Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đến đời sống tinh thần trong các lễ hội ở Nam Định hiện nay .... Xuất phát từ cơ sở đã
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN HÙNG HẬU
Hà Nội, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu Thông tin, các trích dẫn và số liệu trong luận văn rõ ràng và trung thực Các kết luận trong luận văn này chưa từng được công bố trong các công trình khác
Học viên
Phạm Văn Quân
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN TRONG LỄ HỘI- MỘT VÀI VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 10
1.1.Một số khái niệm cơ bản 10
1.1.1 Phật giáo 10
1.1.2 Lễ hội 16
1.1.3 Đời sống tinh thần 22
1.2 Đời sống tinh thần trong lễ hội 25
1.2.1 Tư tưởng, tinh thần của lễ hội 25
1.2.2 Nghệ thuật trong lễ hội 26
1.2.3 Ý thức, đạo đức trong lễ hội 26
1.2.4 Tín ngưỡng của lễ hội 26
1.3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tinh thần trong lễ hội ở Việt Nam 28 1.4 Tiều kết chương 1 30
CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN TRONG CÁC LỄ HỘI Ở NAM ĐỊNH- THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 32
2.1 Vài nét về lễ hội ở Nam Định 32
Trang 42.2 Thực trạng ảnh hưởng Phật giáo đến đời sống tinh thần trong các lễ hội
ở Nam Định hiện nay 34
1.2.1 Ảnh hưởng đến tư tưởng, tinh thần của lễ hội 34
1.2.2 Ảnh hưởng đến nghệ thuật trong lễ hội 38
1.2.3 Ảnh hưởng đến ý thức, đạo đức trong lễ hội 40
1.2.4 Ảnh hưởng đến tín ngưỡng của lễ hội 47
2.3 Một số vấn đề đang đặt ra tư thực trạng ảnh hưởng Phật giáo đến đời sống tinh thần trong các lễ hội ở Nam Định hiện nay 51
2.3.1 Lễ hội ở Nam Định đang có xu hương thương mại hóa 51
2.3.2 Lễ hội ở Nam Đinh đang có xu hướng lễ hội bị lợi dụng vào hoạt động mê tín dị đoan để trục lợi 52
2.3.3 Nguyên nhân của những vấn đề đang đặt ra 56
2.4 Tiểu kết chương 2 60
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TIÊU CỰC ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG LỄ HỘI Ở NAM ĐỊNH HIỆN NAY 63
3.1 Quan điểm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế tiêu cực của Phật giáo trong lễ hội ở Nam Định hiện nay 63
3.1.1 Cần khơi dậy sức mạnh tiềm tàng tích cực của yếu tối Phật giáo trong các lễ hội ở Nam Định 63
3.1.2 Cần phải nghiên cứu, khôi phục và bảo tồn nghi lễ Phật giáo tiến bộ, phù hợp trong các lễ hội ở Nam Định 65
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đến đời sống tinh thần trong các lễ hội ở Nam Định hiện nay 68
3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về giá trị văn hoá Phật giáo trong lễ hội ở Nam Định 68
3.2.2 Nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức và quản lý lễ hội ở Nam Định 69
Trang 53.2.3 Hoàn thiện chính sách, quy chế tổ chức lễ hội của địa phương 69
2.2.4 Xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương thức tổ chức lễ hội phù hợp với nội dung của từng lễ hội và điều kiện cụ thể của địa phương 70
3.2.5 Người tham gia lễ hội nên tìm hiểu về lễ hội trước khi, trong khi và sau khi tham gia lễ hội để có thái độ, hành vi đúng đắn trong lễ hội 74
3.2.6 Người tham gia lễ hội cần phải hợp tác với chính quyền để giúp tổ chức tốt lễ hội 76
3.3 Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 85
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nam Định là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, một trong những đặc trưng làm nên truyền thống này là có nhiều lễ hội gắn với các di tích lịch sử - văn hóa và hàm chứa nhiều giá trị văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Nam Định, có 1.655 di tích lịch sử - văn hoá, hàng trăm vùng văn hoá dân gian cổ truyền, hàng trăm lễ hội truyền thống diễn ra quanh năm nhưng tập trung ở thời điểm mùa xuân và lễ hội mùa thu [37]
Quy mô và thời gian tổ chức lễ hội ở Nam Định cũng khác nhau Hầu hết các lễ hội diễn ra ngắn ngày, quy mô nhỏ trong cộng đồng làng xã, gắn với các nhân vật như thành hoàng làng, người có công khai sáng vùng đất, truyền dạy nghề Bên cạnh đó, có một số lễ hội lớn về quy mô, dài về số ngày, thu hút đông đảo nhân dân tham dự với nhiều hình thức sinh hoạt phong phú mang tính đặc trưng của Nam Định như: lễ hội Phủ Dầy ở Vụ Bản, lễ hội đền Trần, lễ hội chùa Keo Hành Thiện, lễ hội chùa Cổ Lễ, lễ hội đền Din, lễ hội làng nghề Ninh Xá Các lễ hội này có ảnh hưởng không chỉ ở phạm vi vùng và địa phương mà còn lan toả tới nhiều vùng trên cả nước
Một trong những nét độc đáo trong lễ hội ở Nam Định là sự đan xem giữa yếu tố tín ngưỡng và Phật giáo Với 818 ngôi chùa, hơn 700 tăng ni, có gần 20 vạn tín đồ cùng với lịch sử gắn bó với dân tộc, quê hương cũng như
kiên định thực hiện phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội
[11] Do đó lễ hội ở địa phương này chịu tác động rất lớn từ yếu tố Phật giáo như tư tưởng, tinh thần và linh hồn của lễ hội; nghệ thuật trong tổ chức lễ hội; đạo đức của lễ hội và đặc biệt là yếu tố tâm linh trong lễ hội
Trong lễ hội có yêu tố Phật giáo ở địa phương này, Đức Phật Thích Ca được tôn thờ một cách thành kính và thiêng liêng như các thần, vị thánh Chính điều này đã tạo ra biểu tượng văn hóa trong lễ hội Phật giáo Thông qua lễ hội, nghi lễ giá trị biểu tượng văn hóa Phật giáo được làm sáng tỏ thêm qua các nghi thức lễ, các trò chơi dân gian, các loại hình nghệ thuật Có thể
Trang 8nói rằng, lễ hội ở Nam Đinh là lễ hội tín ngưỡng và đồng thời cũng có thể gọi
là lễ hội Phật giáo Vì lễ hội ở đây là hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân nói chung và của cộng đồng Phật tử nói riêng
Từ thực tế chứng kiến các lễ hội có yếu tố Phật giáo ở Nam Định hiên nay, chúng tối thấy bên cạnh những tác động tích cực như trong lễ hội trên các mặt từ tư tưởng, đạo đức, tinh thần đến nghệ thuật, đạo đức cũng như tín ngưỡng Qua lễ hội là dịp để cá nhân Phật tử liên tục chủ động học hỏi, lĩnh hội kiến thức văn hóa, trong đó có giáo lí đạo Phật cũng như các bài học kinh nghiệm để làm giàu đời sống nội tâm, từng bước hoàn thiện nhân cách để hội nhập với xã hội, từ cá thể độc lập thành một thành viên gắn bó với cộng đồng Phật tử Mặt khác cũng có những tác động tiêu cực như có nhà tu hành cũng như một số Phật tử lợi dụng lễ hội để thực hành mê tín dị đoan, xem lễ hội là dịp để kiếm sống
Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với lối sống tính thần qua lễ hội ở Nam Định hiện nay nhằm tìm kiếm các giải pháp phù hợp để phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của Phật giáo trong quá trình xây dựng lối sống mới ở tỉnh nhà là cần thiết trong giai đoạn hiện nay Xuất
phát từ cơ sở đã nêu, chúng tôi chọn luận văn: “Ảnh hưởng Phật giáo đến
đời sống tinh thần trong các lễ hội ở Nam Định”
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Những nghiên cứu về Phật giáo: Ở Việt Nam, từ lâu trong lịch sử, việc
nghiên cứu Phật giáo và tác động của Phật giáo đối với đời sống xã hội nói chung, cũng đã được quan tâm nghiên cứu Trong những năm gần đây đã xuất hiện rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Phật giáo, về vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội nói chung, trong lối sống của người Việt Nam nói riêng
Năm 1997, Giáo sư Nguyễn Tài Thư chủ biên công trình nghiên cứu:
“Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” NXB Chính trị quốc gia Trong công trình này, các tác giả đã làm rõ
Trang 9vai trò của Phật giáo trên một số lĩnh vực như: ảnh hưởng của Phật giáo đối với hệ tư tưởng, đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay Vào năm 1999, nhà nghiên cứu Nguyễn Dăng Duy xuất bản cuốn sách:
“Phật giáo và văn hoá Việt Nam” NXB Hà Nội Trong tác phẩm này, tác giả
đã đề cập và phân tích sâu vai trò của Phật giáo trong đời sống chính trị, văn hoá, đạo đức của dân tộc Việt Nam
Nói về ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư tưởng, đạo đức, lối sống phải kể đến một loạt các công trình nghiên cứu của GS.Trần Văn Giàu như công trình: “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” NXB.Khoa học xã hội ấn hành năm 1975 Công trình với nhan đề: “Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại”, do NXB.TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 1993 Đặc biệt là công trình với nhan đề: “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám”, do NXB Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1998 Tác phẩm này gồm 3 tập Nội dung của nó đã đề cập và phân tích sâu sắc những giá trị đạo đức Phật giáo, đề cập đến những đóng góp của Phật giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
Những công trình nghiên cứu vai trò của Phật giáo và ảnh hưởng của
nó trong tín ngưỡng dân gia qua hệ thống thờ tử, hệ thống các lễ hội có các công trình tiêu biểu như: Cuốn “Có một nền đạo lý ở Việt Nam” của nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Quang, do NXB TP Hồ Chí Minh ấn hành năm
1996 Trong tác phẩm này, tác giả đã cho người đọc thấy được sự hoà nhập của đạo đức Phật giáo trong đạo lý dân gian Việt Nam Về lĩnh vực này đáng chú ý là công trình có nhan đề: “Văn hoá Phật giáo và lối sống của người Việt
ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ” của tác giả Nguyễn Thị Bảy trong, do NXB.Văn hoá thông tinấn hành năm 1997 Tác giả đã bàn về văn hoá Phật giáo từ góc độ vật chất và tinh thần, bàn đến văn hoá ứng xử Phật giáo ở châu thổ Bắc Bộ
Nghiên cứu trực tiếp những tác động của Phật giáo đến đời sống tinh thần, trong đó có lễ hội đáng chú ý là các công trình của các nhà sư như:
Trang 10Thích Phụng Sơn với công trình: “Những nét đẹp văn hoá của đạo Phật” Công trình này do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành 1995 Trong công trình này, tác giả đã phân tích những giá trị thẩm mỹ và một số biểu hiện của chúng trong sinh hoạt tôn giáo và đời sống xã hội Công trình đề cập đến tác động của Phật giáo đối với lối sống của giời trẻ thông qua những hành vi khi tham gia lễ chùa phải kể đến là công trình của nhà nghiên cứu Thích Thanh Từ với nhan đề: “Phật giáo với dân tộc” Công trình này do Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh ấn hành 1995 Trong công trình này, tác giả đã phan tích những tác động của Phật giáo trên các phương diện chính trị, tư tưởng, văn nghệ qua các lễ hội, nghi lễ Phật giáo Đặc biêt,, tác giả đã làm rõ các giá trị đạo đức Phật giáo với tuổi trẻ Việt Nam hiện đại
Công trình hội tụ nhiều bài viết về tác động của Phật giáo trong đời sống tinh thần qua lễ hội phải kể đến là các tham luận trong Hội thảo với chủ đề: “Phật giáo nhập thế và phát triển” do Học Viện Phật giáo Việt Nam tại TP
Hồ Chí Minh chủ trì năm 2008 Kỷ yếu đã được in thành sách, do NXB Tôn giáo ấn hành cùng năm Nhiều tham luận được in trong kỷ yếu đã làm rõ vai trò của Phật giáo trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam hiện nay như: Phật giáo trong thời kỳ hội nhập và phát triển, Phật giáo với chính trị, xã hội, Phật giáo với sự phát triển bền vững của đất nước, Phật giáo với xã hội dân sự, Phật giáo với sự nghiệp độc lập, Phật giáo với các vấn nạn giao thông, Phật giáo với đời sống tâm linh, Phật giáo với việc việc xây dựng nền kinh tế nhân bản, Phật giáo với hoạt động từ thiện nhân đạo…
Ngoài ra còn có nhiều công trình trên các tạp chí khoa học chuyên ngành tôn giáo cũng đề cập đến những ảnh hưởng của Phật giáo trên các phương diện khác nhau trong văn hoá, lối sống của người Việt Nam “Vài suy nghĩ về Phật giáo dân gian Việt Nam”(Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 2/1997) của Hoàng Thị Lan; “Phật giáo và tâm hồn người Việt”(Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 6/1998) của Vũ Minh Tuyên; “Một vài đóng góp của Phật giáo đối với văn hoá Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,
Trang 11số5/2005) của Lê Đức Hạnh; “Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay”(Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 10/2007 của Lê Văn Đính; “Nhận diện để phát huy giá trị di sản văn hoá Phật giáo Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008) của Đặng Văn Bài;
“Nghiên cứu và ứng dụng các giá trị văn hoá Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008) của Nguyễn Hồng Dương; “Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với văn hoá tinh thần của người Việt Nam hiện nay”(Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008) của Ngô Thị Lan Anh; “Vai trò và vị trí của Phật giáo ở Việt Nam” (Tạp chí Triết học
số 6/2008) của Nguyễn Đức Lữ và nhiều công trình khác
Những công trình trên đã làm rõ vị trí của Phật giáo trong đời sống tinh thần của người Việt Nam được biểu hiện qua phong tục tập quán, lối sống, lễ hội, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật
Những nghiên cứu về lễ hội có yếu tố Phật giáo: Lễ hội có yêu tố Phật
giáo là đề tài đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về giá trị văn hoá truyền thống rất phong phú, đa dạng trên những phạm vi và góc độ khác nhau.Các công trình tiêu biểu như:
Năm 1992, Viện văn hóa dân gian có công trình khoa học với nhan đề: Lễ hội cổ truyền của Viện Văn hóa Dân gian, do NXB Khoa học Xã hội ấn hành Công trình này đã nghiên cứu các vấn đề lễ hội đời sống tinh thần, môi trường tự nhiên xã hội liên quan đến hình thành lễ hội, lịch sử lễ hội, cơ cấu, phân loại, các biểu hiện và giá trị của hội làng của người Việt đồng bằng Bắc Bộ
Các công trình nghiên cứu đề cập đến lễ hội ở Nam Định, các yếu tố Phật giáo trong lễ hội ở Nam Định phải kể đến như: Lễ hội và danh nhân lịch
sử Việt Nam của Hà Tiến Hùng, do NXB Văn hoá Thông tin ấn hành năm
1997 Năm 1998, nhà nghiên cứu Hồ Hoàng Hoa có công trình với nhan đề:
Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng của Hồ Hoàng Hoa, do NXB Khoa học xã hội ấn hành.Trong các lĩnh vực này, đáng chú ý là các công trình: Lễ hội cổ truyền ở Nam Định của Hồ Đức Thọ, Nxb Khoa học xã
Trang 12hội, Hà Nội 2003 Công trình đề cập đến quá trình hình thành và phát triển lễ hội ở Nam Định, nhấn mạnh nội dung của 40 hội làng điển hình trong đó có lễ hội chùa Keo và lịch lễ hội cổ truyền ở Nam Định hàng năm
Năm 2007, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Bút bảo vệ thành công đề tài cấp tỉnh: “Lễ hội và các giải pháp quản lý lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định”
Đề tài này do Sở Văn hoá thông tin tỉnh Nam Định chủ trì Đây là công trình nghiên cứu khá đồ sộ, chuyên sâu về lễ hội của tỉnh Nam Định Nhóm tác giả
đã đã nghiên cứu, khảo sát các lễ hội ở Nam Định một cách có hệ thống, chọn lọc đưa ra nhận định khách quan về các lễ hội, nghiên cứu, khảo tả chi tiết các
lễ hội điển hình, đề tài cũng đã chỉ ra những mặt tích cực và tồn tại trong tổ chức và quản lý lễ hội, từ đó khuyến nghị một số giải pháp cụ thể về tổ chức
và quản lý lễ hội ở Nam Định hiện nay
Sau khi nghiên cứu, khái quát những vấn đề lý luận mà các công trình nghiên cứu trên đã đề cập Chúng tôi nhận thấy rằng, đóng góp lớn lao của các công trình nghiên cứu trên là đã chỉ ra một số biến đổi của lễ hội và giá trị văn hoá của lễ hội Quan những công trình này chúng tôi thấy rằng: Phật giáo
và vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Các công trình nghiên cứu tiếp cận Phật giáo và vai trò của Phật giáo dưới nhiều quan điểm và góc độ khác nhau Trong một số công trình nghiên cứu, các học giả đã chú ý nghiên cứu về những giá trị của Phật giáo như giá trị đạo đức, giá trị nghệ thuật, tư tưởng, giá trị thẩm mỹ trong lễ hội truyền thống Có một số công trình nghiên cứu chuyên biệt về các phương diện khác nhau của Phật giáo, trong đó, một số công trình đã có sự phân tích sâu sắc về những ảnh hưởng của một số giá trị Phật giáo đến các phương diện khác nhau trong lối sống của người Việt Nam trong lễ hội
Như vậy, chúng tôi chưa thấy có công trình nào bàn về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần của người Việt Nam qua lễ hội một cách có
hệ thống như về phương diễn tư tưởng, tinh thần cua lễ hội, khía cạnh đạo đức
Trang 13và nghệ thuật của lễ hội, khía cạnh tín ngưỡng của lễ hội Chính vì vậy, trên
cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, luận văn tập trung vào việc hệ thống hoá những ảnh hưởng của Phật giáo đối với trong đời sống tinh trong lễ hội
Đặc biệt chúng tôi thấy rằng, việc nghiên cứu dưới góc độ Triết học về tác động của Phật giáo trong các lễ hội ở tỉnh Nam Định thì chưa được thực hiện một cách hệ thống Ngoài ra các công trình nghiên cứu quá đề cập đến những tác động mạnh của mặt trái kinh tế thị trường, của đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng, những giá trị văn hoá truyền thống trong các lễ hội nói chung và ở tỉnh Nam Định nói riêng Theo chúng tôi, cách tiếp cận như vậy là chưa toàn diện Do vậy, cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về sự biến đổi đó, thấy được những vấn đề bức thiết đang đặt ra và đề ra giải pháp phát huy tốt hơn nữa các giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng Phật giáo đến đời sống tinh thần trong các lễ hội
Lễ, thị trấn Cỗ Lễ, huyện Trực Ninh
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần trong lễ hội ở Nam Định, Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy
Trang 14những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo trong lễ hội ở Nam Đinh hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần qua lễ hội
- Làm rõ thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tinh thần trong lễ hội ở Nam định và những vấn đề đặt ra
- Đề xuất quan điểm và một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo trong lễ hội
ở Nam Định hiên nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước, đồng thời vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: lô gíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học, thống kê so sánh, thảo luận nhóm,
Để thực hiện nhiệm vụ khoa học của đề tài đặt ra, luận văn áp dụng các phương pháp chính sau đây:
Sử dụng phương pháp điền dã khảo sát thực tế các lễ hội để thu thập thông tin chính cho đề tài
Phân tích tổng hợp và hệ thống hóa các tư liệu liên quan của các tài liệu tham khảo, dùng phương pháp so sánh, đối chiếu với các tài liệu điền dã thực địa, rút ra những kết luận của đề tài
Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành như triết học, văn hoá học, văn học dân gian, văn sử địa, nghệ thuật học và nhiều phương pháp khoa học cần thiết khác phục vụ cho công trình nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
Thứ nhất, luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về ảnh hưởng của Phật
Trang 15giáo trong đời sống tinh thần qua lễ hội
Thứ hai, luận văn góp phần làm rõ thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tinh thần trong lễ hội ở Nam định và những vấn đề đặt ra
Thứ ba, luận văn đề xuất quan điểm và một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo trong lễ hội ở Nam Định hiên nay
Thứ tư, kết quả của luận văn là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận về tôn giáo và một số lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn khác
Thứ năm, luận văn góp phần cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn giúp Đảng và Nhà nước đề ra những chính sách phù hợp nhằm đoàn kết, phát huy vai trò của các tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM QUA LỄ HỘI
Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN TRONG CÁC LỄ HỘI Ở NAM ĐỊNH- THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TIÊU CỰC ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG LỄ HỘI Ở NAM ĐỊNH HIỆN NAY
Trang 16Chương 1 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH
THẦN TRONG LỄ HỘI- MỘT VÀI VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.Một số khái niệm cơ bản
Phật giáo rất khác với các tôn giáo khác ở chỗ nó là một tôn giáo vô thần.Tâm điểm của hầu hết các tôn giáo là Thượng đế, hoặc Đấng toàn năng Tuy nhiên, tâm điểm của Phật giáo là những lời dạy của Đức Phật về tin vào Thượng đế không mang lại lợi ích trong việc nhận thức chân lý giác ngộ Phật giáo không lấy niềm tin làm nền tạng căn bản Hầu hết các tôn giáo lấy niềm tin làm nền tảng căn bản Nhưng trong Phật giáo niềm tin về một chủ thuyết nào đó nằm ngoài tầm nhận thức thì không thể chấp nhận Đức Phật cho rằng, chúng ta không nên đặt niềm tin vào bất cứ một học thuyết nào dù học thuyết đó chúng ta được đọc nó trong kinh điển, hoặc được dạy bởi một
vị thầy nào
Phật giáo là tôn giáo nhấn mạnh tự do trong việc tìm hiểu, nhận thức thế giới Cách tốt nhất để hiểu được Phật giáo, là phải xem Phật giáo như là những phương pháp để hành trì, và phương pháp này đòi hỏi sự tin tấn trong việc thực hành Người Phật tử không nên chấp nhận niềm tin mù quáng, chỉ
có hành trì là phương pháp tốt nhất để có thể cảm nhận và nhận thức đúng đắn những lời Phật dạy.Thay vì chúng ta tin tưởng và học thuộc lòng những chủ thuyết, đức Phật dạy cho chúng ta làm thế nào có thể nhận chân được chân lý ngay chính mình Phật giáo chú trọng việc hành trì hơn là niềm tin Nguyên
Trang 17tắc chung chủ yếu cho người Phật tử hành trì dựa trên giáo lý Bát chánh đạo
Từ khi Đức Phật nhập niết bàn đến nay Phật giáo đã phân chia thành hai trường phái chính là Phật giáo Nguyên thủy (Nam Tông) và Phật giáo Đại thừa (Bắc Tông) Trong nhiều thế kỷ, Phật giáo Nam Tông đã có ảnh hưởng
và truyền bá qua các nước như Sri Lanka, Thái Lan, Campuchia, Miến Điện
và Lào Trong khi đó Phật giáo Bắc Tông lại được truyền bá sang các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Nepal, Mông Cổ, Triều Tiên và Việt Nam Trong Phật giáo Nam Tông lại được phân chia thành nhiều tông phái như là Tịnh Độ tông và Thiền Tông
Giáo lý nhà Phâ ̣t tuy có nhiều tông phái khác nhau, nhưng tựu trung những điểm được đề câ ̣p sau đây vẫn là những nền tảng cơ bản.Thế giới, vũ tru ̣, theo quan niê ̣m Phâ ̣t giáo, là luôn vâ ̣n đô ̣ng, biến đổi, các biến đổi diễn ra nhanh như chớp mắt, và thế giới thì không có trước, không có sau, vô thủy,
vô chung Đó cũng chính là lẽ vô thường, tức không có gì là tồn ta ̣i cố đi ̣nh, mà có đó, mất đó Con người cũng thuô ̣c dòng chảy không ngừng đó, nên không gì là bản thân ta cả, tức vô ngã Những biến đổi này, nói theo ngôn ngữ hiê ̣n đa ̣i, là do tự thân vâ ̣n đô ̣ng, không xuất phát từ bên ngoài, mà từ lẽ nhân duyên, theo luâ ̣t nhân quả, nghiê ̣p báo Tùy thuô ̣c vào nghiê ̣p báo mà biến đổi của các sinh linh diễn ra trong cõi phàm và siêu phàm, hoán chuyển từ cõi này sang cõi kia, đó là luân hồi
Nhân sinh quan Phâ ̣t giáo xuất phát từ quan niê ̣m cho rằng đời là bể khổ, và nguyên nhân của nó là sinh, lão, bê ̣nh, tử, là những ham muốn nhu ̣c
du ̣c, xuất phát từ sự che lấp trí tuê ̣ bởi ngũ uẩn (sắc, thu ̣, tưởng, hành, thức), làm cho ta cố chấp trong viê ̣c phân biê ̣t cái ta và cái khác ta, dẫn đến thái đô ̣
“ngã chấp”, tro ̣ng cái ta, khiến con người ta vô minh Muốn thoát khỏi bể khổ thì phải diê ̣t du ̣c, nhẫn nhu ̣c, từ bi, hỉ xả, hy sinh, đi theo con đường của bát chánh đa ̣o: chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiê ̣p, chánh ngữ, chánh mê ̣nh, chánh tinh tiến, chánh niê ̣m, chánh đi ̣nh
Phật Giáo du nhập vào Việt Nam ở khoảng thế kỷ thứ nhất và thứ hai,
Trang 18trực tiếp từ nguồn gốc Ấn Đô ̣1 Trong giai đoạn du nhâ ̣p, Phâ ̣t giáo Viê ̣t Nam đã bước đầu tự hình thành nên tư tưởng thiền đi ̣nh đầu tiên Cùng với sự thâm nhâ ̣p của Phâ ̣t giáo phương Bắc sau đó, các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi,
Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã phát triển ma ̣nh mẽ Trong bối cảnh của
mô ̣t dân tô ̣c bi ̣ đô hô ̣, nhà chùa Phâ ̣t giáo đã tự nhâ ̣n lấy cho mình trách nhiê ̣m chăm lo đối với dân chúng Ho ̣, những sư sãi Phâ ̣t giáo, đã nhâ ̣n phần công viê ̣c da ̣y ho ̣c, hốt thuốc, tri ̣ bê ̣nh, ma chay, tế lễ, đi ̣nh viê ̣c xây cất, làm ăn… cho mo ̣i người, và bao trùm lên tất cả, là sự hun đúc mô ̣t tinh thần đô ̣c lâ ̣p dân
tô ̣c Chính là từ chỗ tinh thần về mô ̣t nền đô ̣c lâ ̣p đó vẫn tồn ta ̣i, nên cho dù đã 1.000 năm bi ̣ đô hô ̣ mà Đinh Bô ̣ Lĩnh đã có thể hoàn tất viê ̣c xây dựng mô ̣t triều đa ̣i đô ̣c lâ ̣p đầu tiên sau ách thống tri ̣ phương Bắc
Trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần, dù các tăng sĩ chỉ can dự trực tiếp vào chính sự ở giai đoa ̣n đầu, nhưng vi ̣ trí, vai trò của Phâ ̣t giáo đã ngày càng phát triển, đa ̣t đến đô ̣ cực thi ̣nh vào thời Trần, và chỉ suy thoái từ nửa sau thế kỷ 14.Sự phát triển của Phâ ̣t giáo trong những thời kỳ li ̣ch sử này, với tinh thần nhâ ̣p thế thể hiê ̣n ở những mức đô ̣ khác nhau, không hề đứng trên tư tưởng thống tri ̣, quyền lực và quyền lợi, Phâ ̣t giáo đã thực thi mô ̣t tinh thần khoan dung, đô ̣ lươ ̣ng, hòa hợp đối với dân chúng, đối với kẻ đi ̣ch, và cả đối với những tư tưởng-giáo lý khác Những điều này không những làm cho Phâ ̣t giáo đứng ở trung tâm của hoa ̣t đô ̣ng chính tri ̣, văn hóa, xã hô ̣i giai đoa ̣n thế kỷ 10
- 14, thậm chí có những lúc là quyết đi ̣nh vâ ̣n mê ̣nh quốc gia (trường hợp Lý Công Uẩn lên ngôi), mà đối với bản thân, nó đã xây dựng cho mình mô ̣t tư tưởng Phâ ̣t giáo, mô ̣t giáo hô ̣i Phâ ̣t giáo Viê ̣t Nam đô ̣c lâ ̣p, mang bản sắc riêng, và lớn hơn thế nữa, nó còn ta ̣o nên bản sắc văn hóa, bản sắc chính tri ̣ trong giai đoa ̣n li ̣ch sử này, ta ̣o nên bản sắc của dân tô ̣c ta khi đó Sự đi xuống của Phâ ̣t giáo sau đó, từ nửa sau thế kỷ 14, là mô ̣t điều hoàn toàn hợp tính quy luâ ̣t, khi mà mô ̣t hê ̣ tư tưởng tôn giáo không còn có sự ủng hô ̣ của những quyền lực thế tu ̣c Nhưng dù vâ ̣y, tinh thần hòa hợp Phâ ̣t giáo - dân tô ̣c đó mãi
1 Nguyễn Lang, Viê ̣t Nam Phâ ̣t giáo Sử luâ ̣n, in lần thứ 3, Nxb Văn hóa, HàNội, 1992, tr 469, 470
Trang 19mãi là mô ̣t trong những trang sử đâ ̣m nét nhất của dân tô ̣c ta
Trong quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo Việt Nam đã góp phần quan trọng đối với văn hóa cộng đồng, với việc nhận thức về thế giới, về xã hội và về con người, đặc biệt là việc đề cao trách nhiệm của chính con người
và của cả dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, tạo sự gắn kết cộng đồng, tạo sức mạnh chung cho cả dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước
Theo các nhà nghiên cứu, so với Phật giáo ở các quốc gia khác, Phật giáo Việt Nam có những đặc điểm cơ bản như sau:
Phật giáo Việt Nam mang đầy đủ các đặc điểm của đạo Phật nói chung Nhưng khi truyền vào Việt Nam, Phật giáo đã hoà nhập, thích nghi và kết hợp với đời sống tâm linh, văn hoá của người dân Việt nên có những đặc điểm riêng biệt làm cho Phật giáo ở Việt Nam trở lên linh hoạt, phong phú Những đặc trưng ta có thể nhận biết, đó là:
Phật giáo Việt Nam dung hợp các tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng Tổ tiên, thờ Thần, thờ Mẫu nhưng Phật giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo để làm nên Đạo Phật Việt Nam Điều này được thể hiện rất rõ việc bài trí tượng thờ trên chính điện chùa Phật giáo Trong đó, Phật được tôn trí ở gian giữa là đại hùng bảo điện; chư vị thánh tổ của Lão giáo, Nho giáo, được an trí ở hai bên Ngoài ra, còn tôn trí cả tượng của các vị Thiên hoàng Ngọc đế, Thập điện Diêm vương Đặc biệt, trong khuôn viên thờ tự của chùa, nhất là các chùa ở vùng Bắc Bộ, luôn có phủ Mẫu (cũng gọi là điện Mẫu) thờ chư vị thánh Mẫu và đức thánh Cha (Trần Hưng Đạo hiển thánh) Nhiều trường hợp khác, trên gian phụ của chính điện chùa còn thờ cả các vị có công khai mở, trùng tu, tôn tạo chùa
Có tác giả cho rằng Phật giáo là thành tố trong Tam giáo đồng nguyên: Phật giáo Việt Nam dung hợp cùng tinh thần Nho giáo, Lão giáo để trở thành
"Tam giáo đồng nguyên" nhằm hộ trì quốc gia, dân tộc Đó là sự kết hợp rất trí tuệ để hài hoà và cùng phát triển Từ những buổi đầu xây dựng nền phong
Trang 20kiến độc lập chúng ta đã thấy các vị danh tăng Phật giáo thông hiểu Nho giáo, uyên thâm Lão giáo, và vận dụng tam giáo nhuần nhuyễn trong cuộc sống, tu hành của mình Các vị ấy hành trì Phật pháp, tham gia chính sự bàn quốc kế dân sinh như một vị thạc Nho, khi xong việc lớn lại rút về núi rừng thanh bạch ẩn tu như một Đạo sỹ Đây là điều hiếm có ở đặc trưng văn hóa mà chưa từng thấy của bất kỳ một dân tộc nào2
Phật giáo đồng hành, gắn bó với dân tộc Phật giáo Việt Nam có truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, đồng hành trong những giai đoạn thăng trầm của đất nước, góp phần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc Trong Phật giáo Việt Nam đã ghi nhận hai trường hợp đặc biệt: Lý Công Uẩn – một vị sư xả pháp, xuất tu để ra đời làm bậc quân vương khai mở triều đại nhà Lý, và Trần Nhân Tông – một vị hoàng đế từ bỏ ngai vàng để vào núi ẩn tu trở thành một vị Tổ sư của Phật giáo đời Trần Trong thời kỳ hội nhập, Phật giáo luôn chia sẻ những khó khăn, hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh khốn khó, gặp thiên tai, địch họa để chung tay cùng đất nước góp phần
ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội
Mặc dù có nhiều hệ phái những Phật giáo Việt Nam có tinh thần đoàn kết, gắn bó nội bộ Các hệ phái phái Phật giáo cùng tồn tại và phát triển, nhưng tất cả đều sinh hoạt trong một tổ chức chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Năm 1981, trải qua một năm vận động thống nhất, 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo trên toàn quốc đã thống nhất thành lập tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam Trong Hiến chương của mình Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định “Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho tăng ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước” Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam còn đoàn kết với các tầng lớp trong xã hội và đoàn kết với các tôn giáo bạn để chung tay xây dựng và phát triển đất nước Đây là điều chưa có một tổ chức Phật giáo nước ngoài nào có thể làm được
Phật giáo Việt Nam có tính sơn môn, pháp phái: Du nhập vào Việt
2
Trang 21Nam, Phật giáo hình thành và phát triển theo truyền thống của cư dân, phát triển như dòng họ thế tục Việc quản lý, kỷ luật sư sãi đều do Sơn môn, Pháp phái giải quyết Giáo hội chung chỉ chủ trương và định hướng những công tác Phật sự lớn và có tính tổng thể Còn các hoạt động tôn giáo cụ thể như: tiếp
độ tăng ni, truyền thụ giới luật, trì giảng kinh điển, các nghi thức tôn giáo… đều mang tính Sơn môn, Hệ phái, và do người đứng đầu Sơn môn, Hệ phái chỉ đạo thực hiện
Phất giáo là một trong những thành tố tạo nên tính đặc trưng văn hóa Việt Nam Văn hoá, đạo đức Phật giáo như quan điểm “ở hiền gặp lành” “báo đáp tứ trọng ân” “người Phật tử hiếu hạnh” “hành thiện tránh ác”, “từ bi cứu khổ”, “tôn trọng con người”, “bình đẳng tâm, không phân biệt đẳng cấp, sang hèn”, “yêu chuộng hòa bình”… đã thấm đậm trong tâm tưởng mỗi con người Việt Nam qua các thế hệ Nó đã góp phần tạo dựng nên nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc Mà ở đó, người ta không còn phân biệt đâu là đạo đức xã hội, đâu là đạo đức tôn giáo
Do vậy, nói đến lịch sử dân tộc Việt Nam không thể không nói đến Phật giáo Việt Nam và ngược lại nói đến Phật giáo Việt Nam không thể không nói đến lịch sử dân tộc Việt Nam Sau năm 1975, khi nước nhà được thống nhất, Phật giáo Việt Nam đã ổn định và phát triển trong ngôi nhà chung: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong sự đồng hành cùng dân tộc, trong
sự đổi mới và phát triển đất nước, trong sự hội nhập và phát triển
Hiện Phật giáo Việt Nam đã có sự lớn mạnh cả về chất và lượng Xin được nêu vài con số của Phật giáo Việt Nam hiện nay: Theo phương pháp thống kê hành chính có trên 10 triệu tín đồ (chưa kể số người tin Phật, lễ Phật
mà chưa quy Y, hoặc đã được quy Y nhưng chưa có sự thống kê chính xác),
có khoảng 42.000 chức sắc, có khoảng 17.000 cơ sở thờ tự, có 4 Học viện và trên 30 trường trung cấp; Phật giáo Việt Nam cũng có quan hệ với nhiều tổ chức Phật giáo ở các nước trong khu vực và trên thế giới
Với truyền thống gắn đạo với đời, đạo pháp với dân tộc, Phật giáo đã
Trang 22tham gia vào nhiều hoạt động xã hội như: Cứu giúp người nghèo, người cô đơn cơ nhỡ, nuôi dạy trẻ mồ côi… Phật giáo Việt Nam ngày càng khởi sắc không chỉ ở số lượng và quy mô các lễ hội, ở việc xây dựng, tu bổ, tôn tạo cơ
sở thờ tự mà còn ở việc nâng cao sự nhận thức về Phật học và thế học cho các tăng ni, ở việc tổ chức các hội thảo về Phật giáo trong lịch sử và hiện tại
Có thể nói rằng, các tăng ni đang được trí thức hóa theo nhu cầu của bản thân Phật giáo và sự đòi hỏi của tín đồ Sự phát triển lớn mạnh của Phật giáo Việt Nam hiện nay đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia được thể hiện bằng việc Phật giáo từ Việt Nam được các tăng sĩ Phật giáo Việt Nam truyền
bá tới nhiều nước trên thế giới, do vậy vai trò và vị thế của Phật giáo không ngừng được củng cố, nâng cao
1.1.2 Lễ hội
- Khái niệm lễ và nghi lễ: Trong tiếng Hán -Việt, Lễ chính là những
khuôn mẫu của người xưa đã quy định; các phép tắc buộc phải tôn trọng, tuân theo trong các mối quan hệ xã hội Đó chính là rường mối, cơ tầng, nền tảng của mọi mối quan hệ giữa người với người trong bất kỳ một xã hội nào
Theo quan niệm của người xưa, lễ được coi là những phép tắc theo khuôn mẫu đã được hình thành và củng cố theo thời gian, được quy định một cách chặt chẽ từ “ quan - hôn- tang - tế” đến đi đứng, nói năng, cư xử hàng ngày của mọi người dân Đây là những quy định, lễ nghi, phép tắc buộc mỗi con người phải tuân theo trong các mối quan hệ ứng xử của mình trong xã hội
Dưới thời phong kiến, các nhà Nho quan niệm rằng Lễ vốn là trật tự, là chữ đã định sẵn của Trời, cần phải có và không thể đảo ngược Lễ được coi là
cơ sở của một xã hội có tổ chức và đã phát triển đến trình độ nào đó Đối với mỗi người, lễ thể hiện sự tôn kính, thái độ ứng xử của con người đối với đồng loại Lễ nhằm phòng ngừa những hành vi và tình cảm không chính đáng Lễ không chỉ quy định chi tiết về thái độ, cử chỉ bên ngoài mà còn tạo điều kiện hình thành một trạng thái tinh thần tương ứng trong mỗi con người Lễ cũng đồng thời trở thành phương tiện để tự sửa mình, điều chỉnh mình cho đúng
Trang 23mực, hoàn thiện hơn Những biểu hiện của lễ bao giờ cũng tương xứng với tuổi tác, vị thế và vai trò, điều kiện của cá nhân nào đó trong các mối quan hệ gia đình và xã hội của con người đó
Tác giả Lê Văn Kỳ cho rằng: Lễ trong lễ hội là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của dân làng đối với các thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần thành hoàng nói riêng Đồng thời lễ cũng phản ánh những nguyện vọng ước mơ, chính đáng của con người trước cuộc sống đầy rẫy những khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo [35, tr.67]
Theo nhà nghiên cứu Dương Văn Sáu: Nghi lễ là những ứng xử của các tầng lớp nhân dân dành cho thần, hướng về thần trong mối quan hệ “Người –Thần” vốn luôn tồn tại trong tâm thức và hành động của mọi người, mọi thời đại Nghi lễ còn là hình thức, biện pháp tiến hành trong các hoạt động xã hội của con người nhằm đối ứng và tương thích với đối tượng thờ cúng, với vị thế
xã hội, môi trường sống của những người tổ chức tiến hành hoạt động nghi lễ Trong những hình thái như vậy, cần phải vượt ra ngoài những quan niệm thông tục coi lễ chỉ là lễ bái, cúng tế mà còn phải coi lễ, nghi lễ là rường mối
kỷ cương, phép tắc, đạo lý, góp phần tôn vinh, củng cố và bảo vệ sự tồn tại và phát triển của gia đình, xã hội [27, tr.27]
Có thể nói rằng, lễ hay nghi lễ trong thờ cúng là những nghi thức được tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định Nó mang tính biểu trưng nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó với mục đích cảm
tạ, tôn vinh về sự kiện, nhân vật đó với mong muốn nhận được sự tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng siêu nhiên mà người ta thờ cúng Dưới góc độ nào đó, lễ có thể được coi là “bức thông điệp” của hiện tại gửi quá khứ, là hoạt động biểu trưng của thế giới hiện thực gửi thế giới siêu hình
Như vậy với những cách định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu rằng Nghi
lễ là những nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó nhằm mục
Trang 24đích cảm tạ, tôn vinh, ước nguyện về sự kiện, nhân vật đó với mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ cúng
Khái niệm hội: Có nhiều quan điểm khác nhau về hội Theo nhà nghiên
cứu Lê Văn Kỳ: “hội là một sinh hoạt văn hoá dân dã phóng khoáng diễn ra trên bãi sân để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với hàng loạt trò tục hấp dẫn
do mình chủ động tham gia ” [35, tr.83]
Theo nhà nghiên cứu Dương Văn Sáu: Những hoạt động diễn ra trong
Hội là một phần bộ mặt xã hội, là chiếc “phong vũ biểu”, tấm gương phản
chiếu khách quan, trung thực đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của một địa phương, của đất nước ở thời điểm diễn ra các hoạt động đó Các hoạt động diễn ra trong hội bao gồm các trò chơi dân gian, các hình thức diễn xướng dân gian do người dân trực tiếp tham gia, các hoạt động văn hoá nghệ thuật truyền thống và cả các hoạt động mang tính hiện đại [27, tr.31]
Khi nghiên cứu về hội, nhà nghiên cứu Hoàng Lương đã đề cập đến yếu
tố “đông người” và có địa điểm để “vui chơi” thoải mái; đến tính chất “công cộng”, đến “nhiều trò vui” “bách hí”, đến mọi người được “cộng cảm, cộng mệnh”, “phần đời” bên cạnh phần tâm linh của phần lễ…Đặc biệt, tác giả cũng đề cập đến “mối quan hệ giữa lễ và hội” và cho rằng hội là hình thức biểu hiện của lễ, hội là hình thức, lễ là nội dung Quan hệ đó bện chặt, khăng khít trong nhau và tương hỗ lẫn nhau, tồn tại trong sự thống nhất [23, tr.38] Thực tế cho thấy, có khi hội là những sự kiện diễn ra nhằm liên kết giữa các cá nhân, tổ chức có chung mục đích hoặc các mục đích gần giống nhau Cũng có kho hội là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người đến dự theo phong tục tập quán, hay phong trào, trào lưu ở một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển xã hội
Thực tế cho thấy, yếu tố xuyên suốt của hộilà có sự tham gia của đông
người và trong hội người ta được vui chơi thoải mái Hội bao giờ cũng
mang tính chất công cộng cả về tư cách tổ chức lẫn mục đích cần đạt được
Trang 25của những người tổ chức và tham dự Đồng thời đây chính là dịp người ta tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí cho đông đảo người tham dự Các hoạt động này được diễn ra thường niên theo phong tục tập quán truyền thống của các địa phương, vùng miền hoặc tổ chức vào các dịp đặc biệt trong năm để hướng tới, tôn vinh với mong muốn đạt được những mục tiêu, giá trị cụ thể nào đó trong đời sống văn hoá cộng đồng Trong các hoạt động của hội còn có thể bao gồm các chương trình vui chơi giải trí hiện đại mang sắc thái thời gian, phản ánh và thể hiện trình độ phát triển của cộng đồng dân cư của một địa phương hay toàn xã hội ở vào thời điểm mà nó ra đời và tồn tại
Trong hội, có thể tìm thấy những biểu tượng điển hình của sự thể hiện tâm lý cộng đồng; những đặc trưng của văn hoá dân tộc; những quan niệm, cách ứng xử đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của các cá nhân và cả cộng đồng người Những hoạt động diễn ra trong hội phải luôn phản ánh và thể hiện một phần lịch sử địa phương, đất nước
Từ những quan niệm, chúng tôi cho rằng hội là tập hợp những hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội của một cộng đồng dân cư nhất định; là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự theo phong tục truyền thống hoặc nhân những dịp đặc biệt Những hoạt động diễn ra trong hội phản ánh điều kiện, khả năng
và trình độ phát triển của địa phương, đất nước ở vào thời điểm diễn ra các sự kiện đó
Khái niệm Lễ hội: Lễ hội là một khái niệm được tiếp cận trên những
góc độ khác nhau.Các tác giả Hoàng Phê, Vũ Xuân Lương, Hoàng Thị Tuyền Linh, Phạm Thị Thủy, Đào Thị Minh Thu, Đặng Thanh Hòa quan niệm lễ hội là: “cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống” [32] Các tác giả biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Lễ hội là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kinh của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khă năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc
Trang 26sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy
nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “nhân khang, vật thịnh Lễ hội là hoạt đông của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo Do nhận thức, người xưa rất tin vào trời đất, sông núi, vì thế ở các làng xã ngoài miếu thờ thiên thần, thổ thần, thủy thần, sơn thần Lễ hội cổ truyền đã phản ánh hiện tượng đó Tôn giáo có ảnh hưởng đáng kể đối với lễ hội
Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo để thần linh hóa những gì trần tục Theo thư tịch
cổ, lễ hội của người Việt xuất hiện từ thời nhà Lý (thế kỷ 11), nhưng có người cho rằng lễ hội của dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát triển cùng với lịch
sử của dân tộc, của đất nước biểu hiện qua trống đồng Đông Sơn, mà tiêu biểu
ở vùng đồng bằng Bắc Bộ - cái nôi của dân tộc Việt, đó là Hội mùa, Hội làng… ngày hội cố kết cộng đồng biểu trưng những giá trị của đời sống tâm linh, đời sống xã hội và văn hóa của cộng đồng Có những lễ hội mang tính toàn quốc như Hội đền Hùng, Hội đền Kiếp Bạc” [9, tr.674 ]
GS.TS Phạm Đức Dương cho rằng: Những tín ngưỡng dân gian của đời sống tâm linh nằm trong thế giới ý niệm được khách thể hóa, hiện thực hóa
Vì thế, lễ hội ở các nước Đông Nam á đều có chung một cấu trúc ban đầu gồm hai phần: lễ và hội Phần lễ là để con người giao tiếp với thần linh, để cầu xin thần linh thông qua những trung gian thiêng (thầy cúng, lời khấn, múa, nhạc cụ, lễ vật…) với các nghi lễ: tế, rước ở đây mỗi vật , mỗi hành động đều có tính biểu tượng Mối quan hệ giao cảm giữa con người và thần linh quyện lẫn trong hương khói, trong không gian thiêng… đưa con người vào thế giới ảo- thế giới tâm linh Phần hội là những trò chơi nhằm xây dựng quan hệ cộng cảm trong cộng đồng với sự tham gia của thần linh.Vì thế không khí của ngày hội bao giờ cũng rộn ràng, kích động con người với những trò diễn xướng và trò chơi…[19,tr.3]
Trang 27Như dù quan điểm như thế nào đi nữa, lễ hội là một sinh hoạt văn hoá dân gian mang tính cộng đồng cao của các tầng lớp nhân dân, diễn ra trong những chu kỳ về không gian và thời gian nhất định để tiến hành những nghi thức mang tính biểu trưng về sự kiện nhân vật được thờ cúng Những hoạt động này nhằm để tỏ rõ những ước vọng của con người, để vui chơi giải trí trong cộng đồng Lễ hội là những hoạt động, những sinh hoạt văn hoá mà ở
đó có sự gắn kết không thể tách rời của cả nội dung và hình thức của hai thành tố cơ bản là Lễ và Hội Ngoài ra, trong hoạt động lễ hội còn bao gồm một số thành tố khác như: hệ thống các tục hèm, các trò diễn dân gian, hoạt động hội chợ triển lãm và văn hoá ẩm thực Các thành tố này luôn có trục trung tâm là định hướng phát triển Các thành tố của lễ hội luôn vận hành quanh trục trung tâm đó để đạt được những mục tiêu nhất định, những mục tiêu này nhằm phục vụ lợi ích của cả cộng đồng, chứ không chỉ phục vụ lợi
ích của riêng những người tổ chức hoạt động lễ hội
Trước hết, lễ hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng, bởi vì đây là hoạt động văn hoá của tập thể, thuộc về tập thể, do tập thể tổ chức Dù ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời gian nào lễ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành Chính họ là những người sáng tạo chân chính những giá trị bắt nguồn từ cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu Họ là chủ nhân, đồng thời là người đánh giá, thẩm nhận và hưởng thụ những thành quả sáng tạo văn hoá ấy Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm người nào đó trong xã hội Không có đông người tham dự, không thành hội! người ta nói: “đông như hội” chính là vậy
Lễ hội là một hoạt động tập thể do quần chúng nhân dân tiến hành, bất
cứ lễ hội nào cũng gắn với các địa bàn dân cư cụ thể, là hoạt động văn hoá của một địa phương đó Về cơ bản, lễ hội ở Việt Nam có nhiều quy mô khác
nhau Có lễ hô ̣i diễn ra quy mô hẹp là những “lễ hội làng" nhưng cũng có
nhiều lễ hội do nội dung và tính chất của nó nên được diễn ra trong một không gian rộng lớn hơn, có tính liên làng, liên vùng Những hoạt động lễ hội
Trang 28này diễn ra không thường xuyên mà chỉ ở một vài thời điểm nhất định vào mùa xuân hay mùa thu trong năm Đây là thời điểm chuyển giao thời tiết, cũng là thời điểm chuyển giao mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp Vào thời điểm này, người ta tổ chức hoạt động lễ hội nhằm các mục đích khác nhau Trước hết, những hoạt động mang tính nghi lễ nhằm nhắc lại sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại đã diễn ra trong quá khứ Đây chính là biểu hiện đạo
lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, thể hiện cách ứng xử văn hoá với thiên nhiên, thần thánh, con người, thông qua các hoạt động trong
lễ hội Đó là những ứng xử của tập thể, của cộng đồng cư dân với cả hai đối tượng: siêu hình (thần thánh) và hữu hình (con người) Nó cũng phản ánh mối quan hệ, giao thoa giữa siêu và thực, giữa con người với con người trong những hoàn cảnh và hoạt động cụ thể
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy một cách khái quát rằng: Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra trên địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con ngưòi
với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội
1.1.3 Đời sống tinh thần
Đời sống tinh thần là sự phản ánh đời sống vật chất, là toàn bộ hoạt động tinh thần như sáng tạo, lưu trữ, truyền bá, tiếp thu, cải biến, ứng dụng các giá trị sản phẩm tinh thần Nó còn bao gồm nhu cầu tinh thần, các hiện tượng tinh thần như là tâm linh, vô thức, tâm hồn, tiềm thức, linh cảm, dự đoán, tư tưởng, tư duy, suy nghĩ, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, quan điểm sống, phong tục, tập quán, lễ hội
Sự tác động qua lại giữa tính chất, mối liên hệ xã hội và kết quả phản ánh của hoạt động tinh thần đã làm xuất hiện đời sống tinh thẩn của con người
và xã hội Cũng như bất kỳ một hiện tượng xã hội nào khác, đời sống tinh thần của con người và xã hội cũng được nghiên cứu từ bên trong bản thân ý thức xã hội, do đó nó không thể mang tính tuyệt đối Về kết cấu, đời sống tinh
Trang 29thần được chia theo "chiều dọc" thành những cấp độ và theo "chiều ngang" thành những hình thái
Đời sống tinh thần ở những nét chung nhất, đó là những cấp độ cơ bản của lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội Toàn bộ các hình thái của ý thức
xã hội hoạt động trong phạm vi những cấp độ ấy Đó là mối quan hệ giữa ý thức sinh hoạt đời thường và ý thức lý luận, giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng cũng như sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội như triết học, ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và khoa học Tuy nhiên, xét đến cùng, kết cấu của đời sống tinh thần hay của ý thức xã hội đều thể hiện trong mối quan hệ với tồn tại xã hội hay đời sống vật chất của xã hội, tức là chúng đều do tồn tại xã hội hay chức năng phản ánh của nó đối với tồn tại xã hội quyết định
Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Thanh, trong các tài liệu triết học mác xít quy luật của đời sống tinh thần được phân ra làm ba loại phổ biến nhất3:
Một là, các quy luật xã hội học chung của hình thái và sự phát triển ý thức xã hội; vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội ; tính độc lập tương đối trong sự phát triển của hệ tư tưởng và đời sống tinh thần nói chung; tính kế thừa và phát triển của đời sống tinh thần Hai là, những mối quan hệ mang tính quy luật bên trong của đời sống tinh thần, chúng biểu hiện
sự tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố khác nhau của ý thức xã hội, sự hoạt động của chúng giới hạn trong ý thức xã hội Ba là, những mối quan hệ mang tính quy luật đặc thù và dấu hiệu của các kiểu ý thức xã hội khác nhau trong lịch sử xã hội
Vấn đề ở đây là phải tìm hiểu xem những quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, được thể hiện về hình thức, nội dung và vai trò của nó đối với đời sống tinh thần như thế nào? Sự phân tích ở trên cho thấy, những quy luật thể hiện nguồn gốc, động lực quy định sự phát
3 Erích Han Về tích chất của những qui luật của đời sống tinh thần xã hội Tạp chí "Những vấn đề triết học",
Trang 30sinh, tồn tại và phát triển của đời sống tinh thần chính là cái quy định quy luật của đời sống tinh thần chứ không phải quy luật của đời sống tinh thần nằm ngay trong bản thân nó, hoặc ngược lại, phụ thuộc một cách tuyệt đối vào đời sống vật chất xã hội Trong "Hệ tư tưởng Đức", Mác và Engen đã nhận xét rằng: "Đạo đức, tôn giáo, siêu hình học và những dạng khác của hệ tư tưởng cùng với những hình thái ý thức tương ứng với chúng liền mất ngay mọi vẻ độc lập bề ngoài Tất cả những cái đó không có lịch sử, không có sự phát triển; chính con người, khi phát triền sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình”4
Cũng theo nhà ngiên cứu Đào Duy Thanh, những nguyên nhân quy định quy luật phát triển của đời sống xã hội được xác định với những nội dung cụ thể sau:
Quy luật phát triển của đời sống tinh thần về cơ bản nằm trong các quy luật vật chất, trong động lực của tồn tại xã hội hay đời sống vật chất xã hội Điều đó có nghĩa là, quy luật phát sinh, phát triển của đời sống tinh thần có nguồn gốc và bị quy định bởi hoạt động vật chất, đời sống vật chất xã hội, là một mặt của quá trình lịch sử nói chung Như vậy, loại quy luật thứ nhất bao gồm những quy luật đời sống vật chất của xã hội Loại quy luật này chủ yếu xác định nguồn gốc phát sinh của đời sống tinh thần Tuy nhiên, cũng không nên hiểu một cách đơn giản đời sống tinh thần chỉ xuất hiện sau khi đã có đời sống vật chất, hoặc đời sống vất chất phải xuất hiện một thời gian rồi mới có đời sống tinh thần, mà là sự xuất hiện đồng thời
Có sự khác nhau giữa các quy luật quy định sự phát sinh, phát triển đời sống tinh thần với một bên là các quy luật của chính đời sống tinh thần xét cả
về nội dung cũng như hình thức của chúng Loại quy luật này thể hiện sự tác động qua lại giữa đời sồng vật chất và đời sồng tinh thần Nhưng vấn đề phức tạp trước hết là ở chỗ, trong mối quan hệ này không thể nói một cách đơn
4
Trang 31giản về "tính thứ nhất" , "tính thứ hai" trên bình diện triết học nói chung, mà phải hiểu tính quy định của đời sồng vật chất xã hội đối với đời sống tinh thần còn là sự tác động trở lại với tư cách là sự phản ánh và hoạt động tích cực, sáng tạo của đời sống tinh thần đối với đời sống vật chất
Quy luật đặc thù bên trong của đời sống tinh thần, kể cả các biểu hiện mang tình quy luật chung giữa các yếu tố, các dạng, các hình thái hay các lĩnh vực khác nhau của ý thức xã hội hay đời sống tinh thần, cũng như các dấu hiệu có tính quy luật thể hiện một cách cụ thể , đặc trưng cho một cộng đồng lịch sử đều là sự biểu hiện của những quá trình đời sống vật chất trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định
Đời sống tinh thần không chỉ thể hiện ở thuộc tính chung và phổ biến của nó so với “thực tại khách quan" mà phải được xem xét trong hệ thống con người-hoạt động-giao tiếp ngôn ngữ-văn hoá mang tính lịch sử -xã hội Kết cấu và sự vận động của đời sống tinh thần một mặt, có nguồn gốc sâu xa và trực tiếp từ những quy luật của sự tồn tại và phát triển của xã hội nói chung Mặt khác, kết cấu và đời sống tinh thần đó còn được thể hiện ở những quy luật đặc thù của bản thân đời sống tinh thần cũng như sự tác động qua lại giữa các quy luật này trong sự vận động, phát triển của đời sống tinh thần xã hội
1.2 Đời sống tinh thần trong lễ hội
1.2.1 Tư tưởng, tinh thần của lễ hội
Tư tưởng, tinh thần cũng như linh hồn của lễ hội rất phong phú và đa dạng Có lễ hội là để tôn vinh nghề, tổ nghề Có lễ hội tôn vinh anh hùng dân tộc, người có công với quê hương, đất nước Có lễ hội gắn với các tôn giáo tín ngưỡng cụ thể Tư tưởng, tinh thần của lễ hội gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, nó mang tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục Tính tâm linh và linh thiêng của lễ hội nó quy định “ngôn ngữ” của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, tính thăng hoa, vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của đời sống thường ngày
Trang 32
1.2.2 Nghệ thuật trong lễ hội
Đời dống tinh thần trong lễ hội còn thể hiện qua các loại hình nghệ thuật khác nhau Thực tế cho thấy trong lễ hội có diễn ca, trống chiêng và múa, các điệu múa cờ, múa chiêng, múa trống Âm nhạc, ca hát và múa không chỉ xuất hiện ở phần hội Ngay ở phần lễ, các loại nghệ thuật biểu diễn này đã
có mặt như một yếu tố không thể thiếu được, và ở một số lễ hội, các loại hình nghệ thuật này đã chiếm vai trò chủ đạo
1.2.3 Ý thức, đạo đức trong lễ hội
Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị “Thần” - những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc Lễ hội
là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người Một trong những giá trị đạo đức truyền thống nổi bật của dân tộc trong lễ hội là đạo lý hiếu nghĩa “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” Theo đạo lý truyền thống của dân tộc, bất cứ người nào cũng phải phụng dưỡng ông bà, cha mẹ khi còn sống và thờ cúng khi ông bà, cha mẹ đã khuất Việc thờ cúng
đó thể hiện sự hiếu thuận của con cháu, đồng thời là phương thức giữ gìn truyền thống, là cách thức trao truyền văn hóa, giáo dục đạo làm người cho các thế hệ sau
1.2.4 Tín ngưỡng của lễ hội
Yếu tố tín ngưỡng đễ thấy nhất trong lễ hội là coi trọng thờ cúng tổ tiên, xem đó là đạo làm người Ngoài việc thờ cúng ông bà, cha mẹ đã mất ở mỗi gia đình, người dân còn thờ cúng thủy tổ dòng họ ở từ đường hoặc ở nhà trưởng họ
Khắp các làng quê hầu như thờ cúng thần làng và Thành hoàng làng “là các
vị thần bảo vệ, che chở cho cộng đồng” Bởi vậy, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ngoài việc thể hiện nhu cầu tâm linh còn mang giá trị đạo đức
Trang 33uống nước nhớ nguồn, biết ơn những người có công tạo dựng làng xã
Các tín ngưỡng trong lễ hội chứa đựng các biểu tượng về tinh thần yêu nước, tự hào, tự cường dân tộc Điều này thể hiện qua việc lễ hội gắn với đền thờ các anh hùng dân tộc, những người có công với nước Có những vị anh hùng dân tộc vừa được tôn làm Thành hoàng làng, như: Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Hai Bà Trưng, vừa được lập đền thờ để cả cộng đồng thờ cúng Hiện nay nhiều đền thờ anh hùng dân tộcđã trở biểu tượng tâm linh không chỉ của cư dân trong vùng mà của nhân dân cả nước Hàng năm, các đền thờ này thu hút hàng triệu lượt người đến dâng lễ thờ cúng tỏ lòng thành kính và cầu cho bản thân, gia đình mạnh khỏe, cuốc sống no đủ, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an
Tín ngưỡng thờ tổ nghề trong lễ hội là để tôn vinh tinh thần tôn sư trọng đạo, tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của cha ông Và để cảm tạ những người đã có công sáng tạo, truyền bá nghề, người dân lập các đền, miếu thờ cúng hoặc phối thờ trong đình, đền, chùa Có nhiều vị tổ sư nghề là những con người xuất thân trong một làng quê, trải qua vất vả đã sáng tạo ra một nghề mới, hoặc nắm vững bí quyết phát triển nghề, rồi truyền lại cho con cháu, người trong họ, trong làng, làm cho nghề đó được phát triển Có nhiều
vị tổ sư nghề là các bậc đại quan, trong thời kỳ trị nhậm ở địa phương đã có công phát triển nghề, cũng có vị là bậc học giả, tiêu biểu như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông được tôn vinh là tổ sư nghề Y học Việt Nam
Nhiều bậc danh nhân văn hóa khi mất đã được cộng đồng thờ cúng ở đình làng hoặc lập đền thờ với sự tôn kính và niềm tự hào của người dân Nhiều di tích lịch sử văn hóa gắn liền với tên tuổi của các danh nhân văn hóa, tiêu biểu như Đền thờ Chu Văn An - bậc “Vạn Thế Sư Biểu” ở Hải Dương, đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn - Kiếp Bạc, vv luôn là biểu tượng của truyền thống văn hiến, tôn sư trọng đạo, vì vậy, giá trị văn hóa, đạo đức trong tín ngưỡng thờ danh nhân văn hóa có sức lan tỏa lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng và cả nước
Trang 34Các tín ngưỡng truyền thống hàm chứa ý nghĩa mong muốn chung sống hài hòa với tự nhiên thể hiện sâu sắc trong lễ hội Từ thưở xa xưa, người Việt
đã sáng tạo ra nhiều hình thức tín ngưỡng gắn liền với đặc trưng của cư dân nông nghiệp lúa nước Với quan niệm vạn vật hữu linh, những hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sản xuất được người dân xem
là các lực lượng siêu nhiên cần phải thờ cúng để cầu mong mưa thuận gió hòa, hạn chế thiên tai Ví dụ như khát vọng cầu nước và trị thủy đã được người dân vùng ĐBSHgửi gắm các biểu tượng thờ cúng thần sông, thần nước cùng các lễ hội cầu mưa Đặc biệt, sự tiếp biến giữa tín ngưỡng thờ thần bản địa với Phật giáo đã làm xuất hiện tín ngưỡng thờ Tứ Pháp, loại hình tín ngưỡng mang ý nghĩa trân trọng yếu tố nước, đồng thời thể hiện sự cầu mong tránh được những thiên tai bão lụt, hạn hán Ngoài ra, trong lễ hội còn thể hiện tín ngưỡng thờ cúng thần tự nhiên quyết định sự sinh sôi nảy nở, hay còn gọi là tín ngưỡng phồn thực
1.3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tinh thần trong lễ hội ở Việt Nam
Phật giáo ảnh hưởng đến đời sống tinh thần trong lễ hội ở Việt Nam cả
về tư tưởng, tinh thần của lễ hội, nghệ thuật của lễ hội, ý thức đạo đức trong lễ hội và tín ngưỡng trong lễ hội.Trong lễ hội truyền thống nói chung, sự tác động của Phật giáo làm cho lễ hội trở thành lễ hội Phật giáo Trong lễ hội, người ta thờ Phật như thờ Thần, thờ Thánh Người ta tin rằng Phật cũng có chức năng như Thần, Thánh Trên góc độ Phật giáo, sự tác động của Phật giáo
đế đời sống tin thần trong lễ hội thể hiện ở chỗ lễ hội là dịp để biểu hiện lòng tôn kính và tin tưởng của mọi người đối với Tam bảo Lễ hội cũng là là một phương tiện đắc lực để dẫn dắt con người vào đạo, làm trang nghiêm dung hạnh tu tập Là dịp để để tuyên dương Phật giáo, lợi lạc quần sanh Không những thế, lễ hội còn là dịp để hoằng pháp, xương minh Phật pháp, phổ cập giáo lý Phật giáo trong cộng đồng Trong lễ hội, đặc biệt là nghi lễ Phật giáo diễn ra trong lễ hội, sử dụng lễ nhạc - nghi thức tế lễ Phật giáo để làm phương tiện dẫn dắt vào đạo Thông qua lễ hội, người tham gia biết lựa chọn ăn ở hiền
Trang 35lành, dù tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm của lý nghiệp báo Mặt khác họ hiểu rằng nghiệp nhân không phải là định nghiệp mà có thể làm thay đổi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu tập cải ác tùng thiện
Sự tác động của Phật giáo đến nghệ thuật trong lễ hội chính là hệ thống triết lý Phật giáo được nghệ thuật hóa Nền triết lý của đạo Phật rất cao siêu nên đối với quần chúng bình dân khó thâm nhập Thông qua âm nhạc trong nghi lễ, đạo lý cao siêu được cảm nhận bằng trái tim hơn là bằng trí óc Triết
lý được nghệ thuật hóa có vẻ như nghịch lý; tuy nhiên, cách thể hiện của nghi
lễ lại dựa trên cơ sở triết lý Điều đó có nghĩa là nội dung và ý nghĩa nghi lễ không xa rời giáo lý Phật dạy Có điều là chúng ta chỉ có thể cảm nhận được bằng trực giác hay bằng tình cảm mà không thể diễn tả bằng ngôn từ ý niệm
Có những bài tán, kệ tụng rất thâm thúy, rất hay, làm ta xúc động mạnh, làm tâm hồn ta sáng lên, nhưng ta có thể không hiểu hết ý tứ của nó
Lễ hội là dịp để thể hiện lòng tôn kính Tam bảo của phật tử Để bày tỏ niềm tin, lòng thành kính của mình đối với Đức Phật, chánh pháp và chúng tăng, người Phật tử đảnh lễ cúng dường, ca ngợi Tam bảo Sự tác động của Phật giáo trong lễ hội thể hiện ở việc giáo dục tín đồ về công đức của Đức Phật cũng nhu của các bậc Bồ Tát: Khi tiến hành nghi lễ ngoài hình thức trang trọng nhu chăng đèn, kết hoa, diễu hành xe hoa, thuyền hoa, thả đèn hoa đăng trên sông nuớc, phóng sinh…để bày tỏ lòng biết ơn với đấng Từ Phụ còn có ý nghĩa trau dồi hạnh bố thí học tập tấm gương của đức Phật vô ngã vị tha Trong quá trình thực hiện nghi thức nguời ta thường kết hợp với giảng pháp, giảng về truyền thống lịch sử văn hóa của tôn giáo
Đạo đức, tinh thần Phật giáo, trong đó ảnh hưởng nhất là đạo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo; đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân
sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sinh cũng ảnh hưởng sâu sắc trong lễ hội qua nghi thức cũng như hoạt động của lễ hội Trong đó ân cha mẹ là nổi bật
và ảnh hưởng rất sâu đậm trong hành vi, thái độ của những người tham gia lễ hội cả ba miền Bắc, Trung, Nam
Trang 36Trong lễ hội, người tham gia lễ hội tin vào tính năng siêu phàm của Phật như thánh Cũng như ở những đia phương khác, Phật giáo khi du nhập vào đã dung hòa với tín ngưỡng thờ nữ thần, kết hợp với hiện tượng thờ tứ pháp mà hình thành các ngôi chùa Rồi chính tín ngưỡng thờ nữ thần này đã qua Phật giáo trở nên thịnh hành, có quyền năng hơn trong đời sống cộng đồng Sau này, các điện thờ Mẫu tứ phủ có thêm gian thờ Phật, hoặc các ngôi chùa đều có thêm điện thờ Mẫu Nhiều vị thánh mẫu mang trong mình hai tư cách vừa là nữ/ mẫu thần, vừa là hóa thân của bồ tát trong không gian thờ tự Phật giáo
Khi Phật giáo đã trở thành Phật giáo Việt Nam thì nghi lễ Phật giáo là nghi lễ có sự hòa nhập của nghi lễ trong lễ hội dân gian, nghi lễ cung đình (nhất là phần âm nhạc) mang sắc thái của ba miền Bắc, Trung, Nam Tất cả hòa nhập một cách hài hòa, nhuần nhuyễn, tinh tế, ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt, tư tưởng, tình cảm của đa số quần chúng Trong truyền thống người Việt, lễ hội tín ngưỡng dân gian có cả yếu tố Phật giáo hòa quyển trong đó Theo Cố giáo sư Trần Quốc Vượng: “Nếu đặc điểm tôn giáo Việt Nam là sự thờ thần (Tha lực siêu nhiên) mà con người cúng và cầu để nhờ vả “Phù hộ độ trì” thì Phật hay Quan Âm cũng trở thành một loại thần, Phật điện cũng trở thành một thứ Thần Điện; tính tâm linh Ấn Độ nhường bước cho tính tình cảm Việt Nam (hơn đâu hết, tôn giáo Việt Nam nặng về tính tình cảm hơn là giáo lý, giới luật, đoàn thể tôn giáo), sự suy tưởng nội tâm (Thiền định) nhường bước cho sự “van vái, co kéo” Thần, Phật xuống gần “cõi người ta”
để “cứu khổ, cứu nạn” cho đời [89, tr.140]
1.4 Tiều kết chương 1
Đời sống tinh thần là sự phản ánh đời sống vật chất, là toàn bộ hoạt động tinh thần như sáng tạo, lưu trữ, truyền bá, tiếp thu, cải biến, ứng dụng các giá trị sản phẩm tinh thần Nó còn bao gồm nhu cầu tinh thần, các hiện tượng tinh thần như là tâm linh, vô thức, tâm hồn, tiềm thức, linh cảm, dự đoán, tư tưởng, tư duy, suy nghĩ, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, quan điểm
Trang 37sống, phong tục, tập quán, lễ hội Trong lễ hội, đời sống tinh thần biểu hiện ở
tư tưởng, tinh thần cũng như linh hồn của lễ hội, nghệ thuật trong lễ hội, ý thức đạo đức trong lễ hội và tín ngưỡng trong lễ hội
Lễ hội là một trong những “hoạt động văn hoá cao”, “hoạt động văn hoá nổi trội” trong đời sống con người Hoạt động lễ hội là hoạt động của cộng đồng hướng tới “xử lý” các mối quan hệ của chính cộng đồng đó Hoạt động này diễn ra với những hình thức và cấp độ khác nhau, nhằm thoả mãn và phục vụ lợi ích đa dạng trước mắt và lâu dài của các tầng lớp người; thoả mãn
những nhu cầu của các cá nhân và tập thể trong môi trường mà họ sinh sống
Lễ hội không chỉ thể hiện sự ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống đã qua, mà còn là sự đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, tâm linh, giải quyết những khát khao, những ước mơ của cộng đồng các dân tộc ở địa phương… Thông qua đó, lễ hội truyền thống tạo cho con người niềm lạc quan yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi ấm tình nhân đạo, nhân văn để rồi thẩm thấu vào cuộc sống đời thường, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh về giao lưu, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn Đời dống tinh thần trong lễ hội còn thể hiện qua các loại hình nghệ thuật khác nhau Trong lễ hội có diễn ca, trống chiêng và múa, các điệu múa cờ, múa chiêng, múa trống Âm nhạc, ca hát và múa không chỉ xuất hiện ở phần hội
Yếu tố tín ngưỡng đễ thấy nhất trong lễ hội là coi trọng thờ cúng tổ tiên, xem đó là đạo làm người Ngoài việc thờ cúng ông bà, cha mẹ đã mất ở mỗi gia đình, người dân còn thờ cúng thủy tổ dòng họ ở từ đường hoặc ở nhà
trưởng họ Các tín ngưỡng trong lễ hội chứa đựng các biểu tượng về tinh thần
yêu nước, tự hào, tự cường dân tộc Điều này thể hiện qua việc lễ hội gắn với đền thờ các anh hùng dân tộc, những người có công với nước
Trang 38Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN TRONG CÁC LỄ HỘI Ở NAM ĐỊNH- THỰC TRẠNG VÀ VẤN
ĐỀ ĐẶT RA 2.1 Vài nét về lễ hội ở Nam Định
Nam Định là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, một trong những đặc trưng làm nên truyền thống này, là có nhiều lễ hội gắn với các di tích lịch sử - văn hóa và hàm chứa nhiều giá trị văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Nam Định, có 1.655 di tích lịch sử - văn hoá, hàng trăm vùng văn hoá dân gian cổ truyền, hàng trăm Lễ hô ̣i diễn ra quanh năm nhưng tập trung ở thời điểm: lễ hội mùa xuân và lễ hội mùa thu Lễ hội đã phản ánh sinh động các hoạt động văn hoá dân gian ở mọi miền quê trên khắp địa bàn của tỉnh Lễ hội rất đa dạng, phong phú gắn với điều kiện địa lý, lịch sử và các nhân vật được thờ, tạo nên một bức tranh đa sắc màu, đánh dấu sự phát triển
về nhận thức, về tư duy và cuộc sống của con người trong cộng đồng làng xã, được người dân gìn giữ, lưu truyền qua nhiều đời như mạch nguồn sức mạnh của tinh thần yêu nước, yêu quê hương [37]
Hầu hết các lễ hội diễn ra ngắn ngày, quy mô nhỏ trong cộng đồng làng xã, gắn với các nhân vật như thành hoàng làng, người có công khai sáng vùng đất, truyền dạy nghề Bên cạnh đó, có một số lễ hội lớn về quy mô, dài
về số ngày, thu hút đông đảo nhân dân tham dự với nhiều hình thức sinh hoạt phong phú mang tính đặc trưng của Nam Định như: lễ hội Phủ Dầy ở Vụ Bản,
lễ hội đền Trần, lễ hội chùa Keo Hành Thiện, lễ hội chùa Cổ Lễ, lễ hội đền Din, lễ hội làng nghề Ninh Xá Các lễ hội này có ảnh hưởng không chỉ ở phạm vi vùng và địa phương mà còn lan toả tới nhiều vùng trên cả nước [11]
Lễ hội ở Nam Định lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế Với
tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra
Trang 39sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình Hầu như lễ hội ở Nam Định được tổ chức nhiều nhất vào ba tháng mùa xuân và mùa thu Thời gian này là lúc người dân nhàn rỗi Mùa xuân tiết trời ấm áp, mùa thu tiết trời mát mẻ, đều thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội Hai yếu tố cơ bản tạo nên sự thoải mái, vui
vẻ cho người đi dự hội
Bảng 2.1 Danh mu ̣c lễ hô ̣i ở Nam Đi ̣nh
Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du li ̣ch Nam Đi ̣nh
STT
Địa điểm
(Huyện)
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng (tại DTLS-
VH đã xếp hạng)
Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Triệu
Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần
Tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu
DTLS-
VH đã xếp hạng
DT chưa xếp hạng
DTLS-
VH đã xếp hạng
DT chưa xếp hạng
DTLS-
VH đã xếp hạng
DT chưa xếp hạng
Trang 40Trong số 235 lễ hội có nhiều lễ hội tiêu biểu với lịch sử hình thành, phát triển từ lâu đời, quy mô lớn, ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống cộng đồng, mang đặc trưng của giá trị văn hoá truyền thống Nam Định nói riêng và của Việt Nam nói chung
Lễ hội ở địa phương này đã có từ rất lâu, nó đã ăn sâu bám rễ vào đời sống tinh thần của người dân từ thế hệ này sang thế hệ khác Tuy nhiên có một thời gian dài từ sau Cách mạng Tháng tám (1945) đến trước thời kỳ đổi mới (1986), lễ hội không định kỳ hàng năm Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên: Do trong chiến tranh chúng ta cần phải huy động sức người sức của để đánh thắng quân xâm lược, trong điều kiện phòng không sơ tán việc tổ chức rước xách là không thể thực hiện được Từ sau khi có công cuộc đổi mới của Đảng thể hiện qua đường lối của Đại hội VI (1986), các lễ đang dần được phục hồi và phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu Lễ hội đã được tổ chức định kỳ hằng năm và thu hút nhiều khách thập phương đến tham dự
Sự phục hồi của lễ hội đã tạo ra không khí cởi mở vui tươi và phấn khởi trong nhân dân Nó đã tạo ra được môi trường hoạt động sinh hoạt tôn giáo, văn hoá nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của một bộ phận nhân dân, đồng thời giữ gìn những giá trị văn hoá truyền thống đang có xu hướng bị mai một và mất đi trước cơn lốc của nền kinh tế thị trường Qua lễ hội, nhiều hoạt động văn hoá đã được bảo tồn và phát huy như: đua thuyền, rước phụng nghinh, leo cầu ngô Hiện nay lễ hội ở Nam Định đã vượt ra khỏi phạm vi là
lễ hội của làng, xã mà nó đã trở thành một lễ hội lớn có tính chất liên vùng Ví
dụ như lễ hội chùa Keo hiện nay không chỉ do người dân địa phương tổ chức
mà đã có sự liên kết của nhiều thôn, làng trong vùng nhằm đáp ứng nhu cầu của lễ hội
2.2 Thực trạng ảnh hưởng Phật giáo đến đời sống tinh thần trong các lễ hội ở Nam Định hiện nay
1.2.1 Ảnh hưởng đến tư tưởng, tinh thần của lễ hội
Bàn về ảnh hưởng của Phật giáo về tư tưởng, tinh thần của lễ hội, tác