MỤC LỤC A PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................ 1 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. ........................................................................... 3 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: ................................................................... 7 4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:................................................................... 8 5. Phương pháp nghiên cứu:.............................................................................. 8 6. Ý nghĩa của đề tài: ......................................................................................... 9 7. Bố cục của báo cáo: ....................................................................................... 9 B NỘI DUNG............................................................................................... 10 Chƣơng 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VĂN HÓA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN................................................................................................................. 10 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ............................................... 10 1.1.1. Văn hóa ................................................................................................. 10 1.1.2. Sức mạnh mềm .................................................................................. 12 1.1.3. Văn hóa kinh doanh .............................................................................. 13 1.1.4. Văn hóa doanh nghiệp ........................................................................... 15 1.4.5. Văn hóa doanh nhân .............................................................................. 16 1.2. Nguồn gốc hình thành văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ......................... 17 1.2.1. Điều kiện địa lý tự nhiên – dân cư Nhật Bản ........................................ 17 1.2.1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên .................................................................... 17 1.2.1.2. Điều kiện địa lý dân cư ...................................................................... 18 1.2.2. Điều kiện lịch sử, văn hóa ..................................................................... 21 1.2.2.1. Thời kì tiền sử .................................................................................... 22 1.2.2.2. Thời cổ đại ......................................................................................... 22 1.2.2.3. Thời trung đại ..................................................................................... 23 1.2.2.4. Thời kì cận hiện đại ............................................................................ 24 1.2.3. Đặc trưng tính cách con người góp phần định hình văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản .............................................................................................. 27 1.2.3.1. Đoàn kết, giữ vững kỷ luật, trật tự xã hội xuất phát từ tinh thần tập thể và lòng kiêu hãnh, trọng danh dự .................................................................... 27 1.2.3.2. Khả năng chịu đựng gian khổ, sự nhẫn nại và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. ........................................................................................ 29 1.2.3.3. Lòng trung thành tuyệt đối với cấp trên......................................... 30 1.2.3.4. Thái độ lịch sự, tự chủ, tránh làm phiền người khác ......................... 31 Tiểu kết chương 1 ......................................................................................... 33 Chƣơng 2: ĐẶC TRƢNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN (QUA KHẢO SÁT CÔNG TY SONY VIỆT NAM) .................................. 34 2.1. Khái lược sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản qua các thời kỳ. ........................................................................................ 34 2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Sony .................................. 36 2.3. Đặc trưng văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở công ty Sony Việt Nam. ............ 40 (Nguồn: nhóm tác giả) .................................................................................... 41 2.3.1. Các biểu trưng trực quan .......................................................................... 41 2.3.2. Các biểu trưng phi trực quan ..................................................................... 42 2.3.2.1. Niềm tin vào sứ mệnh, chiến lược và cam kết của bộ phận lãnh đạo .............. 42 2.3.2.2. Đặc trưng trong đạo đức kinh doanh.................................................. 44 2.3.2.3. Đặc trưng trong triết lý kinh doanh của Sony Việt Nam ................... 46 2.3.2.5. Chế độ tuyển dụng suốt đời. .............................................................. 48 2.3.2.6. Chế độ đãi ngộ theo thâm niên công tác ............................................ 50 2.3.2.7. Tổ chức công hội ................................................................................ 51 2.3.2.8. Tinh thần Sony ................................................................................... 51 2.3.2.9. Đặc trưng trong thái độ ứng xử và hành vi giao tiếp ......................... 55 2.3.2.10. Đặc trưng trong các hoạt động văn hóa của công ty ........................ 65 2.3.2.11. Đặc trưng trong việc việc thực thi trách nhiệm xã hội .................... 66 Tiểu kết chương 2 ......................................................................................... 68 CHƢƠNG 3: VĂN HÓA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM: NHỮNG ẢNH HƢỞNG VÀ SÁCH LƢỢC PHÁT TRIỂN. .................... 69 3.1. Những nét tương đồng về lịch sử văn hóa giữa hai nước Việt – Nhật tác động đến văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam.................................. 69 3.2. Nhật Bản – kiểu mẫu văn hóa doanh nghiệp đối với Việt Nam .............. 71 3.3. Ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam. ............... 73 3.3.1. Tạo cơ hội tăng cường quan hệ kinh tế và chính trị giữa hai nước. .............. 73 3.3.2. Giúp Việt Nam học hỏi về khoa học kỹ thuật và trình độ phát triển văn hóa giáo dục của Nhật Bản. ......................................................................... 76 3.3.3. Góp phần thiết lập một cộng đồng châu Á bền vững. .......................... 77 3.3.4. Góp phần đa dạng thị hiếu văn hóa của các doanh nghiệp Việt. .......... 78 3.3.5. Nguy cơ của chủ nghĩa thương mại hóa. .............................................. 78 3.3.6. Nguy cơ chủ nghĩa đế quốc văn hóa ........................................................... 79 3.4. Những biện pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam. ... 80 3.4.1. Cải thiện ngoại giao nhà nước. ............................................................. 80 3.4.2. Cải thiện ngoại giao nhân dân: .............................................................. 81 3.4.4. Cải thiện ngoại giao kinh tế: ................................................................. 83 3.4.5. Cải thiện những hoạt động trao đổi, hợp tác trên lĩnh vực báo chí: .............. 84 3.4.6. Kiểm soát việc học tập mô hình văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản một cách chặt chẽ. .................................................................................................. 84 Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 86 C KẾT LUẬN .............................................................................................. 87 PHỤ LỤC ......................................................................................................... 1 TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 9
Trang 1MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 7
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: 8
5 Phương pháp nghiên cứu: 8
6 Ý nghĩa của đề tài: 9
7 Bố cục của báo cáo: 9
B - NỘI DUNG 10
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VĂN HÓA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN 10
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 10
1.1.1 Văn hóa 10
1.1.2 Sức mạnh mềm 12
1.1.3 Văn hóa kinh doanh 13
1.1.4 Văn hóa doanh nghiệp 15
1.4.5 Văn hóa doanh nhân 16
1.2 Nguồn gốc hình thành văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản 17
1.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên – dân cư Nhật Bản 17
1.2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên 17
1.2.1.2 Điều kiện địa lý dân cư 18
1.2.2 Điều kiện lịch sử, văn hóa 21
1.2.2.1 Thời kì tiền sử 22
1.2.2.2 Thời cổ đại 22
1.2.2.3 Thời trung đại 23
1.2.2.4 Thời kì cận hiện đại 24
Trang 21.2.3 Đặc trưng tính cách con người góp phần định hình văn hóa doanh
nghiệp Nhật Bản 27
1.2.3.1 Đoàn kết, giữ vững kỷ luật, trật tự xã hội xuất phát từ tinh thần tập thể và lòng kiêu hãnh, trọng danh dự 27
1.2.3.2 Khả năng chịu đựng gian khổ, sự nhẫn nại và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc 29
1.2.3.3 Lòng trung thành tuyệt đối với cấp trên 30
1.2.3.4 Thái độ lịch sự, tự chủ, tránh làm phiền người khác 31
* Tiểu kết chương 1 33
Chương 2: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN (QUA KHẢO SÁT CÔNG TY SONY VIỆT NAM) 34
2.1 Khái lược sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản qua các thời kỳ 34
2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Sony 36
2.3 Đặc trưng văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở công ty Sony Việt Nam 40
(Nguồn: nhóm tác giả) 41
2.3.1 Các biểu trưng trực quan 41
2.3.2 Các biểu trưng phi trực quan 42
2.3.2.1 Niềm tin vào sứ mệnh, chiến lược và cam kết của bộ phận lãnh đạo 42
2.3.2.2 Đặc trưng trong đạo đức kinh doanh 44
2.3.2.3 Đặc trưng trong triết lý kinh doanh của Sony Việt Nam 46
2.3.2.5 Chế độ tuyển dụng suốt đời 48
2.3.2.6 Chế độ đãi ngộ theo thâm niên công tác 50
2.3.2.7 Tổ chức công hội 51
2.3.2.8 Tinh thần Sony 51
2.3.2.9 Đặc trưng trong thái độ ứng xử và hành vi giao tiếp 55
2.3.2.10 Đặc trưng trong các hoạt động văn hóa của công ty 65
2.3.2.11 Đặc trưng trong việc việc thực thi trách nhiệm xã hội 66
* Tiểu kết chương 2 68
Trang 3CHƯƠNG 3: VĂN HÓA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM:
NHỮNG ẢNH HƯỞNG VÀ SÁCH LƯỢC PHÁT TRIỂN 69
3.1 Những nét tương đồng về lịch sử - văn hóa giữa hai nước Việt – Nhật tác động đến văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam 69
3.2 Nhật Bản – kiểu mẫu văn hóa doanh nghiệp đối với Việt Nam 71
3.3 Ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam 73
3.3.1 Tạo cơ hội tăng cường quan hệ kinh tế và chính trị giữa hai nước 73
3.3.2 Giúp Việt Nam học hỏi về khoa học kỹ thuật và trình độ phát triển văn hóa - giáo dục của Nhật Bản 76
3.3.3 Góp phần thiết lập một cộng đồng châu Á bền vững 77
3.3.4 Góp phần đa dạng thị hiếu văn hóa của các doanh nghiệp Việt 78
3.3.5 Nguy cơ của chủ nghĩa thương mại hóa 78
3.3.6 Nguy cơ chủ nghĩa đế quốc văn hóa 79
3.4 Những biện pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam 80
3.4.1 Cải thiện ngoại giao nhà nước 80
3.4.2 Cải thiện ngoại giao nhân dân: 81
3.4.4 Cải thiện ngoại giao kinh tế: 83
3.4.5 Cải thiện những hoạt động trao đổi, hợp tác trên lĩnh vực báo chí: 84
3.4.6 Kiểm soát việc học tập mô hình văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản một cách chặt chẽ 84
*Tiểu kết chương 3 86
C - KẾT LUẬN 87
PHỤ LỤC 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 4A - PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, đối với các doanh nghiệp, khi các nguồn lực bên trong và bên ngoài đang dần cạn kiệt, khi doanh số ngày càng giảm, việc duy trì sự tồn tại trở thành mối quan tâm hàng đầu, thì việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp càng trở nên vô cùng cấp thiết Mỗi doanh nghiệp đều có sứ mệnh riêng và bằng sứ mệnh đó hòa mình vào trong dòng chảy của xã hội Doanh nghiệp dù là sản xuất hay dịch vụ, dù dựa trên hoạt động thủ công hay
tự động hóa, cơ giới hóa thì đều được vận hành bởi con người Có trường hợp con người trở thành sức mạnh hay lợi thế cạnh tranh, nhưng cũng có trường hợp con người trở thành điểm yếu làm đẩy lùi hay làm chậm tốc độ phát triển của nó Sự liên kết giữa doanh nghiệp và các thành viên (tức yếu tố con người) được xây dựng, phát triển thông qua văn hóa doanh nghiệp Một lãnh đạo doanh nghiệp giỏi luôn đòi hỏi phải hiểu rõ giá trị của văn hóa doanh nghiệp đối với sự thành bại của nó Sức nặng của văn hóa doanh nghiệp chỉ hiện hữu khi những người có trách nhiệm tính đến việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở tầng sâu nhất với các giá trị cơ bản và triết lý kinh doanh mà doanh nghiệp ấy theo đuổi
Ở Việt Nam, trong nhiều năm trở lại đây, văn hóa doanh nghiệp cũng đã
và đang trở thành đề tài nóng đối với rất nhiều doanh nghiệp Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn chưa hiểu rõ khái niệm cũng như các cấp độ biểu hiện của văn hoá doanh nghiệp, do đó, vẫn chưa có sự quan tâm xây dựng và phát huy đúng mức yếu tố này trong doanh nghiệp mình
Trên thế giới hiện nay, Nhật Bản được xem là nước xây dựng văn hóa doanh nghiệp đạt hiệu quả nhất và chính văn hóa doanh nghiệp đã trở thành động lực quan trọng đưa các doanh nghiệp Nhật vươn lên vị trí hàng đầu Sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản sau thế chiến thứ hai đã làm cả thế giới kinh ngạc Từ đống tro tàn sau cuộc chiến, Nhật Bản vươn lên trở thành một trong
Trang 5những cường quốc bậc nhất thế giới Để có được sự phát triển vượt bậc đó, các nhà kinh tế và chủ doanh nghiệp Nhật Bản đã giải quyết được vấn đề cơ bản và cốt lõi nhất trong việc quản trị nhân lực bằng chiến lược con người Các tập đoàn nổi tiếng ở Nhật như Honda, Toyota hay Mitsushita, … đều đã xây dựng được một tảng nền văn hoá doanh nghiệp bền vững, vừa giữ gìn được các giá trị cốt lõi vốn có, đồng thời không ngừng điều chỉnh để thích ứng với đặc điểm của mỗi địa phương cũng như môi trường kinh doanh ngày càng biến động Từ đây đưa văn hóa doanh nghiệp trở thành một trong những nguồn lực sức mạnh mềm vô giá, góp phần xác lập vị thế quan trọng của Nhật Bản trong nền kinh tế thế giới, mà trọng tâm trước hết là ở các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam chúng ta
Thực tế cho thấy, từ sau cải cách mở cửa năm 1986 đến nay, Việt Nam
đã đón chào nhiều dòng đầu tư kinh tế từ bên ngoài và theo đó, các dòng chảy văn hóa mang hơi thở thời đại cùng theo vào Trong số những làn sóng văn hóa mới du nhập vào, văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản chiếm một vị trí quan trọng và thu hút được sự quan tâm rất lớn của các doanh nghiệp cũng như người lao động Việt Nam Có thể văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản đến với Việt Nam muộn hơn so với các lĩnh vực văn hóa khác của Nhật nhưng sức hút của nó được thể hiện qua chế độ tuyển dụng suốt đời, chế độ đãi ngộ theo thâm niên công tác, hay chế độ làm việc theo chủ nghĩa tập thể lại rất phù hợp với văn hóa Việt Nếu như Hàn Quốc tập trung xây dựng sức mạnh mềm của mình thông qua văn hóa đại chúng thì Nhật Bản lại tập trung vào yếu tố thần kỳ trong phát triển kinh tế do văn hóa doanh nghiệp đem lại để thu hút các nước chậm phát triển hay đang phát triển như Việt Nam
Tiêu biểu cho sự áp dụng thành công mô mô hình văn hóa doanh nghiệp Nhật ở nước ta phải kể đến công ty Sony Việt Nam Việc áp dụng thành công văn hóa doanh nghiệp Nhật tại Sony không hề làm đánh mất đi truyền thống văn hóa Việt Nam Văn hóa doanh nghiệp Nhật thực sự trở thành niềm tự hào của mỗi nhân viên trong doanh nghiệp Sony Các thế hệ
Trang 6Sony nối tiếp nhau đã trân trọng duy trì và cùng nhau vun đắp cho văn hóa doanh nghiệp Sony ngày càng định hình rõ nét cá tính, bản sắc của mình Sự thành công đó của Sony Việt Nam đã và đang tác động tới nhận thức của không
ít nhiều doanh nghiệp khác trên đất Việt Vì vậy, vấn đề xoay quanh văn hóa doanh nghiệp và sức hấp dẫn của nó luôn là điều chúng tôi băn khoăn, trăn trở và muốn tìm câu giải đáp thỏa đáng Vậy, thực chất văn hóa doanh nghiệp là gì? Nguyên nhân gì khiến cho văn hóa doanh nghiệp trở nhân tố quan trọng đối với
sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Nhật? Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam có những đặc trưng gì và có tác động như thế nào đến đời sống xã hội Việt? Đó là những câu hỏi mà đề tài này tập trung hướng đến
Hơn nữa, đặt trong mối quan hệ giữa hai nước hiện nay, để góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác, trao đổi giữa đôi bên, qua đó tăng cường hiểu biết văn hóa lẫn nhau, thì rõ ràng việc tìm hiểu sự hình thành, phát triển của văn hóa doanh nghiệp Nhật và ảnh hưởng của nó tới Việt Nam, để từ đó có đường lối văn hóa đối ngoại thích hợp thiết nghĩ là một việc làm vô cùng cần thiết
Từ những ý nghĩa lí luận và thực tiễn ấy, chúng tôi đã quyết định chọn:
“Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản (Qua khảo sát trường hợp công ty Sony Việt Nam): Tiếp cận từ góc độ liên ngành” làm đề tài báo cáo khoa học của mình
James C Abegglen, George Stalk Jr trong Kaisha Công ty Nhật Bản
(Viện kinh tế thế giới, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 1988) đã chỉ
ra rằng kaisha (công ty) đã giải quyết rất có hiệu quả vấn đề cơ bản là làm thế nào để kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân trong một tổ chức với lợi ích của chính tổ chức đó Chế độ quản lý trong Kaisha đã giảm thiểu những mâu thuẫn và kết hợp mọi thành viên trong nhóm thành một hệ thống, làm việc vì lợi ích chung
Trang 7Rodney Clark là một trong những tác giả nổi tiếng được biết đến với
tác phẩm Công ty Nhật Bản (NXB Khoa học xã hội, Viện kinh tế thế giới,
1989) Là nhà nghiên cứu Mỹ có nhiều năm nghiên cứu và hoạt động thực tiễn ở Nhật Bản, Rodney Clark đã xem xét doanh nghiệp Nhật Bản dưới góc độ lịch sử
và hoạt động thực tiễn để đối chiếu với công ty Mỹ và Tây Âu Từ tác phẩm của mình, R Clark đã lý giải cách thức quản lý của một doanh nghiệp Nhật Bản, ảnh hưởng của phong cách làm việc ấy đối với người Nhật và những lợi ích mà doanh nghiệp Nhật Bản thu được từ cách thức quản lý này
Tiếp đó, nhà nghiên cứu Erza F.Vogel trong Nhật Bản số 1, những bài học cho Hoa Kỳ (Viện nghiên cứu quản lý trung ương, trung tâm thông tin tư
liệu, 1989) đã mô tả một cách chọn lọc những khía cạnh về hệ thống quốc gia của Nhật Bản hoạt động có hiệu quả đến mức Mỹ phải học tập Nhận diện những thay đổi sâu sắc về cơ cấu của Nhật Bản khi vay mượn khuôn mẫu phương Tây, Erza F.Vogel thấy được tầm quan trọng của việc nước Mỹ cần phải nghiêm túc học hỏi những người mà họ “không coi là người thầy”
Tại Nhật Bản, văn hóa doanh nghiệp từng là đề tài sôi nổi trong các thập kỷ 1970-1990 Tiêu biểu là nghiên cứu của Michio Morishima, với tiêu
đề Tại sao Nhật Bản lại “thành công”?, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,
1991 Cuốn sách bao gồm những bài giảng đã được thực hiện tại trường đại học tổng hợp Cambridge vào tháng 3 năm 1981 Công trình nghiên cứu trong chuỗi tác phẩm của Morishima (Tại sao Nhật Bản lại “thành công”?, Tại sao Nhật Bản suy thoái?, Tại sao Nhật Bản bế tắc?) đã làm sáng tỏ hai khía cạnh: phải chăng nước Nhật đã thực sự thành công (chữ thành công được để trong ngoặc kép đầy ẩn ý) và lý giải sự thành công ấy
2.2 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các học giả Việt Nam
về văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về văn hóa Nhật Bản nói chung và văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản nói riêng đã được quan tâm từ lâu và đã có nhiều công trình được xuất bản, nhiều bài viết đăng trên các tạp chí Hiện nay, khi mối qua
Trang 8hệ Nhật – Việt ngày càng được tăng cường bởi nguồn vốn ODA và FDI từ các doanh nghiệp Nhật Bản, thì nhu cầu tìm hiểu về văn hóa Nhật Bản nói chung và văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản nói riêng đang trở nên vô cùng cấp thiết
Về văn hóa Nhật Bản trên các phương diện khác nhau như: chữ viết, văn học, nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng… cũng đã có nhiều tác giả đề cập đến Tiêu biểu như: Vào năm 1989, tác giả Nguyễn Hữu Ngọc trong cuốn
Hoa Anh Đào và điện tử đã có nhiều gợi ý về những thành tựu của nền văn hóa đó qua các giai đoạn lịch sử Năm 1990 San Son tác giả của hai tập Lược
sử văn hóa Nhật Bản đã miêu tả sơ lược về nguồn gốc và những đặc điểm của
tín ngưỡng dân tộc ở chương III, quá trình tiếp thu, phát triển về tư tưởng Nho giáo và Phật giáo ở chương VI, sự hình thành và Nhật Bản hóa hệ tư tưởng này Ngoài ra, tác giả còn lý giải về sự ra đời và hình thành của chữ viết, văn học, nghệ thuật Nhật Bản ở chương VI và chương XII Sự phát triển phổ biến của nền văn hóa Nhật Bản mang màu sắc dân tộc được tác giả bàn tới ở chương
VI và chương XII Sự phát triển phổ biến của nền văn hóa Nhật Bản mang màu sắc dân tộc được tác giả bàn tới ở chương XVI và XVIII Năm 1991, tác giả
Vĩnh Sính trong tác phẩm Nhật Bản cận đại đã đưa gia những khảng định khái
quát về những thành tựu văn hóa trong từng giai đoạn lịch sử của chế độ phong kiến Nhật Bản Năm 1995, các tác giả Rechard Bowring và Peter Nikki trong
cuốn Bách khoa toàn thư Nhật Bản đã đưa ra những mục đích đặc điểm khái
quát về văn học nghệ thuật, tôn giáo, kiến trúc hội họa, điêu khắc,…
Đặc biệt, không ít nhà nghiên cứu Việt Nam đã bàn về văn hóa doanh nghiệp Nhật trên một số khía cạnh nhất định Nhà nghiên cứu Hải Minh trong
Quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự trong công ty Nhật Bản (NXB TP Hồ
Chí Minh, 1994) đã phân tích, làm rõ những đặc trưng nổi bật của văn hóa Nhật Bản Từ đó nhận thức được những đặc điểm, tính cách của con người, xã hội Nhật Bản và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố văn hóa tới việc quản trị nhân sự trong công ty Nhật Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã tập trung phân tích mô hình của Nhật Bản và bước đầu đưa ra kinh nghiêm cho doanh nghiệp
Trang 9Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đề cập đến văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam
Nhà nghiên cứu Lưu Ngọc Trịnh trong Chiến lược con người trong “thần kỳ” kinh tế Nhật Bản (NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1996) đã đưa ra nhận định
rằng yếu tố con người là một trong những yếu tố quan trọng nhất và quyết định nhất trong phát triển kinh tế Nhật Bản, góp phần tạo nên sự thần kỳ của nền kinh
tế Nhật Bản sau chiến tranh Ngoài ra, tác giả nhấn mạnh con người là nguồn lực
vô cùng quý giá mà nước Nhật bại trận đã biết tận dụng, phát huy để mau chóng vực dậy nền kinh tế kiệt quệ, đuổi kịp các nước khác
Tiếp đó, năm 1997, các tác giả Lương Duy Thứ, Phan Nhật Chiêu,
Phan Thu Hiền trong Đại cương văn hóa phương Đông đã đưa ra nhận xét
rằng “Văn hóa Nhật chịu ảnh hưởng cả hai nền văn hóa Ấn – Trung và sau này của Phương Tây mà vẫn kiến tạo được một bản sắc độc đáo, Nhật Bản là một biểu mẫu thân hóa, dung hợp và phát triển các ngọn nguồn văn minh
Tiếp theo đó, vào năm (2008), TS Phạm Quý Long trong Quản lý nguồn nhân lực ở công ty Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho doanh nhân Việt Nam (NXB Khoa học xã hội) đã tập trung nghiên cứu mô hình quản lý
trong doanh nghiệp Nhật Bản và các tác dụng tích cực trong việc nâng cao năng suất lao động của người lao động trong nền kinh tế thị trường Theo TS Phạm Quý Long, việc học hỏi mô hình quản lý trong doanh nghiệp Nhật Bản
là điều hết sức cần thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 10Đến năm 2009, Nguyễn Thị Thu Huyền trường Đại học Ngoại Thương
viết trong khóa luận tốt nghiệp của mình với đề tài: Kinh nghiệp xây dựng văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản và khả năng áp dụng ở Việt Nam Đề tài chỉ tìm
hiểu những lý luận liên quan tới văn hóa doanh nghiệp Nhât Bản, thực trạng văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam và rút ra kinh nghiệm và giải pháp để điều chỉnh ứng dụng văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản vào các doanh nghiệp Việt Nam
6 năm sau (2015), Nguyễn Thu Hà trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội đã viết trong luận văn thạc sĩ với đề tài:
Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn Fujitsu Việt Nam) Với đề tài này, tác giả mới chỉ nghiên
cứu cơ sở hình thành văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản, nhưng chưa giải thích được nguyên nhân hình thành Ngoài ra, tác giả mới chỉ nêu được đặc trưng văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản của công ty Fujitsu trên lĩnh vực quản lý là chủ yếu
Tuy nhiên, tất cả những đề tài nhiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc giới thiệu về lịch sử, văn hóa, con người Nhật Bản, về mối quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và Việt Nam, cũng có đề tài bàn về văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản nhưng chỉ dừng lại ở việc phân tích một vài khía cạnh nhỏ của văn hóa doanh Nhật Bản, chưa đưa ra được nguyên nhân, đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam cũng như sự tác động của nó đối với nền
văn hóa Việt Nam một cách hoàn chỉnh, hệ thống Với đề tài: “Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản (Qua khảo sát trường hợp công ty Sony Việt Nam): Tiếp cận từ góc độ liên ngành”, chúng tôi mong muốn đưa ra một cái nhìn
hệ thống, toàn diện về văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản và những ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam chúng ta
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam và những hàm ý của nó đối với việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam (qua nghiên cứu điển hình công ty SONY Việt Nam)
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian nghiên cứu: thực hiện đề tài này, chúng tôi đã nghiên cứu
văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản từ lúc hình thành cho đến những bước phát triển mạnh mẽ như ngày hôm nay
- Về không gian nghiên cứu:
+ Đề tài nghiên cứu trong phạm vi không gian là văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản, đặc biệt qua khảo sát về sự ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở công ty Sony Việt Nam
+ Đề tài nghiên cứu dưới góc nhìn văn hóa doanh nghiệp
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của đề tài nghiên cứu là tìm hiểu về văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản - một trong những yếu tố quan trọng nổi bật góp phần làm nên sức mạnh mềm rất riêng của đất nước Nhật
Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng văn hóa doanh nghiệp Nhật ở Việt Nam Từ đó rút ra đặc trưng
và lí giải được căn nguyên làm nên thành công của các doanh nghiệp Nhật trên thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp cơ bản sau:
Phương pháp hệ thống - liên ngành: sử dụng kiến thức, phương pháp
của nhiều chuyên ngành liên quan như lịch sử, địa lý, kinh tế học…để xem xét những phương diện khác nhau của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống
kê, phân loại các tư liệu đã thu thập được, giúp người nghiên cứu nhìn nhận, phân tích, đánh giá tính khả thi của vấn đề đặt ra
Quan sát là phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu đề tài này
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp quan sát để nhìn nhận khái quát một cách toàn diện về văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản, đi sâu vào nghiên cứu từng giai đoạn nhỏ trong lịch sử phát triển văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
Trang 12Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phỏng vấn dưới hình
thức lập bảng hỏi về những vấn đề liên quan đến văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản trong doanh nghiệp Sony Việt Nam
Bên cạnh những phương pháp trên, đề tài còn kết hợp sử dụng phương pháp logic và phương pháp lịch sử Hai phương pháp này bổ sung, hỗ trợ lẫn
nhau giúp người nghiên cứu, nhìn nhận vấn đề một cách logic, khoa học trong việc xử lý tài liệu, so sánh, đối chiếu theo hệ thống thông tin đã thu thập được Dựa trên cơ sở đó để giải thích, đánh giá và tìm ra những kết luận đúng mang tính khách quan
6 Ý nghĩa của đề tài:
Nhật Bản và Việt Nam đã có sự giao lưu trên rất nhiều lĩnh vực Hiện nay, Nhật Bản là quốc gia đứng đầu trong việc đầu tư vào Việt Nam Điều này đang tạo ra một môi trường thuận lợi để để các doanh nghiệp Việt Nam
có thể xem xét, học hỏi những kinh nghiệm xây dựng văn hóa doanh nghiệp của Nhật và từ đó ứng dụng vào thực tiễn trong nước Công trình nghiên cứu này sẽ giúp người đọc hiểu biết thêm về đất nước, con người Nhật, văn hóa, cách sống và lề lối làm việc của họ, cũng như khảo sát, đánh giá về những mặt tốt, những hạn chế để từ đó rút ra kinh nghiệm và có sự điều chỉnh hợp lý khi áp dụng vào các công ty, doanh nghiệp Việt Nam
7 Bố cục của báo cáo:
Ngoài phần Mở đầu, phần Nội dung, Kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo, báo cáo của nhóm chúng tôi gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở hình thành nên văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
Chương 2: Đặc trưng văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam (qua
khảo sát trường hợp công ty Sony Việt Nam)
Chương 3: Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam: Ảnh hưởng
và sách lược phát triển
Trang 13B - NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VĂN HÓA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
1.1.1 Văn hóa
Văn hóa là một khái niệm rất rộng lớn thể hiện ở nhiều loại đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại, nói cách khác văn hóa ra đời từ thưở bình minh của xã hội loài người Cùng quá trình phát triển của nhân loại, khái niệm văn hóa đã liên tục được bổ sung thêm những nội dung mới Năm 1952 hai nhà nhân chủng học người Mỹ là A L Kroeber và K Kluckolm đã sưu tầm được khoảng164 định nghĩa khác nhau về văn hóa Tại hội nghị về văn hóa UNESCO tại Mêhicô năm 1982, người ta đã đưa ra được 200 định nghĩa về văn hóa Hiện nay, số lượng khái niệm về văn hóa đã tăng đến con số hàng ngàn đơn vị, không có thể thống kê hết Bởi văn hóa là một khái niệm đa nghĩa do từng nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau, dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về
khái niệm văn hóa
Theo Lưu Hướng: Thời Tây Hán (76 – 6 trước Công nguyên) được coi
là người đầu tiên dùng thuật ngữ văn hóa lấy từ “ Văn” và “ Hóa” trong bí sách Chu Dịch (Quan hồ nhân văn, dĩ hóa thiên hạ, có nghĩa là xem dáng vẻ con người mà giáo hóa thiên hạ) Đồng quan niệm này, quan niệm “Văn hóa = Văn trị + giáo hóa”, có nghĩa là sống trong đời sống tổ chức cần quản lý con người bằng cái đẹp của nhân văn để đối lập với tư tưởng quản lý bằng bạo lực Trong bất kì loại hình tổ chức nào, chúng ta cũng thấy văn hóa góp phần quyết định đến đời sống tổ chức
Theo nghĩa của Từ nguyên, văn hóa trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều có nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng
Trang 14nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Vì lợi ích mười năm trồng cây và lợi ích trăm năm trồng người” là theo ngữ nghĩa căn bản này của văn hóa Tóm lại, dù ở phương Đông hay phương Tây thì văn hóa đều được coi là hoạt động tinh thần hướng tới việc sản xuất ra các giá trị Chân, Thiện, Mỹ
Theo nghĩa hẹp, văn hóa là hệ tư tưởng, các hệ thống và các thể chế đi theo
nó như văn hóa, nghệ thuật, khoa học, triết học, đạo đức học… Theo đó, văn hóa được giới hạn theo bề sâu và bề rộng, theo không gian, thời gian, chủ thể
Trong khoa học nghiên cứu văn hóa, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng Theo nghĩa này, định nghĩa văn hóa cũng có rất nhiều Năm 1874, trong
công trình nghiên cứu Văn hóa nguyên thủy ( xuất bản lần đầu năm 1871), nhà
nhân chủng học người Anh Edawrd Burnett Tylor (1832 – 1917) đã đưa ra định
nghĩa: “ Văn hóa là một tổng thể phức tạp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen, tập quán mà con người đạt được với tư cách là thành viên của xã” [15, tr 8] Cho đến nay,
phần lớn các nhà nghiên cứu văn hóa đều xem đây là định nghĩa khoa học đầu
tiên về khái niệm văn hóa, mặc dù danh từ văn hóa – cultura đã xuất hiện khá
sớm trong đời sống ngôn ngữ ở cả phương Đông và phương Tây
Vào năm 1943, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về văn hóa:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
Trang 151.1.2 Sức mạnh mềm
Sức mạnh mềm (soft power) là khái niệm được học giả người Mỹ Joseph S.Nye đưa ra vào những thập niêm của thế kỷ XX “Sức mạnh mềm” này được dùng để phân biệt với “sức mạnh cứng” vẫn được áp dụng từ trước đến nay Vậy “sức mạnh mềm” là gì? Lợi ích của nó ở đâu? Và khả năng thực hiện nó ra sao:
Cụm từ “sức mạnh mềm” được Nye đề cập đến đầu tiên trong một cuốn sách viết về sự thay đổi bản chất quyền lực Mỹ Sau đó, khái niệm tiếp tục được khái quát và nghiên cứu sâu trong cuốn sách nổi bật sau này của ông
“Sức mạnh mềm – các phương thức để thành công trong chính trị quốc tế”
The Nye, sức mạnh mềm là khả năng đạt được những điều mong muốn thông qua sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị các chính sách đối ngoại để thu phục thiên hạ chứ không phải cưỡng bức Sức mạnh mềm của một quốc gia
xuất phát từ ba yếu tố: văn hóa, hệ giá trị và chính sách đối ngoại” [6, tr25]
Nói cách khác, sức mạnh mềm là khả năng ảnh hưởng tới thực thể khác thông qua sức hấp dẫn và hợp tác chứ không phải bằng tiền bạc hay vũ lực Điều trái ngược cơ bản với sức mạnh cứng, thú sức mạnh dựa trên đe dọa mua chuộc, sức mạnh quân sự, kinh tế, khoa học – công nghệ Sức mạnh mềm thông qua khả năng tạo ra ảnh hưởng đối với đối tượng cần tác động bằng cách chi phối đến hệ thống giá trị, làm thay đổi suy nghĩ của họ, khiến đối tượng này mong
muốn và thực hiện đúng điều mà chủ thể tiến hành đặt ra Như vậy, phương thức để đạt được sức mạnh mềm là thông qua sự hấp dẫn thuyết phục, dùng sức mạnh thu hút và không cần vũ trang
Có thể nói sức mạnh mềm có giá trị to lớn trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia dân tộc Bởi vì, sức mạnh của đất nước là sự tổng hợp, hòa hợp giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm Việc kết hợp khéo léo, tài tình giữa hai sức mạnh đó sẽ tạo nên một thứ sức mạnh vô cùng to lớn mà sau này Nye
gọi là “sức mạnh thông minh” (smart power) Từ xa xưa, đã có rất nhiều quốc
gia khác trên thế giới xem nó như một biện pháp truyền thống để thực hiện
Trang 16mục đích khai thác thuộc địa của mình Nếu Trung Quốc dùng Nho Giáo và đạo Khổng để trói buộc nhân dân ta, thì hiện nay Nhật Bản đang tăng cường chính sách nhằm gia tăng sức mạnh mềm như một công cụ hòa bình
Tuy nhiên, việc sử dụng sức mạnh mềm để khảng định vị trí của mình còn phụ thuộc vào bản lĩnh của quốc gia đó trong việc truyền bá, sử dụng sức mạnh mềm để thực hiện được mục đích đề ra Bên cạnh đó, nó còn phụ thuộc vào bản lĩnh của quốc gia tiếp nhận sức mạnh mềm đó Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa việc sử dụng sức mạnh cứng đã không còn phù hợp và là lựa chọn hàng đầu của các quốc gia, thay vào đó sức mạnh mềm được quan tâm nhấn mạnh hơn Không chỉ bởi nó phù hợp với xu thế thời đại mà còn bởi tính chất “lạt mềm buộc lạt chặt” và ít tốn kém hơn để đạt mục đích thông qua sử dụng công cụ này Có lẽ vì thế mà chưa bao giờ như hiện nay lại có nhiều quốc gia chạy đua trong việc gia tăng sức mạnh mềm như vậy Trong đó Nhật Bản là một ví dụ điển hình với xu thế phát triển chung và trình độ văn minh ngày càng cao Sức mạnh mềm đã, đang và sẽ trở thành sự lựa chọn trước hết của Nhật Bản cũng như các quốc gia trên thế giới
Theo Nye, sức mạnh mềm của các quốc gia xuất phát từ văn hóa, hệ giá trị và chính sách Trong đó, sức mạnh mềm về văn hóa bao hàm thành tố của
nó như ẩm thực, trang phục, âm nhạc, tôn giáo, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp… Nhật Bản đã chọn văn hóa doanh nghiệp là một nhân tố cốt yếu trong việc “sức mạnh mềm của mình đối với toàn thế giới; trước hết là ở các quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam chúng ta
1.1.3 Văn hóa kinh doanh
Nếu văn hóa là nền tảng tinh thần đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội thì văn hóa kinh doanh (business cultere) lại chính là nền tảng tinh thần, linh hồn cho một quốc gia Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về Văn hóa kinh doanh:
Theo từ điển tiếng Việt, “Kinh doanh” được hiểu là “Tổ chức việc sản xuất buôn bán sao cho sinh lời” Với ý nghĩa này, “Kinh doanh” có nghĩa là
Trang 17“Buôn bán” và “Tổ chức việc sản xuất” Kinh doanh là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm hướng tới mục đích đạt lợi nhuận qua một loạt các hoạt động kinh doanh như quản trị tiếp thị, tài chính kế toán, sản xuất Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người, là một hoạt động cơ bản của con người xuất hiện cùng với kinh tế hàng hóa và thị trường Danh từ kinh doanh là một nghề được dùng để chỉ những con người hiện thực các hoạt động nhằm mục đích kiếm lời Nếu kinh doanh là một động từ, nó chỉ để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị trường [8, tr42 – 43]
Hiểu theo nghĩa nào thì mục đích chính của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh nên bản chất của kinh doanh là kiếm lợi nhuận Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động xã hội tạo ra Còn việc kinh doanh như thế nào, kinh doanh đem lại lợi ích và giá trị cho ai thì đó chính là vấn đề của văn hóa kinh doanh
Trong kinh doanh, những sắc thái mang tính văn hóa có mặt trong toàn
bộ quá trình tổ chức và hoạt động của kinh doanh Đã được thể hiện từ cách lựa chọn, cách bố trí máy móc và dây truyền công nghệ Cả cách tổ chức bộ máy về nhân sự và hình thành quan hệ giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức cho tới quản lý kinh doanh mà chủ thể áp dụng sao cho hiệu quả nhất Hoạt động kinh doanh không lấy giá trị của văn hóa làm mục đích trực tiếp, song nghệ thuật kinh doanh từ việc tạo vốn ban đầu, tìm địa bàn kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, … được thành công với những biểu hiện và giá trị tốt đẹp thì kinh doanh cũng là biểu hiện sinh động của văn hóa con người
Với cách tiếp cận văn hóa như mục trên, chúng ta có thể hiểu theo
nghĩa rộng, văn hóa kinh doanh (business culture) là toàn bộ các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần do chủ thể kinh doanh sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong sự tương tác giữa chủ thể kinh doanh với môi trường kinh doanh Như vậy, theo nghĩa rộng văn hóa kinh doanh là
Trang 18toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, những phương thức và kết quả hoạt động của con người được tạo ra và sử dụng trong quá trình kinh doanh
Văn hóa là những giá trị, thái độ và hành vi giao tiếp được đa số thành viên của một nhóm người cùng chia sẻ và phân định nhóm này với nhóm khác Văn hóa là quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành nên thói quen lối ứng xử của cá nhân, tổ chức làm kinh tế (Doanh nghiệp – doanh nhân) với tất cả những gì liên quan phù hợp với xu thế thời đại Do vậy, theo
nghĩa hẹp chúng ta có thể hiểu: Văn hóa kinh doanh là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và các hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với tự nhiên
và xã hội ở một cộng đồng hay một khu vực [8, tr – 43]
Từ những cách hiểu trên, chúng tôi xin đưa ra một định nghĩa mang
tính khái quát về văn hóa kinh doanh như sau: Văn hóa kinh doanh là sự vận dụng các giá trị văn hóa bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần vào trong quá trình kinh doanh của chủ thể kinh doanh nhằm tạo nên những sản phẩm, lợi ích, nghệ thuật và bản sắc riêng của chủ thể kinh doanh đó
1.1.4 Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp (coporate culture) được coi là một dạng văn hóa
tổ chức (organizational culture) được bắt đầu nghiên cứu về một cách cụ thể hơn, trở thành khuynh hướng trên thế giới những năm 1980 xuất phát từ việc doanh nghiệp phương Tây nhận ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận về các doanh nghiệp Từ chỗ họ quá dựa vào cơ cấu phức tạp, chi tiết và kế hoạch cứng nhắc khiến họ phải nhận sự suy giảm về kinh tế, chuyển sang cách tiếp cận văn hóa doanh nghiệp từ góc nhìn văn hóa
Schawatz và Dvis đã đưa ra quan điểm: “Văn hóa là một hình thức tín ngưỡng và tham vọng của các thành viên trong một tổ chức Những tín ngưỡng và tham vọng này tạo nên một quy tắc chung ảnh hưởng mạnh mẽ
đến việc hình thành các hành vi cá nhân và nhóm người trong tổ chức”
Trang 19Còn theo Gold K.A thì: “Văn hóa thể hiện trình độ về tính chất đặc biệt trong một tổ chức – có nghĩa là chúng chứa đựng những phẩm chất đặc thù có thể sử để phân biệt với các tổ chức khác về phương diện” Theo
Georges de Saite Marie, một chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và
nhỏ, đã đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu sa của doanh nghiệp” [8, tr233]
Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (International Labour
Organization – ILO): “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi, mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” Tuy nhiên, định nghĩa
phổ biến và được sử dụng rộng rãi nhất là định nghĩa của Edgar Shein, một
chuyên gia nghiên cứu và tổ chức: “Văn hóa công ty là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và sử lý với các môi trường xung quanh” [8, tr233]
Nói chung, các định nghĩa trên đều đã đề cập đến những nhân tố tinh thần của văn hóa doanh nghiệp như: các quan niệm chung, các giá trị, các huyền thoại, các nghi thức… của doanh nghiệp, nhưng chưa đề cập tới nhân
tố quan trọng của văn hóa doanh nghiệp là nhân tố vật chất
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và theo những logic của khái niệm văn hóa kinh doanh ở mục trên, chúng tôi xin đưa ra định
nghĩa của mình về văn hóa doanh nghiệp như sau: Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm
và hành vi của doanh nghiệp, chi phối mọi hoạt động của những thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên được bản sắc kinh doanh cho doanh nghiệp đó
1.4.5 Văn hóa doanh nhân
Theo Dương Thị Liễu trong tác phẩm Giáo trình văn hóa kinh doanh, Nhà xuất bản Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2012: “doanh nhân là
Trang 20những người làm kinh doanh, là những người tham gia quản lý, tổ chức, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” [8, tr168.]
Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Quý: “Văn hóa doanh nhân
là tập hợp của những giá trị căn bản nhất, những khuân mẫu văn hóa xác lập nên nhân cách của con người doanh nhân, đó là con người của khát vọng làm giàu, biết cách làm giàu và dấn thân để làm giàu, dám chịu trách nhiệm, dám chịu rủi ro đem toàn bộ tâm hồn, nghị lực và sự nghiệp của mình ra để làm giàu cho mình, cho doanh nghiệp và cho xã hội” [8, tr208]
Theo logic về khái niệm văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp của mục trước thì chúng tôi xin đưa ra khái niệm về văn hóa doanh nhân như
sau: Văn hóa doanh nhân chính là toàn bộ các nhân tố văn hóa bao gồm các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi doanh nhân trong quá trình trình hoạt động kinh doanh và lãnh đạo doanh nghiệp
1.2 Nguồn gốc hình thành văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
1.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên – dân cư Nhật Bản
1.2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
Nhật Bản là tên gọi theo âm Hán Việt, người Nhật gọi nước họ là Nihon hay Nippon có ý nghĩa là: “Xứ Mặt Trời mọc”
Nhật Bản là quần đảo nằm ở phía Đông châu Á với khoảng hơn 4.000
đảo lớn nhỏ nối tiếp nhau trải dài và rộng ở phía Tây của Thái Bình Dương,
trong đó có bốn đảo lớn: Hokaido, Honsu, Shikoku và kyushu
Nhật Bản có diện tích 377.688 km2 Lãnh thổ Nhật Bản có sự biệt lập về địa lý và sự ổn định cơ bản về biên giới đã tạo nên nét đặt thù của văn Phù Tang
Đất nước Nhật Bản có thiên nhiên hùng vĩ với ¾ là núi và cũng hết sức khắc nghiệt do ở vùng không ổn định của lớp vỏ Trái Đất, là “Vành lửa của Thái Bình Dương” nên thường xuyên xảy ra động đất, núi lửa, sóng thần… Điều này sẽ tác động rất lớn đến tính cách con người Nhật Bản
Với nhiều đảo lớn, trữ lượng hải sản dường như vô tận là nguồn sống đầu tiên của cư dân Nhật Bản Cùng với sự phát triển của ngư nghiệp thì nông
Trang 21nghiệp trồng lúa nước cũng bắt đầu trở thành nền kinh tế cơ bản làm thay đổi diện mạo văn hóa - xã hội Nhật Bản Sự đan xen giữa văn hóa ngư nghiệp và nông nghiệp đã trở thành cội nguồn văn hóa độc đáo của người Nhật
Điều kiện về địa lý đã tác động đến lịch sử khiến cho lịch sử Nhật Bản mang tính chất “Vừa đóng, vừa mở” Do vị trí là đảo xa, không giống với nước Anh là đảo quá gần lục địa, Nhật có những thời kì chịu ảnh hưởng từ phía Tây vào một cách rất ồ ạt (phía Tây xưa kia là Trung Quốc, lúc đầu qua Triều Tiên) sau đó là phương Tây (Châu Âu, Mỹ) rồi có thời kì lại đóng cửa
300 năm với Trung Quốc, trên 200 đối với châu Á… để tiếp thu những yếu tố bên ngoài và tạo ra nét độc đáo trong bản sắc văn hóa Nhật Bản, tất cả đã tạo
ra nét độc đáo trong bản sắc văn hóa Nhật Bản
1.2.1.2 Điều kiện địa lý dân cư
Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất cao về sắc tộc và văn hóa Người dân không có nguồn gốc Nhật chỉ chiếm 1% tổng dân số vào năm
1993 Số người nước ngoài đông nhất là Triều Tiên, nhiều người Triều Tiên sinh trưởng tại Nhật Bản đã nói tiếng Nhật không khác gì người Nhật Tiếp đến xếp thứ hai là Trung Quốc, còn có một số dân lao động gồm người Philippin và Thai Lan… Những người nước ngoài này trước kia bị kì thị tại nơi làm việc và tại một số phương diện trong đời sống hàng ngày
Qua những tài liệu nghiên cứu hiện nay, chúng ta nguồn gốc của dân tộc Nhật cho tới ngày nay vẫn còn chưa có câu trở lời chính thức, mặc dù người Nhật rất quan tâm đến việc lý giải cội nguồn của mình Nói chung, người Nhật Bản thuộc đại chủng Môngôlôit chấu Á Những người Môngôlôit
có thể thiên di từ Trung Quốc, Triều Tiên và Mãn Châu qua eo biển Tsushima đến các đảo Honsu và kyushu mặt khác di dân cũng có thể đến từ các đảo từ Thất Bình Dương gặp gỡ thổ dân Ainu có mặt từ trước Những người mới đến, chiếm dần toàn bộ đất đai, đẩy người Ainu có đôi mắt tròn và làn da rậm lông đến đây từ trước lên phía Bắc có thiên nhiên lạnh lẽo khắc nghiệt hơn Ngày nay, thổ dân Ainu chỉ còn vào khoảng 14.000 người, sinh sống trong các khu vục riêng biệt thuộc Hockaido
Trang 22Vào thời kì Meiji, dân số Nhật Bản còn thấp, khoảng chừng 33 triệu người Mức ra tăng dân số lên tối đa vào năm 1974 với tỉ lệ sinh 1,27%, sau
đó đã giảm xuống còn 0,35% vào năm 1992 Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn có dân
số lên tới 129,5 triệu người năm 2010 rồi sau đó mới giảm bớt
Do số dân đông, mật độ dân số của Nhật Bản lên tới 327 người/km2, ngang hàng với các nước có mật độ cao như Bỉ, Hà Lan và Triều Tiên Khoảng 49% dân số Nhật Bản tập trung quanh ba đô thị lớn là Tokyo, Oshaka
và Nagoya cùng với các thành phố phụ cận Thủ đô Tokyo vẫn là nơi đông dân nhất, với khoảng 1/3 tổng dân số Lý do của sự tập trung này là vì Tokyo
là trung tâm của khu vực hành chính, chính trị, kinh tế dịch vụ
Do sống biệt lập với các quốc gia khác tại châu Á trong nhiều thế kỷ, cho tới thời kì mở của vào năm 1868, Nhật Bản đã có nét riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế và văn hóa…
Ngày nay, mặc dù Nhật Bản đã là một quốc gia tân tiến, nhưng trong xã hội Nhật, vai trò và các liên hệ nam nữ đã ấn định rõ ràng Thời xưa, Nhật Bản theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò lớn hơn nam giới Từ thời kì Samurai phát triển, người đàn ông lại chiếm vai trò độc tôn Dù rằng tinh thần giải phóng phụ nữ đã được du nhập vào Nhật Bản từ cuối thế kỷ XIX nhưng hiện nay trong đời sống cộng đồng, phụ nữ vẫn ở vị thế thập hơn nam giới và bên ngoài xã hội, người nam giới vẫn giữ vai trò lớn hơn Trong quan niệm từ lâu đời của người Nhật, người phụ nữ vẫn là người của “bên trong” (uchi no)
và người nam vẫn là người của “bên ngoài” (soto no) Phạm vi của người phụ
nữ là gia đình và công việc nội trợ, trong khi người chồng là người là đi kiếm sống và đưa hết tiền lương về cho người vợ Trước đây trong xã hội Nhật Bản, người phụ nữ trên 25 tuổi mà chưa có chồng thường bị nam giới coi như
“có khuyết điểm nào đó” Nhưng nay Nhật Bản lại là nước có phụ nữ lấy chồng rất muộn, thậm chí là sống độc thân mà không lấy chồng (Nhật Bản hiện nay là nước có số lượng phụ nữ xây dựng gia đình rất ít và tỉ lệ sinh thấp nhất Châu Á) Tại các công ty, nhà máy, cửa hàng… người phụ nữ thường
Trang 23được thuê mướn để chào đón các khách mới đến Ngày nay, vị thế của người phụ nữ đã được nâng lên nhiều trong xã hội nhất là tư duy của lớp thanh niên trẻ, những người thường có quan niệm phân biệt và suy nghĩ bảo thủ, cổ hủ Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến một số đặc trưng trong phương cách
tổ chức của các doanh nghiệp Nhật Bản
Bên cạnh đó, xã hội Nhật Bản có nét đặc biệt về giao thiệp Người Nhật thường cúi chào bằng cách gập người xuống và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người Đây là một dấu hiệu quan trọng để tỏ sự kính trọng Một nét phong tục khác là việc trao đổi danh thiếp Mỗi lần giới thiệu hay gặp mặt đều cần tới danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay là một cử chỉ
lễ độ Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó Trong việc giao thiệp người Nhật thường không thích trực tiếp, thường người trung gian đóng vai trò quan trọng trong cách giải quyết mọi hoàn cảnh khó khăn Cũng như đối với nhiều người Châu Á khác, người ngoại quốc tới Nhật Bản cần phải bình tĩnh trước mọi điều chưa hiểu về phong tục Nhật Bản, càng không nên nổi nóng mà luôn luôn giữ nụ cười trên môi
Hơn thế, người Nhật có năng lực cảm thụ rất tinh tế về thế giới tự nhiên đặc biệt là khía cạnh cảm thụ mang tính hình tượng được tinh luyện sắc bén Với bản tính thông minh, chăm chỉ, biết tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật, người Nhật đã xây dựng cho mình một nét văn hóa ngư nghiệp đặc sắc, riêng biệt
Nhật Bản là một quốc đảo mà con người có ý chí tự chủ và truyền thống thượng võ rất cao Họ còn biết chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa trong khu vực và thế giới để phát triển đất nước đồng thời tạo nên “bản lĩnh Nhật” trong tiếp biến văn hóa ngoại lai Đồng thời, tính chất biệt lập của “đảo”, sự khắc nghiệt của thiên nhiên làm cho con người Nhật sớm biết đoàn kết tạo nên sự cố kết cộng để vượt qua trở ngại của tự nhiên
Điều kiện tự nhiên vừa hùng vĩ, lại vừa khắc nghiệt tạo nên tính cách
và bản lĩnh riêng của con người Nhật Rất nhiều yếu tố đối lập trong tính cách người Nhật tưởng như nghịch lý mà vẫn thống nhất: tình yêu thiên nhiên thơ
Trang 24mộng nhưng lại gắn với chất thiết thực đời sống, rất tinh tế trong hoa đạo, trà đạo nhưng cũng rất quyết liệt trong kiếm đạo
Do chế độ phong kiến tướng quân tồn tại khá lâu ở Nhật Bản, đã tạo nên mô thức đạo trong con người: lòng trung thành, tinh thần dũng cảm không sợ gian khổ, tính nhẫn lại… mà đỉnh cao là tinh thần của các võ sĩ đạo, linh hồn Nhật Bản
Văn hóa Nhật Bản do đó sẽ là sự kết hợp giữa giá trị văn hóa vật chất
và tinh thần do người Nhật sáng tạo ra trong suốt quá trình hình thành và phát triển Từ đây, tạo nên diện mạo văn hóa Nhật rất riêng khó lẫn với các nền văn hóa khác
1.2.2 Điều kiện lịch sử, văn hóa
Nhật Bản cũng giống như nhiều quốc gia có lịch sử lâu đời khác đều khó xác định được thời kì đầu tiên dựng nước, vì vậy các quốc gia thường dựa vào huyền thoại để có thể giải thích về cội nguồn đất nước mình Người Nhật cũng vậy, theo huyền thoại ghi chép trong hai bộ sử thư là Kojiky (Cổ sự kí) và Nihonshoky (Nhật Bản thư kí) được biên soạn vào thế kỷ thứ VIII, người Nhật là con cháu của Thiên Hoàng, một dòng dõi duy nhất ngự trị từ xưa đến nay, một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử nhân loại Nhật Bản lấy ngày 11 tháng 2 năm
660 TCN làm ngày dựng nước, ngày mà Thiên Hoàng đầu tiên Jimu lên ngôi
Mặc dù sự kiện trên có thể là sai lạc đi vài thế kỉ, song trong tâm thức
của người Nhật, điều này vẫn được chấp nhận
Đầu tiên ở xứ sở Nhật Bản có khoảng 100 bộ lạc hay 100 xứ, có vua hay nữ hoàng và tôn giáo riêng Nhưng từ thời Yamato (Đại Hòa) hay còn gọi
là Kofun (cổ phần) vì nhiều phấn mộ lớn, thế kỉ thứ IV, sau khi thống nhất đất nước thì chỉ có một dòng họ làm vua và tôn giáo dân tộc là Thần Đạo (Shinto) Đúng như vậy, Thiên Hoàng của Nhật Bản thuộc một dòng họ duy nhất từ xưa đến nay gồm 125 đời, trong số đó, đời xa xưa có 6,7 đời Thiên Hoàng là phụ nữ Theo truyền thuyết Thần Đạo, vua được coi là con trời nên xưng là “Thiên Tử” (Tenshi) hay còn được gọi là “Thiên Hoàng” (tenno,
Trang 25Sumeragi, Sumerogi) chứ không gọi là “Hoàng Đế”, còn người Nhật là con cháu của Thái Dương Thần Nữ, Nữ Thần Mặt Trời là “Amaterasu Omikami” (Thiên Chiếu Đại Thần hay Thiên Chiếu Đại ngư thần) nên họ thờ Mặt Trời Thời sứ quân, các Tướng Quân (Shogun) làm lãnh chúa, Thiên Hoàng thế yếu, có khi bị các sứ quân uy hiếp ám hại, nhưng không ai cướp ngôi vua Đến thời Meiji (Minh Trị), Thiên Hoàng đã đánh bại sứ quân Tokugawa (Đức Xuyên), chấm dứt loạn xứ quân và thâu tóm quyến lực vào tay thiên Hoàng
Về tôn giáo, Thời Thánh Đức Thái Tử (Shotoku Taishi, một Thiên Hoàng lỗi lạc), từ năm 593 đã cổ vũ cho Phật Giáo và sau đó Nhật Bản cũng
có “Tam giáo đồng nguyên” là Thần Đạo, Nho giáo, Phật giáo Ngày nay, trên đất nước Nhật Bản có nhiều tôn giáo lớn và có khoảng hàng trăm tôn giáo nhỏ Người Nhật luôn trọng tư tưởng, mỹ thuật và sức mạnh
1.2.2.1 Thời kì tiền sử
Thời đại Jomon (Thằng Văn) trong khoảng thời gian khoảng từ 8.000 năm đến thế kỷ thứ III trước công nguyên Gọi là thời đại Thằng Văn vì những di chỉ đào được là các đồ gốm các trang trí các tua hình ảnh của những sợi dây thừng hay in những hoa hình dây thừng Người dân Nhật Bản của thời này chủ yếu sống bằng nghề đánh cá
Thời đại Yayoi (Di Sinh) khoảng 600 năm: Từ thế kỷ thứ III TCN đến
thế kỷ thứ III sau Công Nguyên Do ảnh hưởng của văn hóa Triều Tiên, Trung Hoa, người Nhật lúc này mới bắt đầu biết canh tác lúa, biết dùng kim thuộc, bắt đầu họ lợp nhà bằng tranh hoặc rạ
1.2.2.2 Thời cổ đại
Thời kì Yamato (Đại Hòa) khoảng 400 năm: từ thế kỷ IV đến nửa cuối thế
kỷ VII Các Vương tộc và các Hào tộc đã xây những cổ phần (ngôi mộ lớn) Từ những bộ lạc này người Nhật đã liên kết với nhau thành quốc gia vào thế kỷ thứ
IV Xã hội Nhật Bản bắt đầu bước vào thời kì phân chia đẳng cấp xã hội
Thời đại Ashuka (Phi Điểu, năm 593 – 710) và thời đại Nara (Nại Lương) Thời kì này, Nhật Bản chủ động giao lưu tiếp nhận nhiều giá trị văn
Trang 26hóa Trung Quốc, Ấn Độ và Hi Lạp Sự tiếp nhận, giao lưu đó tiêu biểu và quan trọng nhất là Phật Giáo Năm 710, kinh đô Nara của Nhật Bản được xây dựng theo mô hình Tràng An của Trung Hoa, cùng với các dãy phố ngang dọc như hình bàn cờ và nhiều cung điện chùa chiền tráng lệ Đồng thời đã chấm dứt giai đoạn “di đô” liên miên trong các giai đoạn lịch sử trước đó (tính tới thời điểm này, Nhật Bản đã có tới 60 kinh đô), sự kiện này đã tạo nên tâm lý
an cư lập nghiệp cho dân chúng Nhật Bản
Thời đại Heian (Bình An) từ năm 794 kéo dài khoảng 400 năm tới khoảng năm 1185 mới kết thúc Để có thể chấm dứt được tình trạng rối ren ở Nara, Thiên Hoàng Kanmu đã rời đô từ Nara về Kioto mới được xây dựng gọi
là Heian – kyoto nghĩa là Bình An kinh Với tâm nguyện tạo dựng một đất nước hòa bình (hei), yên ổn (an) mãi mãi Đây cũng là giai đoạn Nhật Bản thể hiện được ý thức độc lập tự chủ của mình trong việc tiếp nhận và đồng hóa văn hóa ngoại lai từ chữ Hán cho đến Phật giáo Giới quý tộc còn cho mở các trường học đào tạo sinh viên, các học viên, văn viện cũng được thành lập
1.2.2.3 Thời trung đại
- Thời trung đại Nhật Bản chia ra làm hai giai đoạn: Thời đại
Kamakura (Liêm thương) và Muromachi (Thất Đinh)
-Thời đại Karakuma (Liêm Thương, năm 1185 – 1333) có thể nói đây
là thời đại của các Tướng Quân, mở đầu là Yoritomo và hai người con trai của ông lần lượt cai trị đất nước với danh hiệu là Tướng quân
+ Bắt đầu thời kì Mạc Phủ (Makufu) tức tướng quân (Shogun) và võ sĩ (Samurai), ghi dấu sự chuyển đổi quyền lực từ tay quý tộc từ trên cao xuống
võ sĩ gia tầng dưới, đây là giai đoạn mở đầu cho những biến đổi tiếp theo trong lịch sử của Nhật Bản
- Thời đại Muromachi (Thất Đinh, 1333 – 1600)
Từ năm 1333 đến năm 1392 là giai đoạn Nam Bắc triều với đặc trưng có hai Thiên Hoàng: một là Thiên Hoàng với Komyo ở kyoto, Thiên Hoàng cũ Godaigo chạy về núi về núi Yoshino lập triều đình khác Ashikaga trở thành
Trang 27Tướng Quân lập nền Mạc phủ thứ hai ở ngay Kyoto Đến năm 1392 mới kết thúc tranh chấp của hai triều đình chỉ còn còn một Thiên Hoàng tại Kyoto
Sau Nam Bắc – Bắc triều là thời đại Chiến Quốc (Sengoku Jidai) chiến tranh giữa Daimyo (Đại danh), tức là các lãnh chúa địa phương kéo dài hơn một thế kỉ, kể từ năm 1477 Đất nước hầu như không có chính phủ, 60 xứ đánh lẫn nhau Đây cũng chính là thời đại của các chiến sĩ và tu sĩ
Mặc dù chiến tranh nhưng giao thương với nước ngoài vẫn diễn ra bình thường Vũ khí của phương Tây được người Bồ Đào Nha đưa tới Nhật Bản Giao thương với nhà Tống ở Trung Quốc vẫn diễn ra thường xuyên Các tông phái Phật giáo mới, đặc biệt là Thiên Tông đã du nhập vào Nhật Bản giai đoạn này…
- Thời đại Azuchi Momoyama (An Thổ Đào Sơn) từ nửa cuối thế kỷ XVI kéo dài khoảng 30 năm: Orita Nobunaga (Chức Điền Tín Trường) và Toyotomi Hideyoshi (Phong Cơ Tú Cát) lần lượt thay nhau thống trị Nhật Bản
- Thời đại Edo (Giang Hộ) từ năm 1603 kéo dài khoảng 260 năm 1868: Tokugawa Ieyasu (Đức Xuyên Gia Khang) lập Mạc Phủ (Makufa) khai sáng một thời đại mới lấn át cả Thiên Hoàng, đóng đô ở Giang Hộ tức Đông Kinh (Tokyo) ngày nay Trước va chạm với phương Tây và vị thế đặc thù của một quốc đảo, Tokugawa Ieyasu cho thi hành chính sách “tỏa quốc” (đóng của đất nước, bế quan tỏa cảng) từ năm 1638 đến năm 1853
Thời kì đầu Edo, khoảng một thế kỷ rưỡi, mười Tướng quân thứ mười lăm (1868), chế độ Mạc Phủ không được lòng dân, người dân muốn hướng Thiên Hoàng và khôi phục Thần Đạo Năm 1868 cũng là nơi kết thúc của chế
độ Mạc Phủ
1.2.2.4 Thời kì cận hiện đại
- Thời đại Meiji (Minh Trị, 1868 – 1912) được coi là thời cận đại Taisho (Đại chính, 1912 – 1926)
Chế độ Mạc phủ đã tan dã, quyền lực về tay Thiên Hoàng mới là Meiji lên ngôi lúc 15 tuổi (1868); đổi tên Edo thành tên mới kinh đô Tokyo Nước Nhật liên kết thống nhất với nhau, cùng đi vào con đường canh tân đất nước
Trang 28Phong trào Âu hóa, tiếp nhận văn minh phương Tây được phổ biến, từ hấp thu giáo dục phương Tây, cho sinh viên đi sang các nước Châu Âu du học, cho tới xây dựng hạ tầng giao thông, kiến trúc cho tới trang phục…
Cùng với sự cuồng nhiệt của những thành công trong công cuộc duy tân đất nước là những tham vọng, những cuộc phiêu liêu chiến tranh mở rộng
bờ cõi của người Nhật Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh với Trung Quốc (1894), với Nga 1904 đều giành thắng lợi, chiếm đảo Đài Loan và Sakhalin Năm 1910, Nhật ngang nhiên sáp nhập Triều Tiên vào quần đảo Nhật Bản Cuối chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật được coi là một trong những cường quốc của thế giới
- Kế vị Thiên Hoàng Meiji là Taisho (1912) Năm 1926 là dấu mốc bắt đầu của thời kì Showa (1926 – 1989) Đất nước Nhật lúc này có nhưng phát triển khả quan, nhưng cũng bắt đầu xuất hiện những dối loạn chính trị Tập đoàn quân phiệt nắm lấy thời cơ này để phát động chiến tranh Thái Bình Dương từ năm 1941 đến năm 1945 Nhật Bản trở bị thảm bại và trở nên điêu tàn sau chiến tranh thê giới thứ hai
Sau chiến tranh, Nhật Bản đã ra sức phục hồi kinh tế, chỉ sau hai thập niên đã phát triển thịnh vượng với tinh thần “Wakon – yoshai” (Hòa hồn dương tài)
- Hiện nay Nhật Bản đang trong thời đại Heisei 1989 đến ngày nay và những năm sau đó Đất nước Nhật Bản luôn phải đương đầu với những bất ổn
về kinh tế và chính trị Mặc dù Nhật Bản đã trải qua những thành công về hiện đại hóa hết sức ngoạn mục, song nước Nhật cũng phải trả giá cho những vấn đề về môi trường và xã hội Con người Nhật Bản cũng phải chịu đựng những căng thẳng và khủng hoảng Trong những điều kiện như vậy những gì còn lại sẽ là giá trị văn hóa tốt đẹp
Tóm lại, lịch sử Nhật Bản là lịch sử độc đáo với một Hoàng gia duy Nhất, vị đại diện tối cao của Thần đạo (shinto) tôn thờ các thần kami như thần cây, thần đá, …Các Thiên Hoàng với dòng dõi truyền thuyết là con cháu nữ
Trang 29thần Mặt Trời, tồn tại như là sự thống nhất của nhân dân cho đến tận ngày nay; và trên nước Nhật có nhiều cuộc nội chiến triền miên giữa các lãnh chúa phong kiến Điều kiện lịch sử - xã hội phong kiến với sự cát cứ, tranh giành khiến lòng trung thành là điều rất quan trọng Cùng với sự tiếp thu có chọn lọc và biến những tư tưởng của Khổng Tử tạo thành Nho Giáo riêng Nhật Bản, Với tinh thần Võ sĩ đạo (Bushido) coi lòng trung thành (chuu) với người chủ là trên tất cả… Sang đến thế kỷ XIX, Nhật Bản đứng trước yêu cầu mới
là phải mạnh mẽ để thoát khỏi số phận trở thành thuộc địa của phương Tây hoặc chịu trung số phận của các nước châu Á khác, phong kiến phương Tây hoặc chịu chung số phận với các nước châu Á thoát khỏi số phận lệ thuộc và đứng ngang với phương Tây hùng mạng, bên cạnh đó Nhật Bản còn đi xâm lược nước khác, khiến phương Tây phải kinh sợ Sau chiến tranh thế giới thứ hai, họ lại nhanh chóng phục hồi nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá thảm bại thành nền kinh tế “phát triển thần kì” và mạnh mẽ cho đến tận ngày nay Nhật Bản lại tiến xa đi khắp thế giới mở rộng với kiểu cách thức buôn bán kinh doanh đặc trưng của họ… Người Nhật ngày vừa phát huy truyền thống văn hóa kinh doanh của họ và họ và họ cũng đang dần thay đổi tính cách, tâm lý của họ để dễ làm ăn quan hệ với nước ngoài, học hỏi nước ngoài để làm phong phú và hoàn thiện hơn nền văn hóa kinh doanh của họ, đem lại lợi ích cho quốc gia họ, và giữ vững vị trí cường quốc kinh tế nhất nhì của họ,
…Người Nhật chính là chủ văn hóa, trong đó có văn hóa doanh nghiệp của
họ tính cách tâm lý, cách xử thế, suy nghĩ, tư tưởng và hành vi của họ là những nhân tố văn hóa doanh nghiệp của họ… Người Nhật ngày nay vừa phát huy truyền thống kinh doanh và họ cũng đang dần thay đổi tính cách, tâm lý
Từ đó, họ để dễ hợp tác, hỏi học nước ngoài để làm phong phú và hoàn thiện hơn nền văn hóa doanh nghiệp của họ, đem lại lợi ích cho quốc gia và giữ vững vị trí cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới
Trang 301.2.3 Đặc trưng tính cách con người góp phần định hình văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
Từ xa xưa, Nhật Bản đã định diện cho mình những sắc thái văn hóa riêng.Trên từng phương diện, Nhật Bản luôn biết tiếp thu những giá trị văn hóa bên ngoài nhưng đồng thời luôn biết phát huy, phát triển nó để phù hợp với đặc trưng của môi trường địa – kinh tế, địa – chính trị của mình
1.2.3.1 Đoàn kết, giữ vững kỷ luật, trật tự xã hội xuất phát từ tinh thần tập thể và lòng kiêu hãnh, trọng danh dự
Trước hết, phải đề cập đến tính chất “đảo” của Nhật Bản, biệt lập với xung quanh và thế giới qua nhiều giai đoạn lịch sử đã tạo cho người Nhật tinh thần “tự tôn, kiêu hãnh” Điều này, đã được nhiều nhà nghiên cứu so sánh với tinh thân “yêu danh dự” của các cư dân đảo quốc khác như người Anh, người đảo Corse, đảo Sicil Bản lĩnh trong khủng hoảng, sự duy trì trật tự, ngăn nắp của người Nhật chính là nhờ lòng tự trọng và danh dự của họ được đặt lên hàng đầu Không ai sẵn sàng đổi danh dự phấn đấu cả đời chỉ vì một miếng bánh hay chai nước Tất nhiên, lý giải về lòng trọng danh dự, sự tuân thủ kỷ luật nghiêm ngặt của người Nhật, còn phải kể đến hiệu quả của hệ thống giáo dục hiện đại, những thói quen được duy trì nghiêm túc trong cuộc sống hàng ngày và cả tinh thần “võ sĩ đạo” được hun đúc qua nhiều thế kỷ (điều này sẽ được đề cập trong phần sau của bài viết)
Đặc điểm người Nhật chung sống cùng nhau, canh tác trên một diện tích đất hẹp (nước Nhật ¾ là núi, diện tích sinh sống có thể chỉ chiếm ¼)
khiến cho từ xa xưa người Nhật đã hình thành nên có tinh thần đoàn kết, làm việc theo nhóm, qua quá trình phát triển tinh thần này lại được bồi đắp bởi sự
tồn tại của kiểu gia đình phụ hệ “ie” với cuộc sống chung, lao động chung của vài thế hệ trong gia đình Ý thức về “nhóm” ở người Nhật rất mạnh mẽ và cũng được xem là khác thường so với các dân tộc khác Ở Nhật Bản, mỗi người đều là thành viên của một “nhóm”, nhóm nhỏ là gia đình, lớn hơn một chút là họ hàng, bạn bè thân hữu, đồng nghiệp trong công ty… cứ thế, cho
Trang 31đến “nhóm” lớn nhất chính là dân tộc Nhật Bản, đối lập với người bên ngoài (gaijin), nước ngoài (gaikoku) Thông thường người Nhật phân chia xã hội ra thành “người mình” (người trong nhóm - uchi) và “người lạ” (người ngoài nhóm -soto) và đối xử theo mức độ tương xứng [19, 10]
Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ở Nhật Bản với trung bình một năm có khoảng hơn chục cơn bão lớn nhỏ khi mùa thu đến diễn ra và đe dọa Có lẽ, điều này cũng là một nguyên nhân làm cho người Nhật có thói quen sống nương tựa vào nhau, luôn muốn ở trong cảm giác “tập thể” Một nhà nghiên cứu người Anh đã viết về “cảm giác tập thể” của người Nhật như sau:
“Nhật Bản - đó là đất nước của nhóm, tập thể Trên những hòn đảo đông dân đó, những nhóm người được tạo ra có lẽ là do sự cần thiết Sự tách biệt theo quan niệm của chúng ta ở đây là không thể đạt được Bạn không thể có căn phòng riêng của mình Và nếu như thật kỳ lạ mà bạn có căn phòng như vậy thì cả gia đình vẫn nghe thấy tiếng từng bước chân của bạn, từng tiếng thở dài sau bức tường ngăn bằng giấy Cuộc sống ở Nhật Bản loại trừ mọi sự tách biệt và thậm chí cả lòng mong muốn hướng tới sự tách biệt Sự tách biệt được so với sự cô độc - và sự cô độc đối với người Nhật là một cái gì đó khủng khiếp Tinh thần tập thể ở Nhật Bản cũng là hiện tượng điển hình như chủ nghĩa cá nhân ở
Anh”[19, 15] Trong hầu hết những cuộc khảo luận về văn hóa Nhật Bản, “tinh thần tập thể” của người Nhật được nhắc đến như một đặc trưng văn hóa tinh thần dân tộc nổi bật V.V Ovchinikov, tác giả của cuốn bút ký đặc sắc “Cành sakura” đã phát hiện ra sự khao khát bị phụ thuộc của người Nhật: “Về người
Nhật, có thể nói họ không thích sự độc lập bằng cảm giác tập thể… Xã hội Nhật
là xã hội của các tập thể Mỗi một người Nhật thường xuyên cảm thấy mình là một phần của một nhóm người nào đó - của gia đình, của thị tộc hay của hãng
Họ quen suy nghĩ và hành động cùng nhau, được giáo dục tuân theo ý muốn của tập thể và cư xử phù hợp với vị trí của mình trong tập thể đó”
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt cũng chính là một trong những nhân tố hình thành nên khả năng chịu đựng giỏi, sự nhẫn nại… của người Nhật Họ
Trang 32sống ở mảnh đất bốn mặt là biển cả, quanh năm chống chọi với gió bão đã
“rèn giũa” nên tính kiên cường, nhẫn nại Đức tính này còn được tôi luyện qua hàng trăm năm lịch sử đất nước Nhật dưới sự lãnh đạo bởi tầng lớp võ sĩ samurai, và vẫn được gìn giữ đến ngày nay trong xã hội công nghiệp hiện đại đòi hỏi khắt khe khả năng làm việc và cống hiến của mỗi con người
Tóm lại, có thể nói, điều kiện tự nhiên của nước Nhật đã giúp hình thành các đặc điểm tính cách dân tộc: tự tôn, kiên cường, giỏi chịu đựng gian khổ, đoàn kết, có tinh thần tập thể cao
1.2.3.2 Khả năng chịu đựng gian khổ, sự nhẫn nại và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
Lịch sử phát triển xã hội Nhật Bản đóng góp quan trọng vào việc hình thành tâm lý, tính cách dân tộc và văn hóa ứng xử của người Nhật Xã hội phong kiến Nhật Bản với kiểu gia đình phụ hệ “ie” lấy quan hệ cha-con làm trung tâm, trong đó con phải kính trọng và phục tùng tuyệt đối cha Tinh thần này được tầng lớp thống trị Nhật Bản sử dụng triệt để, kết hợp với tư tưởng đạo đức Khổng giáo được du nhập vào Nhật Bản ở thế kỷ IV, điều đó được
nhấn mạnh bởi sự tôn trọng bậc quyền uy để xây dựng tôn ti, trật tự của xã hội phong kiến Có thể nói, tính kỷ luật, tôn trọng người bề trên của dân tộc
Nhật Bản đã ra đời từ đó Người Nhật có câu châm ngôn nổi tiếng: “Quan hệ giữa người trên và người dưới cũng như quan hệ giữa gió với ngọn cỏ: cỏ phải rạp xuống khi gió thổi”[6, tr58]
Dưới thời Kamakura (1192-1333), tầng lớp quý tộc quân nhân chuyên
nghiệp nổi bật lên và tầng lớp samurai (võ sĩ) được hình thành, thì tinh thần
xả thân vì bề trên và tính kỷ luật đã được nâng lên thành đạo đức dân tộc
Tinh thần này tiếp tục thẩm thấu vào lối sống của mọi tầng lớp xã hội Nhật Bản trong suốt thời Tokugawa nước Nhật “cửa đóng then cài” với thế giới bên ngoài Khi thời đại Tokugawa kết thúc (năm 1867), về mặt hình thức, tầng lớp samurai bị thủ tiêu, nhưng các chuẩn tắc đạo đức võ sĩ đạo như: trung thành vô hạn với chủ, sẵn sàng mổ bụng tự sát (hara-kiri) để theo chủ
Trang 33xuống mồ… không hề biến mất Trái lại, tinh thần võ sĩ đạo được tất cả các tầng lớp xã hội lĩnh hội và trau dồi, coi nó là tinh thần Nhật Bản đích thực Trong xã hội Nhật Bản hiện đại, lòng trung thành, kính trọng bậc bề trên tiếp tục là chuẩn tắc ứng xử trong các hãng, còn tính kỷ luật thì đã trở thành một thói quen trong xã hội
1.2.3.3 Lòng trung thành tuyệt đối với cấp trên
Khổng giáo du nhập vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ IV-V, được người Nhật Bản tiếp thu một cách có chọn lọc Tinh thần cơ bản của Khổng giáo là
“coi trọng các giá trị gia đình và giáo dục” [17, tr196] Chữ “hiếu” trong ứng
xử gia đình đã được người Nhật Bản chuyển hóa thành chữ “ân” (ơn) trong ứng xử xã hội Ở Trung Quốc - cái nôi của Khổng giáo, và ở các nước châu Á tiếp thu Khổng giáo như Việt Nam, Hàn Quốc…, chữ “hiếu” được coi là cốt lõi của đạo đức Khổng giáo, nhưng sang đến Nhật Bản, chữ “ân” mới là nguồn gốc của mọi ứng xử gia đình và xã hội Trong gia đình, con cái phải hiếu lễ với cha mẹ vì chịu cái “ân” (ơn) sinh thành Ở trường học, trò lễ độ với thày vì chịu cái ơn dạy dỗ Trong công việc, người đi sau (kẻ hậu bối - kouhai) chịu ơn hướng dẫn, chỉ bảo của người đi trước (bậc tiền bối - senpai)
Cứ như vậy, cái “trật tự theo chiều dọc” này đã chi phối mọi ứng xử của
người Nhật Bản Xã hội Nhật Bản sở dĩ duy trì được tôn ti trật tự tốt là bởi người dưới luôn phục tùng tuyệt đối người trên, ngược lại, người trên có trách nhiệm với người dưới, mọi hành vi của từng thành viên trong xã hội được quy định một cách nghiêm khắc Tinh thần phục tùng được vun đắp qua nhiều thế
kỷ đã tạo cho người Nhật “một kiểu nhất định của các khuynh hướng tâm lý: đời sống và phép xử thế của cá nhân được điều chỉnh bởi các chuẩn tắc quy định một cách chặt chẽ, và dù trong hoàn cảnh nào, không ai được bài bác các chuẩn tắc đó” [23,tr.60]
Trong 5 đức tính mà Khổng giáo đề cao là Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, khác với người Việt Nam ta đề cao chữ “nhân”, người Nhật Bản đặc biệt coi trọng chữ chữ “lễ” Người Nhật luôn hành xử sao cho đúng lễ nghĩa, “lễ”,
“nghĩa” còn được biểu hiện trong ngôn ngữ Nhật với vô số các cách nói kính
Trang 34ngữ phức tạp Có thể nói, tính lịch sự của người Nhật ban đầu được hình
thành từ tinh thần “lễ”, “nghĩa” ảnh hưởng từ Khổng giáo như vậy Ngày nay, chúng ta có thể nhìn thấy những ảnh hưởng chủ yếu của đạo đức Khổng giáo còn lại trong xã hội Nhật Bản được biểu hiện ở việc thờ cùng tổ tiên, tôn kính cha mẹ, người dưới tuyệt đối phục tùng người trên và việc tích cực giữ gìn trật tự xã hội
1.2.3.4 Thái độ lịch sự, tự chủ, tránh làm phiền người khác
Nền giáo dục Nhật Bản thời cận đại (cuối thể kỷ XIX) và hiện đại đã đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành xã hội Nhật Bản văn minh, lịch sự ngày nay Đóng góp quan trọng của nền giáo dục thời Minh Trị là: hiện đại hóa đất nước thông qua giáo dục ngôn ngữ (tiếng Nhật), giáo dục khoa học và giáo dục đạo đức công dân Ở đây, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến giáo dục
đạo đức công dân vì nó giúp trau dồi nhận thức của người Nhật về tính độc lập, bình đẳng và tự do cá nhân như những yếu tố quan trọng của nhân cách
hiện đại Trong các sách giáo khoa quốc gia, việc chú trọng giáo dục đạo đức công dân hiện đại đã được thể hiện ở những chủ đề như: “tự do của người
khác, quyền công dân, tiến bộ xã hội, lợi ích chung, tính rộng lượng, độc lập
và tự chủ, tự do làm người, nghề nghiệp, chăm chỉ, phép xã giao, tính đúng
giờ và giữ lời hứa”
Trong giáo dục đạo đức công dân, “tinh thần hy sinh bản thân” cũng được nhấn mạnh: “Vì lợi ích chung, người ta cũng phải từ bỏ cái tôi của mình, phải tự hy sinh mình, nghĩa là không tính đến lợi ích riêng cho mình, phải giải quyết những bất đồng ý kiến nhỏ vì lợi ích tốt đẹp nhất của cái chung, phải cố gắng vì sự hợp tác hòa thuận” Như vậy, trẻ em Nhật ngay từ nhỏ đã được dạy
về tinh thần hy sinh, cống hiến, về ý thức cộng đồng, tinh thần hợp tác
Sau chiến tranh Thế giới thứ hai, nền giáo dục Nhật Bản bước vào thời
kỳ hiện đại, được cơ cấu lại hoàn toàn, nhưng riêng bộ môn giáo dục đạo đức
vẫn tiếp nối tinh thần của giáo dục thời Minh Trị, đề cao “chủ nghĩa yêu nước” Bộ giáo dục Nhật Bản đã cải cách chương trình giáo dục đạo đức, trong đó có những tiết học mới rèn luyện tính độc lập, tự chủ, tôn trọng quyền
Trang 35tự chủ của người khác, lắng nghe ý kiến và rộng lượng tha thứ cho những lỗi
lầm của người khác, hiểu được giá trị của đức tính chăm chỉ, tích cực hợp tác
để làm việc vì lợi ích của người khác, đoàn kết xã hội, chủ nghĩa yêu nước và
hiểu biết quốc tế…
Có thể thấy rằng, nền giáo dục Nhật Bản - một trong những nền giáo dục ưu việt nhất thế giới đã rất chú trọng đến giáo dục đạo đức, nhân cách, và điều này, về cơ bản đã giúp hình thành nhân cách đáng quý của những công dân Nhật Bản như vừa qua chúng ta đã chứng kiến
Tóm lại, có thể thấy các điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội, như trên
đã phân tích, đóng vai trò quyết định trong việc hình thành đặc trưng tâm lý, tính cách dân tộc Nhật Bản - cái chi phối toàn bộ văn hóa ứng xử của người Nhật Trong thảm họa động đất, sóng thần và sự cố hạt nhân vừa qua, văn hóa Nhật Bản - đặc biệt là văn hóa ứng xử của người Nhật lại một lần nữa hấp dẫn toàn thế giới Cái sức mạnh tinh thần tiềm ẩn của họ, những giá trị đạo đức, văn hóa dân tộc được bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử trong cơn nguy biến
đã tỏa sáng rực rỡ Lần này, người Nhật đã chinh phục thế giới bằng “sức mạnh mềm” của chiều sâu văn hóa và tính cách dân tộc
Trang 36* Tiểu kết chương 1
Vốn là một đất nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, nhưng cho đến hôm nay Nhật Bản đã và đang khẳng định được vị thế của mình trên thế giới Nhật Bản đã trở thành nên kinh tế đứng thứ ba thế giới Không chỉ phát triển về kinh
tế, Nhật Bản đang quảng bá văn hóa của mình thông qua văn hóa doanh nghiệp với thế giới nhằm nâng cao sức mạnh mềm của mình Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản đang ảnh hưởng đến hầu hết các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam Việt Nam được đánh giá là một trong những nước trong khu vực Châu Á chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
Nguyên nhân tạo nên sức ảnh hưởng đó của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản là do những nhân tố địa lý, lịch sử - văn hóa, con người Nhật Bản kết hợp với sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa văn hóa doanh nghiệp của các nước Âu – Mỹ Ngoài ra, sự phát triển của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản có được còn là do sự ủng hộ của chính phủ Ngay từ thời Meiji, chính phủ Nhật Bản đã thực hiện những chính sách ưu tiên phát triển văn hóa doanh nghiệp; cộng với phải kể đến sự nỗ lực không ngừng của các doanh nghiệp, các doanh nhân Nhật Bản… Tất cả đã tạo nên một nền văn hóa doanh nghiệp đặc trưng mang màu sắc riêng, góp phần quan trọng trong sự phát triển thần
kỳ của nền kinh tế nơi đây
Trang 37Chương 2: ĐẶC TRƢNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN
(QUA KHẢO SÁT CÔNG TY SONY VIỆT NAM)
2.1 Khái lƣợc sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh
nghiệp Nhật Bản qua các thời kỳ
Sự hình thành của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản có thể coi bắt đầu manh nha từ thời Tokugawa (Thời kì phong kiến Tokugawa kéo dài từ 1603 tới 1868), trước thời kì này Nhật Bản là một dân tộc hòa bình thịnh vượng nhưng lại không có công nghiệp, những xí nghiệp kỹ thuật cao mà chỉ có những vũ khí tự vệ thô sơ nhất Đến sự lãnh đạo dưới thời Tokugawa Ieyasu (Người sáng lập của triều đại Tokuwa), đất nước Nhật đã có nhiều biến đổi
Thời kỳ này, xã hội Nhật Bản có sự phân biệt đẳng cấp rất khắt khe, tầng lớp cao nhất trong xã hội là các Shogun (tướng quân), bên dưới các Shogun và gia đình hoàng đế là các Samurai (Võ Sĩ) hoặc warrior (chiến binh) – họ là những người có lợi nhất trong giáo dục, địa vị chính trị Dưới tầng lớp Samurai
là những người nông dân, người làm ra của cải và đóng góp phần lớn thuế cho
xã hội Nối tiếp bậc thang đẳng cấp là tầng lớp nghệ sĩ và thợ thủ công, tầng lớp cuối cùng là các thương nhân – cái đáy của nấc thang xã hội
Tuy nhiên, thời kỳ này các chuyên gia buôn bán đã phát triển xã hội riêng của họ, việc xây dựng “Bộ luật hướng dẫn và hỗ trợ các tổ chức tài chính” đã có một vai trò quan trọng trong thế kỷ XIX, nâng cao quyền lực của tầng lớp thương nhân, cải tiến được địa vị của họ Đứng trước sự lấn át địa vị truyền thống ưu thế, các Shogun và các Samurai đã theo khẩu hiệu thực dụng, hòa nhập với thương nhân, tạo nên sự gắn bó trong xã hội, điều vẫn còn tồn tại tới ngày nay về mặt ý thức thực sự chứ không phải là hình thức
Xem xét về văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản, thực tế là có mối liên hệ chặt chẽ với quá khứ, nhưng hầu như những nét đặc trưng cơ bản đều mang dấu ấn của thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ngày nay phản ánh tính truyền thống nhưng đồng thời cũng cho
Trang 38thấy tính hiện tại ở mọi khía cạnh, phản ánh hoàn cảnh, những sự kiện đáng nhớ đã biến Nhật Bản từ chỗ khiêm nhường từ quốc gia bại trận sang kiêu hãnh dân tộc của sự thần kì về nền kinh tế, điều khiến cho cả thế giới phả nể phục Nhật Bản
Khi chúng ta quan sát mô hình văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản có thể
dễ dàng nhận thấy một điều: một mặt Nhật Bản tiếp thu cách quản lý và khoa học kỹ thuật hiện đại của các doanh nghiệp phương Tây, tiêu biểu là Mỹ; mặt khác, Các doanh nghiệp Nhật Bản đã chú trọng tới việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, làm cho bản sắc văn hóa dân tộc hòa quyện vào văn hóa doanh nghiệp mang đặc sắc của Nhật Bản
Mỹ vốn là nơi nảy sinh văn hóa doanh nghiệp, tuy nhiên trong khi tiếp thu ở quy mô lớn hệ thống lý luận quản lý tiên tiến của Mỹ và Châu Âu, Nhật Bản với tinh thần đoàn kết cộng đồng cao đã biết gạt bỏ chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do vốn là cơ sở văn hóa doanh nghiệp của các nước Âu, Mỹ để giữ lại văn hóa quản lý kiểu gia tộc, loại bỏ những nét văn hóa xung đột với văn hóa truyền thống của đất nước Nhờ sự lựa chọn khôn ngoan đó các doanh nghiệp Nhật Bản đã làm cho văn hóa doanh nghiệp có thể hòa nhập với bản sắc văn hóa dân tộc Nhật, sáng tạo ra văn hóa doanh nghiệp độc đáo kiểu Nhật Nền văn hóa doanh nghiệp độc đáo đó đã góp phần làm tăng thêm sự tăng trưởng vượt bậc của Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai tới nay Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản đã tạo cho các doanh nghiệp môi trường làm việc ổn định để các cá nhân cố gắng, phấn đấu; Tinh thần đồng thuận giữa các thành viên tạo nên sự thống nhất, đồng lòng, đồng sức trong doanh nghiệp bất
kỳ một công việc gì, …Phong cách quản lý của các doanh nghiệp Nhật, giúp nhân viên gắn bó lâu dài với doanh nghiệp tạo nên sự ổn định trong nội bộ, là tiền đề đẻ phát triển không ngừng sản xuất trong kinh doanh
Các doanh nghiệp Nhật với triết lý kinh doanh, triết lý đào tại và sử dụng nhân viên qua sự học hỏi không ngừng từ các quốc gia khác đã khiến văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản được biết đến rộng rãi trên khắp thế giới Từ một quốc gia bại trận sau chiến tranh thế giới thứ hai, nên kinh tế nghèo nàn,
Trang 39lạc hậu thì hiện nay Nhật Bản đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế đứng đầu thế giới
2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Sony
Ngày nay ở Việt Nam và trên thế giới, dường như ai cũng biết đến Sony và không ai không khâm phục những thành quả rực rỡ của Sony trong quá trình Nhật Bản tiến hành công nghiệp hoá Doanh nghiệp này đã góp phần đáng kể vào việc làm thay đổi hình ảnh của đất nước Nhật Bản trên vũ đài kinh tế thế giới Yếu tố nào đã làm cho Sony chiếm lĩnh được thị trường thế giới và đem lại vinh dự cho người Nhật?
Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra ở doanh nghiệp Sony Việt
Nam Với câu hỏi “Văn hóa doanh nghiệp là một yếu tố có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của doanh nghiệp Anh/ chị có đồng ý với ý kiến này không?” kết quả thu được là là 96% (193/200 phiếu phát ra) – đồng ý, 4%
(7/200 phiếu phát ra) không đồng ý
Bảng 1: Tỷ lệ người đồng ý với ý kiến văn
hóa doanh nghiệp là một yếu tố tác động
mạnh mẽ đến sự phát triển của doanh nghịệp
96%
4%
Đồng ý không đòng ý
( Nguồn: nhóm tác giả)
Trang 40Như vậy, ngay những người làm trong công ty cũng thừa nhận vai trò
to lớn của văn hóa doanh nghiệp đối với sự phát triển của nó
Năm 1946, trong bối cảnh hoang tàn tối tăm của một đất nước vừa bại trận
và bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Masaru Ibuka (1908 – 1997) và Akio Morita (1921 – 1999) đã lập ra hãng Công nghiệp thông tin Tokyo, tiền thân của Sony tại một căn gác nhỏ trong một toà nhà cũ kĩ nằm ở thủ đô Tokyo, với số nhân viên chỉ khoảng hơn 20 người Tứ đó tới bây giờ chỉ trong vài chục năm, Ibuka một nhân viên kiệt xuất về phát minh, sáng chế và Morita một thiên tài về kinh doanh
và tiếp thị đã đưa Sony trở thành công ty đứng đầu thế giới về đồ điện gia dụng và
là biểu tượng hàng đầu của hàng công nghiệp chất lượng cao
Hình 1: Hai nhà sáng lập nên tập đoàn Sony Nhật Bản - từ trái sang phải là
Ibuka và Morita (nguồn: http://www.brandsvietnam.com)
Từ những 50 của thế kỉ XX, Sony đã lần lượt cho ra đời các sản phẩm chưa từng có tại Nhật và đi trước thế giới về nhiều sản phẩm trong lãnh vực điện tử Sony là doanh nghiệp đầu tiên tại Nhật sản xuất máy thu thanh (năm 1950), là doanh nghiệp đầu tiên trên thế giới áp dụng công nghệ transistor vào