu ý niệm tinh thần Những ý niệm đó không chỉ là cái ẩn chứa,cái được cất giấu mà có khi còn tạo thành chính không quyển tinh thần bao bọc thànhphố, cũng như giới hạn suy nghĩ và cảm nhận của con người Trong ý thức văn hóa củachúng ta, hai chữ “thành phố” chưa bao giờ đơn giản chỉ quy chiếu về một thực thể vậtchất, một loại địa bàn cư trú, một kiểu tổ chức đời sống xã hội Có rất nhiều những suynghĩ, cảm giác theo cùng hai chữ “thành phố” ấy- đó chính là cảm thức đô thị Cảmthức này không chỉ gắn với trải nghiệm của một cá nhân, một cộng đồng mà tồn tại ởtầng sâu của vô thức xã hội tạo thành vô thức đô thị Từ đó, nảy sinh những khát vọng

đô thị, tâm thế chán chường đô thị hay nhìn nhận nông thôn và đô thị trong sự xâm lăng

và nguy cơ tha hóa

Thành phố còn là một hiện tượng mang tính lịch sử Thành phố nào cũng có quákhứ của riêng nó và quá khứ ấy chưa bao giờ là cái đã xảy ra, đã kết thúc trọn vẹn tạimột thời điểm và vĩnh viễn không còn bất cứ mối quan hệ nào với hiện tại Thành phốnào cũng mang trong hiện tại của mình những dấu vết và âm vang của quá khứ Thànhphố không chỉ gắn với kinh nghiệm của cộng đồng mà còn có mối quan hệ rất đặc biệtvới những kinh nghiệm cá nhân, đặc biệt là trải nghiệm của cá nhân với đời sống đô thị

1.1.1.3 Thành phố- một phức hợp vật chất và tinh thần

Một thành phố luôn luôn được tạo nên bởi phần diện mạo vật chất và diện mạotinh thần Tuy nhiên, phần diện mạo vật chất không đơn giản chỉ là phần nổi, là lớp vỏbên ngoài ẩn chứa bên trong diện mạo tinh thần và diện mạo tinh thần cũng không chỉ làphần chìm giấu mình ở bên trong Chúng không phải là hai phần tách rời, được đặt cạnhnhau, kết nối một cách lỏng lẻo Mối quan hệ giữa hai phần trong diện mạo một thànhphố là sự gắn bó chặt chẽ mang tính triết học Ở đó diện mạo vật chất không thuần túy

là hình thức mà là hình thức mang tính tinh thần và cái tinh thần cũng không thuần túy

là phần linh hồn vô hình, trừu tượng, khó nắm bắt mà nó đã tìm được cách hiện diệntrong không gian vật chất cụ thể của thành phố Cái tinh thần còn bao trùm lên toàn bộkhông gian, một cách vô thức chi phối đến sự cải tạo cảnh quan đô thị của chúng ta.Không gian sống của chúng ta chính là sự chuyển hóa, sự hữu hình hóa những ý niệm

Trang 7

tinh thần và bất cứ sự thay đổi nào trên diện mạo vật chất của thành phố cũng ngay lậptức sản sinh ra những cảm thức mới mẻ Thành phố là một hiện tượng phức tạp tự thân,

vì thế sự xuất hiện của thành phố trong sáng tác văn chương sẽ không đơn giản chỉ làphản ánh một không gian thực trên trang sách

1.1.2 Diễn ngôn- những vấn đề chung

Thế kỉ XX là thế kỉ chứng kiến nhiều biến động trên hầu hết các lĩnh vực củađời sống xã hội và đặc biệt là văn hóa, tư tưởng Từ khoảng giữa những năm 1960 đếnnay, có một hướng nghiên cứu thu hút được sự chú ý nhiều nhất của các học giả và cũng

có ảnh hưởng quan trọng, toàn diện đến nhiều ngành nghiên cứu khoa học xã hội thậmchí dẫn đến sự phát triển của những nghiên cứu liên ngành như triết học khoa học, triếthọc nghệ thuật, sự kết nối giữa nghệ thuật và khoa học, khoa học và tôn giáo… Đóchính là hướng nghiên cứu diễn ngôn

1.1.2.1 Bước ngoặt diễn ngôn.

Lí thuyết diễn ngôn thực sự đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng không chỉtrong lĩnh vực nghiên cứu mà còn làm thay đổi căn bản cái nhìn của chúng ta về thế giớixung quanh Nhiều nhà nghiên cứu còn đánh giá bước ngoặt diễn ngôn như một sự thayđổi hệ hình tri thức và tư duy của con người

Trước hết, việc thừa nhận thuật ngữ diễn ngôn đã thay đổi quan niệm của chúng

ta về bản thể Phát hiện và đề cao thuật ngữ diễn ngôn, các nhà nghiên cứu không phủ nhậnthực tại khách quan Thế giới xung quanh chúng ta là tồn tại có thực và độc lập với ý muốnchủ quan của con người, dù ta muốn hay không muốn thì thế giới bên ngoài ta cũng đã sinhthành và vận hành như thế Tuy nhiên, ý thức của con người về thế giới không bao giờ làtrọn vẹn khách quan và chân thực tuyệt đối Nhận thức của chúng ta luôn gắn bó chặt chẽvới ngôn ngữ Chúng ta nhận thức bằng ngôn ngữ và thông qua ngôn ngữ Tất cả những trithức, quy luật mà con người đúc kết được về thế giới từ trước đến nay đều cho ta thấy diệnmạo đầy ảo tưởng về một thế giới như nó vốn có Tất thảy chỉ là thế giới trong nỗ lực thểhiện bằng ngôn ngữ, thế giới như ta nói về nó, như ta viết về nó Thế giới khách quan vẫntồn tại bên ngoài con người, vẫn là đối tượng của nhận thức, tuy nhiên, nó chỉ được biết đếnthông qua diễn ngôn

Hướng nghiên cứu diễn ngôn đồng thời tạo ra bước ngoặt quan trọng trong nhậnthức của con người về ngôn ngữ Ngôn ngữ không còn đơn thuần được xem là phươngtiện chuyên chở ý nghĩa, một công cụ biểu đạt thông tin một cách chính xác, chân thựctrong hoạt động giao tiếp Ngược lại, ngôn ngữ là một thứ “công cụ” đầy quyền năng,một thiết chế quyền lực có khả năng can thiệp rất sâu, chi phối, thậm chí giới hạn cáchành vi biểu đạt của con người

Trang 8

Sự thay đổi trong quan niệm về nhận thức và ngôn ngữ tất yếu dẫn đến sự thayđổi trong quan niệm của con người về văn chương Ảnh hưởng từ lí thuyết phản ánh,suốt một thời gian dài văn chương được quan niệm như là một hình thái ý thức xã hội.Mặc dù được nhìn nhận như một dạng thức phản ánh với nhiều nét đặc thù của tư duynghệ thuật cũng như những đặc điểm về chất liệu, khác với chính trị, tôn giáo, khoahọc… nhưng về cơ bản, chúng ta vẫn hay quy chiếu văn chương về thực tại, vẫn lấy khảnăng khám phá, phản ánh hiện thực ra làm một trong những tiêu chí quan trọng đánh giátác phẩm văn chương Bước ngoặt diễn ngôn khiến chúng ta phải từ bỏ thói quen đánhgiá văn chương từ góc độ phản ánh và xác định lại bản chất của nó Văn học xét chocùng là tập hợp những gì chúng ta coi là văn học Văn học là một trong rất nhiều cách

mà con người nhận thức về đời sống nhưng nhận thức đó không đơn thuần chỉ là phảnánh

1.1.2.2 Khái niệm diễn ngôn

Diễn ngôn là một thuật ngữ với nội hàm phức tạp, ngoại diên trải ra trên mộtphạm vi cực kì rộng lớn và quá trình vận động ý nghĩa vẫn chưa dừng lại Vì thế trongkhuôn khổ của luận văn này, chúng tôi không thể bao quát toàn bộ các phương diện củathuật ngữ cũng như khả năng ứng dụng phong phú của nó trong nghiên cứu khoa học xãhội và nhân văn Chúng tôi sẽ lược thuật lại các hướng tiếp cận thuật ngữ diễn ngôn và

đi sâu vào những phương diện có liên quan trực tiếp đến quá trình tạo lập và diễn giải,

sự khởi sinh và được chấp nhận của diễn ngôn về thành phố trong văn học nói chung vàdiễn ngôn về thành phố Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam giai đoạn từ năm

1945 đến 1975

Trước hết, trong các từ điển ngôn ngữ phổ thông, diễn ngôn thường được hiểutheo hai nghĩa Thứ nhất, diễn ngôn là sự giao tiếp bằng tiếng nói (cuộc trò chuyện, lờinói, bài phát biểu…) Thứ hai, diễn ngôn là sự nghiên cứu tường minh, có hệ thống vềmột đề tài nào đó (luận án, luận văn, các sản phẩm của suy luận…) Cả hai định nghĩathông dụng này đều xem diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ Trong hai trườnghợp này diễn ngôn là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được đồng nhấtvới văn bản (bao gồm cả văn bản nói và văn bản viết) Tuy nhiên, văn bản chỉ là dạngthức tồn tại cụ thể của diễn ngôn mà thôi Và một diễn ngôn không chỉ tồn tại trên mộtvăn bản, diễn ngôn là hiện tượng xuyên văn bản, liên văn bản, thậm chí siêu văn bản

Để nhận diện một diễn ngôn, cần có cái nhìn xuyên qua, kết nối các văn bản có cùngmột nội dung biểu đạt, cùng hướng tiếp cận đối tượng, sử dụng cùng một hệ biểutượng… Sự kết nối này cũng không phải là một phép cộng giản đơn cho ra kết quả làdiễn ngôn bằng các văn bản cộng lại Đó phải là sự nhìn nhận văn bản trong tính liên kết

và liên tục tương tác với nhau và tương tác với các yếu tố ngoài văn bản có liên quan

Trang 9

đến quá trình tạo lập văn bản Diễn ngôn là sự tổng hòa các mối quan hệ của bối cảnhlịch sử, môi trường xã hội, tâm lí chủ thể, những giới hạn ngôn ngữ, định kiến văn hóa,

… đến văn bản và quan hệ giữa các văn bản trong sự tương tác, ảnh hưởng, chi phối,giới hạn lẫn nhau Như vậy diễn ngôn không phải là văn bản nhưng luôn luôn có mặttrong văn bản, nó là một siêu văn bản

Và nếu như trước đây chúng ta nhìn nhận diễn ngôn trong mối quan hệ trực tiếpvới ngôn ngữ, xem nó là một sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thì giờđây, khái niệm diễn ngôn đã được mở rộng tối đa Không chỉ có những sản phẩm kiếntạo ngôn ngữ mới là diễn ngôn mà tất cả đều là diễn ngôn Mọi hoạt động mang bảnchất kiến tạo dù ở trên chất liệu gì cũng sẽ cho sản phẩm là diễn ngôn Cho dù chất liệu

là những con chữ, âm thanh, giai điệu, màu sắc, đường nét hay mảng khối… thì khôngkhi nào là một sáng tạo không lựa chọn, một sự sắp đặt ngẫu nhiên hay là một kết hợp

vô nghĩa Bao giờ nó cũng thể hiện một ý tưởng nào đó, nếu không phải là đem đến một

ý tưởng hoàn toàn mới mẻ thì cũng là trao cho những chất liệu quen thuộc những khảnăng biểu đạt mới Như vậy từ định nghĩa ban đầu còn đơn giản và bị giới hạn tronghành vi giao tiếp bằng ngôn ngữ, giờ đây “Tất cả đều là diễn ngôn’ (Jacques Derrida)

1.1.1.1 Đặc điểm, tính chất của diễn ngôn

Từ cách hiểu rất rộng về khái niệm diễn ngôn như thế, việc mô tả đặc điểm củadiễn ngôn hay làm rõ tính diễn ngôn cũng rất khó có thể toàn diện và trọn vẹn được.Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xin đưa ra những điểm cơ bản làm rõ đặcđiểm, tính chất của diễn ngôn

Trước hết, diễn ngôn mang bản chất kiến tạo Nó chống lại ảo tưởng về tính tựnhiên mà con người thường gán cho những sự vật xung quanh và cho cả chính bản thânmình Thứ hai, diễn ngôn là một kiến tạo mang dấu ấn ý thức hệ Thứ ba, diễn ngôn cótính quyền lực Cuối cùng chúng tôi muốn lưu ý đến bản chất đối thoại của diễn ngôn.Nhà nghiên cứu Julia Kristeva từng nói về diễn ngôn: “Nguyên tắc đối thoại bao giờcũng đi đôi với các cấu trúc chiều sâu của diễn ngôn… Nguyên tắc đối thoại là nguyêntắc của mọi phát ngôn”

1.1.1.2 Những yếu tố tác động đến quá trình tạo lập và duy trì một diễn ngôn

Trong các phương diện liên quan đến sự hình thành, tạo lập các diễn ngôn,chúng tôi xin được nhấn mạnh hai phương diện quan trọng: thứ nhất là môi trường- ngữcảnh của diễn ngôn và thứ hai là chủ thể tạo lập diễn ngôn Môi trường- ngữ cảnh củadiễn ngôn chính là toàn bộ hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa cùng đặc điểm về tâm lýcủa xã hội Ngữ cảnh văn hóa này chính là xuất phát điểm của quá trình tạo lập diễnngôn, là môi trường bao bọc, chi phối đến quá trình tạo lập diễn ngôn, nơi mà trên đó,diễn ngôn được diễn giải và chấp nhận, đồng thời là khách thể- đối tượng của diễn

Trang 10

ngôn Chủ thể tạo lập diễn ngôn- người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm cùng tất cả nhữngđặc điểm về ý thức hệ, những quan niệm riêng về con người và thế giới, cách lựa chọnứng xử với ngôn ngữ và với những diễn ngôn trước đó, những trải nghiệm cá nhân vàlựa chọn ứng xử với kí ức… tất cả đều có tác động trực tiếp đến quá trình hình thànhdiễn ngôn và để lại dấu ấn của mình trong các diễn ngôn đó Mối quan hệ giữa môitrường- chủ thể- diễn ngôn là một mối quan hệ hết sức phức tạp Nó không chỉ đơn giản

và một chiều là ngữ cảnh tác động đến diễn ngôn và chủ thể tác động đến diễn ngôn màmôi trường cũng có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến chủ thể tạo lập diễn ngôn Như vậymôi trường có thể tác động trực tiếp đến diễn ngôn cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp thôngqua chủ thể Bản thân diễn ngôn cũng không đơn giản là sản phẩm của môi trường và chủthể, nó tác động ngược lại đối với chủ thể và cả ngữ cảnh Trong quá trình tác động ngượclại đó, diễn ngôn lại có thể làm sản sinh những cơ chế văn hóa mới quyết định sự hìnhthành một kiểu diễn ngôn mới với một kiểu chủ thể và ngữ cảnh mới gắn liền với nó

Mối liên hệ trực tiếp giữa ngữ cảnh và diễn ngôn có thể diễn giải cụ thể như sau:Trước hết, môi trường với những đặc điểm về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa xã hộichính là nơi phát sinh nhu cầu tạo lập diễn ngôn Những đổi thay trong hoàn cảnh xã hộitất yếu dẫn đến nhu cầu hình thành một kiểu diễn ngôn mới Sau đó, chúng ta đều có thể

dễ dàng nhận thấy môi trường văn hóa, xã hội, hoàn cảnh lịch sử không chỉ là đườngviền bối cánh mà trở thành khách thể được khám phá và thể hiện trong diễn ngôn Môitrường không chỉ là nơi làm nảy sinh nhu cầu tạo lập diễn ngôn mà trên nền bối cảnh

đó, diễn ngôn được diễn giải và được chấp nhận Mọi diễn ngôn đều có thể ra đời nhưng

nó chỉ có thể tồn tại được khi nó có được sự chấp nhận của một cộng đồng diễn giải.Cộng đồng diễn giải này phải có quy mô đủ lớn và tiếng nói quyền lực đủ để đảm bảocho diễn ngôn tồn tại Tuy nhiên cũng chính ngữ cảnh- nơi mở ra những khả năng tạosinh phong phú cho diễn ngôn lại đồng thời là nơi giới hạn những khả năng đó

Không chỉ tác động trực tiếp đến quá trình tạo lập diễn ngôn, ngữ cảnh còn thểhiện ảnh hường đến diễn ngôn thông qua chủ thể Đời sống văn hóa xã hội bao giờ cũng

có ảnh hưởng rất lớn đến chủ thể Nhà văn nào cũng là đứa con của thời đại mình Họkhông thể tách rời khỏi không gian, thời gian của những ngày đang sống nơi họ đangtừng ngày quan sát, trải nghiệm và suy ngẫm để một lúc nào đó, toàn bộ những ấntượng, những suy tưởng ấy sẽ chuyển hóa vào trong tác phẩm

Ý thức của chủ thể không chỉ là trung gian trong mối quan hệ ngữ cảnh tácđộng đến diễn ngôn Bản thân chủ thể cùng tất cả những gì thuộc về nó đều có ảnhhưởng trực tiếp và rất quan trọng đối với việc tạo lập một diễn ngôn Môi trường xétcho cùng chỉ có vai trò thúc đẩy sự ra đời của diễn ngôn còn việc nó có được khai sinhhay không lại phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể- người sẽ biến ý tưởng thành tồn tại,

Trang 11

người sẽ lựa chọn cho nó dạng tồn tại này mà không phải là dạng tồn tại khác…Chủ thểkhông bao giờ chỉ tồn tại trong một tư cách duy nhất là người s áng tạo và trong vai trò

là một mắt xích trong quan hệ môi trường, ngữ cảnh văn hóa- chủ thể- diễn ngôn Chủthể tạo lập diễn ngôn là một con người đứng giữa môi trường văn hóa xã hội, một lịch

sử cá nhân đồng thời là mảnh ghép nên lịch sử xã hội, một cá nhân giữa cộng đồng, một

ý thức vừa độc lập vừa liên quan đến muôn vàn ý thức khác Đó là con người như baongười nhưng cũng là một bản thể riêng biệt, một bản thể có kí ức, có trải nghiệm khôngtrộn lẫn với bất kì ai, có những năng lực đặc biệt mà những chủ thể khác không thể cóđược… Kí ức, trải nghiệm riêng của chủ thể mà chúng tôi nhắc đến cũng không chỉ là kí

ức lịch sử, trải nghiệm với những đổi thay trong đời sống xã hội mà còn là kí ức, trảinghiệm văn hóa và ngôn ngữ Hành động tạo lập diễn ngôn luôn luôn buộc chủ thể phảiđối diện với thế giới bên ngoài mình bao gồm đời sống văn hóa xã hội đương thời, ýthức, quan niệm chung của cộng đồng, cả những định kiến có khi rõ rang có khi tồn tại

lơ lửng trong đời sống tinh thần của xã hội, lịch sử, vô thức tập thể… Nó đồng thờibuộc chủ thể phải đối diện với thế giới bên trong mình bao gồm ý thức, quan niệm của

cá nhân, kỉ niệm, những chấn thương tâm lí, những bước ngoặt trong nhận thức và tìnhcảm… Tạo lập diễn ngôn, chủ thể còn phải đối diện với tâm thức sáng tạo của chìnhmình: ứng xử với chất liệu, ứng xử với những văn bản đã có, với truyền thống biểuđạt… Như vậy, ngay cả khi chủ thể để mặc mình trôi theo bản năng sang tạo thì tạo lậpdiễn ngôn vẫn là một sự lựa chọn- lựa chọn từ trong vô thức Không khi nào một diễnngôn ra đời lại hoàn toàn độc lập với ngữ cảnh và chủ thể tạo lập diễn ngôn Hơn thế mốiquan hệ ảnh hưởng này không hề đơn giản Đặc biệt với chủ thể, anh ta không chỉ là ngườiquyết định viết hay không viết, diễn ngôn có được tạo lập hay không mà quan trọng hơnvới sự lựa chọn của mình, anh ta sẽ tạo hình cho diễn ngôn ấy, cho nó một tồn tại thực sự

Ý thức của chủ thể sẽ là nơi diễn ra xung đột giữa những yếu tố đến từ môi trường bênngoài và những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của anh ta Đó cũng là nơi anh ta sẽlựa chọn tạo lập diễn ngôn như một hành vi ứng xử đối với văn hóa xã hội, ứng xử vớingôn ngữ, văn chương và ứng xử với chính bản thân mình

Mối quan hệ giữa ngữ cảnh, chủ thể và diễn ngôn là mối quan hệ hai chiều.Không chỉ có ngữ cảnh và chủ thể quyết định đến sự hình thành và tồn tại của một diễnngôn mà chính diễn ngôn cũng có tác động ngược trở lại đối với ngữ cảnh và chủ thể.Chính những diễn ngôn sẽ định hình lại đặc điểm của ngữ cảnh văn hóa, giới hạn ý thứccủa chủ thể, buộc họ trước hành động tạo lập diễn ngôn mới lại phải đối diện với nótrong tình thế lựa chọn Diễn ngôn chừng nào được chấp nhận và trở nên phổ biến sẽ làmđịnh hình những công thức diễn đạt, hình thành quán tính ngôn ngữ, tạo ra một khôngquyển tinh thần mới cùng với những niềm tin khác Diễn ngôn một khi đã được khai sinh

Trang 12

và được cộng đồng diễn giải thì không còn phụ thuộc vào ngữ cảnh sinh ra nó và chủ thểtạo ra nó nữa Nó trở thành một cơ chế văn hóa tinh thần độc lập, một thiết chế quyền lực

mà cả môi trường lẫn chủ thể tạo lập diễn ngôn không thể có bất kì can thiệp nào để thayđổi nó, trái lại còn có thể trở nên lệ thuộc vào nó

1.1.2 Thành phố trong văn học: bản chất diễn ngôn

Như chúng tôi đã phân tích, thành phố mang bản chất kiến tạo, mang bản chấtdiễn ngôn Văn học cũng mang bản chất diễn ngôn Như vậy sự xuất hiện của thành phốtrong các sáng tác văn chương không chỉ đơn thuần mang tính diễn ngôn mà cần phảinhấn mạnh: đó là diễn ngôn về một diễn ngôn Thành phố là một thực thể diễn ngônđược kiến tạo không chỉ một lần, không chỉ được kiến tạo bằng diện mạo mà còn đượckiến tạo bởi rất nhiều năng lực tâm lí, tinh thần, bởi những năng lực thuộc về cả nhân và

cả những ý niệm thuộc về cộng đồng Căn cứ vào sơ đồ các yếu tố tác động đến việchình thành và duy trì một diễn ngôn, chúng tôi đưa ra phân tích cụ thể về các yếu tố tácđộng đến quá trình tạo lập diễn ngôn thành phố trong văn học như sau:

Trong mối quan hệ tác động từ ngữ cảnh đến diễn ngôn, mặc dù các yếu tố vănhóa xã hội thường không hoàn toàn tách rời nhau và ảnh hưởng đến diễn ngôn thườngmang tính chất cộng hưởng nhưng chúng tôi vẫn cần nhấn mạnh ở đây ba phương diện.Đây là những phương diện quan trọng của ngữ cảnh, có ảnh hưởng trực tiếp và để lạidấu ấn, rõ nét trong diễn ngôn thành phố, đó là: lịch sử thành phố, diện mạo văn hóa đôthị và nếp sống thị dân Về chủ thể của diễn ngôn thành phố, phương diện đầu tiên màchúng tôi muốn nhấn mạnh là tư cách thị dân của chủ thể và vị trí, điểm nhìn mà anh talựa chọn để tạo lập diễn ngôn về thành phố của mình Bên cạnh đó, những mối quan hệgiữa chủ thể- kí ức đô thị, chủ thể- ngôn ngữ, chủ thể- các diễn ngôn khác về thànhphố… vẫn rất quan trọng Sau khi được khai sinh và được chấp nhận, diễn ngôn trởthành một thiết chế quyền lực đối với chính ngữ cảnh và chủ thể tạo lập ra nó Những hệquả của thứ quyền lực ấy không lặng lẽ nằm trong ý thức văn hóa, trong các diễn ngônsau đó mà có thể thấy ngay trên diện mạo vật chất và nếp sống của thành phố

1.2 Diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam 1945- 1975

1.1.1 Diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc giai đoạn 1945- 1975 trong dòng chảy diễn ngôn về Hà Nội trong văn học Việt Nam

Diễn ngôn Hà Nội giai đoạn 1945- 1975 nằm trong mạch diễn ngôn ở thời kìhiện đại Năm 1945 là một dấu mốc vô cùng quan trọng trong lịch sử chính trị xã hộicũng như lịch sử diễn ngôn về Hà Nội, Nó là điểm khởi đầu cho một mạch diễn ngônmới- đó là diễn ngôn thủ đô Mặc dù từng nhiều lần là kinh đô của quốc gia Đại Việttrong thời kì phong kiến, đến đầu thế kỉ XX thì từng là thủ phủ của toàn xứ Đông

Trang 13

Dương thuộc Pháp nhưng chỉ đến ngày 2/9/1945, cùng với sự khai sinh của nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa, ý niệm thủ đô mới ra đời

1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam 1945- 1975

1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội: môi trường tạo lập diễn ngôn

Bối cảnh lịch sử văn hóa của những năm 1945- 1975 có ý nghĩa hết sức quantrọng đối với sự ra đời và tồn tại của cả diễn ngôn thủ đô ở dòng chính và cả diễn ngôn

đô thị ở dòng ngầm Ba mươi năm chiến tranh và dựng xây gian khổ, diễn ngôn Hà Nộitất yếu mang dấu ấn của những biến cố lịch sử lớn lao của Tổ quốc đồng thời mang dấu

ấn của những chấn động riêng trong lịch sử thành phố

Trong phần bối cảnh lịch sử, xã hội văn hóa này, chúng tôi dành sự quan tâmcho những biến cố đã tạo thành dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí người Hà Nội cũngnhư trong diễn ngôn Hà Nội đương thời Biến cố đầu tiên là mùa đông năm 1946 gắnvới lời kêu gọi kháng chiến của Cụ Hồ và cuộc những ngày đêm người Hà Nội chuẩn bịđối phó với kẻ thù, những ngày đêm “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Mùa đông năm

ấy, Hà Nội lặng đị nghe quân thù xả sung thảm sát trên những con phố Hà Nội khôngngủ trong tiếng đục tường, tiếng đào hào đắp ụ, tiếng hô hào tập hợp đồ đạc, vũ khí,tiếng reo hò động viên nhau chuẩn bị tinh thần chiến đấu Mùa đông năm ấy Hà Nội đaulòng chứng kiến những con phố tan hoang, đau lòng để thành phố lại sau lưng nhưngcũng dạt dào hi vọng ngày về xây lại thủ đô

Biến cố lớn thứ hai diễn ra vào năm 1954 Năm 1954 gắn với thắng lợi vẻ vangcủa toàn dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp chin năm Năm 1954, thủ đỏ đónnhững người con đã ra đi từ mùa đông năm 1946 đầu năm 1947 trở vể trong cờ và hoa.Trong cuốn sách của mình, Philippe Papin đã lưu lại ấn tượng này bằng hình ảnh “thành

phố cờ đỏ sao vàng”, Văn Cao viết bài hát Tiến về Hà Nội với “năm cửa ô đón mừng nở

năm cánh đào” chan chứa niềm vui và niềm tự hào Nhưng cũng chính năm 1954 vớiHiệp định Geneve

Biến cố lớn thứ ba, năm 1972 và cụ thể là mười hai ngày đêm cuối tháng 12năm 1972 là một chấn thương ghê gớm trong kí ức Hà Nội Hà Nội mặc dù không phải

là nơi trực tiếp diễn ra chiến tranh nhưng lại trở thành mục tiêu ném bom gây hấn vềquân sự của Mĩ đối với chính quyền Việt Nam Tất nhiên, trong khoảng thời gian khángchiến chống Mĩ từ năm 1954 đến 1975, Hà Nội không chỉ bị ném bom một lần duy nhấtnăm 1972 nhưng năm ấy là năm tột đỉnh của những đau thương và cũng là tột đỉnh sựđộc ác của kẻ thù Có thể nói ba mươi năm từ 1945 đến 1975 đã đặt Hà Nội vào mộttình thế lịch sử khác Hà Nội vừa là thủ đô, trung tâm của cả nước, đi đầu trong sựnghiệp chiến đấu và dựng xây, vừa là niềm tự hào, kiêu hãnh đối với người dân Việt

Ngày đăng: 01/06/2017, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w