1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Chan doan va dieu tri amyloidosis nguyen phat

10 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 242,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẩn đoán và điều trị bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát qua hai ca lâm sàng tại BV CR. Bệnh thoái biến dạng bột là một bệnh hiếm, tiên lượng tùy thuộc vào thời gian mắc bệnh và mức độ lan tỏa của chất dạng bột ở các cơ quan. Kiến thức về bệnh là cần thiết để cảnh giác và phát hiện sớm trước khi tổn thương các cơ quan nội tạng không thể hồi phục

Trang 1

BỆNH THOÁI BIẾN DẠNG BỘT NGUYÊN PHÁT:

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

Trần Thị Bích Hương*, Trịnh Toàn Thắng**

TÓM TẮT

Qua hai truờng hợp bệnh với đặc trưng lưỡi to tác giả trình bày và bàn luận về chẩn đoán và điều trị bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát Trường hợp 1, với nhiễm chất dạng bột tại lưỡi, tổn thương thần kinh ngoại biên và tăng tương bào trong tủy <30%, trong khi không có tổn thương xương, thận, tim Trường hợp thứ 2, tổn thương chất dạng bột lan tỏa, không chỉ thâm nhiễm chất dạng bột tại lưỡi mà còn tổn thương tại tim, màng phổi, thận, mô dưới da đầu chi, ngực, và thần kinh thực vật với hạ huyết áp tư thế

SUMMARY

PRIMARY AMYLOIDOSIS: DIAGNOSIS AND TREATMENT

Tran Thi Bich Huong, Trinh Toan Thang * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 7 - No 2 - 2003: 91- 100

Through two cases of primary amyloidosis with the pathognomonic symptom of macroglossia, the diagnosis and treatment of primary amyloidosis were reviewed and discussed The first one presented with lesions of the tongue, peripheral neuropathy and the bone marrow aspiration revealed <30% plasmocyte with neither bone destruction nor heart, kidney injury The second case showed diffuse infiltration of amyloid, not only caused the macroglossia but also led to the injury of the heart, pleura, kidneys, subcutaneous tissues, and the autonomic nervous system with postural hypotension

* Bộ Môn Nội, Trường Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

** Khoa Huyết Học, Bệnh viện Chợ Rẫy

Bệnh thoái biến dạng bột không phải là tên của

một bệnh, mà là một thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm

bệnh có đặc tính chung là có sự lắng đọng bệnh lý các

protein sợi không hòa tan, tại vùng ngoại bào của

nhiều mô và nhiều cơ quan trọng trong cơ thể(5,9)

Năm 1842, Rokitansky mô tả có những chất dạng

mỡ (lardaceous) lắng đọng tại các phủ tạng của những

bệnh nhân ( bn) bị lao và sốt rét Mười sáu năm sau,

Virchow nhận thấy chất lắng đọng trên thật ra không

phải mỡ mà ăn màu iod như cellulose và ông cho rằng

nó có nguồn gốc từ cellulose và gọi tên “chất dạng

bột” (amyloid) Năm 1859, Friendreich và Kekule

nhận thấy “chất dạng bột” này không hề có các đặc

tính sinh hóa của tinh bột hoặc cellulose, mà chính là

những chất dạng albumine (albumoid), song

họ cho rằng không nên thay đổi tên nên thuật ngữ

“amyloid” vẫn được sử dụng đến nay(12) Đến năm

1928, Dirvy và Florkin dùng phẩm đỏ Congo (Congo red) và thấy chất dạng bột bắt màu đỏ dưới kính hiển

vi quang học, và dưới ánh sáng phân cực của kính hiển

vi sẽ cho màu xanh táo (apple green) Chất dạng bột luôn lắng đọng tại vùng ngoại bào và khá đồng nhất, nên dễ lầm với chất hyaline lắng đọng tại mô Do vậy, tiêu chuẩn quan trọng để nhận diện và xác định chẩn đoán chất dạng bột là nhuộm màu đỏ Congo Dưới kính hiển vi điện tử, Cohen và Calkins quan sát thấy chất dạng bột có cấu trúc sợi(6,12,18) Đây là những sợi fibrils không phân nhánh, có chiều dài vô định và chiều dày khoảng 7,5-10 nm và có vỏ bao Các sợi fibril này không hoà tan và đề kháng với mọi chất tiêu protein(12) Chính sự tích tụ của sợi fibril

91

Trang 2

chất dạng bột tại các cơ quan và gây rối loạn chức

năng các cơ quan Dưới tác dụng của phẩm nhuộm đỏ

Congo và dưới kính hiển vi điện tử, mọi loại chất dạng

bột đều giống như nhau, sự khác nhau giữa các loại

bệnh thoái biến dạng bột là do thành phần protein tiền

chất(12,18) Do vậy tên gọi của bệnh thoái biến dạng bột

được đặt dựa vào thành phần protein tiền chất cấu trúc

nên sợi chất dạng bột Đây là những protein vẫn có

trong cơ thể song gia tăng bất thường trong bệnh thoái

biến dạng bột do quá trình bệnh lý như:

- Tăng sản xuất các protein như: Bệnh thoái biến

dạng bột nguyên phát (AL- Amyloidosis) tăng sản xuất

phần thuộc phần domain biến đổi của chuỗi nhẹ

Immunoglobuline (chuỗi nhẹ có 2 domains: domain

biến đổi (variable portion) và domain cố định (constant

portion) Còn bệnh thoái biến dạng bột thứ phát (AA

amyloidosis) (trong viêm đa khớp dạng thấp, lao,

phong ) thì tăng sản xuất protein A (protein không

phải immunoglobuline)

- Giảm khả năng lọc sạch (như giảm lọc qua

màng lọc thận nhân tạo 2 microglobuline trên bn

chạy thận nhân tạo định kỳ)

- Do đột biến di truyền tạo ra dạng đột biến của

protein transthyretin (prealbumine) trong bệnh thoái

biến dạng bột có tính gia đình (familial amyloidosis)

Ngoài thành phần protein, cấu trúc của sợi fibril

trong chất dạng bột còn có những thành phần khác

giống nhau ở mọi loại bệnh bột(18)

- Thành phần Glycoaminoglycan: tác dụng ổn

định vỏ bao của sợi fibril chất dạng bột

- Thành phần chất dạng bột P trong huyết tương

(Serum Amyloid P: SAP): là một lectin bình thường

vẫn có trong huyết tương, giúp tạo nên vỏ bao của

sợi chất dạng bột, bảo vệ sợi này đề kháng với mọi

chất phá hủy protein Iod 123 có gắn SAP được dùng

để đánh giá mức độ lan rộng của tổn thương trong

bệnh bột(10) Cả Technetium 99m cũng được nghiên

cứu để giảm chi phí(9)

- Một số apolipoprotein E và J tham gia trong việc

thành lập sợi fibril của chất dạng bột

Năm 1998, trong cuộc họp thống nhất thuật ngữ và phân loại của Hội Đồng Danh Pháp Quốc Tế về bệnh thoái biến dạng bột, bệnh này được gọi tên và phân loại dựa vào thành phần protein tiền chất của chất dạng bột (Bảng 1)

Bảng 1: Thành phần protein trong phân loại (5)

Protein Protein tiền chất Toàn thể (S) Lâm sàng amyloid hoặc khu trú (L) bệnh bột

AL Chuỗi nhẹ S,L Nguyên phát, Immunoglobuline kèm u tủy

AH Chuỗi nặng S,L Nguyên phát, Immunoglobuline kèm u tủy

A 2M 2 microglobuline S Thận nhân

tạo ATTR Transthyretin S Có tính gia

đình, bệnh thoái biến dạng bột ở người già

A Tiền chất của A L Bệnh

Tuy nhiên, trên lâm sàng, có thể đơn giản phân bệnh thoái biến dạng bột thành 3 nhóm chính: bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát (AL amyloidosis)„,

AA amyloidosis còn gọi là bệnh thoái biến dạng bột thứ phát, và ATTR amyloidosis, còn gọi là bệnh thoái biến dạng bột có tính gia đình

Bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát (AL amyloidosis) là một bệnh lý rối loạn (dyscrasia) dòng tương bào gây lắng đọng chất dạng bột có protein tiền chất là chuỗi nhẹ Ig tại các mô Trong thời gian từ năm 1995-2002, chúng tôi gặp hai trường hợp được chẩn đoán là bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát Xin được trình bày sau đây để cùng trao đổi và bàn luận

Trường hợp 1

Bn Nguyễn T.B.T., nữ, 40 tuổi, giáo viên, nhập viện ngày 13/1/1995 (SNV 4280/95) vì lưỡi to gây nuốt khó Bệnh khởi phát 8 tháng với tê các ngón tay 1, 2, 3 cả 2 bàn tay, và 4 tháng sau bn thấy giọng nói thay đổi dần, nói càng khó, nuốt khó, lúc đầu là thức ăn đặc sau đó là thức ăn lỏng, lưỡi ngày càng cứng và to Bn đã được điều trị tại khoa Nội thần kinh, Khoa

92

Trang 3

Tai Mũi Họng và Răng Hàm Mặt nhưng không giảm

Bn được chuyển tới Trung Tâm Ung Bướu để loại trừ

bệnh ác tính Kết quả sinh thiết: viêm gai lưỡi Bn

không được điều trị đặc hiệu, tình trạng lưỡi ngày càng

to, không khép miệng được kèm nói khó, nuốt khó

khiến bn nhập bệnh viện Chợ Rẫy Tiền căn cá nhân

và gia đình khỏe mạnh, bn không viêm khớp, lao,

phong

Khám

Mạch 100l/ph, HA: 100/50 mmHg, da niêm hồng,

kết mạc mắt không vàng Lưỡi to,chiếm gần hết xoang

miệng, lưỡi nhiễm cứng, có nhiều nốt sần nổi trong

toàn bộ lưỡi, hai hàm răng không cắn sát lại được

Hạch ngoại biên không to Tê và đau ở các ngón 1,2,3

cả hai bàn tay Các cơ quan khác không phát hiện bất

thường

Cận lâm sàng

Bạch cầu: 10.2000/mm3, bạch cầu trung tính: 73%,

limphô bào 26%, Hct 34%, Hb 12,3g/L,

Hồng cầu 3,9 triệu/mm3, Tiểu cầu: 435.000/mm3,

VS: 42mm giờ 1/ 55mm giờ 2

Phết máu ngoại biên: Hồng cầu nhược sắc nhẹ,

không thấy hồng cầu xếp thành chuỗi hạt tiền

(rouleaux)

Đạm máu: 6,4g/L (Albumine 56%, Globuline 1:

3%, 2: 15%, : 10%, : 16%)

Điện di miễn dịch: trong giới hạn bình thường,

không có M protein (hai lần)

Phân tích nước tiểu: Đạm: vết, đường (-), bạch cầu

10-12/QT 40, Hồng cầu: 5-10/QT 40, tế bào bì nhiều,

sạn hạt urate (+++) Cấy nước tiểu: E coli >100.000

khúm/ml Đạm niệu 24giờ: âm tính

Siêu âm lưỡi: lưỡi to, cấu trúc dày do thâm nhập

mô mỡ và đối xứng 2 bên, không kèm theo hạch vùng

và không có khối u, theo dõi bệnh bột, phân biệt với K

lưỡi, limphôm

Echo bụng: gan, mật, tụy, thận bình thường

ECG: bình thường với nhịp xoang 80l/ph, trục

trung gian, không dấu dày nhĩ, thất

X quang tim phổi: bình thường

X quang xương sọ và xương chậu: không có tổn

thương xương

Tủy đồ: Tăng sinh dòng tương bào, với plasmocyte

28%, dòng bạch cầu hạt bình thường, dòng bạch cầu nhân tăng nhẹ, dòng hồng cầu nhân ít hơn bình thường

Sinh thiết lưỡi: Lớp hạ niêm và quanh mạch máu

có lắng đọng nhiều chất dạng bột (amyloid), bắt phẩm nhuộm đỏ Congo

Chẩn đoán

Bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát với tổn thương tại lưỡi, thần kinh ngoại biên

Diễn tiến và điều trị

Ngoài kháng sinh điều trị nhiễm trùng tiểu (amoxycycline), bn được điều trị Colchicine 1,5mg/ ngày kéo dài liên tục Tình trạng cứng lưỡi có cải thiện

ít Một tháng sau, bn được kiểm tra lại tủy đồ cho thấy dòng tương bào tăng sinh chiếm 38% tế bào tủy, các dòng tế bào khác bình thường Với kiểm tra chức năng gan, thận bình thường, bn được dùng Melphalan 10mg/ngày, Prednisone tấn công 60mg/ngày trong 10 ngày, sau đó, giảm 30 mg/ ngày x 7 ngày và giảm dần đến hết Đến ngày thứ 20 của hoá trị liệu, bạch cầu giảm còn 1300/mm3, bn được ngưng Melphalan và Prednisone, chuyển sang duy trì bằng colchicine phối hợp thêm với alpha-tocopherol và leukomax Tình trạng bạch cầu cải thiện sau 20 ngày, tỷ lệ tương bào trong tủy còn 22% Bn được xuất viện vẫn duy trì colchicine và alpha-tocopherol Một tuần sau, bn nhập viện lại trong tình trạng suy kiệt nặng, khó nuốt, viêm phổi và tử vong sau đó 1 tuần (ngày 15/7/1995)

Tổng thời gian bệnh là 15 tháng Thời gian chúng

tôi theo dõi và điều trị là 7 tháng

TRƯỜNG HỢP 2

Bn Huỳnh T L., nữ, 58 tuổi, nội trợ, nhập viện ngày 13/09/2002 (SNV: 50334/02) với lý do phù và xuất huyết dưới da Bệnh 1,5 năm với xuất huyết ở da vùng ngực, tay và dưới hàm, kèm khó nói, khó nuốt,

Trang 4

lưỡi to dần Bn được điều trị tại nhiều chuyên khoa

Răng Hàm Mặt, Tai Mũi Họng, Huyết học, Ung bướu

với chẩn đoán là ban xuất huyết người già và viêm

lưỡi (qua sinh thiết lưỡi) Khoảng 6 tháng trước nhập

viện, xuất hiện phù 2 chân sau lan toàn thân kèm khó

thở khi nằm đầu thấp Bn được theo dõi lymphoma và

nhập viện Chợ Rẫy Không ghi nhận tiền căn tiểu

đường, bệnh mạch vành, bệnh thận, phong, lao, hoặc

viêm khớp

Khám

Bn tỉnh tiếp xúc tốt, giọng nói nhỏ, phù mềm,

trắng, toàn thân, khó thở phải nằm đầu cao khoảng

30oC Mạch 80l/ph, HA 110/70mmHg (nằm), 90/60

mmHg (ngồi), T: 37oC, Nhịp thở: 22 l/ph, Nước tiểu

24giờ: 1500ml Da có chấm xuất huyết ở mi mắt 2

bên, quanh hốc mắt 2 bên, vùng trước cổ và ngực

Lưỡi to chiếm gần hết khoang miệng, với nhiều vùng

nhiễm cứng toàn bộ lưỡi, sờ không đau, không loét

(Hình 1)

Hình 1: Lưỡi to và thâm nhiễm ( bn H.T.L, 58 tuổi)

Amiđan không to, sàn miệng sạch, không loét

Vùng dưới hàm thâm nhiễm đều 2 bên, từng mảng giới

hạn không rõ Hạch ngoại biên không sờ thấy Tĩnh

mạch cổ nổi ở tư thế 45o Quanh núm vúù phải có vùng

nhiễm cứng thâm nhiễm, kích thước khoảng 3x5cm,

núm vú lồi nhẹ, không chảy dịch Mỏm tim liên sườn 5

ngoài đường trung đòn 1cm, âm thổi tâm thu 3/6 mở

mỏm Hội chứng ba giảm nửa dưới phổi phải Bụng

mềm, không điểm đau, gan 2cm dưới bờ sườn phải,

mềm, phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương

tính Lách không to Mười đầu ngón tay có những nốt thâm nhiễm nhỏ có đường kính khoảng 2x2mm, không đau (Hình 2)

Cận lâm sàng

Hồng cầu: 4,7x 1012/L, Hb 15,7g/L, Hct 46,6%, MCV 98,9Fl, MCH: 33,3pg, MCHC: 337g/L Bạch cầu: 6100 x 109L/L, bạch cầu trung tính: 68%, Limphô bào 26%, Monocyte 5%, Tiểu cầu 159x109 L/L Tuỷ đồ: giàu tế bào, dòng hồng cầu nhân, bạch cầu hạt, tiểu cầu bình thường VS 3mm (giờ 1)/ 8mm (giờ 2) BUN: 10mg%, Creatinine huyết tương 0,6mg%, TQ: 19,2 giây =39,6%, TCK: 30,8 giây, Tiểu cầu: 208.000/mm3, co cục máu hoàn toàn Đạm máu: 5,5g% (Albumine 58,9%, Globuline 1: 5,3%, 2 14,7%, : 8,65, : 12,5%)

Hình 2: Thâm nhiễm ở đầu ngón tay

Điện di miễn dịch huyết tương: Ig A: 60mg% (BT:

40 - 350mg%), IgG: 275mg% (BT: 565 - 1765mg%), IgM 45mg% (BT: 50-300mg%)

Lipid toàn phần: 755mg%, các thành phần lipid trong giới hạn bình thường b Troponine I: 0,5mg/ml, CK-MB: 15U/L, CPK: 158U/L

Ion đồ máu: Na 122 mEq/L, K: 3 mEq/L, Ca: 4,4 mEq/L, Chlor: 80 mEq/L

Ion đồ niệu: Na: 17 mEq/L, K: 53 mEq/L, Ca: 10,5 mEq/L, Chlor: 58 mEq/L AST: 64U/L, ALT: 22 U/L, Bilirubine TP: 1,3 mg%, TT: 0,6mg%, GT: 0,7mg%,

94

Trang 5

Phosphatase alkalin: 536U/L, GGT: 72U/L LDH:

811 U/L

Phân tích nước tiểu: Đạm 150mg%, Đường (-),

Hồng cầu (-), Bạch cầu (-) Cặn Addis: Hồng cầu:

110/phút, Bạch cầu 55/phút Đạm niệu 24giờ:

1,79g/24giờ Điện di đạm niệu: Albumine 36,4%,

Globuline 1: 1,1%, 2: 6,9%, : 9,2, : 46,4%

Creatinine niệu: 0,37g/24giờ (V=1300ml) Clearance

creatinine 24giờ = 37 ml/ph/1,73 m2 da Anti DNA (-),

T3, FT4,TSH bình thường

Siêu âm vùng cổ: tuyến giáp bình thường, không

hạch cổ, vùng dưới cằm có 1 vùng echo dày

d=34-36mm, chưa rõ bản chất

X quang phổi: Bóng tim to, chủ yếu thất trái, tràn

dịch màng phổi phải đến nửa phổi

X quang xương sọ và xương chậu: không có hủy

xương

ECG: Địện thế thấp ở các chuyển đạo ngoại biêu,

R cắt cụt từ V1-V6 Theo dõi nhồi máu cơ tim trước

rộng (Men tim tương ứng trong 2 ngày liên tiếp không

thay đổi lâm sàng không đau ngực)

Echo tim: Dày thất trái đồng tâm mức độ nặng,

vách liên thất/tâm trương: 18mm, vách liên thất/ tâm

thu: 20mm, EF: 29%, nhĩ trái dãn, hở van hai lá 1,5/4,

tăng áp động mạch phổi: 48mmHg, tràn dịch màng

ngoài tim rất ít

Echo Doppler: Rối loạn chức năng tâm trương thất

trái độ III (kiểu đổ đầy hạn chế)

Dịch màng phổi: đỏ, nhiều hồng cầu và bạch cầu,

neutrophils 80%, lymphocyte 12%, tế bào thoái hoá

8%, pH 8, albumine 1070mg%, LDH 763u/L, Glucose

90mg%, Rivalta (+) Glycemie 110mg%

Sinh thiết lưỡi: mô lưỡi với tổn thương thoái hóa bột lớp hạ niêm và cơ, nhuộm đỏ Congo dương tính Kết luận: bệnh thoái biến dạng bột lưỡi (Hình 3)

Chẩn đoán

Bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát với tổn thương đa cơ quan (tim, thận, màng phổi, thần kinh thực vật, tuyến nước bọt dưới hàm, mô ngoại biên (đầu ngón tay, vú)

Diễn tiến và điều trị

Với tình trạng bn suy tim nặng (NYHA 3), sau khi tích cực điều chỉnh rối loạn nước điện giải, bn được điều trị bằng captopril 12,5mg/ngày, hypothiazide 12,5mg bid và Kaleorid (theo ion đồ) Khi có kết quả xác định bệnh thoái biến dạng bột trên sinh thiết, ổn định tình trạng huyết động học và suy tim, bn được hoá trị liệu với đơn hoá trị Melphalan liều thấp 4mg/ngày, không dùng steroid Bệnh ổn trong tuần đầu tiên, song

bn khó thở nặng cuối tuần thứ 2, tràn dịch màng phổi không đáp ứng với chọc tháo dịch màng phổi (2 lần

700 và 800ml cách 2 ngày) Tình trạng suy tim diễn tiến nặng, bn trụy mạch và tử vong ngày 26/10/2002

Tổng thời gian bệnh là 20 tháng, thời gian chúng

tôi theo dõi là 45 ngày

BÀN LUẬN

Lưỡi to, nhiễm cứng là triệu chứng nổi bật của cả

2 bn và cũng là triệu chứng điển hình của bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát Lưỡi to (macroglossia) được định nghĩa khi lưỡi ở tư thế nghỉ xuất hiện cao hơn cung răng hoặc có thể đụng vòm khẩu cái cứng(15) Thuật ngữ này chỉ dùng trong những trường hợp lưỡi to mãn tính và không đau Cần phân biệt lưỡi to thật sự với bất thường xương hàm dưới làm cho lưỡi to giả (pseudomacroglossia)(15) Ở trẻ em, lưỡi to gặp trong suy giáp, u mạch bạch huyết

Hình 3: Vùng hạ niêm tẩm nhuận chất amyloid bắt

95

Trang 6

(lymphangioma) Coøn ôû ngöôøi lôùn, löôõi to coù theơ do

nang giaùp thieôt, nang dáng bì, u sôïi thaăn kinh löôõi,

sarcom cô vađn, carcinom teâ baøo gai (15,17) Trong 30

naím (1971-2001), Van der Waal ghi nhaôn coù 11 ca löôõi

to do beônh boôt, trong ñoù coù 9 nöõ, tái khoa Phaêu thuaôt

Haøm Maịt ‟ Mieông / Beônh hóc Mieông vaø Da Lieêu moôt

beônh vieôn tái Amsterdam Taât cạ ñeău laø beônh thoaùi

bieân dáng boôt nguyeđn phaùt(22) Do vaôy, löôõi to laø trieôu

chöùng ñaịc tröng cụa beônh thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn

phaùt, khaùc vôùi beônh thoaùi bieân dáng boôt thöù phaùt,

thöôøng chụ yeâu toơn thöông noôi táng nhö thaôn, tim, gan,

vaø hieâm gaịp toơn thöông löôõi Caùc tröôøng hôïp beônh

thoaùi bieân dáng boôt coù löôõi to, tuoơi trung bình laø 68, trẹ

nhaât laø 50 tuoơi Trong khi tuoơi trung bình tái trung tađm

nghieđn cöùu veă beônh thoaùi bieân dáng boôt tái Mayo

Clinic laø 62 tuoơi, chư coù 1% nhoû hôn 40 tuoơi Nam hôi

öu theâ hôn nöõ (60-65%)(7) Hai bn cụa chuùng tođi trẹ

tuoơi hôn (40 tuoơi vaø 58 tuoơi) vaø ñeău laø nöõ

Veă dòch teê hóc, theo Falk, khoù xaùc ñònh chính xaùc

soâ bn bò beônh thoaùi bieân dáng boôt do beônh thöôøng chaơn

ñoaùn laăm hoaịc khođng ñöôïc nghó ñeân Taăn xuaât môùi

maĩc cụa beônh thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn phaùt tái Myõ

khoạng 5,1-12,8 ngöôøi/ 1trieôu dađn/ naím, hoaịc khoạng

1275 - 3200 ca môùi moêi naím vaø taăn xuaât naøy khođng

ñoơi trong 40 naím qua(5,7) Song vì beônh coù thôøi gian

soâng soùt ngaĩn (<3 naím), neđn taăn xuaât maĩc toaøn boô cụa

beônh thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn phaùt tái Myõ coøn

khoạng 10.000 ca(5) Trong ñoù, 85% laø do beônh thoaùi

bieân dáng boôt nguyeđn phaùt Neâu so saùnh vôùi caùc beônh

huyeât hóc khaùc, thì taăn xuaât môùi maĩc cụa beônh thoaùi

bieân dáng boôt baỉng vôùi beônh Hodgkin, beônh bách caău

maõn doøng hát vôùi nhieêm saĩc theơ Philadelphia döông

tính, song chư baỉng 1/5 ña u tụy(6)

Do beônh thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn phaùt gađy

thađm nhieêm lan toûa haău heât taât cạ caùc cô quan ngoái

tröø naõo, neđn trieôu chöùng lađm saøng raât phong phuù Qua

toơng keât veă lađm saøng vaø caôn lađm saøng cụa 474 bn beônh

thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn phaùt, Kyle nhaôn thaây löôõi

to gaịp trong 9% caùc tröôøng hôïp, ban xuaât huyeât gaịp

trong 15%, meôt moûi (62%), sút cađn (52%), phuø, dò

cạm, ñau (5%), ngaât hoaịc choùng maịt Tređn

lađm saøng coù theơ gaịp hoôi chöùng thaôn hö (37%), suy tim sung huyeât (23%), há huyeât aùp tö theẩ (16%) vaø beônh thaăn kinh ngoái bieđn (20%), gan to (25%)(18)

Toơn thöông thaôn laø toơn thöông thöôøng gaịp nhaât, chieâm 65% beônh thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn phaùt, vôùi tieơu ñám (60% caùc tröôøng hôïp coù ñám nieôu

<1g/24giôø), hoôi chöùng thaôn hö vaø taíng azote maùu trong giai ñoán cuoâi Bieơu hieôn thaôn do beônh thoaùi bieân dáng boôt khođng khaùc caùc beônh caău thaôn khaùc, ngoái tröø caịn laĩng nöôùc tieơu sách, hieâm khi coù tieơu maùu, vaø khođng keøm cao huyeât aùp ngay cạ khi suy thaôn naịng Khi coù toơn thöông thaôn, khoạng 2/3 beônh thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn phaùt coù chuoêi nhé Ig trong nöôùc tieơu vaø 2/3 tröôøng hôïp coù chuoêi nhé trong huyeât töông(7) Tieđn löôïng beônh tuøy thuoôc vaøo creatinine huyeât thanh (HT) hôn vaøo löôïng ñám trong 24giôø: neâu creatinine HT

<1,3mg% thì thôøi gian soâng trung bình seõ laø 25,6 thaùng, nhöng neâu creatinine HT taíng thì thôøi gian soâng trung bình chư coøn 14,9 thaùng(7) Thôøi gian trung bình töø khi bò hoôi chöùng thaôn hö ñeân luùc suy thaôn giai ñoán cuoâi laø 14 thaùng, vaø thôøi gian soâng trung bình sau lóc maùu ngoaøi thaôn laø 8 thaùng

Toơn thöông tim ñöôïc xeâp thöù 2, ngay sau toơn thöông thaôn, gaịp trong 48% beônh thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn phaùt, vôùi suy tim sung huyeât, roâi loán nhòp tim, côn ñau thaĩt ngöïc, hoaịc ñoôt töû(6) Caăn nghi ngôø toơn thöông tim do beônh thoaùi bieân dáng boôt khi ECG coù ñieôn theâ thaâp hoaịc coù daâu hieôu giạ nhoăi maùu cô tim tređn bn suy tim maø tređn sieđu ađm tim phaùt hieôn thaây daøy

2 thaât, daøy vaùch lieđn thaât vaø daõn 2 nhó, vaø ñođi khi daøy van gađy hôû van tim(5) Theo Olney, daâu hieôu thaât traùi daøy tređn sieđu ađm phoâi hôïp vôùi ñieôn theâ thaâp tređn ECG (khođng keøm traøn dòch maøng ngoaøi tim) hieâm gaịp trong caùc beônh tim mách khaùc ngoái tröø beônh boôt(16) Tieđn löôïng soâng soùt cụa bn beônh thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn phaùt tuøy thuoôc bn coù keøm suy tim khođng: neâu coù suy tim thì thôøi gian soâng trung bình chư coøn 5-6 thaùng(4,11) Trong soâ 140 bn beônh thoaùi bieân dáng boôt nguyeđn phaùt coù toơn thöông tim, Dubrey ghi nhaôn coù 3

bn (2,1%) suy tim naịng (NYHA IV) hoăi phúc tređn lađm saøng sau nhieău ñôït hoaù trò vôùi

96

Trang 7

Melphalan(4) và sống kéo dài trên 2 năm Qua đó, tác

giả cho rằng các bn tử vong do sống không đủ lâu để

nhận được đủ liều hoá trị (với thời gian trung bình của

hóa trị là 1 năm)

Tổn thương thần kinh do bệnh thoái biến dạng bột

nguyên phát biểu hiện bằng hội chứng ống cổ tay,

bệnh thần kinh ngoại biên, dị cảm, rối loạn thần kinh

thực vật biểu hiện bằng hạ huyết áp tư thế, ngất, tiêu

chảy(6) Tổn thương phổi do bệnh thoái biến dạng bột

nguyên phát hiếm gặp, biểu hiện bằng khối u phổi do

chất dạng bột, chất dạng bột khu trú vùng khí-phế

quản, tổn thương mô kẽ lan tỏa do chất dạng bột Trên

bn suy tim, cần nghĩ đến tổn thương màng phổi do

bệnh thoái biến dạng bột khi tràn dịch màng phổi

không tương xứng với mức độ suy tim và dịch tái lập

nhanh sau chọc hút(6) Tổn thương gan thường gặp,

song ít biểu hiện trên lâm sàng Đặc trưng là gan chắc,

không đau và tăng phosphatase alkalin mà không kèm

tăng men transaminase Một khi vàng da xảy ra thì

tiên lượng xấu Mô mềm khi bị tổn thương dễ gây bầm

máu với đặc trưng là bầm máu quanh hốc mắt (racoon

eyes) (10-20%), bầm máu dễ xảy ra sau dụi mắt, ho,

rặn mạnh Hiếm khi chảy máu do rối loạn đông máu

Vùng dưới hàm có thể bị sưng to do thâm nhiễm chất

dạng bột vào tuyến nước bọt và hạch dưới hàm

(10-15%) và thường đi kèm lưỡi to Hiếm hơn là chất dạng

bột sẽ thâm nhiễm vùng da và dưới da ở các chi(6)

Bn thứ hai của chúng tôi có khá đầy đủ các triệu

chứng lúc nhập viện, chứng tỏ tổn thương dạng bột lan

rộng không chỉ gây lưỡi to, mà còn thâm nhiễm vùng

mô dưới da ở đầu chi, ở thành ngực, tuyến nước bọt

Xuất huyết chủ yếu ở vùng mô mềm, quanh hốc mắt,

da ngực, vai mà không kèm rối loạn đông máu Bn còn

có tổn thương tim với dày vách liên thất >15mm, suy

tim nặng (NYHA 3, EF 29%), tổn thương màng phổi,

thận, thần kinh thực vật với hạ huyết áp tư thế Còn bn

thứ 1, thì ngoài tổn thương lưỡi, còn có tổn thương thần

kinh ngoại biên và đặc biệt tại tủy xương có tỷ lệ

tương bào <30% Tuy tỷ lệ tương bào cao, song bn lại

không có tổn thương hủy xương, không gãy xương

bệnh lý, không bệnh thận

do lắng đọng trụ protein của đa u tủy Theo Gertz và

CS(6), thì nếu bn có tỷ lệ tương bào trong tủy xương

<30% và không có triệu chứng của đa u tủy thì vẫn gọi là bệnh bột Chỉ những bn có tỷ lệ tương bào >30%, và biểu hiện lâm sàng chủ yếu là tổn thương nội tạng do bệnh bột, mới đuợc gọi là bệnh thoái biến dạng bột kèm u tủy (amyloidosis associated myeloma) Bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát có kèm u tủy có tiên lượng xấu hơn bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát đơn thuần

Do bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát là bệnh lý rối loạn tương bào, nên ngoài sự lắng đọng chất dạng bột tại các cơ quan, còn có sự hiện diện của chuỗi nhẹ trong máu và nước tiểu Khác với đa u tủy, chuỗi nhẹ lambda thường gặp trong bệnh thoái biến dạng bột hơn kappa Chuỗi nhẹ được xác định bằng kỹ thuật miễn dịch cố định (immunofixation technique) Trong khả năng giới hạn của phòng xét nghiệm, chúng tôi không thực hiện được kỹ thuật này, nên cả hai trường hợp chỉ được làm miễn dịch điện di đo lường và đánh giá chuỗi nặng Với kết quả bình thường, cho phép chúng tôi loại bỏ bệnh thoái biến dạng bột do chuỗi nặng Song vì phối hợp với bệnh cảnh lâm sàng với tổn thương lưỡi đặc trưng của bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát, và tổn thương nhiều cơ quan khác và sau khi loại bỏ các bệnh lý căn nguyên có thể gây bệnh thoái biến dạng bột thứ phát, chúng tôi nghĩ nhiều đến chẩn đoán bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát

Về điều trị, vì bệnh thoái biến dạng bột không có sự gia tăng tương bào cũng như chuỗi nhẹ theo thời gian như đa u tủy, nên không được xem là bệnh ác tính Bệnh tử vong nhanh do tổn thương không hồi phục của các cơ quan bị thêm nhiễm chất dạng bột Điều trị bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát bao gồm 3 nguyên tắc(20): (1) Giảm sản xuất các protein tiền chất, (2) Ức chế sự tổng hợp và lắng đọng các fibril chất dạng bột (3) Kích thích ly giải hoặc thải loại các chất dạng bột đã lắng đọng Vì bệnh thoái biến dạng bột có nguồn gốc cũng từ rối loạn dòng tương bào như đa u tủy, nên các phác đồ hoá trị liệu có hiệu quả trên đa u tủy đều được nghiên cứu trên

97

Trang 8

bn bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát Có phác đồ

tỏ ra có kết quả khả quan(6,14,21), song một số khác

không có hiệu quả(8)

Phác đồ được chấp nhận nhiều nhất hiện nay là

Melphalan và Prednisone, có kèm hoặc không kèm

colchicine Qua 2 nghiên cứu tiền cứu, ngẫu nhiên, có

chứng của Skinner năm 1996(21) và Kyle, năm 1997(14),

cho thấy phác đồ Melphalan, Prednisone giúp cải thiện

thời gian sống lâu hơn (18 tháng) là chỉ dùng

colchicine đơn thuần (8,5 tháng) và không có sự khác

biệt giữa Melphalan, Prednisone, Colchicine (17

tháng) và Melphalan, Prednisone (18 tháng) Phác đồ

đa hóa trị như VBMCP (vincristine, cramustine

(BCNU), melphalan, cyclophosphamide, và

prednisone)(8), cũng như các thuốc Alpha-tocopherol

và alpha 2-interferon được chứng minh không hiệu quả

trên Bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát(6) Gần

đây, điều trị được xem là triệt để là ghép tủy tự thân

phối hợp với hoá trị liệu liều cao (Melphalan tiêm

mạch) cho nhiều hứa hẹn trong lui bệnh, song do độc

tính cao, trị liệu này đòi hỏi chọn lọc kỹ bệnh

nhân(1,2,3)

Trên khoảng 300 bn bệnh thoái biến dạng bột

nguyên phát, cả Kyle(14) và Skinner(21) đều nhận thấy

bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát một khi có tổn

thương tim thì tiên lượng xấu và thời gian sống chỉ còn

khoảng 5-6 tháng Thời gian này không khác biệt giữa

các phác đồ điều trị Năm 2002, nhóm nghiên cứu của

Skinner công bố kết quả thử nghiệm giai đoạn 2, dùng

đơn trị liệu Melphalan trên 30 bn Bệnh thoái biến

dạng bột nguyên phát có tổn thương tim Melphalan

được dùng với liều thấp 4mg/ngày, nhưng kéo dài để

tăng liều tích tụ(19) Prednisone không được dùng vì

làm nặng thêm suy tim Kết quả có 33% có đáp ứng

kéo dài đời sống trên 6 tháng Có 3/30 ca sống kéo dài

thêm 1 năm

Trong 2 bn của chúng tôi, trường hợp 1, do chưa có

kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị, chúng tôi đã dùng

Melphalan, Prednisone và Colchicine và

alpha-tocopherol, song bn không cải thiện Trong trường hợp

2, tuy đã có kinh nghiệm chẩn đoán, song bn lại đến

trễ với tổn thương đa cơ quan và nặng nhất là

tim Mặc dù bn được dùng phác đồ mới nhất của Skinner(21) là đơn trị liệu Melphalan, song bn đã tử vong trước khi thời gian trị liệu đủ có hiệu quả Song cần lưu ý là trên thực tế khó xác định diễn tiến bệnh thoái biến dạng bột vì hiếm khi xác định được chính xác thời điểm bệnh khởi phát(20)

Về tiên lượng, qua theo dõi 810 bn trong 21 năm nghiên cứu, Kyle và CS nhận thấy 51% bn bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát sống được 1 năm, 16% sống được 5 năm, 4,7% sống được 10 năm Trong đó, Kyle nhận thấy có 30 bn bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát sống lâu trên 10 năm và nhóm này không có những yếu tố tiên lượng nặng như: thời gian chẩn đoán và điều trị bệnh sớm trễ hơn 6 tháng khi có triệu chứng đầu tiên, suy tim xung huyết, lớn tuổi, creatinine máu >2mg%, tương bào trong tủy >20%, tiểu cầu 500x 109/L và có bệnh lý thần kinh ngoại biên(13)

KẾT LUẬN

Bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát là một bệnh hiếm, song không quá hiếm như vẫn thường nghĩ Sự hiếm gặp của bệnh chủ yếu là do bệnh không được chẩn đoán hoặc chẩn đoán lầm với những bệnh khác Tiên lượng của bệnh cũng như đáp ứng với điều trị tùy thuộc vào thời gian phát hiện bệnh, mức độ lan toả của thâm nhiễm chất dạng bột, tổn thương tim do chất dạng bột Do vậy, việc cảnh giác và tầm soát bệnh bằng cách tìm protein đơn clone và nhuộm đỏ Congo mẫu chọc hút mỡ dưới da hoặc mô thâm nhiễm chất dạng bột là cần thiết trước những trường hợp không giải thích được và nghi ngờ bệnh thoái biến dạng bột nguyên phát như hội chứng thận hư kèm hoặc không kèm suy thận, bệnh cơ tim kèm mệt mỏi và có hoặc không có suy tim, bệnh thần kinh ngoại biên, gan to

Xin chân thành cám ơn

Khoa Huyết Học, Khoa Thận, Khoa Tim mạch, Khoa Sinh hóa, Khoa Miễn Dịch, Khoa Siêu âm, Khoa Giải phẫu Bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy và Khoa Giải phẫu Bệnh - Bệnh viên Nhân Dân Gia Định đã giúp chúng tôi thực hiện chẩn đoán trên 2 bn này

BS Trần Lê Quân đã giúp chúng tôi chụp, lưu giữ hình

98

Trang 9

ảnh để thực hiện bài viết này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Comenzo R (1999) "High-dose therapy for

treatment of primary systemic amyloidosis."

Hematology: 347-357

2 Comenzo R., Gertz M (2002) "Autologous stem

cell transplantation for primary systemic

amyloidosis." Blood 99(12): 4276-4282

3 Dember LM., Sanchorawala V., Seldin DC.,

Wright DG, Lavalley M., Berk J, Falk RH,

Skinner M (2001): "Effect of dose-intensive

intravenous melphalan and autologous blood stem

cell transplantation on AL amyloidosis-associated

renal disease." Annals of Internal Medicine

134(9): 746-753

4 Dubrey S., Mendes L., Skinner M., Falk R

(1996) "Resolution of heart failure in patients

with AL-amyloidosis." Annals of Internal

Medicine 125(6): 481-484

5 Falk RH., Skinner M (2000) The systemic

amyloidoses: An overview Advances in Internal

Medicine, Mosby Inc 45: 107-137

6 Gertz MA (1999) "Amyloidosis: Recognition,

Prognosis, and conventional therapy."

Hematology: 339-347

7 Gertz MA., Lacy M, Dispensieri A (2002)

"Immunoglobuline light chain amyloidosis and

the kidney." Kidney International 61(1): 1-9

8 Gertz MA, Lacy MQ, Lust JA, Greipp PR, Witzig

TE, Kyle RA (1999) "Prospective randomized

trial of Melphalan and Prednisone versus

Vincristine, Carmustine, Melphalan,

Cyclophosphamide, and Prednisone in the

amyloidosis."Journal of Clinical Oncology 17(1):

262-267

9 Hawkins PN (1997)," Diagnosis and treatment of

amyloidosis".Annals of Rheumatology Disease 56:

631-633

10 Hawkins PN, Lavender JP, Pepys MB, (1990),

"Evaluation of systemic amyloidosis by

11 Kyle R (1995) "Amyloidosis." Circulation 91(4):

1269-1271

12 Kyle R (2001)," Amyloidosis convoluted

story".British Medical Journal 114 (3): 529-538

13 Kyle R., Gertz M., Greipp Pr., Witzig T., Lust J.A., Lacy M.Q., Therneau T.M (1999) "Long-term survival (10

Trang 10

years or more) in 30 patients with primary

amyloidosis."Blood 93(3): 1062-1066

14 Kyle R., Gertz MA., Greipp PR., Witzig TE, Lust

JA., Lacy MQ, Therneau TM (1997) "A trial of

three regimens for primary amyloidosis:

Colchicine alone, Melphalan and Prednisone, and

Melphalan, Prednisone and Colchicine." New

England Journal of Medicine 336 (17): 1202-1207

15 Murphy P, Laing MR (1994)," Macroglossia"

British Medical Journal 309: 1386-1387

16 Olney BA (1987) "Restrictive myocardial

disease." In Giuliani ER., Fuster V, Gerh BJ.,

McGoon MD., McGoon DC, Cardiology:

Fundamental and practice": 1775-1787,

Mosby.,USA

17 Renehan AG., Morton ME (1995),

"Macroglossia" British Medical Journal 310: 329

18 Ronco PM, Aucouturier P, Moulin B (2000)

“Renal amyloidosis and glomerular disease with

monoclonal immunoglobuline depostion" In

Johnson R., Feehally, J

Comprehensive clinical nephrology., Barcelona,

Berk JL, Dember LM, Finn KT, Skinner M (2002) "Low -dose continous oral Melphalan for the treatment of primary systemic (AL)

amyloidosis." British Journal of Hematology 117: 886-889

20 Sipe JD, Cohen AS (2001) "Amyloidosis" In

Braunward E., Fauci A et al Harrison's principles of Internal Medicine, Vol 2,15th ed,: 1974-1979.McGraw-Hill,New York

21 Skinner M, Anderson JJ, Simms R, Falk R, Wang,

M, Libbey CA, Jones LA, Cohen A.S (1996)

"Treatment of 100 patients with primary amyloidosis: A randomized trial of Melphalan, Prednisone and Colchicine versus Colchicine

alone." American Journal of Medicine 100(3):

290-298

22 Vander Waal R., Van de Scheur M, Hyijgens PC, Starink T, Van der Waal I., (2002), "Amyloidosis

of the tongue as a paraneoplastic marker of

plasma cell dyscrasia", Mosby Year Book Inc 94 (4): 444-447

99

Ngày đăng: 31/05/2017, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm