Các nghiên cứu về giá trị sinh học hình thái và thể lực - Các nghiên cứu trên thế giới: Những nghiên cứu về sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em được bắt đầu vào giữa thế kỷ XVIII..
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGÔ THỊ PHƯƠNG THANH
NGHI£N CøU MéT Sè GI¸ TRÞ SINH HäC CñA HäC SINH TR¦êNG TRUNG HäC C¥ Së DÞCH
VäNG, QUËN CÇU GIÊY, THµNH PHè Hµ NéI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGÔ THỊ PHƯƠNG THANH
NGHI£N CøU MéT Sè GI¸ TRÞ SINH HäC CñA HäC SINH TR¦êNG TRUNG HäC C¥ Së DÞCH VäNG,
QUËN CÇU GIÊY, THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60 42 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Mai Văn Hưng
Hà Nội - 2012
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Những đóng góp mới của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.CƠSỞLÍLUẬNCHUNG 3
1.1.1 Cơ sở lý luận về giá trị hình thái – thể lực 3
1.1.2 Cơ sở lý luận về tuổi dậy thì 5
1.2.LƯỢCSỬQUÁTRÌNHNGHIÊNCỨU 9
1.2.1 Các nghiên cứu về tầm vóc – thể lực 9
1.2.2 Các nghiên cứu về sinh l í sinh sản, sinh dục 17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1.ĐỐITƯỢNG,THỜIGIANVÀĐỊAĐIỂMNGHIÊNCỨU 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Thời gian nghiên cứu……….20
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu……… 20
2.2.PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 24
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.2.2 Kĩ thuật thu thập số liệu 25
2.2.4 Thống kê, phân tích và xử lý số liệu 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 29
3.1.MỘTSỐĐẶCĐIỂMHÌNHTHÁICƠTHỂHỌCSINH12÷15TUỔI 29
3.1.1 Chiều cao đứng 29
3.1.2 Cân nặng 33
3.1.3 Vòng ngực trung bình 37
3.1.4 Vòng cánh tay phải co 41
3.1.5 Vòng bụng 44
Trang 53.1.6 Vòng mông 47
3.1.7 Vòng đùi phải 50
3.2.MỘTSỐCHỈSỐTHỂLỰCCỦAHỌCSINH12÷15TUỔI 51
3.2.1 Chỉ số pignet 52
3.2.2 Chỉ số BMI 53
3.3.MỘTSỐĐẶCĐIỂMDẬYTHÌCỦAHỌCSINH12÷15 TUỔI 54
3.3.1 Dấu hiệu dậy thì của học sinh nữ 12 ÷ 15 tuổi 54
3.3.2 Dấu hiệu dậy thì của học sinh nam 12 ÷ 15 tuổi 61
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố các đối tượng theo giới tính và độ tuổi 22
Bảng 2.2 Phân loại theo chỉ số Pignet 26
Bảng 2.3 Phân loại theo chỉ số BMI 27
Bảng 3.1 Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 29
Bảng 3.2 Bảng so sánh chiều cao đứng của học sinh với các nghiên cứu khác 31
Bảng 3.3 Cân nặng (kg) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 33
Bảng 3.4 Cân nặng (kg) của học sinh theo các nghiên cứu khác nhau 35
Bảng 3.5 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 37
Bảng 3.6 Bảng so sánh VNTB (cm) của học sinh với các nghiên cứu khác 39
Bảng 3.7 Vòng cánh tay phải co (cm) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 41
Bảng 3.8 Bảng so sánh VCTPC (cm) của học sinh với các nghiên cứu khác 43
Bảng 3.9 Vòng bụng (cm) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 44
Bảng 3.10 Bảng so sánh vòng bụng (cm) của học sinh với các nghiên cứu khác 46
Bảng 3.11 Vòng mông (cm) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 47
Bảng 3.12 Vòng mông (cm) của học sinh theo các nghiên cứu khác nhau 49
Bảng 3.13 Vòng đùi phải (cm) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 50
Bảng 3.14 Chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi và giới tính 52
Bảng 3.15 Chỉ số BMI của học sinh theo tuổi và giới tính 53
Bảng 3.16 Tỷ lệ học sinh nữ dậy thì chính thức 54
Bảng 3.17 Tuổi có kinh lần đầu của học sinh nữ 54
Bảng 3.18 Tuổi dậy thì chính thức của trẻ em Việt Nam và nước ngoài 55
Bảng 3.19 Độ dài vòng kinh của học sinh nữ 55
Bảng 3.20 Thời gian chảy máu trong chu kì kinh nguyệt 56
Bảng 3.21 Tỷ lệ học sinh nữ đã phát triển tuyến vú theo tuổi 57
Bảng 3.22 So sánh kết quả nghiên cứu sự phát triển tuyến vú ở học sinh nữ với nghiên cứu khác 57
Bảng 3.23 Tỷ lệ học sinh nữ đã phát triển lông mu theo tuổi 58
Trang 7Bảng 3.24 So sánh kết quả nghiên cứu sự phát triển lông mu ở học sinh nữ với
nghiên cứu khác 59
Bảng 3.25 Tỷ lệ học sinh nữ đã phát triển lông nách theo tuổi 60
Bảng 3.26 So sánh kết quả nghiên cứu sự phát triển lông nách ở học sinh nữ với nghiên cứu khác 60
Bảng 3.27 Thời điểm xuất hiện tuổi dậy thì chính thức ở nam 61
Bảng 3.28 So sánh tuổi dậy thì của học sinh nam với các kết quả 62
nghiên cứu khác 62
Bảng 3.29 Tỷ lệ học sinh nam dậy thì chính thức 62
Bảng 3.30 Tỷ lệ học sinh nam đã phát triển lông mu theo tuổi 63
Bảng 3.31 So sánh tỷ lệ học sinh nam đã phát triển lông mu 64
với nghiên cứu khác 64
Bảng 3.32 So sánh mức độ phát triển lông mu của học sinh nam THCS Dịch Vọng với học sinh nam ở nước Nga cùng độ tuổi 65
Bảng 3.33 Tỷ lệ học sinh nam đã phát triển lông nách theo tuổi 65
Bảng 3.34 So sánh sự phát triển lông nách của học sinh nam với nghiên cứu khác 66
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Địa bàn quận Cầu Giấy 23
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính 30
Hình 3.2 So sánh chiều cao đứng của học sinh nam với các tác giả khác 32
Hình 3.3 So sánh chiều cao đứng của học sinh nữ với các tác giả khác 32
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn cân nặng của học sinh theo tuổi và giới tính 34
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn cân nặng của học sinh nam theo các nghiên cứu khác nhau 36
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn cân nặng của học sinh nữ theo các nghiên cứu khác nhau 36
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn VNTB của học sinh theo tuổi và giới tính 38
Hình 3.8 So sánh vòng ngực trung bình của học sinh nam với các nghiên cứu khác 40
Hình 3.9 So sánh vòng ngực trung bình của học sinh nữ với các nghiên cứu khác 40
Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn VCTPC của học sinh theo tuổi và giới tính 42
Hình 3.11 So sánh VCTPC của học sinh nam với các nghiên cứu khác 43
Hình 3.12 So sánh VCTPC của học sinh nữ với các nghiên cứu khác 44
Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn vòng bụng của học sinh theo tuổi và giới tính 45
Hình 3.14 So sánh vòng bụng của học sinh nam với các tác giả khác 46
Hình 3.15 So sánh vòng bụng của học sinh nữ với các tác giả khác 47
Hình 3.16 So sánh vòng mông của học sinh theo tuổi và giới tính 48
Hình 3.17 So sánh vòng mông của học sinh nam với nghiên cứu khác 49
Hình 3.18 So sánh vòng mông của học sinh nữ với nghiên cứu khác 50
Hình 3.19 So sánh vòng đùi phải của học sinh theo tuổi và giới tính 51
Hình 3.20 So sánh sự phát triển tuyến vú của học sinh nữ với nghiên cứu khác 58
Hình 3.21 So sánh sự phát triển lông mu của học sinh nữ THCS Dịch Vọng với học sinh nữ Hà Đông 59 Hình 3.22 So sánh sự phát triển lông nách của học sinh nữ với nghiên cứu khác 61
Trang 9Hình 3.23 So sánh sự phát triển lông mu của học sinh theo tuổi và theo giới tính 63 Hình 3.24 So sánh sự phát triển lông mu của học sinh nam với tác giả khác 64 Hình 3.25 So sánh sự phát triển lông nách của học sinh theo tuổi và giới tính 66 Hình 3.26 So sánh sự phát triển lông nách của học sinh với nghiên cứu khác 67
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Một trong các đặc điểm cơ bản của cơ thể người là sinh trưởng và phát triển diễn ra liên tục từ lúc trứng mới thụ tinh, gồm nhiều giai đoạn Hai quá trình đó có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau để cơ thể tăng trưởng về tầm vóc
và thể lực Đối với trẻ em, quá trình sinh trưởng và phát triển diễn ra không đều theo lứa tuổi, mỗi giai đoạn có những đặc điểm khác nhau về hình thái, sinh lí,
Trẻ em là tương lai của đất nước, nguồn nhân lực của quốc gia Sự phát triển
về thể chất của các em liên quan chặt chẽ với sự tăng trưởng kinh tế xã hội cũng như những tiến bộ về y học Trong thời kì kinh tế hội nhập, Đảng ta đã không ngừng chú trọng đến việc phát triển con người và đặc biệt quan tâm đến trẻ em, cụ thể là phát triển con người một cách toàn diện về thể lực và trí tuệ, trong đó tiêu chí hàng đầu là nâng cao thể lực
Qua những nghiên cứu về sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em trên thế giới và Việt Nam có thể thấy sự tăng trưởng, phát triển của trẻ em thường xuyên biến đổi, có mối liên quan chặt chẽ với điều kiện môi trường, điều kiện sống, tình hình kinh tế xã hội, v.v và cần được điều tra thường xuyên sau mỗi 10 năm
Ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu, đánh giá sự tăng trưởng, phát triển ở trẻ em Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu còn nhỏ lẻ ở mức độ địa phương Mặt khác, các số liệu đã có không phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội phát triển hiện nay và chưa được cập nhật thường xuyên Vì vậy việc nghiên cứu ở học sinh THCS
sẽ góp phần bổ sung các số liệu cần thiết về phát triển thể chất trẻ em nước ta nói
chung Đó cũng là lí do mà chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu một số giá trị sinh học của học sinh trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội"
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định thực trạng sự phát triển thể chất của học sinh trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội thông qua các đặc điểm về hình thái
Trang 11- Xác định thực trạng tuổi dậy thì chính thức và sự phát triển các đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp của học sinh trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Đánh giá các giá trị sinh học đặc trưng cho lứa tuổi học sinh từ 12 đến 15 tuổi, nhằm xây dựng các kế hoạch giáo dục phù hợp với giai đoạn này tại các trường THCS ở Hà Nội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hình thái của học sinh ở độ tuổi từ 12 đến 15 tuổi thuộc trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội với các chỉ số: Chiều cao đứng, cân nặng, VNTB, vòng cánh tay phải co, vòng bụng, vòng đùi phải, chỉ số Pignet, chỉ số BMI
- Nghiên cứu một số dấu hiệu mô tả về dậy thì của học sinh ở độ tuổi từ 12 đến 15 tuổi trường THCS Dịch Vọng bao gồm:
+ Dấu hiệu dậy thì chính thức: thời điểm có kinh nguyệt lần đầu ở nữ và thời điểm xuất tinh lần đầu ở nam
+ Dấu hiệu sinh dục phụ thứ cấp: lông ở hố nách, lông trên mu ở nam giới; lông trên mu, lông ở hố nách, tuyến vú ở nữ giới
4 Như ̃ng đóng góp mới của đề tài
Đề tài góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu về sinh học hình thể và dậy thì của học sinh trường THCS trong giai đoạn hiện nay Từ đó giúp việc áp dụng phương pháp dạy học phù hợp nhất đối với từng đối tượng nghiên cứu, nhằm mang lại hiệu quả giáo dục tối ưu
Đề tài nghiên cứu có vai trò đánh giá thực trạng chất lượng con người của học sinh trường THCS Dịch Vọng thông qua các giá trị hình thái và đặc điểm sinh dục học sinh từ 12 đến 15 tuổi
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
1.1.1 Cơ sở lý luận về hình thái – thể lực
- Chiều cao đứng:
Chiều cao đứng là một trong những kích thước được đề cập và được đo đạc trong hầu hết các công trình điều tra cơ bản về hình thái, nhân chủng, sinh lý và bệnh lý Chiều cao đứng nói lên tầm vóc của một người, do đó các nhà y học dựa vào chiều cao đứng để đánh giá sức lớn của trẻ em; so sánh chiều cao đứng với các kích thước khác trong cơ thể, phối hợp với các kích thước khác để xây dựng các chỉ
số thể lực Chiều cao đứng cũng được các nhà phân loại học sử dụng khi nghiên cứu chủng tộc Nói chung, cũng như ở các nước khác trên thế giới, ở Việt Nam nam giới cao hơn nữ giới khoảng từ 8 đến 11 cm [12]
Có rất nhiều ý kiến giải thích sự gia tăng về chiều cao đứng ở thế hệ sau tốt hơn thế hệ trước Tuy nhiên, về nguyên nhân ảnh hưởng tới chiều cao đứng
Tuy nhiên, cân nặng của một người nói lên mức độ và tỷ lệ giữa sự hấp thụ các chất và tiêu hao năng lượng Cân nặng của một người bao gồm 2 phần:
Trang 13+ Phần cố định, chiếm 1/3 tổng cân nặng gồm xương, da, tạng và thần kinh + Phần thay đổi, chiếm 2/3 tổng cân nặng, trong đó bao gồm 3/4 là khối lượng của cơ và 1/4 là mỡ và nước Điều này cho thấy tăng cân là tăng phần thay đổi, trong đó khối lượng của cơ chiếm tới 3/4, vì vậy tăng cân phần nào nói lên mức
- Vòng đùi và vòng cánh tay phải co:
Ở đây, chúng tôi chỉ nói về các loại vòng cơ có liên quan nhiều đến cân nặng Các vòng cơ ở chi biểu hiện sự phát triển của ba yếu tố: xương, cơ và tổ chức
mỡ dưới da Như vậy, đo các vòng cơ ở chi cho phép ta đánh giá tình trạng phát triển cơ thể nói chung và nhất là tình trạng tập luyện và dinh dưỡng của cơ thể
Các vòng này cũng có ý nghĩa như cân nặng và do đó có mối tương quan chặt chẽ với cân nặng Các vòng cơ ở chi không những có thể làm thay đổi cân nặng
và hơn nữa, còn có những ưu điểm sau trong việc đánh giá thể lực một người [12]:
+ Các vòng chi biểu hiện sự phát triển cơ rõ hơn cân nặng Một kết quả nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng các vòng chi trên 10 thanh niên tập cử tạ trong 4 tháng liền, trong đó các vòng cánh tay tăng rất mạnh, khoảng từ 2 đến 3,5 cm [41]
+ Cân nặng biểu hiện sự tăng mỡ nhiều hơn so với các vòng chi Một điều hiển nhiên là chúng ta có thể tăng cân rất nhanh do an dưỡng (ăn uống, nghỉ ngơi)
mà không phải do tập luyện và lao động Sự tăng cân biểu hiện tình trạng dinh dưỡng tốt của cơ thể Như vậy, sự tăng cân rõ ràng là biểu hiện sự béo nhiều hơn, trong khi đó, sự tăng các vòng chi biểu hiện sự phát triển cơ nhiều hơn
Trang 14- Vòng bụng:
Muốn đánh giá độ béo của cơ thể và do đó đánh giá được mức độ dinh dưỡng và khả năng hấp thụ của cơ thể, người ta thường đo vòng bụng Tuy nhiên, việc đo vòng bụng nếu không đúng kỹ thuật thường cho số liệu chính xác không cao, do không có một thành xương vững chắc như thành ngực Có thể đánh giá mức
độ béo của cơ thể theo chỉ số: [Vòng bụng/ Vòng ngực] x 100
Chỉ số này càng lớn thì người càng béo, trừ trường hợp bụng to vì bệnh lý Cũng có thể tính hiệu số giữa vòng ngực và vòng bụng
- Chỉ số Pignet:
Chỉ số này đã sử dụng ba kích thước trong công thức tính:
Pignet = Chiều cao đứng (cm) – [Cân nặng (kg) + VNTB (cm)]
Theo công thức này, ta thấy chỉ số càng bé thì thể lực càng tốt Tuy nhiên, chỉ số này bị phê phán vì có lợi cho người béo (nặng cân) và thiệt cho người cao Chỉ số này thay đổi tuỳ theo tuổi, vì vậy khi lập thang phân loại, phải lập riêng cho các lứa tuổi thì việc đánh giá mới thích hợp, ví dụ có thang phân loại chỉ số Pignet phù hợp với trẻ em Việt Nam (xem bảng 2.2)
- Chỉ số BMI chỉ sử dụng 2 kích thước hình thái thông thường:
BMI = Cân nặng (kg) / [Chiều cao đứng (m)]2
Chỉ số BMI có ưu điểm dễ thực hiện, nhanh chóng đưa ra kết luận về thể trạng của học sinh Dựa vào chỉ số này có thể phân loại người béo và người gầy theo tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì áp dụng cho người châu Á
1.1.2 Cơ sở lý luận về tuổi dậy thì
1.1.2.1 Dậy thì ở nam giới
Dậy thì là một thời kỳ có những biến động lớn về thể chất, tâm lý và đặc biệt
là hoạt động chức năng của hệ thống sinh sản Ở trẻ nam, mốc để đánh dấu tuổi dậy thì bắt đầu đó là thể tích tinh hoàn tăng trên 4 ml, còn mốc để đánh dấu thời điểm dậy thì chính thức là lần xuất tinh đầu tiên Tuy nhiên, rất khó xác định chính xác thời điểm xuất tinh lần đầu tiên vì các em ít để ý (do thường là mộng tinh) Tuổi dậy thì hoàn toàn của nam khoảng 15 đến 16 tuổi (đối với trẻ em Việt Nam) [12]
Trang 15- Những biến đổi trong thời kỳ dậy thì:
Vào thời kỳ này, dưới tác dụng của hormon sinh dục nam (testosteron) phối hợp cùng các hormon tăng trưởng khác, cơ thể trẻ nam phát triển nhanh, đặc biệt khối lượng cơ tăng nhanh Từ khi trẻ nam sinh ra, tuyến sinh dục nam (tinh hoàn)
im lặng cho tới lúc này mới bắt đầu hoạt động Tinh hoàn bắt đầu sản sinh tinh
trùng và bài tiết testosteron Dưới tác dụng của testosteron, cơ thể lớn nhanh và xuất hiện các đặc tính sinh dục nam thứ cấp như dương vật to lên, túi tinh và tuyến tiền liệt phát triển, cơ nở nang, da thô dày, giọng nói trầm Đứa trẻ bắt đầu có khả năng hoạt động tình dục và sinh sản
- Cơ chế dậy thì:
Trước kia, người ta cho rằng dậy thì là thời điểm tinh hoàn “chín” Sau này khi phát hiện ra các hormon hướng sinh dục của tuyến yên người ta lại cho rằng nguyên nhân của dậy thì là “sự chín” của tuyến yên Ngày nay, với các thực nghiệm ghép tinh hoàn và tuyến yên của động vật non vào động vật trưởng thành người ta thấy cả hai tuyến đó đều có khả năng hoạt động như của động vật trưởng thành nếu
có những kích thích phù hợp Không những thế, ngay cả vùng dưới đồi cũng có khả năng bài tiết đủ lượng GnRH Tuy nhiên, trong thực tế cả ba vùng này đều không hoạt động trong suốt thời kỳ từ sau khi sinh đến trước tuổi dậy thì vì thiếu một tín hiệu kích thích đủ mạnh từ các trung tâm phía trên vùng dưới đồi, mà ngày nay người ta thường cho rằng trung tâm đó chính là vùng limbic Như vậy, dậy thì chính
là quá trình trưởng thành hay quá trình “chín” của vùng limbic Khi vùng limbic trưởng thành, những tín hiệu xuất phát từ vùng limbic sẽ đủ mạnh để kích thích vùng dưới đồi bài tiết đủ lượng GnRH và phát động hoạt động chức năng của trục vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục [13]
1.1.2.2 Dậy thì ở nữ giới
Sau khi trẻ gái ra đời, buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận được kích thích phù hợp từ tuyến yên Hai buồng trứng bắt đầu hoạt động, thể hiện bằng hoạt động sinh giao tử và bài tiết hormon sinh dục nữ dẫn đến những thay đổi về thể
Trang 16chất, tâm lý, sự trưởng thành và hoàn thiện về chức năng sinh dục Thời kỳ phát triển và trưởng thành này được gọi là dậy thì
- Những biến đổi về cơ thể:
Trong thời kỳ này, cơ thể các em gái phát triển nhanh về chiều cao đứng cũng như cân nặng Cơ thể trở nên cân đối, mềm mại, thân hình có đường cong do lớp mỡ dưới da phát triển, đặc biệt ở một số vùng như ngực, mông, khung chậu nở rộng hơn Xuất hiện một số đặc tính sinh dục thứ cấp như hệ thống lông mu, lông nách Tâm lý có những biểu hiện thay đổi so với trước như xấu hổ khi đứng trước bạn khác giới, hay tư lự và ít nghịch ngợm hơn, ý tứ hơn trong cách cư xử …vv
- Hoạt động của tuyến sinh dục:
Chức năng sinh giao tử của buồng trứng bắt đầu hoạt động Hàng tháng, dưới tác dụng của hormon tuyến yên, các nang trứng nguyên thủy phát triển, có khả năng tiến tới chín và phóng noãn Như vậy từ thời kỳ này, các em gái bắt đầu có khả năng sinh con Tuy nhiên, vì chức năng của các cơ quan thuộc hệ thống sinh sản chưa phát triển thành thục nên chưa đủ khả năng mang thai, nuôi con vì vậy cần tư vấn cho các em cách ứng xử trong quan hệ với bạn khác giới, cách phòng tránh thai, phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
Chức năng nội tiết của buồng trứng thể hiện là buồng trứng bắt đầu tiết hormon sinh dục estrogen và progesteron Dưới tác dụng của 2 hormon này, chuyển hóa của cơ thể tăng, cơ thể phát triển nhanh, các cơ quan sinh dục như tử cung, vòi trứng, âm đạo, âm hộ, tuyến vú phát triển về kích thước và chức năng [13]
Một dấu hiệu đặc biệt quan trọng đánh dấu em gái đã dậy thì chính thức đó là xuất hiện kinh nguyệt hàng tháng Tất cả những biến đổi về cơ thể, tâm lý và hoạt động của hệ thống sinh sản đều do tác dụng của các hormon hướng sinh dục của tuyến yên và các hormon của buồng trứng Các dấu hiệu dậy thì ở nữ thường thể hiện rõ rệt hơn ở nam giới
- Thời gian xuất hiện dậy thì: Tuổi dậy thì không phải là một thời điểm mà
là một khoảng thời gian có thể thay đổi theo từng cá thể, thường kéo dài 3÷4 năm Thời điểm bắt đầu dậy thì ở nữ thường được đánh dấu bằng biểu hiện tuyến vú bắt
Trang 17đầu phát triển Ở Việt Nam, thời điểm này thường vào lúc 8 ÷10 tuổi Thời điểm dậy thì chính thức được đánh dấu bằng lần có kinh đầu tiên, ở người Việt Nam vào
khoảng 13 ÷14 tuổi
- Cơ chế dậy thì:
Ở nữ, vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng đều có khả năng bài tiết hormone, nhưng trong thực tế các tuyến này không hoạt động cho tới tuổi dậy thì vì chúng thiếu những tín hiệu kích thích phù hợp từ vùng limbic Thời gian dậy thì chính là khoảng thời gian trưởng thành hay “chín” của vùng limbic [13]
- Chu kỳ kinh nguyệt:
Chu kỳ kinh nguyệt là sự biến đổi về cấu trúc, chức năng dẫn tới sự chảy máu có chu kỳ ở niêm mạc tử cung dưới tác dụng của các hormone tuyến yên và buồng trứng
Độ dài của chu kỳ kinh nguyệt là khoảng thời gian tính từ ngày bắt đầu hành kinh kỳ này đến ngày bắt đầu hành kinh kỳ sau Độ dài của chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ Việt Nam trưởng thành thường là 28÷30 ngày
Khoảng 2 ngày cuối cùng của chu kỳ, hoàng thể đột nhiên bị thoái hóa, nồng độ estrogen và progesteron đột ngột giảm xuống mức rất thấp Kinh nguyệt được gây ra do sự giảm đột ngột nồng độ hai hormon sinh dục nữ, đặc biệt là progesteron Do nồng độ hormone giảm, niêm mạc tử cung bị thoái hóa tới 65% chiều dày Các động mạch xoắn co thắt do tác dụng của các sản phẩm được bài tiết từ niêm mạc bị thoái hóa, trong đó có prostaglandin Một mặt do các động mạch nuôi dưỡng lớp niêm mạc chức năng bị co thắt gây tình trạng thiếu máu, mặt khác do thiếu tác dụng kích thích của hormon nên lớp niêm mạc này bắt đầu hoại tử đặc biệt là các mạch máu Kết quả là mạch máu bị tổn thương và máu chảy đọng lại dưới lớp niêm mạc chức năng Vùng chảy máu lan rộng nhanh trong 24 đến 36 giờ và lớp niêm mạc bị hoại tử sẽ tách khỏi tử cung Sau khoảng
48 giờ kể từ lúc xảy ra hiện tượng chảy máu, toàn bộ lớp niêm mạc chức năng bong ra
Trang 181.2 LƯỢC SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Các nghiên cứu về giá trị sinh học hình thái và thể lực
- Các nghiên cứu trên thế giới:
Những nghiên cứu về sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em được bắt đầu vào giữa thế kỷ XVIII Quyển sách đầu tiên về sự tăng trưởng chiều cao ở người (Wachstum der Menschen in die Lange) của A.Stoeller được xuất bản ở Magdeburg (Đức) vào năm 1729 Tuy nhiên, trong cuốn sách này chưa có các số liệu đo đạc cụ thể Nghiên cứu về sự tăng trưởng thực sự được trình bày trong luận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jumpert ở Halle (Đức) năm 1754, trong đó trình bày các số liệu
đo đạc về cân nặng, chiều cao đứng và các đại lượng khác của một loạt trẻ trai, trẻ gái và thanh niên từ 1 đến 25 tuổi tại các trại mồ côi Hoàng gia ở Berlin và một số nơi khác trên nước Đức Công trình này được xem là nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng trưởng ở trẻ em
Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao đứng được thực hiện bởi Philibert Guénneau de Monbeilard trên con trai của mình từ năm 1759 đến năm 1777 Trong
18 năm liên tục, cậu bé được đo 2 lần mỗi năm, cách nhau 6 tháng Đây là một nghiên cứu tốt nhất đã được tiến hành cho đến nay và được trích dẫn trong các nghiên cứu về tăng trưởng trong suốt thế kỷ XIX
Một công trình nghiên cứu dọc khá lớn khác của Bowditch H.P 1911), hiệu trưởng đầu tiên của Khoa Y trường Đại học Harvard (Mỹ) và là giáo sư sinh lý học đã đưa ra chuẩn tăng trưởng của trẻ em Mỹ và lần đầu tiên sử dụng hệ thống bách phân vị trong nghiên cứu tăng trưởng mà 15 năm sau Galton F (Anh) mới sử dụng
(1840-Trọng lượng cơ thể tính bằng kg đã được nhắc tới trong công trình nghiên cứu của Tenon từ thế kỷ thứ XIII, sang đầu thế kỷ XIX nó được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực
Vòng ngực là chỉ số được nghiên cứu từ những năm 20 của thế kỷ XIX, đến cuối thế kỷ này thì vòng ngực trở thành một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực sau chiều cao đứng và cân nặng
Trang 19Quan niệm “tăng trưởng là tấm gương phản chiếu điều kiện của xã hội” đã được nêu lên từ năm 1929 bởi Louis Réné Vilermé (1782-1863) - người sáng lập ngành y tế công cộng ở Pháp, khi ông công bố trong cuốn sách chuyên khảo rằng những người lính nghĩa vụ ở các quận nghèo tại Paris có chiều cao đứng trung bình thấp hơn lính nghĩa vụ ở các quận giàu Trước đó, một nghiên cứu tương tự theo hướng sức khỏe công cộng được Edwin Chadwick thực hiện ở miền Bắc nước Anh năm 1883, trong đó đã trình bày tầm vóc nhỏ bé của trẻ em đang làm việc trong các nhà máy dệt Ngày nay, người ta đã sử dụng chiều cao đứng của trẻ em và người trưởng thành như một chỉ số để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xã hội và nêu lên quy luật tăng trưởng theo thời gian (secular changes)
Tuy nhiên, việc đánh giá thể lực chỉ dựa trên một trong các chỉ số như cân nặng, chiều cao đứng hay vòng ngực đều không cho kết quả mong muốn Vì vậy, người ta đã hợp nhất nhiều đại lượng tăng trưởng vào một chỉ số chung để đánh giá thể lực Ban đầu là những chỉ số dùng 2 kích thước (cân nặng và chiều cao) như chỉ
số Broca, chỉ số Quetelet, chỉ số Kaup, Rohrer và Livi, v.v sau đó là những chỉ số được hợp nhất từ 3 kích thước trở lên như chỉ số Pignet, chỉ số Vervaek, chỉ số Pimo, Nhìn chung, một chỉ số được xác định từ nhiều thông số khác nhau thì chỉ
số đó càng chính xác nhưng việc đo đạc và tính toán càng cồng kềnh và phức tạp
Do đó, tuỳ mục đích nghiên cứu mà các tác giả đã chọn các chỉ số thích hợp
Việc nghiên cứu các chỉ số hình thái, thể lực của trẻ ở các lứa tuổi được tiếp tục bởi nhiều tác giả ở các nước khác nhau Từ các dẫn liệu thu thập được, các tác giả nhận định rằng sự phát triển và tốc độ tăng trưởng các chỉ số diễn ra không đều qua các thời kỳ khác nhau, có thời kỳ tốc độ tăng trưởng chậm, có thời kỳ tăng trưởng nhanh Trong quá trình phát triển của trẻ có hai giai đoạn “nhảy vọt”, đó là giai đoạn
từ 5 đến 7 tuổi và giai đoạn tuổi dậy thì (11÷15 tuổi)
Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy có sự khác biệt về các chỉ số hình thái của trẻ sống ở các vùng, miền khác nhau, cũng như có sự khác biệt theo tốc độ phát triển các chỉ số hình thái giữa các trẻ nam và trẻ nữ Cụ thể là các trẻ sống ở thành phố có các chỉ số hình thái tốt hơn so với các trẻ sống ở nông thôn Ở lứa tuổi 7÷10,
Trang 20tốc độ tăng chiều cao đứng của các trẻ nữ nhanh hơn so với ở các trẻ nam, nhưng từ
11 tuổi trở đi tốc độ tăng chỉ số này ở các trẻ nam lại nhanh hơn so với ở các trẻ nữ
Một nhận xét nữa của các nhà nghiên cứu là sự phát triển các chỉ số hình thái của trẻ ở các lứa tuổi khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền, chế độ dinh dưỡng và hàng loạt các yếu tố thuộc môi trường sống
Theo Jacques R Ducharme và Maguelone G Forest (1982), dậy thì là qua thời kì trẻ em để trở thành người lớn, đây là giai đoạn biệt hóa giới tính lớn nhất, biến đổi cơ quan sinh dục, phát triển đặc tính sinh dục phụ, thay đổi kích thước cũng như hình thái cơ thể Tăng trưởng và phát triển (trong đó có dậy thì) là sản phẩm của mối tương tác phức tạp và liên tục của dinh dưỡng, môi trường sống và yếu tố di truyền (theo [42])
Nhiều tác giả trên thế giới đã phân chia quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ em thành các thời kì khác nhau Bunak V.V (1965) phân chia các thời kì phát triển của trẻ em dựa vào các dấu hiệu hình thái và nhân chủng Gundobin N.P
và Arshavski I.A chia ra các thời kì phát triển dựa vào bậc học của học sinh, (theo [48]) Theo đó, các tác giả cũng chưa hoàn toàn thống nhất về cách phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ em
- Các nghiên cứu ở Việt Nam:
Việc nghiên cứu tầm vóc, thể lực của học sinh ở nước ta đã bắt đầu được tiến
hành từ những năm 60 của thế kỷ trước
Nghiên cứu đầu tiên được biết đến là công trình của Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền [12] khi nghiên cứu một số kích thước cơ bản (chiều cao đứng và cân nặng) trên học sinh Hà Nội lứa tuổi từ 7 đến 17 Kết quả cho thấy, học sinh trong lứa tuổi THCS (từ 11 đến 15 tuổi) không có sự khác biệt về tầm vóc, thể lực giữa nam và nữ ở lứa tuổi 11 Sau đó, ở nữ tăng nhanh về các kích thước đo so với ở nam Điều này được các tác giả giải thích bằng sự dậy thì sớm ở nữ so với nam
Năm 1962, Phạm Năng Cường và cộng sự đã đưa thêm chỉ số vòng ngực khi nghiên cứu thể lực của học sinh Hà Nội Các tác giả cũng đưa ra biểu đồ phát triển thể lực của nam và nữ giống như Đỗ Xuân Hợp [12] nhưng các kích thước và chỉ số có tăng hơn
Trang 21Sau hai Hội nghị về hằng số sinh học năm 1967 và 1972, một tập thể các tác giả do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên đã biên soạn cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975) [3] Trong công trình này, các tác giả đã tập hợp đầy đủ nhất về các chỉ tiêu nhân trắc ở trẻ em và người lớn Đây là công trình nghiên cứu không chỉ thể hiện những chỉ số điển hình của người Việt Nam nói chung mà còn của trẻ em các lứa tuổi nói riêng
Ở miền Bắc, trong những năm 1975-1976, Nguyễn Quang Quyền và Lê Gia Vinh [30] đã làm một cuộc điều tra toàn diện về y tế cho dân cư một xã đồng bằng ở
tỉnh Hà Tây, trong đó đã nghiên cứu tầm vóc, thể lực của 2.100 người tuổi 16÷70
theo kỹ thuật và phương pháp tiêu chuẩn trong nhân trắc học
Trong các năm 1977, 1985, 1986 và 1990, Nguyễn Khải và cộng sự [15] đã nghiên cứu tầm vóc, thể lực của sinh viên và nông dân trên địa bàn thành phố Huế
và thấy tầm vóc, thể lực của sinh viên kém hơn hẳn so với nông dân ngoại thành
Năm 1980, Nguyễn Văn Lực và cộng sự [24] đã nghiên cứu trên 831 học sinh, sinh viên tuổi 16÷25 bao gồm dân tộc Kinh (52,6%) và một số DTTS tại khu vực Thái Nguyên (Tày, Thái, Mường, Nùng, Sán Dìu, Dao, Sán Chỉ, v.v.) Sau đó vào năm 1985, các tác giả đánh giá lại bằng cách nghiên cứu trên 762 sinh viên Thái Nguyên [25] Đây có thể coi như một dạng nghiên cứu theo phương pháp theo dõi dọc không hoàn chỉnh
Công trình nghiên cứu đồ sộ trong 4 năm (1981-1984) đã được xuất bản của tập thể tác giả do Võ Hưng chủ biên: “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” [14] đã thực hiện trên 13.233 người ở 15 tỉnh trên 3 miền Bắc,
Trung, Nam và được chia thành 5 lớp tuổi: 17÷19, 20÷29, 30÷39, 40÷49, 50÷55
Đây là công trình nghiên cứu về tầm vóc nhằm ứng dụng vào việc thiết kế dụng cụ
và nơi làm việc (ergonomi)
Trong 2 năm 1985 và 1986, Trịnh Hữu Vách và Lê Gia Vinh [38] đã tiến hành một đợt nghiên cứu tương đối toàn diện về tầm vóc, thể lực trên 3.468 người trưởng thành tuổi từ 18 đến già thuộc 5 tỉnh miền Bắc và miền Nam Các tác giả đã đưa ra những nhận định dè dặt về quy luật gia tăng tầm vóc theo thời gian do hoàn cảnh kinh tế xã hội thay đổi
Trang 22Năm 1987, trong luận án phó tiến sĩ sinh học “Góp phần nghiên cứu các đặc điểm hình thái thể lực người Việt lứa tuổi trưởng thành”, Trịnh Hữu Vách [37] đã nêu lên một số kết luận đáng chú ý trong quá trình nghiên cứu trên 4.510 người Việt
và so sánh với 428 người Chill (Lâm Đồng) và người Mường (Thanh Hóa), trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến tình trạng thiếu dinh dưỡng về cả chất lẫn số lượng trong thời gian dài đã ảnh hưởng tới tầm vóc, thể lực của người Việt Nam và hạn chế quy luật gia tăng theo thời gian
Kết quả công trình nghiên cứu “Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam 1÷55 tuổi” (1989) do Thẩm Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền và cộng sự [10] thực hiện ở 8 tỉnh thuộc 3 miền của nước ta cho thấy, các chỉ số thu được đều cao hơn hẳn so với các nghiên cứu trước Các tác giả cho thấy chiều cao đứng đến lứa tuổi 15 ở trẻ nam
đã vượt lên so với trẻ nữ, có lẽ đây là lứa tuổi mà trẻ nam bắt đầu bước vào tuổi dậy thì Trong khi đó kích thước vòng ngực của trẻ nữ luôn cao hơn của trẻ nam
ở các lứa tuổi THCS Điều này cũng phù hợp với sự xuất hiện đặc điểm sinh dục thứ cấp của cơ thể nữ khác với cơ thể nam
Thực hiện quyết định số 19-UB/TH ngày 10/3/1994 của Ủy ban khoa học Nhà nước, trường đại học Y khoa Hà Nội chủ trì dự án “Điều tra cơ bản các chỉ tiêu sinh học người Việt Nam thập kỷ 1990” Trần Văn Dần và cộng sự [7] đã nghiên cứu trên học sinh trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái Bình trong những năm 1990-1995 So với “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975), thì sự phát triển về chiều cao đứng của trẻ em 6÷16 tuổi trong nghiên cứu này tốt hơn và có ý nghĩa thống kê, đặc biệt là trẻ em ở thành phố và thị xã Sự gia tăng
về cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà Nội, còn khu vực nông thôn chưa có sự thay đổi đáng kể
Năm 1991, trong cuốn sách chuyên đề “Mấy vấn đề y sinh học về phụ nữ nông thôn Việt Nam”, các tác giả Hà Thị Phương Tiến, Trịnh Hữu Vách, Lê Gia Vinh [34] đã đưa ra một số nhận định về tầm vóc, thể lực của phụ nữ nông thôn Việt Nam đương đại thông qua kết quả nghiên cứu trên 3.972 phụ nữ thuộc khu vực sản
Trang 23xuất nông nghiệp tại 6 tỉnh trong cả nước, cho thấy tầm vóc, thể lực phụ nữ nông thôn không khác mấy so với các nghiên cứu trước đây
Năm 1992, bằng phương pháp nghiên cứu cắt dọc trên học sinh phổ thông
Hà Nội, Thẩm Thị Hoàng Điệp [9] đã công bố những kết luận rất đáng chú ý trong luận án phó tiến sĩ sinh học: “Đặc điểm hình thái và thể lực học sinh trường PTCS
Hà Nội”
Năm 1993, trong đợt điều tra cơ bản về y tế và sinh đẻ của cư dân xã Thắng Lợi (Hà Tây), Nguyễn Hữu Cường và Đào Huy Khuê [6] đã nghiên cứu trên 615 người tuổi từ 18 đến 65 đã rút ra kết luận về sự cải thiện tầm vóc, thể lực theo thời gian và cho rằng sự tăng trưởng tầm vóc, thể lực theo lớp tuổi cũng tương đương như các nghiên cứu từ những năm 1975
Trần Đình Long, Lê Nam Trà, Nguyễn Văn Tường và cộng sự đã nghiên cứu trên học sinh tuổi từ 6 đến 16 ở thị xã Thái Bình nhận thấy từ 11 đến 14 tuổi thì trẻ nữ vượt trội hơn trẻ nam về các kích thước nghiên cứu, còn từ 15 đến 16 tuổi thì trẻ nam lại phát triển vượt trẻ nữ Điều này phù hợp với quy luật phát triển của trẻ nam và trẻ nữ ở nhóm tuổi này do liên quan đến tuổi dậy thì Theo các tác giả trên, chỉ số Pignet cao do trẻ trong độ tuổi này có xu hướng phát triển ưu thế về phần xương, còn chỉ số BMI thấp là do trẻ khá gầy, nói lên rằng đây là nhóm tuổi đang lớn nhanh, ưu thế phát triển là xương, chưa ở giai đoạn tích mỡ Các tác giả trên tiếp tục nghiên cứu trên học sinh 6÷18 tuổi ở các trường nội ngoại thành Hà Nội từ năm 1994 đến 1996 và rút ra kết luận: từ 11 đến 13 tuổi, trẻ nữ phát triển vượt trội
so với trẻ nam, từ 14 đến 16 tuổi trẻ nam lại phát triển hơn Chỉ tiêu cân nặng (cao
hơn 2÷7 kg), chiều cao đứng (cao hơn 3÷15 cm) ở các trẻ trong nghiên cứu này đã
tăng hơn so với các trẻ trong các nghiên cứu trước (năm 1990 và 1975) Điều này cho thấy có sự thay đổi tích cực về các chỉ tiêu tầm vóc, thể lực [23]
Năm 1993, trong khuôn khổ đề tài “Đặc điểm sinh thể con người Việt Nam”, Trịnh Văn Minh và cộng sự [28] đã nghiên cứu tầm vóc, thể lực và tình trạng dinh dưỡng của 1.309 người tuổi từ 18 đến 60 cư trú tại ngoại thành Hà Nội Tuy nhiên, cách phân lớp tuổi của các tác giả có hơi khác nên đã gặp khó khăn khi tiến hành so sánh, đánh giá với các nghiên cứu trước
Trang 24Năm 1995, Nguyễn Yên và cộng sự [41] đã nghiên cứu trên 2.033 người
thuộc các lứa tuổi 1÷ 5 và 18 ÷ 55 của 3 nhóm dân tộc Việt, Mường, Dao ở tỉnh Hà
Tây và nhận thấy tầm vóc, thể lực của người Việt tốt nhất, sau đến người Mường và cuối cùng là người Dao
Năm 1995, trong khuôn khổ công trình nghiên cứu cấp Bộ và điều tra cơ bản người Việt Nam, Nguyễn Quang Quyền và cộng sự đã tiến hành đề tài “Hằng số hình thái đánh giá thể lực người Việt Nam khu vực phía Nam”, trong đó các tác giả
đã nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về tầm vóc, thể lực của 20.000 người tại 4 địa điểm là thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Tây Nguyên và Huế
Nguyễn Mạnh Cường trong luận án tiến sĩ “Đánh giá một số chỉ tiêu phát triển cơ thể của học sinh lứa tuổi 6÷15 vùng nông thôn ven biển Thái Bình”, đã cho thấy các chỉ số thể lực đều tăng dần theo lứa tuổi, có sự khác biệt giữa nam và nữ và
sự thay đổi này còn phụ thuộc vào tuổi dậy thì của trẻ
Năm 2003, Bộ Y tế đã công bố cuốn sách “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX” [2] Các vấn đề về tầm vóc, thể lực được quan tâm đặc biệt với các đề mục: “Các chỉ tiêu nhân trắc người trưởng thành miền Bắc Việt Nam”(chủ nhiệm: GS Trịnh Văn Minh); “Nghiên cứu sự phát triển cơ thể lứa tuổi đến trường phổ thông 6÷18 tuổi” (chủ nhiệm: PGS.TS Trần Đình Long);
“Đặc điểm phát triển thể lực của trẻ dưới 6 tuổi”(chủ nhiệm: TS Hàn Nguyệt Kim Chi); “Một số chỉ tiêu nhân trắc được điều tra ở Hải Phòng” (chủ nhiệm: PGS.TS Nguyễn Hữu Chỉnh); “Đánh giá một số chỉ tiêu nhân trắc của trẻ em và người cao tuổi ở nông thôn Thái Bình” (chủ nhiệm: TS Phạm Ngọc Khái) [16]
Có thể thấy các nghiên cứu về giá trị sinh học người Việt Nam đã được nghiên cứu khá rộng rãi và chủ yếu trong các lĩnh vực y học và thể dục thể thao nhằm phục vụ cho mục đích của các chuyên ngành này Các nghiên cứu về giá trị sinh học không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực trên mà còn không ít các nghiên cứu phục vụ cho công tác giáo dục phải kể đến điển hình như:
Năm 1996, Phạm Thị Sang đã tiến hành nghiên cứu chiều cao và cân nặng của
nữ sinh từ 9 đến 17 tuổi ở Huế [33] đưa ra nhận xét là chiều cao của nữ sinh Huế
Trang 25tăng mạnh từ năm 11÷12 tuổi, từ 16÷17 tuổi các chỉ số này tăng rất ít Cuối năm
1996, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [10] đã nghiên cứu về sự phát triển chiều cao, vòng ngực của hơn 8000 người Việt Nam tuổi từ 1 đến 55 tại cả 3 miền Các tác giả
đã nhận xét rằng chiều cao đứng trung bình của nam trưởng thành là 163 cm và của
nữ là 158 cm Chiều cao đứng của nam tăng nhanh đến 18 tuổi, còn của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi Vòng ngực trung bình của nam trưởng thành là 70÷80 cm, còn của nữ tương ứng bằng 79 cm
Năm 1997, Nguyễn Yên và cs cho thấy, từ 12 ÷13 tuổi các chỉ tiêu hình thái của nữ lớn hơn của nam cùng tuổi Chỉ số Pignet của nữ lớn hơn nam chứng tỏ thể lực của nam tốt hơn của nữ [41]
Năm 1998 Nguyễn Võ Kỳ Anh và cs [1] sau khi so sánh các kết quả nghiên cứu của mình với một số tác giả khác đã đưa ra nhận xét rằng thanh niên Việt Nam lứa tuổi 14-18 ở nữ và 16-18 lớn chậm hơn so với các lứa tuổi trước đó
“Các chỉ tiêu nhân trắc, hình thái, thể lực người miền Bắc Việt Nam trưởng thành trong thập niên 90” do Trịnh Văn Minh và cs [28] thực hiện cho thấy: Ở lớp thanh niên sau tuổi dậy thì, các kích thước vẫn tiếp tục phát triển và đạt đỉnh cao vào năm 20÷21 tuổi ở nữ và 22 tuổi ở nam Nam giới có chiều cao, cân nặng và các kích thước liên quan đến thể lực, cụ thể là với hoạt động của cơ bắp luôn cao hơn so với nữ giới Trong khi đó, các chỉ số khác có liên quan đến dinh dưỡng, khối mỡ, chỉ số Pignet thì ở nữ lại cao hơn so với nam
Năm 2002, Trần Thị Loan [22] nghiên cứu một số chỉ số thể lực của 3023 học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại một số trường phổ thông ở nội thành Hà Nội đã đưa ra kết luận: Các chỉ số hình thái của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đều trong các năm, có thời điểm tăng nhanh, có thời điểm tăng chậm
Năm 2009, Đỗ Hồng Cường [5] đã nghiên cứu trên đối tượng học sinh THCS các dân tộc của tỉnh Hoà Bình và nhận thấy, các chỉ tiêu hình thái tăng dần theo tuổi
và khác nhau giữa trẻ em thuộc các dân tộc khác nhau
Qua các công trình này có thể thấy tầm vóc và thể lực người Việt Nam nhỏ hơn so với các dân tộc Âu, Mỹ Đa số các kích thước về tầm vóc, thể lực của nam
Trang 26lớn hơn nữ Các kích thước tăng dần theo tuổi, đạt giá trị cao nhất ở lứa tuổi 26÷40 (đối với nam) rồi sau đó giảm dần từ 41 đến 60 tuổi Mức độ giảm mạnh thường thấy ở các lứa tuổi trên 60 Đối với nữ, tầm vóc, thể lực cũng tăng dần, đạt đỉnh cao
lúc 18 ÷ 25 tuổi Từ 26 ÷ 40 tuổi các chỉ số thể lực ở nữ đã có xu hướng giảm và rõ
nhất ở lứa tuổi 41 đến 55 Từ 56 tuổi trở đi các chỉ số thể lực của phụ nữ ngày càng giảm nhiều hơn
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu hình thái của học sinh phổ thông khá phong phú Mặc dù, các kết quả nghiên cứu của các chỉ số này trong các công trình nghiên cứu có chênh lệch không nhiều nhưng các chỉ số này có sự khác biệt rõ rệt ở từng lứa tuổi và theo giới tính Mốc đánh dấu sự “nhảy vọt” của các chỉ tiêu nghiên cứu trong quá trình phát triển cơ thể trong các công trình là tương đối đồng nhất, đó là giai đoạn dậy thì (từ 11 đến 15 tuổi) Các chỉ số hình thái của trẻ em sống ở các vùng sinh thái khác nhau, trong các điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục khác nhau là khác nhau và còn phụ thuộc vào yếu tố di truyền
1.2.2 Các nghiên cứu về giá trị sinh học sinh sản người
- Các nghiên cứu trên thế giới:
Trong hơn nửa thế kỷ trước, các đề tài nghiên cứu về sinh lý sinh dục và sinh sản ngày càng được quan tâm, mở rộng hơn Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về các hiện tượng sinh học xảy ra trong quá trình sinh sản như việc sinh noãn, sinh tinh trùng, hiện tượng thụ tinh và làm tổ của trứng đã được thụ tinh, … nhờ đó những hiểu biết về sinh lý học sinh sản ngày càng đạt đến mức độ cao hơn
Từ năm 1927, nhóm nghiên cứu của Aschleim & Zondek (Đức) và nhóm nghiên cứu của Smith & Engel (Mỹ) đã độc lập nghiên cứu nhưng đồng thời tìm ra kết quả trong nước tiểu có hai chất tác động lên hoạt động của tuyến sinh dục là Prolan A và Prolan B, sau này gọi là kích nang tố (FSH) và kích hoàng thể tố (LH) Ngay sau đó (vào năm 1930), các nhà khoa học là Moore và Price lại phát hiện ra hai chất này do tuyến yên tiết ra, điều đó là cơ sở để giải thích cơ chế điều hòa của tuyến yên đối với chức năng sinh dục [46]
Trang 27Năm 1932, hai nhà khoa học Hohlweg và Junkman đã chứng minh được rằng
hệ thần kinh trung ương (đặc biệt là vùng dưới đồi Hypothalamus) có vai trò quan trọng trong điều hoà chức năng sinh sản Đây là những tác giả đầu tiên đưa ra khái niệm “điều hòa ngược” đối với hệ thống nội tiết Sau nhiều công trình nghiên cứu
về vai trò của Hypothalamus đối với các chức năng sinh dục, người ta đã cho biết: kích thích điện vào vùng củ xám, vùng trước thị có tác dụng gây rụng trứng, tổn thương ở cuống tuyến yên cũng có tác dụng này (theo [43])
Đến năm 1961, Barracluogh và Gorski đã kích thích điện vào vùng Hypothalamus và đã tìm thấy 2 trung khu sinh dục: Trung khu trước điều hoà sự bài tiết kích dục tố có tính chất chu kỳ, ở con đực trung khu này không hoạt động; Trung khu sau điều hoà bài tiết kích dục tố không theo chu kỳ, đây là cách kích dục
tố thường gặp ở động vật giống đực Như một đồng hồ sinh học, các xung thần kinh nhịp nhàng từ trung khu trước đến trung khu sau để điều hoà sự bài tiết theo chu kỳ các hormon kích dục tố (Gonado tropin releasing hormone) Các chất này sẽ làm bài tiết kích dục tố tuyến yên theo chu kỳ Chính vì vậy mà sự bài tiết hormon LH cũng xảy ra theo từng đợt Bằng cách gây tổn thương vào vùng Hypothalamus, vào năm
1942 nhà khoa học Dey và cộng sự đã tìm thấy trung khu giao cấu liên quan đến hành vi sinh dục Trung khu này đã được nhiều nhà nghiên cứu xác nhận trên nhiều loại động vật khác nhau [44]
Sự biệt hóa hành vi sinh dục đã được nhà khoa học Dautchakoff nghiên cứu đầu tiên vào năm 1930, sau đó công trình này đã được Phoenix và cộng sự của ông xác nhận vào năm 1959 Quá trình biệt hóa được diễn ra trong thời kỳ phôi thai, đó là giai đoạn tổ chức biệt hóa của vỏ não theo hướng biệt hóa đực hoặc cái (theo [44])
Người ta đã tìm thấy trong Hypothalamus những chất tiếp nhận đặc hiệu đối với hormon sinh dục Lúc đầu người ta chỉ thấy sự gắn đặc hiệu đối với hormon sinh dục tại Hypothalamus và tuyến yên Từ năm 1953 trở lại đây, người ta đã biết được chức năng sinh dục của hệ Limbic Trước năm 1970, các nhà khoa học chỉ nói tới vai trò các chất nội tiết trong điều hòa chức năng sinh sản gồm có cơ chế thần kinh
và nội tiết Sự điều hòa sinh sản đó được thực hiện theo nhiều bậc dưới đây:
Trang 28+ Tuyến yên – Tuyến sinh dục
+ Hypothalamus – Tuyến yên – Tuyến sinh dục
+ Hệ Limbic – Hypothalamus – Tuyến yên – Tuyến sinh dục
+ Vỏ não - Hệ Limbic – Hypothalamus – Tuyến yên – Tuyến sinh dục Theo cơ chế điều hoà thần kinh - nội tiết, có thể phân biệt hai vòng điều hoà
Đó là vòng điều hoà “kín” (điều hoà thần kinh bằng nội tiết) và vòng điều hoà “mở” (điều hoà thần kinh bằng phản xạ) Trong hệ thống điều hoà chức năng sinh dục, sinh sản, tuyến yên đóng vai trò bộ phận khuyếch đại “phát động”, Hypothalamus đóng vai trò “điều khiển”; còn tuyến sinh dục là yếu tố “bị điều khiển” hay cơ quan đích Trong vòng điều hoà ngược, Hypothalamus trở thành yếu tố “bị điều khiển” còn tuyến sinh dục trở thành yếu tố “điều khiển” (theo [45])
Hai kích dục tố của tuyến yên là FSH và LH có vai trò trong việc phát triển trứng, sinh tinh trùng và kích thích sản xuất các hormon steroid của các tuyến sinh dục Bản chất và tác dụng của các hormon tuyến sinh dục đực và cái đã được nói đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới [47]
- Các nghiên cứu ở Việt Nam:
Trong những năm 60 và nửa đầu thập kỷ 70, nhiều tác giả Việt Nam đã nghiên cứu về tuổi có kinh lần đầu; chu kỳ kinh nguyệt của công nhân, nông dân, học sinh nông thôn và thành thị Những kết quả này đã được thống kê trong cuốn
“Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975) [3]
Vào năm 1965, Nguyễn Huy Cận và cộng sự đã nghiên cứu về tuổi thấy kinh nguyệt lần đầu của người Việt Nam, cho kết quả là 16,5 tuổi
Năm 1970, Vũ Thục Nga đã nghiên cứu kích dục tố tuyến yên toàn phần trong vòng kinh bình thường của phụ nữ Việt Nam
Năm 1971, Nguyễn Thế Phương đã nghiên cứu sự biệt hoá sinh dục của vùng Hypothalamus, kết quả là đã phân lập được những chất tiếp nhận đặc hiệu với hormon sinh dục tại Hypothalamus
Trang 29Theo Hằng số sinh học người Việt Nam (1975), tuổi dậy thì hoàn toàn ở các
em gái khoảng 13 đến 14 tuổi, ở các em trai khoảng 14 đến 16 tuổi [3]
Từ năm 1976 đến 1980, Đinh Kỷ, Lương Bích Hồng, Cao Quốc Việt và cộng
sự [19] đã nghiên cứu những biến đổi của cơ thể ở lứa tuổi dậy thì trên 2.780 học sinh từ 8 đến 18 tuổi thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và vùng nông thôn tỉnh Thái Bình Nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát lâm sàng kết hợp với điều tra phiếu Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: Thời điểm mọc lông mu, lông nách ở cả 2 giới, riêng nữ có thêm phát triển tuyến vú và tuổi có kinh lần đầu tiên
Từ năm 1982 đến 1988, Nguyễn Thu Nhạn, Cao Quốc Việt, Nguyễn Nguyệt Nga và cộng sự [29] đã nghiên cứu trên 72 trẻ trai và 84 trẻ gái từ 6 đến 12 tuổi ở 2 trường THCS Trung Tự (Hà Nội) và Bắc Lý (Hà Nam Ninh cũ) Nghiên cứu theo phương pháp cắt dọc, đối tượng được theo dõi suốt 7 năm bằng phỏng vấn và khám lâm sàng Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: kích thước tinh hoàn để tính ra thể tích tinh hoàn, tuổi bắt đầu phát triển tuyến vú, lông mu, lông nách, xuất tinh và có kinh lần đầu
Gần giống với hướng nghiên cứu trên, Đào Huy Khuê, Nguyễn Thị Tân, Nguyễn Chế Nghĩa [18] đã thực hiện khảo sát trên 1.478 học sinh 6÷17 tuổi, trong
đó có 750 nam, 728 nữ ở thị xã Hà Đông năm 1989
Cao Quốc Việt, Nguyễn Phú Đạt, Nguyễn Thị Phượng và cộng sự [40] đã phỏng vấn và kết hợp thăm khám lâm sàng, chụp điện quang trên trẻ em từ 6 đến
17 tuổi ở các vùng: nội thành Hà Nội (2.506 em), thị xã Thái Bình (1.848 em), huyện Hoài Đức - Hà Tây (1.857 em), huyện Phú Lương - Bắc Thái cũ (1.364 em) Các nghiên cứu này được thực hiện rải rác từ năm 1993 đến năm 1995
Phạm Thị Minh Đức, Lê Thu Liên, Phùng Thị Liên và cộng sự [11] đã nghiên cứu trên nữ sinh các trường THCS, THPT, phụ nữ từ 13 đến 60 tuổi của xã Liên Ninh (nông thôn Hà Nội) gồm 573 nữ sinh từ 9 đến17 tuổi, 820 phụ nữ và ở Thượng Đình (nội thành Hà Nội) gồm 1.589 nữ sinh từ 9 đến 17 tuổi, 805 phụ nữ Các kết quả nghiên cứu được so sánh với các nghiên cứu trước cùng địa điểm nhưng ở các thập kỷ khác nhau; chỉ tiêu nghiên cứu gồm: Tuổi có kinh lần đầu, lượng máu trong một lần kinh nguyệt, tuổi mãn kinh
Trang 30Nghiên cứu của Lê Kim Cúc [4] trên 140 nữ tuổi 19÷40 đang lao động tại Bungary trong những năm 1984-1987 Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn để tìm hiểu tuổi có kinh lần đầu, độ dài chu kỳ kinh nguyệt trong thời gian còn ở trong nước
và sự thay đổi khi sống ở nước ngoài
Trong 3 năm (1992-1994), Trịnh Văn Bảo và Trần Đức Phấn đã nghiên cứu trên 296 nam tuổi 18-68 ở ngoại thành Hà Nội với các chỉ tiêu: lượng tinh dịch,
độ nhớt, độ pH, mật độ tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng sống, tỷ lệ tinh trùng di động khỏe, tỷ lệ tinh trùng dị thường
Các nghiên cứu về tuổi dậy thì ở trẻ nam, trẻ nữ; tuổi mãn kinh, lượng máu kinh đã được nhiều tác giả thực hiện trên nhiều đối tượng khác nhau nhằm rút ra quy luật phát triển của con người Việt Nam trong những giai đoạn khác nhau, ở các vùng miền, các dân tộc, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của kinh tế xã hội đến tuổi dậy thì của trẻ
Trong dự án nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỷ XX, vấn đề sinh lý sinh sản, sinh dục được chia thành 2 đề mục: tuổi dậy thì ở trẻ em (chủ nhiệm Cao Quốc Việt) [40] và chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ và học sinh Hà Nội (chủ nhiệm Phạm Thị Minh Đức) [11] Đáng chú ý
có các công trình nghiên cứu: Tuổi bắt đầu dậy thì của trẻ gái và trẻ trai, tuổi xuất tinh lần đầu, tinh dịch đồ, tuổi có kinh nguyệt lần đầu, độ dài chu kỳ kinh nguyệt, số ngày chảy máu trong mỗi chu kỳ, số lượng máu kinh nguyệt trong mỗi chu kỳ, tuổi mãn kinh
Năm 2008, Đỗ Hồng Cường [5] nghiên cứu về tuổi dậy thì của học sinh THCS các dân tộc tỉnh Hoà Bình cho thấy có sự khác biệt về tuổi dậy thì của học sinh các dân tộc khác nhau tại Hòa Bình chứng tỏ các đặc điểm này có tính đặc trưng cho chủng tộc và vùng miền khác nhau
Như vậy, các nghiên cứu về tuổi dậy thì ở trẻ nam, trẻ nữ, tuổi mãn kinh đang được nhiều tác giả tiến hành trên nhiều đối tượng khác nhau nhằm rút ra quy luật phát triển của con người Việt Nam trong những giai đoạn khác nhau ở những vùng miền khác nhau…
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy,
thành phố Hà Nội có độ tuổi từ 12÷15 Các đối tượng nghiên cứu đều có sức khỏe và
trạng thái tâm sinh lý bình thường, không mắc các bệnh mạn tính Tuổi của các đối tượng được tính theo quy ước chung của Tổ chức y tế thế giới
2.1.1.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 400 trong đó có 200 nam và 200 nữ Các đối tượng nghiên cứu được phân bố như sau:
- Lớp 6: gồm 100 học sinh trong đó có 50 nam và 50 nữ
- Lớp 7: gồm 100 học sinh trong đó có 50 nam và 50 nữ
- Lớp 8: gồm 100 học sinh trong đó có 50 nam và 50 nữ
- Lớp 9: gồm 100 học sinh trong đó có 50 nam và 50 nữ
Sự phân bố của các đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính được trình bày trên bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân bố các đối tượng theo giới tính và độ tuổi
Trang 322.1.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian 10 tháng, từ tháng 7 năm
2011 đến tháng 5 năm 2012
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Đặc điểm quận Cầu Giấy:
Quận Cầu Giấy nằm ở phía Tây nội thành Hà Nội Phía Đông giáp quận Đống Đa và quận Ba Đình; phía Tây giáp huyện Từ Liêm; phía Nam giáp quận Thanh Xuân; phía Bắc giáp quận Tây Hồ Quận Cầu Giấy thuộc vùng sinh thái nội thành mới của Hà Nội
Diện tích: 12,04 km², Dân số: 236.981 người, mật độ: 19.683 người/km² Đơn vị hành chính: Quận Cầu Giấy gồm có 8 phường là Nghĩa Đô, Quan Hoa, Dịch Vọng, Dịch Vọng Hậu, Trung Hòa, Nghĩa Tân, Mai Dịch và Yên Hòa
Hình 2.1 Địa bàn quận Cầu Giấy
Trang 33
Trường THCS Dịch Vọng
Trường THCS Dịch Vọng nằm trên địa bàn phường Dịch Vọng Phường Dịch Vọng có diện tích 1,32 km², dân số năm 2005 là 1301 người, mật độ: 19.683 người/ km²
Trường THCS Dịch Vọng được thành lập theo quyết định của Sở giáo dục –
nằm trên phố Nguyễn Khánh Toàn, thuộc địa bàn phường Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Từ năm học 2011-2012, trường đã được xây dựng lại, khang trang và hiện
/ mỗi phòng học, thoáng mát phục vụ tốt cho dạy và học Mỗi phòng học được trang bị 24 bộ bàn ghế học sinh, 1 bộ bàn ghế giáo viên, 1 bảng viết chống lóa, 8 bóng đèn chiếu sáng, 4 quạt mát Trường có phòng tập đa năng dành cho hoạt động thể dục thể thao; phòng
phục vụ học tin học Các phòng làm việc của các tổ chức trong trường như BGH, Đoàn Đội, phòng họp cho các tổ chuyên môn, kế toán, văn phòng, y tế học đường
đủ phục vụ cho các tổ chức làm việc Các phòng làm việc được lắp đặt máy vi tính
Trang 34nối mạng nội bộ tích cực ứng dụng tin học trong giảng dạy và công tác quản
lý Nhiệm vụ của nhà trường là tuyển sinh, đào tạo bậc THCS của phường Dịch Vọng và Quan Hoa - quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả, điều tra cắt ngang đối với học sinh các lứa tuổi từ 12 đến 15 ở trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
2.2.2 Kĩ thuật thu thập số liệu
- Kĩ thuật nghiên cứu bao gồm: các kĩ thuật nhân trắc học (đo đạc) và mô tả,
kĩ thuật mô tả các dấu hiệu sinh dục thứ cấp (áp dụng theo tài liệu của các nhà nhân chủng học Liên Xô (cũ) và các chuyên gia nhân chủng học trong nước)
- Các kích thước hình thái:
+ Chiều cao đứng (cm):
Đo khoảng cách từ mặt đất đến đỉnh đầu (vertex) khi đối tượng ở tư thế đứng chuẩn (người đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót chân chạm sát vào nhau sao cho 3 điểm lưng, mông, gót chân chạm vào thước đo, đầu ở vị trí sao cho đuôi mắt và ống tai ngoài nằm trên một đường ngang) Đơn vị đo là cm, thước đo có vạch chia với
Vòng đo qua ngực, vuông góc với trục thân, đi qua mũi ức Đối tượng được
đo hít vào hết sức và đứng ở tư thế đứng tự nhiên Đo bằng thước dây không giãn
có độ chính xác đến 1 mm
+ Vòng ngực thở ra hết sức (cm):
Vị trí đo và cách đo tương tự đo vòng ngực hít vào hết sức, nhưng đối tượng thở ra hết sức
Trang 35+ Vòng cánh tay phải co (cm):
Vòng đo qua chỗ to nhất của cơ nhị đầu cánh tay vuông góc với trục cánh
tay, cẳng tay co lại vuông góc với cánh tay Đo bằng thước dây không giãn có độ chính xác đến 1 mm
+ Vòng bụng (cm):
Vòng đo qua mức thắt lưng vuông góc với trục thân khi đối tượng ở tư thế
đứng chuẩn Đo bằng thước dây không giãn có độ chính xác đến 1 mm
Pignet = Chiều cao đứng (cm) – [ Cân nặng (kg) + VNTB (cm)]
Chỉ số Pignet (bảng 2.2) được đánh giá theo đề nghị của Nguyễn Quang Quyền, Đỗ Như Cương [30]
Bảng 2.2 Phân loại theo chỉ số Pignet
Cực khoẻ Rất khoẻ Khoẻ Trung bình Yếu
Rất yếu Cực yếu
<23,0 23,0 – 28,9 29,0 – 34,9 35,0 – 41,0 41,1 – 47,0 47,1 – 53,0
>53,0
Trang 36+ Chỉ số BMI (Body Mass Index):
BMI = Cân nặng (kg)
[Chiều cao đứng (m)]2Chỉ số BMI (bảng 2.3) được đánh giá theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng cho các quốc gia châu Á
Bảng 2.3 Phân loại theo chỉ số BMI
Gầy Bình thường Béo phì độ I (nhẹ):
Béo phì độ II (trung bình) Béo phì độ III (nặng )
<18,5 18,5 – 24,99 25-29,99 30-40 >40
- Dùng phương pháp phỏng vấn hồi cố: hỏi học sinh về thời gian xuất tinh lần đầu, thời gian có kinh nguyệt lần đầu, vòng kinh, số ngày hành kinh (yêu cầu học sinh nhớ lại)
- Dùng kỹ thuật mô tả và quan sát trực tiếp xác định các dấu hiệu sinh dục thứ cấp như: lông ở hố nách, lông trên mu, mức độ phát triển tuyến vú theo các giai đoạn phát triển của lông mu (pubis, kí hiệu là P), lông nách (axillaris, kí hiệu là A), tuyến vú (mammae, kí hiệu là Ma)
+ 4 giai đoạn phát triển của lông nách [40]:
A0: Chưa có lông
A1: Có lông rồi nhưng là lông tơ, thưa
A2: Lông sẫm màu, rậm hơn, nhưng còn nhìn thấy phần da dưới chân lông A3: Lông sẫm màu, rậm, phủ kín, không còn nhìn thấy chân lông, đạt mức của người trưởng thành
+ 5 giai đoạn phát triển của lông mu [40]:
P0: Chưa có lông
P1: Có lông rồi nhưng là lông tơ, thưa
Trang 37P2: Lông sẫm màu, rậm hơn nhưng còn nhìn thấy phần da dưới chân lông P3: Lông sẫm màu, rậm, phủ kín, không còn nhìn thấy chân lông, đạt mức của người trưởng thành
P4: Lông rậm, phát triển rộng hơn phần mu, thậm chí mọc lên rốn, ngực
+ 5 giai đoạn phát triển tuyến vú [40]:
Ma0: Tuyến vú chưa phát triển
Ma1: Bầu vú bắt đầu phát triển, có hiện tượng sưng ở quầng thâm núm vú, trông giống chũm cau
Ma2: Bầu vú phát triển hơn, nhô cao trên lồng ngực
Ma3: Bầu vú phát triển hơn, tuy nhiên bầu vú chưa đủ lớn để tạo thành đường gẫy nét giữa chân bầu vú với bề mặt ngực
Ma4: Bầu vú phát triển lớn hơn, tạo thành đường gẫy nét giữa chân bầu vú với bề mặt ngực, đạt mức của người trưởng thành
2.2.4 Thống kê, phân tích và xử lý số liệu
- Toàn bộ số phiếu thu được từ thực địa được kiểm tra lại, sau đó đánh mã phiếu Các số liệu nhân trắc được nhập vào máy tính 2 lần để đảm bảo tính chính xác cho kết quả nghiên cứu
- Sử dụng chương trình kiểm tra phát hiện và sửa sai sót do nhập số liệu
- Số liệu được phân tích, tính toán và lập thành các bảng số liệu thông qua sử dụng phối hợp các chương trình SPSS 17.0 và Microsoft excel,
+ Số liệu được tính ra các giá trị thống kê: Giá trị trung bình (X); Độ lệch chuẩn (SD); So sánh, kiểm định bằng t test
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CƠ THỂ HỌC SINH 12÷15 TUỔI
3.1.1 Chiều cao đứng
Chiều cao đứng là một kích thước rất quan trọng trong các điều tra hình thái người, nó nói lên sức lớn và kết hợp với các đặc điểm khác để đánh giá tầm vóc của học sinh Chiều cao đứng thay đổi theo chủng tộc và giới tính, ngoài phụ thuộc vào yếu tố di truyền, nó cũng chịu ảnh hưởng nhất định của môi trường địa lí và điều kiện xã hội Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học sinh trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội được trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính
Số liệu ở bảng 3.1 cho thấy, chiều cao đứng của học sinh tăng dần theo các lứa tuổi ở cả nam và nữ Chiều cao đứng của nam tăng từ 141,32 ± 5,45 cm (12 tuổi) đến 159,73 ± 6,17 cm (15 tuổi), bình quân tăng 6,14 cm/năm; chiều cao đứng của nữ tăng 144,61 ± 4,55 cm đến 154,09 ± 4,83 cm, bình quân tăng 3,29 cm/năm
Tốc độ tăng chiều cao đứng theo tuổi ở học sinh nam và nữ không đều chiều cao đứng của nam tăng nhanh nhất ở tuổi 14 (tăng 8,47 cm); chiều cao đứng của nữ tăng nhanh nhất ở tuổi 13 (tăng 6,61 cm)
Ở cùng một độ tuổi, chiều cao đứng của học sinh nam và nữ không giống nhau (hình 3.1) Ở tuổi 12, 13 chiều cao đứng của nam thấp hơn nữ Các lứa tuổi 14,
Trang 3915 tuổi, chiều cao đứng của nam lại cao hơn nữ, các sự sai khác ở các lứa tuổi 12,
13, 15 có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính
Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chiều cao của cả học sinh nam
và nữ đều tăng dần theo tuổi với tốc độ tăng khá lớn Mỗi năm chiều cao của nam tăng trung bình là 6,14 cm và của nữ tăng trung bình 3,29 cm Nhìn chung, tốc độ tăng chiều cao trung bình của học sinh nam lớn hơn của học sinh nữ và quá trình tăng chiều cao ở cả nam và nữ đều có thời điểm tăng nhảy vọt Tuy nhiên có thể chia làm hai giai đoạn có sự khác biệt về giới Đó là ở giai đoạn từ 12 đến 13 tuổi chiều cao của nữ tăng nhanh hơn so với nam nên chiều cao của nữ có giá trị lớn hơn
so với nam Còn ở giai đoạn từ 14 đến 15 tuổi, tốc độ tăng chiều cao của nam lại lớn hơn nữ nên chiều cao của nam có giá trị lớn hơn so với nữ Vì vậy, trên đường biểu diễn tăng trưởng về chiều cao xuất hiện điểm giao chéo vào thời điểm 14 tuổi của học sinh nam và nữ Sự khác nhau về chiều cao giữa nam và nữ có liên quan mật thiết với hoạt động nội tiết đối với phát triển cơ thể Kết quả này phù hợp với các kết quả trình bày trong “HSSH”, “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX” [2], cũng như các công trình nghiên cứu của các tác giả Đào Huy Khuê [17], Trần Thị Loan [22] và Đỗ Hồng Cường [5]
Trang 40Tốc độ tăng chiều cao của học sinh không đồng đều, thời điểm tăng nhảy vọt của học sinh nam là lúc từ 13 đến 14 tuổi và ở nữ là lúc từ 12 đến13 tuổi Tăng trưởng về chiều cao đứng còn chịu ảnh hưởng của sự trưởng thành sinh dục Điều này dẫn tới sự tăng nhảy vọt về chiều cao của học sinh diễn ra ở giai đoạn dậy thì Ở giai đoạn dậy thì, các hormone sinh trưởng và các hormone sinh dục tiết ra mạnh nhất làm chiều dài xương tăng nhanh, đặc biệt là sự dài ra của các xương ống Tuổi dậy thì ở nữ thường đến sớm hơn so với nam từ 1 đến 2 năm kéo theo sự khác biệt
về biến đổi hình thái giữa nam và nữ Kết quả này phù hợp với số liệu trong các nghiên cứu của Đào Huy Khuê [17] và Đỗ Hồng Cường [5] nhưng sớm hơn một năm so với số liệu trong “HSSH” [3], “GTSH – TK90” [2] và của các tác giả khác như Trần Thị Loan [22], Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [10],
Bảng 3.2 Bảng so sánh chiều cao đứng của học sinh với các nghiên cứu khác
Giới
tính Tuổi HSSH
(1975)
GTSH TK90
Đ.H.Khuê (1991)
T.T.Loan (2002)
Đ.H.Cường (2010)
N.T.P.Thanh (2012)