1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Hoàn thiện hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM

131 598 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM trong thời gian qua bên cạnh những thành tựu đã đạt được, đã tồn tại vấn đề các công ty niêm yết vi phạm các quy định về công bố thông tin, báo cáo tài ch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Trong quá trình nghiên cứu tôi nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Bùi Kim Yến và những đồng nghiệp, bạn bè để hoàn thành luận văn này Các nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Học viên

Tạ Thị Thu Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3

1.1 Khái niệm công ty niêm yết 3

1.2 Thông tin và công bố thông tin của công ty niêm yết 3

1.2.1 Thông tin của công ty niêm yết 3

1.2.1.1 Thông tin và nguồn thông tin trên thị trường chứng khoán 3

1.2.1.2 Chất lượng thông tin trên TTCK và các tiêu chí đánh giá 5

1.2.2 Hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng 6

1.2.2.1 Khái niệm 6

1.2.2.2 Sự cần thiết của việc công bố thông tin 6

1.2.2.3 Một số nghiên cứu thực nghiệm 8

1.3 Trách nhiệm xã hội của công ty niêm yết trong việc công bố thông tin 9

1.3.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội 9

1.3.2 Trách nhiệm xã hội của công ty niêm yết trong việc công bố thông tin 10

1.4 Kinh nghiệm công bố thông tin của các thị trường chứng khoán trên thế giới 11

1.4.1 Thị trường chứng khoán Mỹ 12

1.4.2 Thị trường chứng khoán Pháp 13

1.4.3 Thị trường chứng khoán Trung Quốc 15

1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho thị trường chứng khoán Việt Nam 16

Kết luận chương 1 17

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC

CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM 18

2.1 Tổng quan về các công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM 18

2.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng TP.HCM 19

2.3 Thực trạng hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM 20

2.3.1 Thông tin trong báo cáo tài chính 20

2.3.1.1 Thời gian công bố báo cáo tài chính 20

2.3.1.2 Chênh lệch báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán 25

2.3.2 Chất lượng kiểm toán các báo cáo tài chính 37

2.3.3 Giao dịch của các cổ đông lớn, cổ đông nội bộ 40

2.3.4 Thông tin về báo cáo thường niên, đại hội cổ đông 42

2.3.5 Nhận định một số vi phạm liên quan đến việc công bố thông tin của các công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM thời gian 2010 – 2012 45

2.3.5.1 Các dạng vi phạm trong công bố thông tin 45

2.3.5.2 Tổng hợp những vi phạm liên quan đến việc CBTT của các công ty niêm yết trên HOSE thời gian 2010 – 2012 45

2.4 Đánh giá hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên HOSE 50

2.4.1 Những mặt đã làm được 50

2.4.2 Các vấn đề còn tồn tại trong hoạt động công bố thông tin 51

2.4.3 Nguyên nhân của những vấn đề còn tồn tại trong công bố thông tin 54

2.4.3.1 Chưa hoàn thiện khung pháp lý 54

2.4.3.2 Nguyên nhân từ phía các cơ quan quản lý 56

2.4.3.3 Hoạt động quản trị của các công ty niêm yết trên HOSE còn nhiều yếu kém 57

2.4.3.4 Nguyên nhân từ phía các công ty kiểm toán 59

2.4.3.5 Chưa đầu tư đúng mức cho công nghệ thông tin phục vụ cho công bố thông tin 60

2.4.3.6 Nguyên nhân từ phía các nhà đầu tư 61

Trang 6

Kết luận chương 2 61

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM 62

3.1 Các quan điểm định hướng và hoàn thiện TTCK Việt Nam 62

3.1.1 Quan điểm định hướng 62

3.1.1.1 Phù hợp với môi trường pháp lý và môi trường hoạt động của SGDCK TP.HCM 62

3.1.1.2 Phù hợp yêu cầu hội nhập và phát triển của TTCK 64

3.1.1.3 Phù hợp với khả năng và yêu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng liên quan 64

3.1.2 Các quan điểm hoàn thiện TTCK Việt Nam 65

3.1.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp lý về công bố thông tin 65

3.1.2.2 Hoàn thiện các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của thông tin được công bố 66

3.1.2.3 Hoàn thiện các nội dung thông tin được công bố 67

3.2 Giải pháp vĩ mô 67

3.2.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường chứng khoán 67

3.2.2 Quy định về công bố thông tin ở mức bảo vệ nhà đầu tư cao 68

3.2.3 Hoàn thiện hệ thống giám sát thị trường, xác định rõ tiêu chí, phân định trách nhiệm giám sát đối với các mảng hoạt động của thị trường 69

3.2.4 Nâng cao tính cưỡng chế thực thi trong việc xử lý các vi phạm về chứng khoán và TTCK 69

3.2.5 Mở rộng thẩm quyền và thời hạn thanh tra, kiểm tra 71

3.2.6 Điều chỉnh các chuẩn mực kế toán của Việt Nam cho phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế 71

3.3 Giải pháp vi mô 72

3.3.1 Đối với Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM 72

3.3.2 Giải pháp từ phía công ty niêm yết 74

Trang 7

3.3.3 Giải pháp từ phía các công ty chứng khoán 79

3.3.4 Giải pháp từ phía công ty kiểm toán 79

3.3.5 Về phía các nhà đầu tư 80

3.4 Một số giải pháp bổ trợ 81

3.4.1 Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin cho TTCK 81

3.4.2 Tạo môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp 82

3.4.3 Tái cấu trúc Sở Giao dịch Chứng khoán 83

Kết luận chương 3 83

KẾT LUẬN 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BCKT Báo cáo kiểm toán

BCTC Báo cáo tài chính

BCTN Báo cáo thường niên

CBTT Công bố thông tin

CSR Trách nhiệm xã hội (Corporate Social Responsibility)

HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế

IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

SGDCK TP.HCM Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) SGX Sở giao dịch chứng khoán Singapore

TTCK Thị trường chứng khoán

TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán

UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước

VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Danh sách biến động về số cổ phiếu nắm giữ của các cổ đông NTB 24

Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu các công ty niêm yết tại HOSE điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC năm 2010 sau kiểm toán 26

Bảng 2.3: Tổng hợp số liệu 06 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE điều chỉnh lợi nhuận lớn nhất trên BCTC năm 2010 sau kiểm toán 27

Bảng 2.4: Tổng hợp số liệu các công ty niêm yết tại HOSE điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC năm 2011 sau kiểm toán 29

Bảng 2.5 : Tổng hợp số liệu 10 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE điều chỉnh LN lớn nhất trên BCTC năm 2011 sau kiểm toán 29

Bảng 2.6: Tổng hợp số liệu các công ty niêm yết tại HOSE điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC năm 2012 sau kiểm toán 31

Bảng 2.7: Tổng hợp số liệu 10 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE điều chỉnh giảm LN lớn nhất trên BCTC năm 2012 sau kiểm toán 32

Bảng 2.8: Thống kê vi phạm CBTT theo nội dung thông tin công bố năm 2010 46

Bảng 2.9: Thống kê vi phạm CBTT theo nội dung thông tin công bố năm 2011 48

Bảng 2.10: Thống kê vi phạm CBTT theo nội dung thông tin công bố năm 2012 49

Bảng 2.11: Chỉ số về minh bạch, công bố thông tin ở các nước Châu Á 2010 51

Bảng 2.12: Chỉ số bảo vệ nhà đầu tư của các quốc gia Đông Nam Á 54

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Tổng hợp tình hình niêm yết của các CTNY trên HOSE từ 2000 - 2012 19

Hình 2.2: Tình hình nộp BCTC của công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM 21

Hình 2.3: Tổng hợp số liệu các CTNY có Lợi nhuận chênh lệch sau kiểm toán 33

Hình 2.4: Tỷ lệ các vi phạm công bố thông tin năm 2010 47

Hình 2.5: Tỷ lệ vi phạm công bố thông tin năm 2011 48

Hình 2.6: Tỷ lệ vi phạm công bố thông tin năm 2012 49

Trang 11

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thông tin trong thời đại ngày nay là một phần không thể thiếu đối với tất cả các ngành nghề trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt đối với những ngành nhạy cảm với thông tin như thị trường chứng khoán

Kinh nghiệm về công bố thông tin của các nước trên thế giới cho thấy thông tin là yếu tố then chốt, nhạy cảm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của tất cả các đối tượng tham gia trên thị trường từ các doanh nghiệp nhận đầu tư, nhà đầu tư, cơ quan pháp quyền đến các công ty chứng khoán…Vì vậy, công bố thông tin là một yêu cầu không thể thiếu để đảm bảo lòng tin và sự công bằng cho các nhà đầu tư trên TTCK Đó chính là nguyên tắc công khai, được coi là một nguyên tắc hoạt động quan trọng nhất của TTCK, việc xây dựng một hệ thống thông tin đầy đủ, tin cậy, dễ sử dụng và kịp thời là điều kiện tiên quyết để TTCK hoạt động hiệu quả Thực tiễn hoạt động của TTCK Việt Nam đã bộc lộ rất nhiều yếu kém của hệ thống thông tin, các nhà đầu tư không tin tưởng vào các thông tin trên thị trường vì có quá nhiều thông tin kém tin cậy, không trung thực, thiếu chính xác hoặc thông tin không được cập nhật

Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM trong thời gian qua bên cạnh những thành tựu

đã đạt được, đã tồn tại vấn đề các công ty niêm yết vi phạm các quy định về công bố thông tin, báo cáo tài chính làm thiệt hại đến nhà đầu tư công chúng và ảnh hưởng không

tốt đến nhiều mặt của TTCK Do đó, vấn đề “ Hoàn thiện hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” rất

cần thiết để được nghiên cứu một cách nghiêm túc, phân tích những hạn chế và nguyên nhân của vấn đề để tìm ra các giải pháp khắc phục và nâng cao chất lượng công bố thông tin, tạo niềm tin cho công chúng vào một kênh đầu tư công bằng và hiệu quả

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu về hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết thông qua báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, báo cáo thường niên cũng như các thông tin công bố khác của các công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM (HOSE), phát hiện các vấn

đề vi phạm phổ biến của các công ty niêm yết, tìm ra nguyên nhân của vấn đề và đề xuất những giải pháp thiết thực để ngăn ngừa và hạn chế những vi phạm nhằm nâng cao chất

Trang 12

2

lượng báo cáo tài chính và thông tin công bố của công ty niêm yết góp phần vào sự phát triển bền vững của TTCK Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn, đối tượng và phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong việc tìm hiểu tình hình công bố thông tin và những vi phạm trong hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian 2010 – 2012

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu vận dụng trong nghiên cứu đề tài phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, kết hợp giữa phân tích lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu

5 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài nghiên cứu về hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM trên cơ sở những vấn đề lý luận tổng quan về công ty niêm yết, báo cáo tài chính, công bố thông tin, kết hợp với phân tích thực tiễn của các vi phạm về công

bố thông tin Từ đó, tìm ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế những vi phạm này, nâng cao chất lượng công bố thông tin của các công ty niêm yết bảo

vệ quyền lợi của các nhà đầu tư nhằm tiến đến một thị trường hiệu quả

6 Kết cấu của đề tài: gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường

chứng khoán

Chương 2: Thực trạng hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên

Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác công bố thông tin của các công ty niêm

yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM

Trang 13

3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC CÔNG TY

NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Khái niệm công ty niêm yết

Niêm yết chứng khoán là việc đưa chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung, theo khoản 17, điều 6, Luật chứng khoán

2006

Tổ chức niêm yết là tổ chức phát hành được niêm yết chứng khoán tại thị trường giao dịch tập trung Các công ty cổ phần đại chúng có chứng khoán được niêm yết và giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) gọi là công ty niêm yết (listed company) Việc chứng khoán của một tổ chức phát hành được niêm yết sẽ đem lại cho chính tổ chức đó và các nhà đầu tư nhiều lợi thế đáng kể: hoạt động mua bán được tiến hành trong một thị trường trật tự và được quản lý chặt chẽ, tính thanh khoản của chứng khoán được tăng cường, giá cả được xác định một cách minh bạch và công bằng, quyền lợi của người sở hữu chứng khoán được bảo vệ tối đa bởi các quy định của pháp luật

1.2 Thông tin và công bố thông tin của công ty niêm yết

1.2.1 Thông tin của công ty niêm yết

1.2.1.1 Thông tin và nguồn thông tin trên thị trừng chứng khoán

Thông tin trên thị trường chứng khoán được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau

từ góc độ kinh tế, góc độ xã hội đến góc độ pháp lý Theo góc độ kinh tế, thông tin trên TTCK được hiểu là toàn bộ các thông tin phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính, chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Dưới góc độ xã hội, thông tin trên TTCK là những thông tin về tổ chức phát hành, thông tin về chỉ số chứng khoán, thông tin về diễn biến các giao dịch trên thị trường…phản ánh quy mô, mức độ phát triển của TTCK đối với sự phát triền kinh tế xã hội của đất nước Còn dưới góc độ pháp lý, thông tin trên TTCK phản ánh mức độ tuân thủ các quy định pháp luật với các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh hàng loạt các quan hệ pháp luật

đa dạng phức tạp trong nội bộ doanh nghiệp như quan hệ cổ đông với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Ban Giám đốc

Trang 14

4

Từ những phân tích trên chúng ta có thể hiểu thông tin trên thị trường chứng khoán chính là hệ thống các dữ liệu liên quan đến tổ chức niêm yết do các chủ thể có thẩm quyền cung cấp theo quy định của pháp luật

Thông tin trên TTCK rất đa dạng, phong phú và có nhiều cách thức khác nhau để phân loại nguồn thông tin trên TTCK Phân loại theo chủ thể công bố thông tin là một cách phân loại phổ biến nhất bao gồm thông tin từ tổ chức niêm yết, thông tin từ tổ chức kinh doanh chứng khoán, thông tin từ thực tiễn giao dịch trên thị trường, thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Mỗi loại thông tin do các chủ thể công bố có những ưu điểm, nhược điểm khác nhau:

 Thông tin từ tổ chức niêm yết

Thông tin từ tổ chức niêm yết là nguồn thông tin cơ bản, quan trọng nhất đối với TTCK, phản ánh chính xác diễn biến tình hình hoạt động của tổ chức niêm yết nhất là các thông tin liên quan đến tình hình tài chính và có thể cập nhật tin tức một cách nhanh chóng những thông tin liên quan đến tổ chức niêm yết vì họ chính là chủ thể gây ra những thông tin

Tuy nhiên, nguồn thông tin từ tổ chức niêm yết nhà đầu tư khó tiếp cận được ngay các thông tin nếu những thông tin đó không phải là thông tin bắt buộc tổ chức niêm yết phải công bố ra bên ngoài và nhà quản trị thường lạm dụng quyền của mình để cản trở việc công bố thông tin ra các phương tiện thông tin đại chúng

 Thông tin từ tổ chức kinh doanh chứng khoán

Thông tin do các tổ chức này cung cấp có tính hệ thống, logic và có thể tiếp cận theo từng nội dung mình quan tâm, và trong trường hợp cần thiết có thể được cung cấp dịch vụ tư vấn theo yêu cầu bằng các bảng đánh giá, phân tích về tình hình hoạt động của

tổ chức niêm yết

Thông qua hệ thông thông tin của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, chúng ta có thể thấy được số lượng nhà đầu tư tham gia kinh doanh chứng khoán và tình hình thực hiện các giao dịch chứng khoán Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà quản

lý nhằm kiểm soát các giao dịch của các chủ thể tham gia TTCK

Nhưng việc cung cấp thông tin của tổ chức kinh doanh chứng khoán bị chi phối bởi yếu tố lợi ích là rất lớn Nếu cung cấp thông tin đầy đủ thì có nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi của nhà đầu tư và quyền lợi của khách hàng Yêu cầu giữ bí mật về các thông

Trang 15

5

tin liên quan đến nhà đầu tư (trừ các thông tin phải công bố theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên các tổ chức này thường rất thận trọng trong việc CBTT, nhất là các thông tin về khối lượng giao dịch của khách hàng

 Thông tin từ thực tiễn giao dịch trên thị trường

Các thông tin này theo sát diễn biến hoạt động của thị trường, đây là nguồn thông tin đáng tin cậy cho các nhà đầu tư chứng khoán Các công ty niêm yết trước khi được niêm yết trên SGDCK phải đáp ứng các điều kiện về minh bạch thông tin và như vậy SGDCK có thể phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm chế độ CBTT của các CTNY

 Thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK

Thông tin từ phía cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK thường là các thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách, pháp luật trong từng giai đoạn phát triển phù hợp với yêu cầu của thị trường Đây là các thông tin “chuẩn” có tác động rất lớn đến việc điều chỉnh diễn biến thị trường và hoạt động đầu tư của các chủ thể

1.2.1.2 Chất lượng thông tin trên thị trường chứng khoán và các tiêu chí đánh giá

Thị trường chứng khoán là thị trường của thông tin nên các thông tin cung cấp ra thị trường ngoài việc bảo đảm về tính khách quan, công bằng, kịp thời thì chất lượng thông tin công bố cũng phải hết sức quan tâm Chất lượng thông tin trên TTCK là các tiêu chí đánh giá độ tin cậy, khách quan, công bằng của các thông tin do các công ty niêm yết và các chủ thể có liên quan công bố theo quy định của pháp luật về công bố thông tin

 Độ tin cậy của thông tin được công bố

Độ tin cậy của thông tin chính là tiêu chí đầu tiên để đánh giá chất lượng của thông tin được công bố Mức độ tin cậy của các thông tin được biểu hiện dưới các khía cạnh:

Độ rõ ràng, chính xác của thông tin được công bố; Thông tin được công bố dưới các chủ thể có thẩm quyền như tổ chức niêm yết, tổ chức kinh doanh chứng khoán, các cơ quan quản lý; Các thông tin có thể dễ dàng tìm kiếm và được kiểm chứng khi cần thiết; Ngoài

ra các thông tin sai sót (nếu có) có thể dễ dàng đính chính, sửa chữa

 Tính khách quan của thông tin được công bố

Các thông tin được công bố phải phục vụ cho sự phát triển của công ty, quyền lợi của các cổ đông, nhà đầu tư Vì vậy, các thông tin công bố phản ánh trung thực tình hình hoạt động, khả năng tài chính của công ty tại thời điểm công bố, không được che giấu những thông tin gây bất lợi cho nhà đầu tư

Trang 16

6

 Thông tin công bố phải kịp thời

Tính kịp thời của thông tin có ý nghĩa rất quan trọng, thông qua kênh thông tin, diễn biến của hoạt động công ty được phản ánh đầy đủ, thông tin được cập nhật, tìm kiếm Khi

có những dấu hiệu bất lợi cho công ty thì phải thông báo kịp thời thông tin ra bên ngoài trong vòng 24 giờ, 72 giờ theo đúng quy định Nếu tiêu chí này được bảo đảm sẽ hạn chế được tình trạng cố tình che giấu hoặc không cung cấp thông tin và hạn chế được tình

trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán

1.2.2 Hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết trên TTCK

1.2.2.1 Khái niệm

Theo quan điểm của Bộ Tài Chính: “Công bố thông tin được hiểu là phương thức

để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng”

Thật vậy, công bố thông tin là quá trình các tổ chức tham gia thị trường chứng khoán công bố một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời những thông tin về hoạt động của thị trường, các thông tin có thể ảnh hưởng tới giá chứng khoán, đến nhà đầu tư thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, ấn phẩm của tổ chức, công ty và các phương tiện thông tin của Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch khoán khoán nhằm đảm bảo sự công bằng của giá chứng khoán và bảo vệ nhà đầu tư Có hai phương thức công bố thông tin chính: Công bố thông tin trực tiếp và công bố thông tin gián tiếp

- Công bố thông tin trực tiếp nghĩa là các tổ chức có nghĩa vụ công bố thông tin được quyền trực tiếp công bố ra công chúng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và phải đồng thời báo cáo với các cơ quan quản lý và vận hành thị trường như UBCKNN, SGDCK hoặc TTGDCK

- Công bố thông tin gián tiếp nghĩa là các tổ chức khi tiến hành nghĩa vụ công bố thông tin phải chuyển thông tin cần công bố tới các cơ quan quản lý và vận hành thị trường để các cơ quan này tiến hành xử lý các thông tin đó trước, sau khi được xử lý các thông tin này mới được công bố ra công chúng thông qua các phương tiện thông tin của chính cơ quan quản lý hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng khác

1.2.2.2 Sự cần thiết của việc công bố thông tin

Các công ty đại chúng một khi đã đăng ký niêm yết trên TTCK phải cam kết nghĩa

vụ công bố thông tin Việc công bố thông tin thể hiện trách nhiệm xã hội của công ty

Trang 17

7

niêm yết là căn cứ để thực hiện việc điều hành TTCK một cách hiệu quả và lành mạnh

Nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các chủ thể sau:

− Đối với nhà đầu tư: Việc tìm hiểu một cách chủ ý cũng như tiếp cận thông tin từ

DN một cách đương nhiên là phương tiện tốt nhất để thực hiện đầu tư hiệu quả Công ty niêm yết cung cấp thông tin thông qua các báo cáo tài chính định kỳ và đột xuất giúp NĐT nắm bắt được thời cơ kinh doanh cũng như xây dựng một chiến lược đầu tư và danh mục đầu tư phù hợp

− Đối với nhà quản lý thị trường (UBCK, SGDCK): thông tin từ CTNY giúp các nhà

quản lý thị trường có thể đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động của các thành viên niêm yết, từ đó có thể điều chỉnh hoạt động của họ như cho phép niêm yết, hủy bỏ niêm yết hay tái niêm yết cũng là căn cứ cho những quyết định khen thưởng hay xử lý vi phạm một cách công bằng và hợp pháp

− Đối với bản thân các công ty niêm yết: Việc đưa ra những bản BCTC và các thông

tin khác đã phản ánh trung thực hiệu quả hoạt động của công ty Nó là một phương tiện quảng bá tốt nhất, khách quan nhất về hình ảnh, thương hiệu, uy tín của công ty trên thương trường và mang lại một mức giá cao xứng đáng cho cổ phiếu của họ còn nếu kinh doanh không hiệu quả, công ty phải chịu thiệt hại do giá cổ phiếu giảm đi theo kết quả kinh doanh Nhưng điều này lại có mặt tích cực của nó, các thông tin trung thực được xem như tấm gương phản chiếu hoạt động kinh doanh của công ty, là động lực giúp công

ty hoàn thiện chế độ quản trị, năng động trong kinh doanh, tìm ra phương cách tốt nhất phát triển thương hiệu của mình

Ở nhiều nước trên thế giới, việc công bố thông tin đã trở thành một thứ văn hóa kinh doanh, vì cổ đông và những người có quyền lợi liên quan đến công ty cần được thông tin kịp thời và chính xác về tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình quản lý, điều hành công ty Những thông tin này phải đáng tin cậy và được phổ biến rộng rãi cho công chúng đầu tư một cách kịp thời và công bằng Đó là điều kiện để những người sử dụng thông tin ra quyết định đúng đắn về công ty, trong đó có việc mua, bán chứng khoán Vì vậy, thị trường chứng khoán là nơi thực hiện sự đánh giá của xã hội đối với giá trị công ty, nên chất lượng công bố thông tin sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành giá cả chứng khoán một cách hợp lý

Trang 18

8

Từ đó, có thể thấy thông tin càng nhanh nhạy, trung thực càng thúc đẩy thị trường hoạt động có hiệu quả, giảm thiểu rủi ro cho dù có sai lệch thông tin gây nên Chính vì vậy, hiện nay hầu hết các thị trường chứng khoán trên thế giới đếu chú trọng đến việc công bố thông tin Ngoài việc xây dựng các chuẩn mực trong hoạt động công bố thông tin đưa ra hàng loạt các dữ liệu thống kê, các chỉ số quan trọng…thì mỗi thị trường chứng khoán đều có một hệ thống công bố thông tin thị trường tương xứng đi kèm Tuy nhiên

nó phải đảm bảo việc cung cấp thông tin một cách công bằng và hiệu quả cho NĐT, đáp ứng nhu cầu thông tin cho toàn thị trường và phải phù hợp với đặc trưng của từng giai đoạn phát triển cụ thể của thị trường chứng khoán nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung

1.2.2.3 Một số nghiên cứu thực nghiệm

 Lý thuyết đại diện (agency theory)

Theo lý thuyết về đại diện, quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện hay quan hệ ủy thác Mối quan hệ này được coi như là quan

hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công

ty thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để

ra quyết định định đoạt tài sản của công ty

Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức là các cổ đông và công ty Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi và có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ ba chứ không phải cho công ty Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thuyết các cổ đông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình và các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty (Bùi Xuân Hải, 2007)

Lý thuyết này còn chỉ ra rằng tình trạng thông tin không cân xứng (information asymmetry) giữa nhà quản lý doanh nghiệp và các cổ đông khiến cho rủi ro thông tin tăng lên, theo đó các nhà đầu tư sẽ yêu cầu một tỷ lệ lợi tức cao hơn để bù đắp cho rủi ro

Hệ quả doanh nghiệp bị đánh giá thấp hơn giá trị thực của nó Dể hạn chế ảnh hưởng này,

Trang 19

9

BCTC của doanh nghiệp cần cung cấp những thông tin phù hợp để cổ đông có thể đánh giá chính xác hơn giá trị của doanh nghiệp

 Lý thuyết tín hiệu (signaling theory)

Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng do có sự không đối xứng thông tin giữa công ty và nhà đầu tư sẽ gây ra sự lựa chọn có hại cho nhà đầu tư Vì vậy, các công ty công bố thông tin ra thị trường một cách tự nguyện và đưa các tín hiệu đến nhà đầu tư

Công bố thông tin là một trong những công cụ mà các công ty dùng để tạo ra sự khác biệt về chất lượng hoạt động của công ty này so với công ty khác và các công ty với mức sinh lời cao hơn sẽ có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn đến thị trường nhằm tăng độ tin cậy đối với các nhà đầu tư và ngăn chặn sự đánh giá thấp các cổ phiếu của họ (Giner, 1977)

 Lý thuyết về ảnh hưởng chính trị (Political theory)

Lý thuyết về ảnh hưởng chính trị cho rằng các nhà quản lý sẽ đưa ra các quyết định dựa trên thông tin được công bố bởi các công ty (Watts và Zimmerman, 1986) Vì vậy, các công ty tình nguyện tiết lộ nhiều thông tin hơn để hạn chế các chi phí chính trị này

 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary cost theory)

Lý thuyết chi phí sở hữu được coi là một trong những hạn chế quan trọng nhất trong công bố thông tin Những bất lợi trong cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin riêng tư Nếu công ty công bố thông tin ở một mức độ lớn nào đó hoặc công

bố thông tin nhiều hơn sẽ gây bất lợi và làm tổn hại đến lợi thế cạnh tranh của công ty trên thị trường

1.3 Trách nhiệm xã hội của công ty niêm yết trong việc công bố thông tin

1.3.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội (Corporate Social Responsibility – CSR)

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là thuật ngữ đã chính thức xuất hiện cách đây

hơn 50 năm, khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã

hội của doanh nhân”, Social Responsibilities of the Businessmen, 1953 nhằm mục đích

tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Trang 20

Bên cạnh đó, thuật ngữ trách nhiệm xã hội ở Việt Nam chính là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội

1.3.2 Trách nhiệm xã hội của công ty niêm yết trong việc công bố thông tin

Trách nhiệm xã hội được hiểu theo nhiều quan điểm đối lập khác nhau Có quan điểm cho rằng: Doanh nghiệp không có trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của doanh nghiệp, còn nhà nước phải có trách nhiệm với xã hội; doanh nghiệp đã có trách nhiệm thông qua việc nộp thuế cho nhà nước Một quan điểm khác cho rằng: Với tư cách là một trong những chủ thể của nền kinh

tế thị trường, các doanh nghiệp đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trường

tự nhiên Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp còn có trách nhiệm xã hội đối với môi trường, cộng đồng, người lao động…

Xét trên giác độ nghiên cứu, bài viết chỉ dừng lại trên cơ sở nền tảng của các quan điểm không đi sau phân tích mặt ưu, nhược điểm của từng quan điểm thể hiện thông qua các nội dung sau:

Thứ nhất, Vấn đề công bố thông tin như công bố thông tin định kì, công bố thông

tin bất thường và theo yêu cầu phải kịp thời chính xác theo quy định của pháp luật không

vì một nguyên nhân khách quan hay chủ quan mà kéo dài thời gian công bố thông tin, làm chậm quá trình công bố thông tin ra bên ngoài nhằm che giấu những việc làm sai trái, gian lận của công ty gây tổn thất cho cổ đông, nhà đầu tư Ngoài ra, công bố thông tin phải chính xác, trung thực tránh công bố những thông tin thất thiệt nhất là các thông tin

về báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, tỷ lệ chia cổ tức… đây là những thông tin hữu

Trang 21

11

ích đối với cổ đông, nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý nhà nước Họ căn cứ vào thông tin do công ty cung cấp để tiến hành đưa ra các quyết định đầu tư của mình

Thứ hai, Trách nhiệm giải trình của công ty niêm yết trước các thông tin liên quan

đến công ty như (giao dịch của các cổ đông nội, thâu tóm, mua lại…) khi có những trường hợp đó xảy ra công ty niêm yết phải công bố các thông tin đó lên trang thông tin điện tử của công ty cũng như phải báo cáo lên SGDCK, UBCK để những thông tin này được công bố rộng rãi đến các đối tượng quan tâm đến công ty biết rõ

Trên đây là hai nội dung chính thể hiện trách nhiệm xã hội của công ty niêm yết trong việc công bố thông tin đối với cổ đông, nhà đầu tư, thị trường chứng khoán cũng như đối với nền kinh tế và quan trọng đó chính là ý thức của các công ty niêm yết

1.4 Kinh nghiệm công bố thông tin của các thị trường chứng khoán trên thế giới

Trải qua lịch sử 150 năm qua 23 quốc gia, tổ chức Standard & Poor’s (S&P) được các nhà đầu tư trên toàn thế giới biết đến như là tổ chức nghiên cứu hàng đầu của thị trường tài chính Tổ chức này đã thực hiện và phát triển việc nghiên cứu trong công bố thông tin của các công ty niêm yết trên các thị trường tài chính tại Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Phi và thị trường tài chính của các nước phát triển tại Châu Á từ những năm 1990

và tính thông tin trong CBTT được đánh giá theo ba nhóm thông tin: cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu và quyền của nhà đầu tư, Báo cáo tài chính và thông tin kinh doanh, Cơ cấu

sở hữu và lợi ích của các cấp quản lý

Các thông tin chi tiết được xem xét trong không chỉ báo cáo thường niên, mà còn trên trang thông tin điện tử của công ty và các phương tiện khác mà công ty phải sử dụng khi CBTT

Mức độ minh bạch được xác định bằng việc cho điểm Khi công ty công bố đầy đủ các mục thông tin thì điểm sẽ là 10 Trong trường hợp thông tin không đầy đủ, thì số điểm sẽ tương ứng với tỷ lệ đầy đủ của các mục thông tin chi tiết

Kết quả đánh giá của S&P cho thấy, tính minh bạch trong CBTT trên thị trường tài chính của các nước đang phát triển ở Châu Mỹ La tinh và các nước đang phát triển ở Châu Á rất thấp Tại các nước này, nhóm thông tin công bố chính là nhóm về “báo cáo tài chính và thông tin kinh doanh”, trong khi nhóm thông tin không được coi trọng trong công bố nhất là nhóm “cơ cấu sở hữu và lợi ích của các cấp quản lý”

Trang 22

12

1.4.1 Thị trường chứng khoán Mỹ

Tại thị trường chứng khoán Mỹ, ngay sau cuộc khủng hoảng “Ngày thứ hai đen tối” năm 1929, nhìn thấy được tình trạng thật giả lẫn lộn về thông tin, với mong muốn giảm thiểu rủi ro và bảo vệ những nhà đầu tư nhỏ lẻ, Mỹ đã quyết định cho ra đời SEC (Securities and Exchange Commission) - Ủy ban Giao dịch Chứng khoán Mỹ Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, Peregrine Systems nước Mỹ đã ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn

Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002 đạo luật Sarbanes – Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra nhiều trường hợp vi phạm công bố thông tin ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư

Hiện nay TTCK Mỹ với 14 sở giao dịch, thậm chí cả thị trường phi tập trung OTC, khối lượng giao dịch thuộc loại lớn nhất thế giới Tính ổn định về mặt kỹ thuật của nó đủ cho thấy Hệ thống thông tin kế toán được tổ chức tốt đến mức nào Hệ thống thông tin của TTCK Mỹ vận hành trôi chảy là do nó được tổ chức tốt, được đầu tư hợp lý về cơ sở

hạ tầng Ủy ban Chứng khoán Mỹ là cơ quan quản lý, giám sát về lĩnh vực chứng khoán,

đã thiết lập được khung pháp luật thực sự mạnh và có hiệu lực để quản lý TTCK nói chung và hệ thống thông tin chứng khoán nói riêng Mọi hoạt động của các chủ thể tham gia trên TTCK như SGDCK, CTNY, công ty chứng khoán đều phải tuân theo những quy định của Uỷ ban trong quy chế công bố thông tin cũng như các hoạt động giao dịch

Trang 23

13

Các công ty chứng khoán khi đưa ra thông tin của mình cho các nhà đầu tư bằng các hình thức tư vấn cũng phải rất thận trọng Bởi một mặt họ phải tuân theo những quy định rất rõ ràng trong việc công bố thông tin thông qua Đạo luật tư vấn đầu tư Mặt khác, nếu

vi phạm, họ lập tức sẽ bị tẩy chay và sẽ có người thay thế họ ngay trên thị trường Vì vậy, các thông tin của các TTCK là rất đáng tin cậy Hơn nữa, tại TTCK Mỹ có thêm loại hình công ty bảo vệ người đầu tư Do đó, các hành vi công bố thông tin sai trái, thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến người đầu tư thì khó có thể tồn tại

Đặc biệt, TTCK Mỹ luôn chú trọng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho hệ thống thông tin

để quản lý và giao dịch hiệu quả, bảo đảm lợi ích về thông tin cho người đầu tư Cụ thể là các Sở giao dịch được khuyến khích áp dụng các thành tựu của công nghệ thông tin trong giao dịch Tại các Sở giao dịch chứng khoán của Mỹ, chẳng hạn TTCK New York, Amex đều có riêng bộ phận giao dịch và kỹ thuật, có chức năng tạo ra môi trường giao dịch công bằng, công khai và hiệu quả cho các thành viên Bộ phận này có nhiệm vụ bảo đảm mọi thông tin, số liệu về giao dịch các chứng khoán được phổ biến kịp thời, chính xác tới các thành viên, người giao dịch và thị trường

Vấn đề mạng truyền thông cũng được phát huy tối đa tại TTCK Mỹ Thông tin tại các Sở giao dịch luôn thông suốt, có thể xóa đi tối đa sự chênh lệch về giá và sự lệch pha

về thông tin, do nó được bảo đảm bởi hệ thống mạng CORES với cấu hình mạnh và phần mềm ổn định, có thể kết nối được với các TTCK lớn khác trên toàn thế giới

Các CTNY có những ràng buộc rất chặt chẽ Ngoài việc chấp hành các nguyên tắc

về công bố thông tin chung của các TTCK, họ còn có sự kiểm soát khác từ phía người đầu tư Chẳng hạn, các công ty muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng với số lượng cổ đông lớn, họ phải lập và nộp bản thông cáo phát hành Các nhà đầu tư có quyền khởi kiện công ty nếu công ty công bố bất cứ điều gì sai sự thật trong bản thông cáo phát hành

1.4.2 Thị trường chứng khoán Pháp

Trách nhiệm kiểm soát thông tin đặc biệt được coi trọng trong trường hợp công ty phát hành chứng khoán huy động vốn từ công chúng tại Pháp Ta thấy có ba điểm khác biệt cơ bản so với Việt Nam:

Thứ nhất, điểm khác biệt cơ bản so với công ty Việt Nam là kiểm toán viên phải xác nhận cả những dự báo về lợi nhuận trong tương lai của công ty (tại Việt Nam, chỉ kiểm toán những dữ liệu quá khứ) Để có thể xác nhận được dự báo lợi nhuận, kiểm toán viên

Trang 24

14

phải tiếp cận và đối thoại nghiêm túc với lãnh đạo công ty Mặc dù không ai có thể khẳng định chắc chắn khoản lợi nhuận tương lai của công ty, nhưng yêu cầu này đòi hỏi kiểm toán viên và lãnh đạo công ty phải trung thực, thẳng thắn và thật sự nghiêm túc trong cách đánh giá về tương lai của công ty Xác nhận của kiểm toán viên về mức độ tin cậy trong dự báo lợi nhuận công ty sẽ được chuyển đến cơ quan giám sát TTCK và nhà đầu

tư Đây là một chỉ báo quan trọng cho NĐT, bởi thực tế NĐT mua cổ phiếu dựa vào những tiềm năng trong tương lai của công ty

Thứ hai, điểm khác biệt thứ hai tại Pháp là Cơ quan Quản lý các thị trường tài chính Pháp (AMF) sẽ giám sát tất cả thông tin quảng cáo của công ty liên quan đến hoạt động chào bán trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày công bố bản cáo bạch Các thông tin quảng cáo này đều phải nói rõ thông tin về bản cáo bạch, thời gian công bố cũng như địa điểm nhà đầu tư có thể lấy để tham khảo Theo ông Bruno Phó tổng thư ký AMF, tại Pháp cũng có nhiều trường hợp công ty sử dụng phương tiện thông tin đại chúng chỉ để truyền tải những thông tin tốt cho mình (tương tự như tại Việt Nam hiện nay), vì thế AMF có trách nhiệm phải giám sát thông tin của công ty, để đảm bảo NĐT được nhận thông tin đầy đủ và cân bằng trước khi công ty được phép phát hành chứng khoán huy động vốn Thứ ba, điểm khác biệt thứ ba trong hồ sơ huy động vốn của công ty Pháp là công

ty phải lập bản cáo bạch tóm tắt dưới 2.500 chữ để giúp những người ít thời gian vẫn có thể tiếp cận thông tin chính yếu về công ty Tại Pháp, nhiều công ty có cáo bạch dài tới

500 trang, nên việc yêu cầu phải có 1 bản cáo bạch tóm tắt là thủ tục bắt buộc và người thực hiện bản tóm tắt này phải chịu trách nhiệm dân sự nếu tóm tắt có nội dung lừa dối, không chính xác hoặc mâu thuẫn với các phần khác của cáo bạch

Để đảm bảo tính chuẩn mực của cáo bạch, AMF quy định bản cáo bạch của công ty phải có 3 đối tượng cùng liên đới chịu trách nhiệm, gồm người công bố thông tin; kiểm toán viên độc lập và tổ chức cung cấp dịch vụ đầu tư Ngoài ra, AMF cũng phải chịu trách nhiệm nếu không phát hiện ra những sai sót cơ bản trong bản cáo bạch của công ty

mà đáng ra phải phát hiện được.Trong trường hợp này, thNm phán sẽ có một quy định riêng để xử lý trách nhiệm của người thuộc AMF Sau sự kiểm duyệt chặt chẽ trên, nếu một công ty được thông qua cáo bạch tại Pháp hay một nước khác thuộc Liên minh châu

Âu (EU), công ty có quyền huy động vốn tại bất kỳ thị trường nào thuộc EU Đây là một lợi thế rất lớn cho công ty thuộc EU Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng, công

Trang 25

15

ty Pháp cũng phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ hàng quý, 6 tháng và 1 năm Những báo cáo này phải được gửi đồng thời đến cơ quan quản lý và nhà đầu tư thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Theo ông Bruno, với nhà đầu tư thì sẽ là tốt nhất nếu công ty thực hiện công bố thông tin hàng ngày.Tuy nhiên, việc yêu cầu thông tin với họ quá liên tục hoặc chi tiết là rất nguy hiểm, bởi khi đó người lãnh đạo sẽ chỉ chú

ý đến kết quả trước mắt mà không tập trung lo cho tương lai dài hạn của công ty

1.4.3 Thị trường chứng khoán Trung Quốc

Trong thời gian đầu, các thông tin giữa hai Sở giao dịch chứng khoán Thẩm Quyến

và Thượng Hải không thống nhất bởi chúng tuân theo các quy định của địa phương, mạng truyền thông chưa được chú trọng và áp dụng các giao dịch thủ công, mặc dù lúc

đó ngành điện toán đã có những ứng dụng rất hiệu quả vào giao dịch chứng khoán của một số TTCK trên thế giới Cũng chính vì chưa có cơ quan nhà nước quản lý thống nhất

về chứng khoán nên các quy chế, quy định về thông tin không được coi trọng, do đó chất lượng thông tin trên thị trường rất kém, các công bố thông tin của các CTNY, công ty chứng khoán có độ tin cậy rất thấp

Kết quả là TTCK Trung Quốc phát triển một cách chậm chạp, không đáp ứng được nhu cầu cổ phần hóa, không đẩy mạnh việc thu hút vốn từ TTCK và gây lãng phí thời gian

Chỉ từ năm 1992 đến nay, khi Ủy ban chứng khoán nhà nước được thành lập, TTCK Trung Quốc mới dần đi vào trật tự Ủy ban chứng khoán nhà nước giữ vai trò quản lý và giám sát các hoạt động thuộc lĩnh vực chứng khoán Các CTNY, công ty chứng khoán, các Sở giao dịch chứng khoán hoạt động theo chuẩn thống nhất, đặc biệt là các quy chế

về công bố thông tin trên thị trường và cơ chế giám sát các doanh nghiệp về công bố thông tin khi phát hành cổ phiếu được thực hiện chặt chẽ Cơ quan quản lý đã thành lập

Ủy ban điều tra có trách nhiệm thẩm tra toàn bộ các thông tin liên quan đến doanh nghiệp mới niêm yết trên thị trường chứng khoán Việc phát hành bản chính và bản tóm tắt về tình hình hoạt động của doanh nghiệp phải được niêm yết trên báo chí có chỉ định và phải công bố trên mạng Internet

Các doanh nghiệp cũng được yêu cầu phải công bố thông tin liên tục hoặc đột xuất nếu doanh nghiệp có những thay đổi về quản lý, về thị trường hay thay đổi về các dự án

và lĩnh vực đầu tư Trong trường hợp doanh nghiệp vi phạm các quy định về công bố

Trang 26

16

thông tin, thì căn cứ vào kết luận điều tra của Ủy ban thẩm tra, sẽ đưa ra mức xử phạt nhẹ nhất là thông báo trong nội bộ ngành, cảnh báo và phạt tiền, nặng nhất là cấm doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán

1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho thị trường chứng khoán Việt Nam

Qua quá trình nghiên cứu bài học kinh nghiệm về công bố thông tin trên các SGDCK, TTCK của các nước Mỹ, Pháp, Singapore, Trung Quốc, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm thích hợp với đặc điểm tình hình của Việt Nam hiện nay như sau:

- Tất cả các Sở giao dịch chứng khoán lớn trên thế giới đều chú ý đến cơ sở hạ tầng

kỹ thuật, công nghệ thông tin hiện đại, tạo tiện ích tối đa cho hoạt động đầu tư cũng như tất cả các hoạt động quản lý khác của Sở giao dịch chứng khoán như nhập lệnh, khớp lệnh, đăng ký, lưu ký, thanh toán bù trừ và cả hệ thống giám sát giao dịch bằng công nghệ hiện đại

- Vấn đề công nghệ thông tin được đặt lên hàng đầu với sự đầu tư đúng mức để đảm bảo mọi thông tin trên thị trường đều được phản ánh một cách trung thực, đầy đủ và kịp thời

- Để đảm bảo tính an toàn Sở giao dịch chứng khoán phải thể hiện được tính công bằng trong công khai minh bạch thông tin Phải có tiêu chuẩn niêm yết, cơ chế giám sát nghiêm ngặt đòi hỏi ở các CTNY phải tuân thủ chế độ quản trị, BCTC, kế toán, kiểm toán theo chuẩn mực quốc gia và quốc tế để hạn chế tối đa những sai sót hoặc tiêu cực làm thiệt hại quyền lợi nhà đầu tư

- Các CTNY có những ràng buộc rất chặt chẽ Ngoài việc chấp hành các nguyên tắc

về công bố thông tin chung của các TTCK, họ còn có sự kiểm soát khác từ phía người đầu tư Chẳng hạn, các công ty muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng với số lượng cổ đông lớn, họ phải lập và nộp bản thông cáo phát hành Các nhà đầu tư có quyền khởi kiện công ty, nếu công ty công bố bất cứ điều gì sai sự thật trong bản thông cáo phát hành

- Doanh nghiệp niêm yết phải chỉ rõ trong bản cáo bạch của mình những rủi ro trong hoạt động của công ty và công bố rõ ràng đến công chúng Những rủi ro đó bao gồm các khoản nợ của công ty trước khi phát hành cổ phiếu, những tranh chấp pháp lý liên quan đến công ty (nếu có) Và báo cáo tài chính của công ty phải được một công ty kiểm toán trung lập kiểm tra tài chính nhằm đảm bảo tính xác thực của thông tin

Trang 27

17

- Để đảm bảo tính chuẩn mực của cáo bạch, UBCKNN nên quy định bản cáo bạch của DN phải có 3 đối tượng cùng liên đới chịu trách nhiệm, gồm người công bố thông tin (người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền); kiểm toán viên độc lập và tổ chức cung cấp dịch vụ đầu tư

- Trong công tác kiểm toán tại Doanh nghiệp, kiểm toán viên cần phải xác nhận cả những dự báo về lợi nhuận trong tương lai của DN thay vì chỉ kiểm toán những dữ liệu quá khứ

- Trường hợp doanh nghiệp vi phạm các quy định về công bố thông tin, thì căn cứ vào kết luận điều tra của UBCKNN, sẽ đưa ra mức xử phạt nhẹ nhất là thông báo trong nội bộ ngành, cảnh báo và phạt tiền, nặng nhất là cấm doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán

- Khuyến khích hoạt động của các hãng cung cấp thông tin chuyên nghiệp, nhất là khi TTCK phát triển, có thị trường phi tập trung Ở TTCK Mỹ, đội ngũ các hãng thông tin chuyên nghiệp khá hùng hậu, nó cung cấp thông tin cập nhật chính xác và phong phú cho các nhà đầu tư trên toàn thế giới

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về CTNY và nội dung quy định về công bố thông tin của các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK để làm cơ sở đối chiếu với hoạt động thực tiễn nhằm tìm ra những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân

và đưa ra biện pháp khắc phục hạn chế tình trạng vi phạm công bố thông tin cũng như đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao việc công bố thông tin của các CTNY

Trong chương này cũng đã trình bày một số nghiên cứu về thực tiễn công bố thông tin tại tập đoàn Goldman Sachs, ngân hàng Lehmans Brothers và một số bài học kinh nghiệm công bố thông tin của các SGDCK, TTCK thế giới như Mỹ, Pháp, Singapore, Trung Quốc để giúp Việt Nam có thể tiếp thu và quản lý tốt hơn chất lượng công bố thông tin của các công ty cổ phần niêm yết nhằm ngăn ngừa và hạn chế đến mức tốt nhất có thể những vi phạm về công bố thông tin từ đó có thể cung cấp những thông tin hoàn hảo nhất cho thị trường

Trang 28

18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM

2.1 Tổng quan về các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM

Năm 2000, khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.HCM với khớp lệnh định kỳ 1 đợt/ngày, 03 ngày/tuần với 2 cổ phiếu được niêm yết là cổ phiếu của công ty Cơ Điện Lạnh (REE) và cổ phiếu của công ty cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông (SAM) Đến cuối năm 2000, thị trường có thêm 3 cổ phiếu niêm yết trên sàn là TMS, HAP, LAF với tổng giá trị niêm yết 5 loại cổ phiếu là 675.511.860.000 đồng

Năm 2001 với sự tham gia của 5 cổ phiếu mới BBC, CAN, DPC, SGH, TRI nâng tổng số cổ phiếu niêm yết là 10 loại với giá trị niêm yết là 170.019.400.000 đồng, nâng tổng giá trị niêm yết toàn thị trường lên 845.531.260.000 đồng

Giai đoạn từ năm 2008 – 2012 là một thời kỳ đầy biến động của TTCK Việt Nam

do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động mạnh tới Việt Nam Sau khi tăng nóng và đạt mức đỉnh điểm vào năm 2007, các chỉ số chứng khoán đã cho thấy giá cổ phiếu có dấu hiệu bong bóng và do đó nhanh chóng sụt giảm mạnh vào năm 2008

Chỉ số VN – Index từ mức kỷ lục trên 1.100 điểm vào cuối tháng 05/2007 đã giảm mạnh chỉ còn 235 điểm vào cuối tháng 02/2009 Sau đó, thị trường vẫn liên tục có các biến động lớn, tùy thuộc vào chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ Tuy nhiên, nếu chỉ đánh giá thị trường qua chỉ số chính là VN – Index thì không thể phản ánh hết được vận động của thị trường Trong các năm tiếp theo, VN – Index vẫn duy trì ở mức cao hơn so với đáy khủng hoảng của thị trường vào tháng 3/2009 Tuy nhiên, có thể nói giai đoạn khó khăn nhất của thị trường là năm 2012 giá trị giao dịch cũng liên tục sụt giảm xuốn mức thấp, đặc biệt là tháng 2/2012 với mức giao dịch bình quân chỉ đạt hơn 382 tỷ đồng/phiên và tháng 11/2012 là 397 tỷ đồng/phiên Đây là các mức giao dịch thấp nhất kể

từ tháng 6/2008 mặc dù thị trường đã mở rộng quy mô hơn nhiều nếu tính về số lượng công ty niêm yết

Như vậy từ năm 2000 số DN niêm yết trên HOSE chỉ có 3 công ty niêm yết và tính đến thời điểm 31/12/2012, con số đó đó đã là 308 công ty và năm 2010 là năm có số DN niêm yết mới nhiều nhất với 82 công ty do Nhà nước khuyến khích các DN cổ phần hóa

Trang 29

19

và do nhu cầu của các DN cần huy động vốn thông qua kênh thị trường chứng khoán cũng tăng mạnh, nhất là trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang trên đà hội nhập với nền kinh tế thế giới

Hình 2.1: Tổng hợp tình hình niêm yết của các CTNY trên HOSE từ 2000 - 2012

Nguồn: Tổng hợp từ Website và BCTN của HOSE

2.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên

Sở giao dịch chứng TP.HCM

Trước khi Luật chứng khoán ra đời, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK được quy định tại Nghị định 48/1998/NĐ–CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK thay thế cho Nghị định 48/1998/NĐ-CP Nghị định 144/2003/ NĐ–CP dành chương VI từ Điều 51 đến Điều 64 quy định về CBTT trên TTCK Thi hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP, Bộ Tài chính ban hành Thông

tư số 57/2004/TT – BTC ngày 17/06/2004 hướng dẫn việc CBTT trên TTCK Các quy định này đã tác động rất lớn trong việc chấn chỉnh nghĩa vụ CBTT theo quy định của pháp luật, nâng cao nhận thức của các công ty trong việc thực hiện nghĩa vụ này; đồng thời cũng góp phần vào việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT, thiết lập trật tự thị trường, bảo đảm thị trường phát triển minh bạch và bền vững

Luật chứng khoán ra đời góp phần khắc phục những khiếm khuyết, bất cập trong khuôn khổ pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán của Nghị định 144/2003/ NĐ–CP

Như vậy, các quy định đã pháp luật về CBTT trên TTCK được cụ thể ở nhiều cấp độ văn bản pháp luật khác nhau: Luật chứng khoán 2006, Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày

Tổng hợp tình hình niêm yết của HOSE 2000 - 2012

Số lượng CTNY mới

Số công ty hủy niêm yết, sáp nhập hoặc chuyển sang HNX Tổng số CTNY

Trang 30

20

19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, Nghị định 85/2010/NĐ–CP ban hành ngày 02/08/2010 thay thế cho Nghị định 36/2007/NĐ–CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán và ngày 04/05/2012 Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 52/2012/TT–BTC thay thế cho thông tư số 38/2007/TT–BTC, thông tư 09/2010/TT–BTC hướng dẫn về việc CBTT trên TTCK Đây là những công cụ pháp lý cần thiết góp phần vào ngăn chặn các rủi ro về thông tin trong đầu tư chứng khoán, góp phần vào việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT trên TTCK

Như vậy, hiện nay tất cả các công ty niêm yết trên HOSE phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin Thông tư 52/2012/TT–BTC có hiệu lực ngày 01/06/2012, Thông tư này quy định một số điều kiện khắt khe hơn trong việc công bố thông tin và không cho phép cổ đông nội bộ “lướt sóng” cổ phiếu của chính mình như quy định về đối tượng công bố thông tin, nguyên tắc chế tài xử lý vi phạm công bố thông tin và trách nhiệm bồi thường, thời hạn lập và công bố thông tin báo cáo tài chính, quy định cổ đông nội bộ phải báo cáo và công bố thông tin trước 3 ngày giao dịch cũng như quy định chặt chẽ hơn về thực hiện chế độ kế toán… nhằm hướng tới việc minh bạch hóa việc công bố thông tin

và giao dịch trên thị trường chứng khoán

2.3 Thực trạng hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM

Kể từ khi thông tư 52/2012/TT – BTC ra đời việc công bố thông tin của công ty niêm yết đã đi đúng hướng Bên cạnh, sự chấp hành đúng quy định còn có những sai phạm như chậm nộp BCTC quý, BCTC năm, chênh lệch số liệu BCTC trước và sau kiểm toán, ý kiến kiểm toán viên bị bỏ qua, nhiều công ty chưa thực hiện BCTC hợp nhất

2.3.1 Thông tin trong báo cáo tài chính

2.3.1.1 Thời gian công bố báo cáo tài chính

Theo thông tư 52, các công ty niêm yết phải công bố thông tin định kì về BCTC quý trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý, BCTC bán niên đã được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được UBCKNN chấp thuận trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày kết thúc 6 tháng đầu năm tài chính và công bố BCTC năm đã được kiểm toán chậm nhất là 10 ngày,

kể từ ngày tổ chức kiểm toán độc lập kí báo cáo kiểm toán Thời hạn công bố thông tin BCTC năm không quá 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính

Trang 31

21

Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp niêm yết tại HOSE nộp BCTC không đúng hạn Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán

Hình 2.2 Tình hình nộp BCTC của công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM

Vấn đề thường xuyên chậm nộp BCTC đã kéo dài nhiều năm do nhiều lí do chủ quan cũng như khách quan, nếu muốn chủ động trì hoãn nộp BCTC thì có rất nhiều lý do khác nhau từ phía các CTNY xin gia hạn nộp BCTC nhưng điều đáng nói ở đây trong danh sách CTNY chậm nộp BCTC kiểm toán năm 2012 kèm công văn số 459/2013/SGDHCM–NY mà HOSE đã công bố có 48 công ty chậm nộp BCTC nhưng phần lớn các công ty vẫn “lặng thinh” chỉ có 12 công ty có công văn đang chờ ý kiến của UBCK có được phép gia hạn hay không Nhưng những lí do mà các CTNY xin gia hạn

Tổng hợp tình hình nộp BCTC đã kiểm toán của các CTNY tại HOSE

Số lượng CTNY tại HOSE SL CTNY nộp BCTC đúng hạn Tỷ lệ %

Trang 32

là lí do mà công ty đưa ra để che đậy việc chậm nộp

Thực tế đang diễn ra ở các CTNY là khi sắp đến thời hạn phải nộp BCTC theo quy định và công ty nhận thấy rằng không hoàn thành đúng hạn thì doanh nghiệp sẽ gửi công văn đến UBCK để xin gia hạn So với thông tư 09/2010 trước đây thì thông tư 52/2012 có

“siết” hơn trong việc tạm hoãn công bố thông tin khi quy định rõ các trường hợp bất khả kháng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh Tuy nhiên, Thông tư 52 vẫn cho phép doanh nghiệp thêm các “trường hợp khác”được UBCKNN chấp thuận cho tạm hoãn công

bố thông tin nên các doanh nghiệp vẫn có cơ hội xin tạm hoãn công bố Vì vậy, tình trạng xin gia hạn vẫn thường xuyên diễn ra trên HOSE nhưng các doanh nghiệp cũng không biết rằng sự gia hạn của mình có được UBCK chấp nhận, điều này làm cho các doanh nghiệp của chúng ta đang có thói quen “chậm” thì xin gia hạn vậy thôi

Khi đến hạn mà doanh nghiệp chưa nộp BCTC thì HOSE sẽ gửi thông báo nhắc nhở chậm công bố BCTC lần 1, nếu đã gửi thông báo lần 1 mà vẫn chưa nộp sẽ tiếp tục gửi thông báo chậm công bố BCTC lần 2 và vẫn không thực hiện sẽ đưa ra quyết định cảnh báo trên toàn thị trường.Theo điều 33 của Nghị định 85/2010 về xử phạt vi phạm hành

Trang 33

23

chính trong lĩnh vực chứng khoán quy định nếu CTNY không thực hiện công bố thông tin theo quy định hoặc theo yêu cầu, công bố thông tin không kịp thời, đầy đủ nội dung theo quy định sẽ bị phạt từ 50 đến 70 triệu đồng, như vậy các công ty chậm nộp BCTC tức là công bố thông tin không kịp thời sẽ bị phạt 50 –70 triệu đồng và chính phủ cũng chưa quy định rõ khi nào bị phạt 50 triệu khi nào bị phạt 70 triệu có phải tùy thuộc vào thời gian chậm công bố nhưng vấn đề thực tế đang diễn ra trên HOSE là các công ty thường xuyên xảy ra tình trạng chậm nộp BCTC, bị phạt do lỗi chậm nộp, phạt xong vẫn xảy ra tình trạng tương tự đơn cử như:

- CTCP Vận Chuyển Saigontourist (STT) xảy ra tình trạng chậm nộp rất nhiều lần ngày 05/09/2011 bị nhắc nhở lần 2 vì chậm nộp BCTC soát xét 6 tháng đầu năm, báo BCTC quý IV công ty mẹ và hợp nhất, Báo cáo QTCT quý III, IV và cả báo cáo kiểm toán năm 2011 đến 31/07/2012 UBCKNN ban hành Quyết định số 598/QĐ-UBCK xử phạt vi phạm hành chính 70 triệu đồng đối với STT sau hàng loạt vi phạm của STT Sang năm 2012, STT vẫn bị HOSE nhắc nhở chậm nộp BCTC lần 2 và đến 10/05/2013 STT mới thực hiện việc công khai BCTC của công ty

- CTCP Đầu tư Xây dựng & Khai thác Công trình giao thông 584 (NTB) cũng xảy ra tình trạng tương tự ngày 13/04/2012, UBCKNN quyết định xử phạt 70 triệu đồng do NTB chậm nộp BCTC công ty mẹ, BCTC hợp nhất quý II/2011, BCTC soát xét 06 tháng đầu năm 2011 nhưng sau đó NTB vẫn tiếp tục bị HOSE nhắc nhở vi phạm chậm nộp BCTC soát xét 06 đầu năm 2012, quý IV và BCTC năm 2012

- Tương tự các công ty khác cũng xảy ra tình trạng nhiều lần vi phạm chậm nộp BCTC như CTCP Thép Nam Kim (NKG), CTCP Thủy sản Cửu Long (CLP), CTCP XNK Lâm Thủy Sản Bến Tre (FBT), CTCP Công nghệ Viễn thông Sài Gòn (SGT)…

Tình trạng các CTNY vi phạm nhiều lần về chậm nộp BCTC thậm chí bị phạt sau đó vẫn tiếp tục vi phạm có phải UBCK, SGDCK nên có một chế tài nghiêm khắc, quy định khắc khe và rõ ràng hơn về mức xử phạt, một công ty vi phạm nhiều lần về chậm nộp BCTC quý, 06 tháng, BCTC năm … thì bị phạt 70 triệu đồng còn nếu vi phạm chậm nộp một trong các lỗi trên thì mức phạt cũng là 70 triệu đồng điều này có hợp lý

Thời gian công ty chậm nộp BCTC một tuần, 1 tháng, 2 tháng …cũng có cùng một mức xử phạt là công bố không kịp thời điều này có phải nên quy định rõ mức phạt tương ứng với thời gian chậm nộp, thời gian chậm nộp càng kéo dài thì mức phạt càng nặng có

Trang 34

24

như vậy các CTNY sẽ có thiện chí trong việc cố gắng rút ngắn thời gian chậm nộp tránh trình trạng trước sau gì cũng chậm, cũng bị xử phạt nên càng kéo dài việc nộp BCTC và người chịu cuối cùng vẫn là các nhà đầu tư

Các công ty xảy ra tình trạng vi phạm chậm nộp BCTC thường là những công ty có vấn đề trong việc kinh doanh của mình, thường xuyên có kết quả kinh doanh bị âm và được đưa vào diện theo dõi đặc biệt của HOSE: CTCP Vận chuyển Sài Gòn Tourist (STT)

bị lỗ lũy kế 12 tỷ căn cứ vào BCTC hợp nhất 2012, CTCP Thép Nam Kim (NKG) bị lỗ 105,12 tỷ theo BCTC kiểm toán 2012 đặc biệt trường hợp của CTCP Đầu tư Xây dựng và Khai thác Công trình Giao thông 584 (NTB) sau 3 năm lên sàn kết quả kinh doanh của công ty ngày một trượt dốc cụ thể năm 2010 lãi 39 tỷ, 2011 lỗ 1,15 tỷ và 2012 lỗ 67 tỷ nhưng đây chưa phải là con số chính thức vì đây là con số do công ty công bố, kiểm toán không thể đưa ra nhận xét về BCTC của NTB năm 2012 dẫn đến lỗ lũy kế 42,5 tỷ và HOSE buộc phải hủy niêm yết NTB vào ngày 23/07/2013 Sau khi lên sàn được một thời gian, cổ phiếu NTB đạt đỉnh điểm về giá thì các cổ động lớn của NTB đã lần lượt bán đi

số cổ phần của mình đang nắm giữ xuống một tỷ lệ đáng kể

Bảng 2.1 Danh sách biến động về số cổ phiếu nắm giữ của các cổ đông NTB

Qua vụ việc của NTB có lẽ đang dấy lên một hồi chuông cho các cấp quan lý về việc các công ty nhiều lần chậm công bố BCTC là những công ty nên được quan tâm hơn, chậm công bố BCTC làm đơn xin gia hạn thậm chí bị UBCK, SGDCK phạt vẫn chậm nộp có phải là do các công ty đang cố tình chậm CBTT nhằm che đậy sự bất ổn trong hoạt động kinh doanh của mình để các cổ đông lớn có thời gian rút lui, thoái vốn một cách an toàn còn các nhà đầu tư nhỏ, lẻ lại là những người gánh toàn bộ hậu quả

Trang 35

25

Ngày nay thị trường mở cửa, các CTNY muốn thu hút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài bên cạnh phát hành cổ phiếu trong nước, các doanh nghiệp có thể niêm yết trên sàn nước ngoài để thu hút vốn nhưng để làm được điều này chính bản thân các công ty phải tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn niêm yết cũng như các quy định về công bố thông tin của các sàn một cách nghiêm ngặt và thời gian qua chúng ta cũng đã có một bài học xương máu cho một doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên sàn NASDAQ chính là Tập đoàn Cavico (CAVO) đã bị hủy niêm yết vào tháng 07/2011 lí do Cavico không nộp báo cáo tài chính năm 2010 đúng hạn – một quy định bắt buộc đối với các cổ phiếu niêm yết trên sàn NASDAQ “trông người mà nghĩ đến ta” có lẽ đã đến lúc các cấp quản lý nên có cái nhìn khái quát về vấn đề đang tồn tại trên TTCK Việt Nam

2.3.1.2 Chênh lệch Báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán

Báo cáo tài chính là công cụ hữu ích nhất của công ty trong việc truyền tải thông tin về tình hình hoạt động của công ty đến các đối tượng quan tâm trên thị trường (công

ty, nhà đầu tư, cơ quan quản lý…), các đối tượng này dựa vào các thông tin trên BCTC

sẽ tiến hành phân tích và đưa ra quyết định đầu tư Vấn đề về tính trung thực của BCTC luôn là một trong những vấn đề trọng tâm khi đánh giá tính minh bạch công khai của các công ty niêm yết Có hai kịch bản thường xảy ra đối với chênh lệch trong BCTC:

o Thứ nhất, trường hợp công ty che giấu các khoản lỗ: một số công ty vẫn công bố

lãi và hoàn thành kế hoạch các quý trong năm, nhưng đến khi báo cáo quý IV hay báo cáo thường niên được công bố, thì công ty lại công bố lỗ Lý do thường thấy do không ít công ty cố ý chậm trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá các khoản đầu tư cũng như không hạch toán đầy đủ chi phí vào các quý đầu năm Trong trường hợp không phải do tính toán của công ty, mà do sự sụt giảm của TTCK, biến động giá nguyên vật liệu, hàng hóa, hay sức cầu giảm, tiền đồng giảm giá dẫn đến thua lỗ, thì công ty cũng cần rút ra bài học về việc hạch toán trích lập đầy đủ dự phòng cho các tổn thất đã nêu trong các báo cáo quý, thay vì thiếu trách nhiệm và đẩy khoản dự phòng này dồn về cuối năm Mục đích của việc làm này có thể nhằm để cho giá cổ phiếu không bị rớt giá nhanh, nhà đầu tư trên thị trường chậm bán ra để nội bộ công ty có thời gian bán tháo

cổ phiếu tránh mất giá cổ phiếu do bán sau Thực tế trên các sàn giao dịch cũng thường xuyên diễn ra tình trạng, hàng loạt cổ đông nội bộ đăng ký bán cổ phiếu trong khi tình hình kinh doanh của công ty đang “lãi”

Trang 36

26

o Thứ hai, ngược lại có nhiều công ty tìm cách che giấu những khoản lợi nhuận bằng

nhiều cách khác nhau như trích lập dự phòng giảm giá quá nhiều so với mức độ giảm giá thực tế của các khoản đầu tư; các công ty bất động sản bán được nhà đất nhưng không đưa khối tiền đó vào khoản thu mà để vào phần tạm thu Không phát sinh doanh thu, tức không thể tính lãi và nhờ vậy mà công ty che bớt được khoản lời, tạo ra bức tranh giả tạo

về thực trạng hoạt động của công ty Việc công ty giấu lời là để trong nội bộ có cơ hội mua lại cổ phần dễ dàng, nhất là trong lúc thị trường cổ phiếu đang có giá thấp

Vì vậy, cứ đến mỗi mùa công bố BCTC đã kiểm toán, thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM nói riêng lại đón nhận hàng loạt các thông tin về sự chênh lệch số liệu trên BCTC trước và sau kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết

Tính đến thời hạn cuối cùng nộp BCTC năm theo quy định, đã có 233/284 DN niêm yết đã nộp BCTC năm 2010 được kiểm toán, 234/303 DN niêm yết đã nộp BCTC năm

2011 và 255/308 DN niêm yết đã nộp BCTC năm 2012 đã kiểm toán đúng hạn và được công bố trên Website của HOSE Sau khi công bố BCTC đã kiểm toán, lợi nhuận của nhiều DN thay đổi đáng kể Nếu như năm 2010 có 187/233 DN có lợi nhuận trên BCTC điều chỉnh sau kiểm toán (chiếm tỷ lệ 80,26%), năm 2011 có 200/234 (chiếm tỷ lệ 85,47%) thì đến năm 2012 con số này là 213/255 (chiếm tỷ lệ 83,53%)

Bảng 2.2 : Tổng hợp số liệu các công ty niêm yết tại HOSE điều chỉnh lợi nhuận

trên BCTC năm 2010 sau kiểm toán

DN có LN chênh lệch giảm sau kiểm toán

DN có LN không chênh lệch sau kiểm

Trang 37

27

Trong số 102 công ty niêm yết trên HOSE bị giảm lợi nhuận sau kiểm toán, đứng đầu là CTCP Hàng Hải Đông Đô (DDM), CTCP Thủy hải sản Việt Nhật (VNH), CTCP Bất động sản du lịch Ninh Vân Bay (NVT), CTCP Kỹ nghệ Đô Thành (DTT), CTCP Đầu

tư Địa ốc Khang An (KAC) và Tổng công ty Xây dựng Điện Việt Nam (VNE)

Bảng 2.3 : Tổng hợp số liệu 06 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE điều chỉnh lợi

nhuận lớn nhất trên BCTC năm 2010 sau kiểm toán

Nguồn: Tổng hợp từ BCTC năm 2010 của các DN

 CTCP Hàng hải Đông Đô (DDM) công bố kết quả kinh doanh 2010 với 297,5 tỷ đồng doanh thu, tăng chưa đến 10% so với con số 275,3 tỷ đồng năm 2009 và lợi nhuận sau thuế đạt 473,65 triệu đồng, giảm nhẹ so với con số 715 triệu đồng đạt được năm

2009 Tuy nhiên sau khi kiểm toán lợi nhuận sau thuế của DDM từ lãi chuyển sang lỗ 74,32 tỷ đồng vì sau khi kiểm toán rất nhiều khoản mục trên BCTC của DDM đã thay đổi đáng kể Có thể thấy kết quả kinh doanh 2010 của DDM thay đổi như trên chủ yếu là do:

- Công ty thay đổi cách xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá

- Sai sót của bộ phận kế toán khi ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh như: Khoản mục doanh thu hạch toán 2 lần, hạch toán nhầm đối tượng phải trả, hạch toán thiếu lương và thừa một số khoản mục giảm trừ lương,…

- Công ty chưa thực hiện trích lập các khoản dự phòng theo đúng quy định

 CTCP Thủy hải sản Việt Nhật giải trình lợi nhuận hợp nhất sau thuế năm 2010 giảm 3,93 tỷ đồng tương ứng 57,33% (LNST đã được kiểm toán 2,93 tỷ đồng và LNST chưa kiểm toán 6,86 tỷ đồng) là do doanh nghiệp chưa trích lập các khoản dự phòng (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi), xử lý chênh lệch tỷ giá và phải

Trang 38

28

hạch toán lại các khoản mục chi phí và công nợ theo kiến nghị của công ty kiểm toán DTL

 CTCP Tập đoàn Thép Tiến Lên (TLH) mở màn cho hoang mang của nhiều nhà đầu

tư với việc công bố lợi nhuận ròng sau kiểm toán giảm gần 30% So với kết quả trước kiểm toán, chi phí tài chính của TLH tăng thêm 30,3 tỷ đồng do phải trích thêm dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán dẫn đến lợi nhuận trước thuế giảm một lượng tương ứng

Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ban đầu là 27,74 tỷ đồng đã tăng lên thành hơn

58 tỷ đồng Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ đạt 55,97 tỷ đồng, giảm 22,8 tỷ 29%) so với kết quả ban đầu là 78,8 tỷ đồng

(- CTCP Ninh Vân Bay (NVT) giải trình về lợi nhuận sau thuế năm 2010 sau kiểm toán giảm hơn 50% so với số liệu đã công bố là do công ty kiểm toán đã phân bổ thêm chi phí phát triển cơ sở hạ tầng chung cho diện tích các biệt thự đã bán tại khu nghỉ dưỡng Six Sense Saigon River theo dự toán Trước đây, kế toán của dự án chỉ tính đến các chi phí trực tiếp liên quan và các chi phí đền bù quyền sở hữu khác của khu đất đã phát sinh trên thực tế

 Lợi nhuận sau thuế năm 2010 của CTCP Đầu tư địa ốc Khang An (KAC) giảm 37,6% là do trong năm 2010 KAC có kí hợp đồng bán 1 lô đất ở quận 9 Tp.HCM cho khách hàng (Doanh thu chưa có thuế GTGT là 23,6 tỷ đồng) nhưng do gặp khó khăn tài chính nên ngày 28/01/2011 khách hàng đề nghị thanh lý hợp đồng và chấp nhận chịu phạt 12% trên tổng giá trị hợp đồng Vì vậy đơn vị kiểm toán đã loại trừ khoản lãi này ra khỏi BCTC làm cho số lãi thực tế của KAC bị giảm 13,5 tỷ đồng

 Lợi nhuận sau thuế năm 2010 của Tổng công ty xây dựng Điện Việt Nam giảm 34,6% là do kiểm toán loại trừ khoản doanh thu nội bộ mà VNECO thực hiện khi làm tổng thầu xây dựng công trình thủy điện Hồi Xuân do CTCP đầu tư và xây dựng Hồi Xuân làm chủ đầu tư và VNE phải điều chỉnh một số khoản mục doanh thu, chi phí theo kiến nghị của công ty kiểm toán

 Ngoài các công ty có lợi nhuận sau thuế điều chỉnh rất lớn sau kiểm toán kể trên, còn một số doanh nghiệp lớn trên sàn như Masan (MSN), Quốc Cường Gia Lai (QCG) cũng có lợi nhuận ròng sau kiểm toán giảm tương ứng 12,2% và 6,1% Các doanh nghiệp khác như CTCP Thép Tiến Lên (TLH), CTCP Dịch vụ Hàng Xanh (HAX)… đều có lợi nhuận sau thuế bị âm khá lớn (hơn 20%) so với báo cáo ban đầu

Trang 39

29

Năm 2011 trong số 234 DN đã nộp BCTC thì có 37 DN có Lợi nhuận chênh lệch tăng sau kiểm toán, 113 DN có Lợi nhuận giảm sau kiểm toán và chỉ có 34 doanh nghiệp

là không có LN chênh lệch sau kiểm toán

Bảng 2.4 : Tổng hợp số liệu các công ty niêm yết tại HOSE điều chỉnh lợi nhuận trên

BCTC năm 2011 sau kiểm toán

DN có LN chênh lệch giảm sau kiểm toán

DN có LN không chênh lệch sau kiểm toán

So với năm 2010, năm 2011 số lượng các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán nhiều hơn và chênh lệch số liệu trên BCTC của các doanh nghiệp này cũng lớn hơn nhiều

Bảng 2.5 : Tổng hợp số liệu 10 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE điều chỉnh LN lớn

nhất trên BCTC năm 2011 sau kiểm toán

Trang 40

30

Theo kết quả thống kê ở trên cho thấy, trong số các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính năm 2011 sau kiểm toán, CTCP Phát triển nhà Thủ Đức (TDH) là doanh nghiệp có số liệu trên báo cáo tài chính sau kiểm toán điều chỉnh lớn nhất từ lỗ chuyển thành lãi, trước kiểm toán LNST của TDH là lỗ 8,31 tỷ đồng sau khi kiểm toán lãi 30,99 tỷ đồng chênh lệch 39,30 tỷ đồng tương ứng 472,8% và TDH đã gửi công văn đến HOSE về việc giải trình chênh lệch số liệu BCTC năm 2011 Nguyên nhân chủ yếu của chênh lệch số liệu trên là do doanh nghiệp chưa tuân thủ theo các quy định về lập báo cáo tài chính hợp nhất Theo quy định tại chuẩn mực kế toán

số 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và các khoản đầu tư vào công ty con” Khi hợp nhất báo cáo tài chính, báo cáo tài chính của công ty mẹ và các công ty con sẽ được hợp nhất theo từng khoản mục Đối với khoản lãi chưa thực hiện từ các giao dịch nội bộ nằm trong giá trị còn lại của tài sản như Hàng tồn kho, TSCĐ, lợi nhuận phải được loại trừ hoàn toàn Tuy nhiên, khi lập báo cáo tài chính hợp nhất, TDH đã không điều chỉnh và điều chỉnh không đúng khi loại trừ lợi nhuận sau thuế hợp nhất của các giao dịch nội bộ giữa công ty mẹ và các công ty con

Đối với CTCP Nhiệt điện Bà Rịa (BTP), báo cáo trước kiểm toán của BTP đã khiến không ít nhà đầu tư nản khi doanh nghiệp này báo lỗ khủng -176,67 tỷ đồng nhưng sau khi kiểm toán cho thấy công ty lãi 62,71 tỷ đồng chênh lệch 239,37 tỷ đồng tương ứng 135,49% Giải trình của BTP về việc đổi đen thay trắng sau kiểm toán, công ty cho biết,

do giá điện năm 2011 là giá tạm tính theo giá năm 2010 Sau khi giá điện được duyệt đã điều chỉnh doanh thu theo quyết toán giá điện mới tạo ra sự chênh lệch số liệu

Tình trạng này cũng xảy ra tương tự đối với các công ty như CTCP Gạch men Chang Yih (CYC) trước kiểm toán 0,49 tỷ đồng con số sau kiểm toán 1,27 tỷ đồng, CTCP Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Dầu khí PVC (PTL), CTCP Ninh vân Bay (VNH)….cũng có sự tăng lợi nhuận sau kiểm toán

Ngoài ra, trong mùa kiểm toán 2011 tình trạng các công ty sụt giảm lợi nhuận sau kiểm toán cũng xảy ra rất nhiều từ lãi chuyển thành lỗ, lãi nhiều chuyển thành lãi ít như CTCP Xi măng Hà Tiên 1 (HT1) trước kiểm toán lợi nhuận công ty là 0 đồng nhưng sau kiểm toán lỗ -8,94 tỷ đồng tương ứng 100% là do cách áp dụng phương pháp xử lý chênh lệch tỷ giá khác nhau giữa công ty niêm yết và công ty kiểm toán, CTCP Kỹ Nghệ Đô

Ngày đăng: 31/05/2017, 20:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm