1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM bộ NÔNG NGHIỆP

77 337 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,54 MB
File đính kèm Trồng trọt Việt Nam thích ứng với BĐKH.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo để làm đề tài, luận văn, luận án. Đây là bản Báo cáo cuối cùng của Dự án: Giảm thiểu và Thích ứng của ngành Trồng trọt đối với Biến đổi khí hậu ở Việt Nam do Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện tháng 1 năm 2010.

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

CỤC TRỒNG TRỌT

BÁO CÁO

THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

Hà Nội tháng 01/2010

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Đây là bản Báo cáo cuối cùng của Dự án: "Giảm thiểu và Thích ứng của ngành Trồng trọt đối với Biến đổi khí hậu ở Việt Nam" do Cục Trồng trọt, Bộ Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện tháng 1 năm 2010

Dự án được thực hiện theo thoả thuận LOA - FAVIE, TCP/VIE/3201 ký kết ngày

12 tháng 8 năm 2009 giữa Đại diện của Tổ chức nông lương Liên hợp Quốc(FAO) tại Việt Nam và Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,Việt Nam

Thay mặt Cục Trồng trọt, Tôi xin chân thành cảm ơn Tổ chức Nông lương Liênhợp Quốc (FAO) đã tài trợ Dự án này, nếu không có sự tài trợ của FAO, nghiêncứu này đã không thực hiện được

Xin chân thành cảm ơn ông Andrew Speedy và ông Vũ Ngọc Tiến - đại diện của

tổ chức FAO tại Việt Nam, đặc biệt xin cảm ơn các nhà tư vấn trong nước và quốc

tế đã giúp đỡ chúng tôi thực hiện Dự án cũng như việc hoàn thành bản báo cáonày

Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Cục trưởng

Nguyễn Trí Ngọc

Trang 3

4.1.1 Khái quát về Việt Nam

4.1.2 Khái quát về Ngành Trồng trọt Việt Nam 56

4.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam

4.3 Ảnh hưởng của BĐKH đối với Ngành Trồng trọt ở Việt Nam

4.3.1 Ảnh hưởng của BĐKH đối với đất trồng trọt

4.3.2 Ảnh hưởng của BĐKH đối với sản lượng cây trồng

4.3.3 Ảnh hưởng của BĐKH đối với An ninh lương thực và Thương mại

hoá hàng hoá nông nghiệp

4.3.4 Quan điểm của nông dân về ảnh hưởng của BĐKH

1015152023

244.4 Các biện pháp thích ứng của ngành trồng trọt với BĐKH ở Việt Nam 254.4.1 Khái quát về sự thích ứng đối với Ngành Trồng trọt

4.4.3 Thiếu các giải pháp thích ứng cho Ngành Trồng trọt

4.4.4 Một số giải pháp thích ứng của Ngành trồng trọt đối với BĐKH ở ViệtNam

3134

Trang 4

6 Kết luận 46

Trang 5

1 KHÁI QUÁT DỰ ÁN

Biến đổi khí hậu (BĐKH) và những tác động của nó đối với cuộc sống nhân loại

đã và đang trở thành vấn đề nóng bỏng đối với không chỉ các nhà môi trường học

mà còn với các nhà chính sách ở tất cả các quốc gia trên thế giới BĐKH đangdiễn ra, kèm theo những thay đổi đáng kể về lượng mưa, nhiệt độ và những thayđổi về tần suất, mức độ của chúng Những biến đổi này sẽ ảnh hưởng đến hệ sinhthái tự nhiên và nhân loại một cách độc lập hoặc kết hợp với những yếu tố kháclàm thay đổi năng suất, sự đa dạng và chức năng của rất nhiều hệ sinh thái và sinh

kế toàn cầu Tuy nhiên những tác động này phân bố không đồng đều, những nơi

"có ít tài nguyên nhất thì có ít khả năng thích ứng nhất và bị tổn thương nhiềunhất" (IPCC, 2001)

BĐKH trước hết là do sự phát nhiệt từ nhà kính, mặc dù vậy những cuộc đàmphán quốc tế diễn ra tại Bali vào tháng 12-2007 lại không dành được sự nhất trítrên những mục đích đề ra về giảm thiểu BĐKH Dự báo: tần suất và mức độnghiêm trọng của BĐKH, các thảm hoạ sẽ tăng lên và những cộng đồng nghèo sẽ

là vùng bị tổn thương nhiều nhất, nhưng cho đến giờ vẫn chưa hề có bất cứ sựđồng thuận nào giữa các nước phát triển trong việc giảm thải khí nhà kính Hơnnữa, các nhà khoa học cũng dự tính: cho dù việc thải khí nhà kính có dừng lạiđược ngay hôm nay thì cấp độ BĐKH cũng sẽ vẫn tăng lên và những nước đangphát triển sẽ phải gánh chịu nhiều nhất (Huq, Rahman Reid, 2003) Vì không thểthay đổi được điều đó nên những nước đang phát triển phải tìm cách thích ứng.Cũng có thể nói rằng: việc giảm thiểu là không mang lại hiệu quả, đặc biệt là đốivới những nước đang phát triển, vì vậy họ cho rằng: "giảm thiểu - chúng tôi cóthể, nhưng thích ứng - chúng tôi phải thích ứng (Pielke, 1998, trích từ Huq,Rahman Reid, 2003) Theo Briguglio (2003), việc nhanh chóng thích nghi củacộng đồng có liên quan đến sự thích ứng Vì vậy thích ứng với BĐKH và các tácđộng của nó là phải xây dựng một cộng đồng có khả năng nhanh chóng thích nghivới thảm hoạ Nghĩa là phát triển khả năng thích ứng để đối mặt với BĐKH cũngnhư những hiểm hoạ liên quan (ID21, 2008 và DFID, 2007)

Đối với các quốc gia Đông Nam Á, những hiện tượng này là cực kỳ nguy hiểm, vìnhững nước này có đường bờ biển dài, nặng về nông nghiệp, cấp độ nghèo đói cao

và sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại Việt Nam là một trong những nước dễ bị bịtổn hại nhất trên thế giới vì Việt Nam có đường bờ biển dài (3000 km), phụ thuộcvào nông nghiệp (hơn 75% dân số sống ở vùng nông thôn) và cấp độ phát triểnthấp (thu nhập bình quân đầu người thuộc một trong những nước thấp nhất ChâuÁ) Trong một báo cáo gần đây của Ngân hàng Thế giới, tác gải đã lưu ý, ViệtNam có thể là 1 trong 5 nước đứng đầu chịu ảnh hưởng của hiện tượng biển lấn domực nước biển dâng lên với những hệ quả mang tính thảm khốc (Dasgupta et al.2007) 16% tổng diện tích đất của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nếu mực nước biển

Trang 6

tăng lên 5 mét và 35% dân số cùng phải chịu tác động này Thậm chí, nếu mựcnước biển chỉ tăng chưa đầy 1 mét (dự báo vào khoảng năm 2100 hoặc sớm hơn)thì đã có khoảng 1/10 dân số Việt Nam phải chịu ảnh hưởng, đây là lượng dân sốlớn nhất bị tác động trên tổng số 84 quốc gia trong bảng phân tích của Ngân hàngThế giới Kèm theo vấn đề biển lấn là các hệ quả có thể ảnh hưởng đến Việt Namtheo như dự đoán về BĐKH đến cuối thế kỷ: lũ lụt tăng lên do gió mùa thay đổi,lượng mưa thất thường và thay đổi theo mùa, cực nhiệt độ nóng, lạnh sẽ tăng trungbình khoảng 2.50C, khô cằn và hạn hán ở miền Trung, thay đổi về tần suất, độmạnh và vị trí của bão, lan tràn bệnh dịch (GOV 2003).

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng kinh tế đáng khích

lệ, trung bình 8% một năm, bên cạnh đó tỷ lệ đói nghèo cũng đã giảm từ 60% năm

1993 xuống còn 16% năm 2006 Tuy vậy những tiến bộ này là chưa đáng kể vàvẫn có thể bị ảnh hưởng của BĐKH làm suy thoái Hàng năm, khu vực duyên hảiluôn bị bão đe doạ và đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm tới hàng ngàn người,gây thiệt hại cho Việt Nam hàng tỷ USD trong thập kỷ qua Nông nghiệp là ngành

dễ bị tổn thương nhiều nhất trong các sự kiện liên quan đến khí hậu, cụ thể nhưbão lũ ảnh hưởng đến việc trồng lúa ở ĐBSCL, hạn hán ảnh hưởng đến sản xuất

cà phê ở Tây nguyên Tốc độ BĐKH dự tính cho biết: hàng triệu người Việt Nam

sẽ phải đối mặt với những rủi ro đang ngày càng tăng Ngân hàng Thế giới đã lưuý: "Cả thế giới chưa từng đối mặt với thảm kịch này, hãy bắt đầu lập kế hoạch đểthích ứng với BĐKH ngay bây giờ vv Chiến lược phân bổ tài nguyên nên biếtrằng phân chia ảnh hưởng của BĐKH hậu là không đồng đều vv., một vài quốc gia

bị ảnh hưởng nhẹ hơn trong khi các quốc gia khác lại bị ảnh hưởng nặng đến nỗi

sự vẹn toàn quốc gia có thể bị đe doạ (Dassgupta et al 2007) Điều này kêu gọimọi người ra tay kiềm chế các tác động không đồng đều của BĐKH và yêu cầuphải nhanh chóng mở rộng các chiến lược thích ứng, tất cả đã được đưa ra tại Hộinghị các bên, liên quan đến khung Công ước về BĐKH (UFNCCC) diễn ra tạiBali năm 2007 Hội nghị đã kêu gọi tập chung hơn nữa cho các hành động thíchứng với BĐKH như: "Hợp tác quốc tế ủng hộ cho quá trình thực thi các hành độngthích ứng với BĐKH bao gồm: đánh giá sự tổn hại, các hoạt động ưu tiên, đánhgiá nhu cầu tài chính, khả năng xây dựng và đáp ứng các chiến lược, hợp nhất cáchoạt động thích ứng vào kế hoạch quốc gia và khu vực, cụ thể hoá các kế hoạch vàchương trình…." (Quyết định CP.13, Kế hoạch hành động Bali)

Việt Nam là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống chủ yếu dựa vàonông nghiệp và các hoạt động liên quan Trồng trọt chiếm 63% tổng GDP củangành nông nghiệp, chiếm 65% lao động và đóng góp hơn 60% giá trị xuất khẩu

Vì vậy trồng trọt đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, nhưngcũng chính vì thế mà ảnh hưởng của BĐKH lên ngành trồng trọt sẽ tác động đếnsinh kế của rất nhiều người dân Việt Nam Năm 2008, BĐKH đã đánh vào cây

Trang 7

điều và ngành cao su Việt Nam tại một số tỉnh miền Nam và Tây nguyên Cái lạnhbất thường cuối năm 2007 đầu 2008 gây thiệt hại cho mùa màng ở miền Bắc Như

đã dự đoán, mực nước biển sẽ tăng và gây lũ lụt cho phần lớn các cánh đồng lúa,

đe doạ sự phát triển của cây cối ở những vùng này Chỉ tính riêng năm 2007, bão

và lũ đã gây ra rất nhiều thiệt hại về người và của Triều cường dâng cao đã pháhuỷ nhiều đê đập ở Thành phố Hồ Chí Minh, huỷ hoại nhiều đồng ruộng, trangtrại, các khu vực nuôi trồng thuỷ sản và nhà cửa Hàng ngàn người ở những khuvực này bị bão lũ hoành hành và đang phải đối mặt với cuộc sống khó khăn

Theo báo cáo của IPCC (2007), việc nhiệt độ trung bình tăng sẽ gây ảnh hưởngxấu đến năng suất cây trồng Cụ thể: nếu nhiệt độ tăng lên 1 độ thì năng suất lúa

có thể giảm 10% và năng suất ngô giảm 5-20%, nhu cầu nước tưới cho cây trồngcũng sẽ tăng khoảng 10%, điều này sẽ trở thành vấn đề nan giải cho hệ thống tướitiêu Nước biển tăng lên sẽ nhấn chìm những cánh đồng mầu mỡ của Việt Nam, cụthể: Nếu mực nước biển tăng lên 1m, nó sẽ nhấn chìm 5000 km2 ở ĐBSH và15000-20000m2 ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ảnh hưởng đến 12% diệntích đất và 10% dân số Việt Nam

Đã xuất hiện những ảnh hưởng ban đầu của BĐKH và các nhà khoa học cho rằngnhững tác động tiếp sau là không thể tránh khỏi cho dù bất cứ điều gì xảy ra vớiquá trình thải khí nhà kính tương lai Vấn đề hiện nay không phải là làm thế nào

để ngăn chặn BĐKH mà là làm thế nào để thích ứng với nó Việt Nam có tiềmnăng làm giảm các tác động của BĐKH lên trồng trọt, vì vậy cần phải xây dựng vàthực hiện càng sớm càng tốt kế hoạch hành động cho ngành trông trọt để thích ứngvới BĐKH, giúp đảm bảo cuộc sống và sinh kế của các hộ nông dân

Trong khuân khổ này, chúng tôi lập dự án xây dựng và thực hiện kế hoạch hànhđộng cho ngành trông trọt để thích ứng với BĐKH tại Việt Nam

- Xây dựng năng lực và thực hiện các biện pháp thích ứng với BĐKH cho ngànhtrồng trọt tại một số khu vực ở Việt Nam

- Tăng cường hợp tác quốc tế và huy động mọi nguồn lực (cả trong nước và nướcngoài) trợ giúp ngành trồng trọt trong việc thích ứng với BĐKH tại Việt Nam

Trang 8

3 Phương pháp

3.1 Nghiên cứu lựa chọn điểm

Chúng tôi đã chọn 4 xã của 4 tỉnh bị ảnh hưởng nặng nhất của BĐKH để thực hiệnkhảo sát, đó là các tỉnh Thái Bình, Nam Định thuộc ĐBSH và Cà Mau, Sóc Trăngthuộc ĐBSCL Dữ liệu và thông tin về BĐKH cũng như các biện pháp thích ứng ở

4 tỉnh này là đại diện cho các tỉnh khác ở cả 2 vùng Đồng bằng

3.2 Thu thập dữ liệu

3.2.1 Dữ liệu thứ cấp

Chúng tôi thu thập dữ liệu thứ cấp về BĐKH và các tác động của nó từ các tổ chức

và cơ quan liên quan như: Cục Khí tượng thuỷ văn, Phòng Biến đổi khí hậu, Việnnghiên cứu Môi trường Khí tượng thuỷ văn Cơ sở dữ liệu này dùng để dự báo cáctác động của BĐKH lên sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nóiriêng

3.2.2 Dữ liệu sơ cấp

Chúng tôi lấy dữ liệu sơ cấp từ 2 nguồn: (a) điều tra thực địa và (b) tổ chức cáccuộc thảo luận nhóm cũng như các hội thảo

a Điều tra thực địa

Mục đích chính của điều tra thực địa là để tập hợp các thông tin về: (1) sự xuấthiện của các hiện tượng cực đoan được coi là hậu quả của BĐKH như hạn hán, lũlụt, khí hậu bất thường xảy ra trong những năm gần đây; (2) Ảnh hưởng củaBĐKH lên sản xuất nông nghiệp, trồng trọt; (3) thực thi các biện pháp dự định đểthích ứng với BĐKH; Phỏng vấn các nông dân, chủ hộ và các nhân viên tại địaphương bằng bảng câu hỏi có sẵn Bảng câu hỏi gồm 4 phần: (1) thu thập thông tinchung về các hộ gia đình, nhân viên và các tổ chức; (2) thu thập thông tin về sựxuất hiện của các hiện tượng cực đoan từ quan điểm của các chủ hộ và nhân viên;(3) Thu thập thông tin về ảnh hưởng của BĐKH lên sản xuất nông nghiệp nóichung và trồng trọt nói riêng (ví dụ: ảnh hưởng đến bao nhiêu diện tích cây trồng,sản lượng và năng suất thay đổi như thế nào?); (4) thu thập thông tin về việc cácnông hộ đã và sẽ làm gì để thích ứng với BĐKH (thay đổi giống cây trồng, mùavụ; quan điểm của các nông hộ và nhân viên về những điều nên làm để thích ứngvới BĐKH trong tương lai Bảng câu hỏi dự thảo được thử nghiệm thông qua cáccuộc phỏng vấn của 10 nông hộ và nhân viện tại địa phương để xác đinh tính phùhợp, sau đó được hoàn thiện cho cuộc khảo sát chính thức Người phỏng vấn cũng

đã xem xét trước nội dung của bản câu hỏi, được giới thiệu và trực tiếp phỏng vấn

Trang 9

b Thảo luận nhóm (Focus group discussion - FGD)

FGD là 1 phương pháp dùng để thu thập những hiểu biết chung của mọi người vềvấn đề đưa ra tại điểm nghiên cứu, giúp trả lời một số câu hỏi Hơn thế nữa, thảoluận nhóm trong số những người cung cấp thông tin chính còn giúp kiểm địnhđược độ chính xác của thông tin thu được Nói cách khác, FGD dùng để kiểm trachéo thông tin thu được từ các phương pháp thu thập thông tin khác

Trong nghiên cứu nay, một vài FGD đã được tổ chức để lấy thông tin Thứ nhất làFGD với các nông hộ (những người khác nhau về tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội,kinh nghiệm…) để thấy được quan điểm của họ về sự xuất hiện của các hiệntượng khí hậu lạ, ảnh hưởng của BĐKH và giải pháp thích ứng; Thứ hai là FGDvới nhân viên địa phương để có được nhận thức đầy đủ về BĐKH và sự ứng phócủa cộng đồng nơi đó, quan điểm của họ về BĐKH Bắt đầu các cuộc thảo luậnbằng những câu hỏi mở, tạo cơ hội cho nhóm thảo luận nói rõ hơn về vấn đề đangbàn luận

c Tổ chức hội thảo

Tổ chức 2 cuộc hội thảo về các vấn đề liên quan đến BĐKH với sự tham gia củanhân viên Cục Trồng trọt, Cục Khí tượng thuỷ văn, Phòng Biến đổi khí hậu, Việnnghiên cứu Môi trường Khí tượng thuỷ văn và các cơ quan liên quan khác để cóđược thông tin chi tiết về BĐKH, để chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình thực hiệncác nghiên cứu và để tăng cường năng lực trong việc giải quyết các vấn đề vềBĐKH Tâm điểm của hội thảo là đưa ra các biện pháp giảm thiểu và thích ứngvới BĐKH cho ngành trồng trọt bao gồm các chương trình nghiên cứu giống câytrồng và biện pháp canh tác mới

3.3 Phân tích số liệu

Bản phân tích của nghiên cứu này dựa trên 3 phần Đầu tiên là chúng tôi dùngphương pháp thống kê mô tả để nói về sự xuất hiện của BĐKH, ảnh hưởng của nóđối với sản xuất nông nghiệp và các biện pháp thực hiện để thích ứng Tiếp đếnchúng tôi dùng phương pháp so sánh để xác định các tác động nổi cộm qua cácnăm và giữa các vùng miền bằng cách so sánh năng suất, sản lượng, những thayđổi về giá trị sản xuất và hiệu quả kinh tế Cuối cùng là phân tích SWOT để xácđịnh điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

4 Kết quả và thảo luận

4.1 Khái quát về Việt Nam và Ngành Trồng trọt Việt Nam

4.1.1 Khái quát về Việt Nam

Việt Nam có tổng diện tích đất là 320.000 km2 và đường bờ biển dài 3260 km 3/4lãnh thổ là đồi núi với độ cao so với mặt nước biển từ 100-3400m Diện tích đấtcòn lại là đồng bằng với 2 đồng bằng chính là Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) ở

Trang 10

Miền Bắc và ĐBSCL ở Miền Nam Đất đai tại hai vùng đồng bằng này rất mầu

mỡ và dân cư tập trung cao, đây cũng là vùng tâm điểm của hầu hết các ngànhcông nghiệp và nông nghiệp của Việt Nam

Khí hậu điển hình của Việt Nam là nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên do chiều dài vàđịa hình đa dạng của đất nước mà khí hậu khá khác biệt giữa các vùng miền Nhiệt

độ trung bình hàng năm lên xuống giữa khoảng 180C - 290C, trong đó nhiệt độtrung bình các tháng lạnh ở miền núi phía Bắc thay đổi trong khoảng 130C - 200C

và miền Nam là 200C - 280C Lượng mưa trung bình ở hầu hết các vùng trong cảnước lên xuống trong khoảng 1400 mm - 2400 mm, tuy nhiên một số vùng có thểlên cao tới 5000 mm hoặc xuống thấp 600 mm, lượng mưa lại phân bố khôngđồng đều trong cả năm, khoảng 80% - 90% lượng mưa tập trung vào mùa mưa, đóchính là nguyên nhân gây lũ lụt, lũ quét và sạt lở đất Số ngày mưa trong nămcũng rất khác nhau giữa các vùng (từ 60 mm - 200 mm)

Nền kinh tế Việt Nam còn dựa chủ yếu vào nông nghiệp, với số dân khoảng 86triệu người, trong đó 75% làm nghề nông, lâm, thuỷ sản Ngành nông nghiệpchiếm 20% tổng GDP của cả nước, giá trị của ngành nông nghiệp là 77%, lâmnghiệp là 4% và thuỷ sản là 19% Việt Nam vẫn được coi là một nước đang pháttriển trên thế giới, với thu nhập bình quân đầu người năm 2008 là 1000USD/người/năm Sản lượng trồng trọt và chăn nuôi cũng như thị trường xuất khẩucủa các mặt hàng nông nghiệp chưa ổn định Với tỷ lệ sinh con cao 2.2% đã gâykhó khăn cho phát triển kinh tế đất nước

4.1.2 Khái quát về ngành Trồng trọt Việt Nam

Nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng là mảng kinh tế chính trong toànkhu vực Đông Nam Châu Á, Việt Nam cũng vậy, nông nghiệp chiếm 20% tổngGDP Hiện tại khoảng 3/4 dân số sống ở khu vực nông thôn và nông nghiệp và cáchoạt động liên quan đến nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của họ Chính phủViệt Nam luôn luôn coi nông nghiệp là lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế và chorằng sự phát triển chỉ có ý nghĩa khi khu vực nông thôn đạt được thu nhập cao hơn

và một cuộc sống tốt đẹp hơn Hơn thế nữa, Chính phủ cũng mong muốn ngànhnông nghiệp có được đóng góp đáng kể trong việc thu ngoại tệ, và những thànhcông của ngành nông nghiệp vì thế rất quan trọng để Việt Nam đạt được nhữngmục tiêu quốc gia

Nông nghiệp Việt Nam là sự kết hợp của trồng trọt như: lúa, ngô, khoai tây, rau vàchăn nuôi như: lợn, trâu, gia súc và gia cầm Trồng trọt chiếm tới 3/4 tổng sảnphẩm đầu ra của ngành nông nghiệp, và chăn nuôi chiếm phần còn lại (Tổng cụcthống kê, 2008) Giữa 7 vùng địa lý của đất nước, nông nghiệp tập trung ở 2 vùngdân cư đông đúc nhất là ĐBSH ở miền Bắc và ĐBSCL ở miền Nam với cây trồngchủ đạo là lúa và vật nuôi quen thuộc là lợn

Trang 11

Trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp: cây lương thực chiếm 60% tổng giá trị sảnphẩm nông nghiệp, trong khi đó cây lưu niên và cây công nghiệp chiếm 24%, cây

ăn quả và rau chiếm 14% Trong các cây lương thực, lúa là cây chủ đạo chiếm85% tổng diện tích đất canh tác và 40% tổng giá trị sản phẩm đầu ra Việt Nam đãtrở thành nước sản xuất gạo lớn thứ 5 trên thế giới, chủ yếu là canh tác lúa nước ở

2 ĐBSH và Sông Cửu Long Các cây trồng khác là ngô, khoai tây và sắn

Hình 1: Bản đồ Việt Nam

Trang 12

Bảng 1 Diện tích các loài cây trồng (1000 ha)

diệntích

Tổngdiện tích

Cây cóhạt

Cây côngnghiệp

Tổngdiệntích

Cây côngnghiệplâu năm

Cây ănquả

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2009

Cà phê là cây công nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam, đã được sản xuất từnăm 1975 nhưng chỉ ở mức nhỏ với công nghệ, quy cách chế biến khác nhau Sảnlượng đạt được khoảng 1300 kg/ha, gấp đôi sản lượng trung bình của thế giới Bêncạnh cà phê thì cao su, mía, lạc, đậu tương, chè và hạt tiêu cũng là những loại câycông nghiệp lưu niên quan trọng

Sản xuất mía đường nhìn chung vẫn theo xu hướng tăng lên kể từ năm 1975 Diệntích trồng mía tăng ổn định và đạt mức cao nhất là 320 ngàn ha năm 2002 Cũngvậy, cây cao su cũng có chiều hướng tăng dần đều trong thời gian qua, cao suđược sản xuất chủ yếu tại những trang trại có sự quản lý của nhà nước, nông dânđược giao nhiệm vụ trồng, chăm sóc và thu mủ cao su Việt Nam cũng là nước sảnxuất hạt điều lớn thứ 3 trên thế giới, sản phẩm này tăng rất nhanh và dao độngtrong những năm 1990 Tương tự như cà phê, hơn 90% hạt điều chế biến dành choxuất khẩu, chỉ 7-8% dành cho tiêu thụ trong nước do giá của loại sản phẩm nàykhá cao Đối với sản xuất lạc, Việt Nam xếp thứ 10 trên thế giới

Trang 13

Bảng 2 Diện tích và năng suất cây có hạt

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2009

Bảng 3 Diện tích cây công nghiệp lưu niên chính (1000 ha)

Trang 14

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2009

Trong những năm gần đây, do BĐKH cùng với việc gia tăng dân số và các ngànhcông nghiệp, nông nghiệp Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á đang phảichịu những áp lực về môi trường

4.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam

BĐKH ngày nay đang là mối quan tâm lớn của toàn thế giới, nó đã và đang ảnhhưởng đến Việt Nam và khu vực Châu Á Theo báo cáo của IPCC (2007), nhiệt độmặt đất trung bình ở Đông Nam Á đang có xu hướng tăng lên trong vài thập kỷqua, từ 1951 - 2000, cứ mỗi 10 năm nhiệt độ tăng khoảng từ 0.10C -0.30C; lượngmưa thì giảm xuống trong khi mực nước biển cũng có xu hướng tăng lên (1 - 3

mm mỗi năm) Tần suất và mật độ của các hiện tượng thời tiết bất thường cũngngày càng gia tăng

Số ngày đêm nóng tăng lên trong khi số ngày đêm lạnh giảm xuống; hiện tượngnhững ngày có lượng mưa lớn, gió lốc gió xoáy cũng xuất hiện nhiều hơn, nhữngthay đổi về khí hậu này dẫn tới lụt lội, hạn hán và sụt lở đất ở nhiều nơi trongvùng, hủy hoại tài sản và mạng sống của nhiều người BĐKH cũng gây thiếu nướctrầm trọng ở nhiều khu vực, cản trở sản xuất nông nghiệp và đe dọa An ninh lươngthực, gây cháy rừng, làm cho rừng xuống cấp, tàn phá tài nguyên biển và tăngnguy cơ bùng phát dịch bệnh

Tại Việt Nam, có khá nhiều bằng chứng phản ánh sự xuất hiện của BĐKH, đó là:

(1) Hiện tượng nhiệt độ tăng

Các bằng chứng cho thấy quá trình tăng nhiệt độ đã trở lên rõ ràng hơn trongnhững năm gần đây so với nửa đầu của thế kỷ 20 Rất nhiều nghiên cứu của các

Trang 15

nước cho biết nhiệt độ đã tăng lên ở tất cả các quốc gia Đông Nam Á (ADB,2009)

Bảng 4 Mức thay đổi nhiệt độ trung bình ( o C) giai đoạn 1980-1999

Lưu ý: Dựa vào dự báo bốc nhiệt cao và thấp: Nguồn: MONRE, 2009

Ở Việt Nam, từ năm 1900 – 2000, cứ mỗi thập kỷ nhiệt độ trung bình lại tăng lên0.10C, và có lẽ còn tăng nhanh hơn vào nửa sau thế kỷ Mùa hè đã trở lên nónghơn với mức tăng từ 0.1°C – 0.3°C một thập kỷ Dự đoán nhiệt độ ở hầu hết cácvùng miền của Việt Nam sẽ tăng thêm 2 ºC – 4ºC vào năm 2100 (Cuong, 2008).Còn theo dự đoán của MONRE (2009), nhiệt độ sẽ tăng 1 – 1.4oC, cao nhất là 1.4-1.5oC ở khu vực Bắc Trung Bộ và thấp nhất là 0.8oC ở khu vực Tây Nguyên vàonăm 2050 Năm 2010, nhiệt độ sẽ tăng từ 1.1 – 3.6oC, nhưng có sự khác biệt giữacác vùng Miền Bắc sẽ tăng khoảng 1.6 – 3.3oC; Miền Trung, đặc biệt là BắcTrung Bộ sẽ tăng khoảng 1.9 – 3.6oC (cao nhất Việt Nam); Miền Nam và TâyNguyên sẽ tăng 1.1-2.6oC (thấp nhất Việt Nam)

(2) Hiện tượng giảm lượng mưa

Trong những năm của nửa sau thế kỷ, lượng mưa ở Đông Nam Á thay đổi giữacác mùa và giữa các năm với xu hướng chung là giảm trận mưa cho đến năm 2000

và giảm cả số ngày mưa (ADB, 2009)

Bảng 5 Những thay đổi về lượng mưa hàng năm giai đoạn 1980 – 1999

4.6 6.8

4.7 6.8

5.1 7.4

-10.1

Trang 16

4.9 7.1

-5.0 - 9.7

-1.7

1.8 2.1

2.1 3.0

-2.2 - 4.1

-0.9

0.9 1.3

-1.0 - 1.8

-1.0

1.0 1.4

-1.0 - 1.9

Lưu ý: Dựa vào dự báo bốc nhiệt cao và thấp ; Nguồn: MONRE, 2009

Ở hầu hết các vùng miền của Việt Nam, số trận mưa trung bình hàng tháng giảm,đặc biệt là giữa tháng 7 - 8, nhưng lại tăng vào tháng 9 - 11 Số trận mưa giữa cácvùng biến động khá lớn, mật độ trận mưa tăng đáng kể nhưng lại mang tính cục

bộ, tập trung ở một số vùng và khó dự đoán, do đó dễ gây lũ lụt

Gió mùa Đông Nam sẽ ảnh hưởng lớn đến lượng mưa của Việt Nam Một nghiêncứu gần đây về lượng mưa của Việt Nam trong tương lai cho biết, lượng mưa hàngnăm ở hầu hết các khu vực sẽ tăng 5 - 10% vào cuối thế kỷ (Cuong 2008), MiềnNam Việt Nam sẽ khô hanh hơn (ADB, 2009)

(3) Hiện tượng thời tiết bất thường tăng lên

IPCC (2007) đã tổng kết trong 1 báo cáo những thay đổi về khí hậu như các đợtnóng, số ngày nóng tăng, số ngày lạnh giảm cùng với những cảnh báo khác ởĐông Nam Á từ năm 1950 Báo các cũng nhấn mạnh sự tăng lên của các trận mưalớn trong khu vực từ 1900 - 2005, các cơn lốc xoáy trong mùa hè (tháng 7 - 8) vàmùa thu (tháng 9 - 11) Năm 2004, số lượng các trận sụt lở, bão và bão nhiệt đớităng chưa từng thấy (21 cơn bão nhiệt đới) Những hiện tượng cùng cực bấtthường này gây lụt lội và sụt lở trên diện rộng tại nhiều vùng miền, ảnh hưởng đếntài sản và mạng sống của nhiều người

Các hiện thời tiết tượng bất thường của Việt Nam bắt nguồn từ các cơn bão nhiệtđới, các đợt hạn hán, lũ lụt cũng như các đợt nóng nắng 50 năm vừa qua, thángđỉnh điểm của bão nhiệt đới đã chuyển từ tháng 8 sang tháng 11 và có xu hướngchuyển xuống những vĩ độ thấp hơn Hầu hết các cơn bão trong năm cũng xuấthiện muộn hơn Từ năm 1952 - 2005, Thừa Thiên Huế đã bị 34 cơn bão hoànhhành ENSO cũng ảnh hưởng mạnh mẽ hơn tới nhiều vùng miền của Việt Nam.Hạn hán, lũ lụt xuất hiện với tần suất cao hơn, gây ảnh hưởng cho các tỉnh duyênhải miền Trung Còn vùng Đồng bằng Bắc Bộ thì phải chịu những đợt nóng nắngtrong mùa hè và ở Miền Nam thì xuân hè (Cuong 2008), Miền Nam cũng xuấthiện những đợt hạn hán kéo dài hơn trong những năm gần đây

Trang 17

Chỉ tính riêng từ 2007 - 2009, các hiện tượng thời tiết bất thường như bão, lũ vàhạn hán đã ảnh hưởng đến 10.000 người trong cả nước Tại các tỉnh miền Trung,người dân địa phương đã phải gánh chịu những trận mưa lớn trong mùa lũ vàocuối năm 2007 và giữa năm 2009; Ở Miền Nam, vào tháng 11 -2007 và tháng 10 -

2009, Thành phố Hồ Chí Minh đã chứng kiến cảnh triều cường tồi tệ nhất trongvòng 48 năm qua, phá huỷ 40 đoạn đê đập bao quanh thành phố, hàng trăm họcsinh phổ thông không thể đến trường, nhiều nhà, xưởng và nông trại bị phá huỷ.Còn ở Miền Bắc, theo báo cáo của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Quốcgia, vào đầu năm 2008 một đợt lạnh chưa từng thấy kéo dài 38 ngày đã xảy ra, phá

vỡ kỷ lục đợt lạnh 31 ngày năm 1989 Nhiệt độ hạ xuống dưới 100C, có vùng đãxuống đến -20C

IPCC (2007) cũng dự báo những hiện tượng bất thường về lượng mưa như biếnđộng về lượng mưa theo ngày sẽ tăng lên ở Châu Á; cường độ lốc xoáy cũng sẽtăng 10–20% do nhiệt độ mặt biển tăng 2–4°C Các nhà khí hậu học cũng cảnhbáo hiện tượng El Niño và La Niña sẽ khắc nghiệt hơn ở Việt Nam do sự nóng lêntoàn cầu,

(4) Hiện tượng mực nước biển tăng lên

IPCC (2007) viện dẫn từ một vài nghiên cứu rằng mực nước biển đang dâng lên vàcàng ngày càng nhanh trong những năm gần đây Theo Arendt cùng đồng nghiệp(2002) và Rignot cùng đồng nghiệp (2003), mực nước biển tăng 3.1 mm mỗi nămtrong thập kỷ qua so với 1.7–2.4 mm mỗi năm trong cả thế kỷ XX Tuy nhiên tỷ lệtăng này lại khác nhau giữa các khu vực Ở Việt Nam, mực nước biển tăng từ 2.5 -3.0 cm mỗi thập kỷ trong vòng 50 năm qua, nhưng mỗi khu vực tăng một khác

Bảng 6 Dự báo mực nước biển tăng ở Việt Nam qua các năm (So với giai đoạn 1988-1999)

Trang 18

hiện tượng tan băng chưa từng thấy ở Bắc cực và Tây Nam cực càng khẳng địnhquan điểm của các nhà khoa học, họ cho rằng mực nước biển sẽ tăng ít nhất 1 métvào năm 2100 Nếu băng ở Đảo băng và Tây Nam cực tan hết thì mực nước biển

sẽ tăng lên nhiều mét, tuy nhiên sẽ phải mất vài trăm năm để điều này xảy ra

(5) Nhận thức của nông dân vềsự xuất hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Hầu hết những nông dân được phỏng vấn đều cho rằng biến đổi khí hậu xuất hiệnkhá rõ ràng qua những biến đổi về các ngày nóng, lạnh, mưa to bất thường, bão, lũ

và mực nước biển tăng lên (bảng 7)

Bảng 7 Ý kiến của nông dân về sự xuất hiện của biến đổi khí hậu

Trang 19

4.3 Ảnh hưởng của BĐKH đối với Ngành Trồng trọt ở Việt Nam

IPCC đã lưu ý (IPCC, 2001b) BĐKH sẽ mang đến nhiều hậu quả tiêu cực như: tầnsuất các đợt nóng nắng sẽ cao hơn, cường độ các các trận bão, lũ và hạn hán cũngmạnh hơn, mực nước biển tăng nhanh, lây lan bệnh tật và mất đi sự đa dạng sinhhọc

4.3.1 Ảnh hưởng của BĐKH đối với đất Trồng trọt

a Mực nước biển dâng

Trong 50 năm qua, mực nước biển ở Việt Nam tăng thêm 2.5 - 3.0 cm mỗi thập

kỷ Theo dự đoán của MONRE (2009), mực nước biển ở Việt Nam sẽ tăng thêm

28 - 33 cm vào năm 2050 và 65 - 100 cm năm 2100 Theo ước tính của Ngân hàngThế giới, tại những khu vực bị ảnh hưởng của các nước đang phát triển, mực nướcbiển sẽ tăng từ 1 - 5 mét Việt Nam là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều thứ 2, 10%tổng diện tích bị tác động (sau Bahamas)

Hình 2: Các quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất: Diện tích đất

Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 2007

Theo VFEJ 16-9-2009 (Vietnam Forum of Environmental Journalists), mực nướcbiển cứ tăng lên 1 mét thì 14 triệu dân ở ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng, bên cạnh đó nócòn gây ngập lụt cho khoảng 40.000 km2 đất đồng bằng và khoảng 17.000 km2 đất

ở khu vực duyên hải Cũng theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Đào Xuân Học(SGGP online, 2009), trong một cuộc hội thảo về BĐKH ở Việt Nam do BộNN&PTNT tổ chức tháng 8-2009, ông cho biết: nếu mực nước biển tăng lên 0.2-0.6m thì 100000-200.000 ha đất sẽ bị ngập, còn nếu tăng lên 1 mét thì nước sẽ làmngập 0.3-0.5 triệu ha đất ở ĐBSH và 90% diện tích đất ở ĐBSCL sẽ bị ngập liêntục 4-5 tháng Các tỉnh bị ảnh hưởng nặng nhất là Bến tre (50.1%), Long An

Trang 20

(49.4%), Trà Vinh (45,7%), Sóc Trăng (43,7%), Thành phố Hồ Chí Minh (43%),Vĩnh Long (39,7%), Bạc Liêu (38,9%), Tiền Giang (32,7%), Kiên Giang (28,2%),Cần Thơ (24,7%) ĐBSH có tổng diện tích 1.3 triệu ha, trong đó 1.15 triệu hađược đê bảo vệ, tuy nhiên đê cũng bị đe doạ nghiêm trọng vào mùa lũ khi nướcsông tăng lên 0.5-1 mét (bằng chiều cao của đê) Đối với diện tích trồng lúa thìước tính khoảng 2 triệu ha trong tổng số 4 triệu ha cũng sẽ bị ngập.

Bảng 8 Hiện trạng lũ lụt tại Đồng Bằng sông Cửu long của Việt Nam (1000ha)

Mực nước Diện tích bị ngập

năm 2000

Diện tích bị ngập khi nước biển tăng lên 0.69m

Diện tích bị ngập khi nước biển tăng lên 1m

Nguồn: Đào Xuân Học, 2009

Bảng 9 Hiện trạng lũ lụt tại vùng đồng bằng Duyên hải Miền Trung (1,000ha)

Tỉnh/Thành phố Diện

tích

Mực nước biển tăng

0.69m Mực nước biển tăng 1mNgập

hoàn toàn Bán ngập

Ngậphoàn toàn Bán ngập

Trang 21

Bảng 10 Hiện trạng lũ lụt tại vùng đồng bằng Sông Hồng (1,000ha)

Diện tích bị ngập năm 2000

Diện tích bị ngập khi nước biển tăng lên 0.69m

Diện tích bị ngập khi nước biển tăng lên 1m

họ Với những dự báo về mực nước biển tăng lên trong những năm tới, quá trìnhxâm nhập mặn, đặc biệt là ở khu vực duyên hải của ĐBSCL sẽ trở thành vấn đềlớn hơn bao giờ hết, nhất là với những hộ nghèo không có điều kiện và khả năng

để thích ứng Sự cộng hưởng giữa hạn hán trong mùa khô (thường từ tháng 12năm trước đến tháng 4 năm sau ở Miền Nam) và nước biển dâng cao tràn vào cácsông đã làm tăng lượng muối trong nước, nước có muối lại tràn vào các khu vựctrước đây chưa bị xâm nhập mặn

Bảng 11 Dự báo diện tích bị xâm nhập mặn (hơn 4g/l) ở Đồng bằng sông Cửu Long (Unit: 1000 ha)

Diện tích bị xâm mặn So với năm 2004

Nguồn: Đào Xuân Học, 2009

Hầu hết các chuyên gia cho rằng lý do chính của qúa trình xâm nhập mặn là vìkhông có đủ lượng nước ngọt (nhất là trong mùa mưa) đổ vào các sông để rửa trôinước muối Phá rừng, mở rộng hệ thống tưới tiêu ngược dòng, tăng diện tích đất

sử dụng, xây đập thuỷ lợi và biển lấn cũng là những nguyên nhân gây ngập mặn

Ở ĐBSH, nước mặn từ biển tràn vào các sông khoảng 25-40 km, còn ở duyên hải

Trang 22

Miền Trung là 30-40 km Các nhân viên của Sở NN & PTNT ở tỉnh Thái Bình báocáo hiện tượng mực nước biển tăng lên cùng với hạn hán trong mùa khô khiến chonước mặn từ các cửa sông Tra Ly, Balat, Hoa tràn vào 15-20km

Hình 2 Bản đồ đánh giá tài nguyên nông nghiệp ở ĐBSCL khi BĐKH

(Nguồn: Tran, Nguyen Ngoc - 2009)

Hình minh hoạ cho thấy từ năm 2002 - 2005 lượng muối ở 3 sông (Cua Dai, HamLuong and Co Chien) đã tăng đáng kể trong 3 tháng 2, 3, 4 (được kiểm tra tại 5trạm của tỉnh Bến Tre) Đến tháng 5, lượng muối ở 4 trạm giảm nhẹ, còn 1 trạmvẫn tăng Chuyên viên của Sở NN cho biết, vào cuối mùa khô tháng 5-2007, nướcmặn bao phủ khoảng 2/3 tỉnh Bến Tre và tràn vào các sông khoảng 60 km (tănglên 10 km trong 5 năm qua) Nồng độ muối ở các sông tại một số nơi cũng tăngđến 4ppt khiến cho lúa không thể sinh trưởng Tại những nơi trước đây chưa bịnhiễm mặn, nồng độ muối đã là 1 hoặc 2ppt, con số này ảnh hưởng nghiêm trọngđến các vườn cây ăn quả và vườn ươm Xâm nhập mặn đang ở mức báo động, gâytổn hại không nhỏ về mặt kinh tế: năm 2003, xâm nhập mặn gây thiệt hại 12 tỉđồng cho tỉnh Bến Tre, 16.000 hộ gia đình không có nước ngọt để dùng Năm

2005, con số thiệt hại tăng lên 570 tỉ đồng, chủ yếu là do mất mùa lúa, cây ăn quả,dừa và mía Số hộ gia đình không có nước ngọt cũng tăng lên 110.000 trong tổng

số 280.000 hộ của tỉnh

Đầu năm 2008, các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và quốc tế chobiết: tình trạng xâm nhập mặn không chỉ gói gọn trong tỉnh Bến Tre mà các tỉnhlân cận như: Tiền Giang, Cà Mau và Kiên Giang cũng bị ảnh hưởng (các cánh

Trang 23

đồng lúa, các ao hồ nuôi trồng thuỷ sản), thiệt hại nhiều tiền của Tại huyện ChoLach của tỉnh Bến Tre, nước mặn đã đe doạ 12.300 ha cây ăn quả Một nông dântrồng dừa của Phước Long cũng cho biết, nước mặn từ biển đã tràn vào phụ lưusông Hàm Lương hơn 40 km, và vào tháng 4 năm 2008 nước biển dâng cao so vớicác năm trước.

Mực nước biển tăng lên sẽ làm cho tình trạng xâm nhập mặn ở khu vực ven biểntrở lên tồi tệ hơn, gây thiếu hụt nước tưới và nước sinh hoạt…(MHC và cộng sự.1996) ĐBSCL sẽ là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất với 1.77 triệu ha đất bịnhiễm mặn, chiếm 45% tổng diện tích (CCFSC 2001) Nếu mực nước biển tănglên 30 cm, các nhánh chính của sông Cửu Long sẽ bị nhiễm mặn 10 km(Ratsakulthai 2002) Ngập lụt, mất đất và nhiễm mặn ở ĐBSCL và một số nơi củaĐBSH (2 khu vực nông nghiệp quan trọng nhất của đất nước) sẽ đe doạ sinh kếcủa người nông dân, kim nghạch xuất khẩu ngành nông nghiệp như lúa gạo (vìViệt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới) và có thể cả an ninh lươngthực quốc gia

Hình 3: Bản đồ xâm nhập mặn tối đa mùa khô năm 2004

Hiện trạng Miền Nam Việt Nam khi nước biển dâng lên 1m

(Nguồn: Hoan, Nguyen Vu - 2009)

Trang 24

Tóm lại, có thể nói rằng nếu mực nước biển tăng lên 1 mét thì 1.5-2 triệu ha đấttrồng lúa của ĐBSCL và 0.3-0.5 triệu ha của ĐBSH sẽ không sử dụng được nữa vì

bị ngập và xâm mặn

Hình 4: Bản đồ ranh giới mặn 4% vùng Đồng Bằng Sông Hồng

(Nguồn: Hoan, Nguyen Vu 2009)

4.3.2 Ảnh hưởng của BĐKH đến sản lượng cây trồng

Murdiyarso (2000) dự đoán, vào cuối thế kỷ 21 sản lượng lúa sẽ giảm 3.8% doảnh hưởng của đất bạc màu, tăng nhiệt và khan hiếm nước Theo dự tính A1FI,vào năm 2020 khi nhiệt độ tăng lên 0.83–0.92°C thì sản lượng cây trồng sẽ giảm2.5-10%; đến năm 2050, khi nhiệt độ tăng lên 1.32–2.32°C thì sản lượng cây trồng

sẽ giảm 5–30% Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây của Cline (2007) cho rằngvào cuối thế kỷ này, sản lượng mùa màng ở Châu Á sẽ giảm 19% Còn theo Zhai

và Zhuang (2009), nếu sản lượng mùa màng giảm như vậy thì đến 2080 GDP sẽgiảm 1.4% hàng năm, còn nếu tình trạng này trở nên xấu hơn thì mức giảm sẽ là1.7%

Tại Việt Nam, Dynamic-Ecological simulation model dự đoán sản lượng lúa xuân

sẽ giảm 2.4% vào năm 2020 và 11.6% vào năm 2070 (theo A1B) Lúa hè chịu ảnhhưởng của BĐKH ít hơn lúa xuân nhưng sản lượng cũng vẫn sẽ giảm khoảng4.5% vào năm 2070 Lúa trồng ở Miền Bắc và Miền Trung sẽ bị tác động nhiềuhơn Miền Nam Đối với ngô, nhìn chung sản lượng ngô giảm ít hơn so với lúa,mặc dù sản lượng ngô ở Miền Bắc có thể tăng lên nhưng ở Miền Nam thì giảm

Trang 25

Bảng 12 Mức thay đổi sản lượng lúa và ngô ở Việt Nam % (so với năm giai đoạn, 1980 – 1990)

a Thay đổi nhiệt độ và lượng mưa

Nhiệt độ và lượng mưa là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sản xuất nôngnghiệp Nhiệt độ tăng cao thúc đẩy quá trình bốc hơi nước, gây khó khăn cho câytrồng, đặc biệt là ở những khu vực bị hạn chế nguồn cung cấp nước Việt Nam,cũng như các nước Đông Nam Á khác, bốc hơi nước tăng lên do tăng nhiệt độ đãlàm giảm khả năng cung ứng nước cho tưới tiêu và cho các mục đích khác(Cuong2008) Lượng mưa bất thường cũng tác động đến công việc chuẩn bị đất, thời giangieo trồng và thay đổi chu kỳ sống ở các loài sâu, bệnh, làm ảnh hưởng đến mùamàng Hạn hán trong những năm El Niño gây thiếu nước cho cây trồng và sâubệnh phát triển mạnh hơn Mưa lớn trong thời gian La Niña gây lũ lụt nghiêmtrọng, xói mòn đất dẫn đến bạc màu và làm giảm năng suất cây trồng

Hình 3.8 Mối quan hệ giữa Sản lượng mùa màng và Khí hậu (1991-2003)

Nguồn: Peng et al (2004)

Trang 26

Năng suất của các loài cây trồng chính như lúa và ngô đã giảm xuống ở rất nhiềuvùng do ảnh hưởng của việc tăng nhiệt độ và thiếu nước Một nghiên cứu do ViệnNghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) (Peng et al 2004) thực hiện tổng kết rằng: cứnhiệt độ tối thiểu ở giai đoạn sinh trưởng tăng lên 1°C thì sản lượng lúa sẽ giảm10%.

Khi nhiệt độ tăng lên 1°C, nhu cầu tưới tiêu cho nông nghiệp tại các khu vực khôcằn và bán khô cằn ở Đông Á cũng sẽ tăng 10%, điều này hạn chế khả năng gieotrồng trên 2 vụ mỗi năm

Nhiệt độ tăng cao và mùa sinh trưởng kéo dài khiến cho sâu bệnh cũng tăng lên ởcác vùng ôn đới Châu Á Nhiệt độ mùa Đông tăng lên làm cho khả năng sinh sốngcủa sâu bệnh, côn trùng cũng tăng, dẫn đến tăng số lượng những loài này

Tại Việt Nam, từ năm 1951–2000 nhiệt độ trung bình hàng năm tăng 0.7°C Dựđoán nhiệt độ tại hầu hết các vùng miền của Việt Nam sẽ tăng 1.5–2.5ºC vào năm

2100, thậm chí có một số nghiên cứu còn cho rằng sẽ tăng 3oC (năm 2100) Vìvậy, nếu dự báo của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế về Việt Nam mà đúng (cứnhiệt độ tối thiểu giai đoạn sinh trưởng tăng lên 1°C thì sản lượng lúa sẽ giảm10%) thì sản lượng lúa của Việt Nam có thể sẽ giảm 15-30% nếu không thực hiệnbiện pháp thích ứng nào Hơn thế nữa, nhu cầu nước tưới tại Việt Nam cũng tănglên rất nhiều do nhiệt độ tăng cao, đe doạ nghiêm trọng nền nông nghiệp ViệtNam

MONRE (2003) cũng cho rằng bên cạnh sự ngập úng, lũ lụt, xâm nhập mặn, hạnhán, bão nhiệt đới cũng xuất hiện nhiều hơn, và cả nông nghiệp cũng như các hệsinh thái tự nhiên sẽ phải chịu tác động từ việc tăng nhiệt tối thiểu, số ngày cónhiệt độ dưới 20°C sẽ giảm xuống (0-50 ngày năm 2070) Điều này ảnh hưởngđến thời kỳ gieo trồng, lịch canh tác và phân phối mùa màng, tăng hoạt động củasâu bệnh và các loại virus, dẫn đến việc dịch chuyển các loài cây nhiệt đới tiến vềphía Bắc 100-200 km và lên núi cao 100-550, và ở đây chúng sẽ thay thế các loàicây bán nhiệt đới Một số loài có thể bị tuyệt chủng do sự BĐKH Dự báo, sảnlượng lúa sẽ giảm 3-6% vào năm 2070 so với giai đoạn 1960-1998 Ảnh hưởngcủa BĐKH đối với lúa vụ Xuân ở phía Bắc có thể nặng nề hơn so với phía Nam,giảm sản lượng 17% so với 8% Sản lượng Ngô cũng có thể giảm 4% ở miềnTrung, 9% ở miền Nam, tuy nhiên miền Bắc có thể tăng 7% (Nguyen et al.2005)

b Thời tiết cực đoan.

Việc xuất hiện và gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan đã gây ảnh hưởng lớntới sản xuất nông nghiệp Những năm gần đây tại khu vực Đông Nam Á đã xuấthiện ngày càng nhiều những cơn bão nhiệt đới với cường độ mạnh, các hiện tượngENSO cũng gia tăng và ảnh hưởng rõ rệt tới sản xuất nông nghiệp Mùa vụ cũng

bị thay đổi do thay đổi về lượng mưa do đó những người dân canh tác dựa vào

Trang 27

nước trời sẽ bị ảnh hưởng nặng nề hơn Khi hiện tượng El Nino sảy ra vào giữathời kỳ sinh trưởng của cây trồng gây nên thiếu nước ảnh hưởng đến sinh trưởngphát triển của cây trồng làm giảm năng suất Trong thời kỳ hoạt động của El Ninothì cây trồng cũng dễ bị tổn thương và sâu bệnh hại tấn công Hiện tượng La Niñamang đến những cơn mưa lớn gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, lũ lụt tại nhữngkhu vực sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.

Trong những năm gần đây, hàng ngàn ha đất trồng lúa ở ĐBSH, Miền Trung vàĐBSCL đã bị lũ lụt hoành hành thường xuyên, cả những khu vực nuôi trồng cá,tôm cũng bị ảnh hưởng Cụ thể: lũ lụt ở ĐBSCL đã phá hoại 401,342 ha đất trồnglúa, 85,234 ha đất chăn nuôi trồng trọt và 16,215 ha mặt nước nuôi trồng tôm,cá.Hạn hán làm cho diện tích trồng lúa bị ảnh hưởng tăng lên gấp đôi từ 77,621 hagiai đoạn 1979–1983 lên 175,203 ha giai đoạn 1994–1998 (ở giai đoạn 1994-1998còn kèm theo cả ảnh hưởng của El Niño năm 1997-1998 ) (Cuong 2008)

Thời tiết lạnh đã làm chết 60.000 gia súc, tàn phá ít nhất 100.000 ha lúa và gâythiệt hại kinh tế 30 triệu Đô la Mỹ Các nhà khí hậu học của Việt Nam cho rằngnhững hiện tượng thời tiết bất thường gần đây là do hiện tượng La Niña gây lên

La Niña là hiện tượng thời tiết đối nghịch với El Niño, có liên quan đến việc giảmnhiệt độ bề mặt biển (trung bình giảm 1.5-2.0 0C) ở Đông và Trung Thái BìnhDương Hiện tượng gần đây nhất bắt đầu từ cuối năm 2007 đến tận tháng 7-2008,

La Niña lần này có cường độ mạnh và liên quan đến thời tiết cực đoan của Úc,Trung Quốc và Chile

c Trạng thái đất

Tổng diện tích đất của Việt Nam là 33.2 triệu ha, trong đó có 14 nhóm đất và 31đơn vị đất tuy nhiên hơn 50% đất được cho là có vấn đề về màu mỡ và khả năngsản xuất Việt Nam phải chịu hàng loạt những hoàn cảnh bất lợi cho môi trườngđất như: xói mòn, bạc màu, mất cân bằng dinh dưỡng, xâm mặn, hạn hán, ônhiễm, axit hoá, phá rừng, lắng đọng, thoái hoá chất hữu cơ, đất dốc, xói mòn bờsông và bờ biển, mô hình trồng trọt nghèo nàn…

BĐKH đã và đang đẩy nhanh quá trình xuống cấp đất tại Việt Nam: Mực nướcbiển dâng lên, để lại hậu quả là sự xâm mặn ở các vùng đồng bằng; các hiện tượngthời tiết cực đoan như mưa lớn, lũ lụt…cũng làm thoái hoá đất do sói mòn ở miềnnúi, mà 3/4 tổng diện tích đất của Việt Nam lại là đồi núi Hậu quả của thoái hoáđất rất nghiêm trọng, nó có thể làm suy thoái quần thể động thực vật, làm mấtnăng suất đất và dẫn đến suy giảm sản lượng mùa màng

4.3.3 Ảnh hưởng của BĐKH đến An ninh lương thực và thương mại hoá hàng hoá nông nghiệp

Dự báo về sự suy giảm sản lượng mùa màng ở một số nước Châu Á trong đó cóViệt Nam do BĐKH gây ra có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương

Trang 28

thực và ngành thương mại hàng hoá nông nghiệp, đến phát triển và ổn đinh kinh tếMatthews et al., 1995).

Nếu những ảnh hưởng tiêu cực đối với sản xuất nông nghiệp Việt Nam vẫn tiếpdiễn thì có lẽ hàng nghàn người sẽ mất khả năng sản xuất hoặc có đủ lương thực

để ăn An ninh lương thực và mất kế sinh nhai có thể sẽ tăng lên do ngập lụt và xóimòn làm mất đất trồng trọt và nghề dánh bắt cá Ngày sẽ càng có nhiều người cónguy cơ bị đói và thiếu dinh dưỡng, dẫn đến tử vong nhiều hơn Trong tương lai,nghề nông sẽ là một thách thức, nông dân sẽ phải thích ứng với công nghệ nuôitrồng mới (các giốn cây trồng kháng sâu bệnh hại, chịu nóng, hạn, điều chỉnh thờigian gieo trồng…) Nếu chưa có và chưa truyền những kỹ thuật, công nghệ này tớinông dân thì có thể khả năng sản xuất nông nghiệp tại Việt nam sẽ giảm mạnh

4.3.4 Quản điểm của nông dân về ảnh hưởng của BĐKH

Kết quả khảo sát thực địa cho thấy hầu như tất cả nông dân đều thấy BĐKH cónhững tác động rõ ràng lên sản xuất nông nghiệp Hơn 90% số người được phỏngvấn đều nói: BĐKH làm giảm diện tích trồng trọt, giảm sản lượng mùa màng, tăngchi phí cho tưới tiêu và đê đập Do đó người nông dân phải đối mặt với nhiều khókhăn hơn trong cuộc sống

Bảng 13 Ý kiến của nông dân về ảnh hưởng của BĐKH

4 Giảm sản lượng mùa màng

5 Tăng chi phí cho tưới tiêu

6 Tăng chi phí cho đê đập

7 Gây khó khăn cho cuộc sống

Nguồn : Khảo sát thực địa, 2009

Trang 29

4.4.Các biện pháp thích ứng của Ngành Trồng trọt đối với BĐKH ở Việt Nam

4.4.1 Khái quát về sự thích ứng đối với Trồng trọt

Các điều kiện về khí hậu vốn ảnh hưởng mạnh mẽ lên nông nghiệp và nôngnghiệp là ngành dễ bị tổn hại nhất trước những rủi ro và ảnh hưởng của BĐKHtoàn cầu Thích ứng với BĐKH là một hợp phần quan trọng của bất kỳ chính sáchnào Các nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu không thích ứng được, BĐKH sẽ là vấn đềlớn đối với sản xuất nông nghiệp, kinh tế và cộng đồng nông nghiệp Những nếuthích được, có thể sẽ giảm được tổn hại và mở ra nhiều cơ hội

Các biện pháp giảm thiểu của ngành nông nghiệp có thể gộp lại theo 4 nhóm chínhnhư sau: (1) Phát triển về kỹ thuật, công nghệ; (2) Các Chương trình quốc gia vàbảo hiểm; (3) Sản xuất mô hình nông trại (4) Quản lý tài chính nông trại Nhữngloại hình này phụ thuộc vào mức độ thực hiện các biện pháp thích ứng và mức độtham gia của các bên liên quan Hai nhóm đầu tiên chủ yếu là trách nhiệm của các

cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp nông nghiệp, các biện pháp thích ứng tronghai nhóm này mang tầm hệ thống hoặc tính vĩ mô Nhóm 3 và 4 chủ yếu liên quanđến những người đưa ra quyết định ở cấp độ thấp (nông trại), tuy vậy cácnhóm thường xuyên phụ thuộc lẫn nhau Ví dụ, Chính phủ và tưnhân cùng đưa ra một kỹ thuật hoặc biện pháp thích ứng (nhóm1), có thể áp dụng cho Sản xuất mô hình nông trại (nhóm 3); hoặc người sảnxuất có thể mua bảo hiểm mùa màng (nhóm 4) do chính phủ cung cấp hoặc trợ cấp(nhóm 2)

4.4.2 Các biện pháp thích ứng hiện tại

4.4.2.1 Chương trình Quốc gia

a Công thức hoá các chương trình ứng phó với BĐKH

Nhận thức rõ được sự ngiêm trọng của BĐKH và các tác động của nó đối với pháttriển kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện hàng loạt các chương trình, dự án

để giảm thiểu và thích ứng với BĐKH nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của đấtnước Ngày 16-11-2007, Thủ tướng đã ra Quyết định số 172/2007/QD_TTg phêchuẩn Chiến lược Quốc gia Phòng chống Thiên tai, giảm thiểu và ứng phó tới năm

2020 Chiến lược đã vạch ra những mục tiêu để đối mặt với nguy cơ thảm họa, chủyếu tập trung vào những thảm họa liên quan đến nước Bộ NN &PTNT dự tính sẽyêu cầu một khoản ngân sách 18 tỉ USD, trong đó dành 13 tỉ cho xây dựng cơ sở

hạ tầng như xây dựng các hồ chứa nước, các đầm, đê đập và 5 tỉ cho chi phí phi hạtầng Số tiền này không bao gồm tiền mà các bộ ngành và các tỉnh thành dùng đểthực hiện Kế hoạch hành động giảm thiểu nguy cơ thiên tai

Trang 30

Việt Nam cũng lập Kế hoạch hành động Quốc gia cho các vấn đề về BĐKH, do(HMS) Trung tâm Khí tượng Thủy Văn thưc hiện Các hoạt động chính của Kếhoạch là:

• Tăng cường mạng lưới quan sát và kiểm soát BĐKH;

• Lập Ủy ban Quốc gia cho các vấn đề về Khí hậu;

• Mở rộng Kế hoạch hành động Quốc gia để thực hiện các Chương trìnhNghiên cứu BĐKH;

• Khuyến khích sử dụng các công nghệ hiện đại để giảm thiểu khí thải nhàkính;

• Lập chiến lược phát triển kinh tế cho vùng duyên hải, nơi có thể bị ảnhhưởng nặng khi mực nước biển tăng lên;

• Nâng cao nhận thức cộng đồng về ảnh hưởng của BĐKH;

• Tăng cường quan hệ Quốc tế, chẳng hạn như việc chuẩn bị hội thảo vềkhung hành động về BĐKH và hưởng ứng một cách tích cực với thập kỷquốc tế về Giảm nhẹ thiên tai

Tháng 7, năm 2008, MONRE đã xây dựng một Chương trình mục tiêu quốc gia vềứng phó với BĐKH (Quyết định số 158/QĐ-TTg tháng 12, 2008) Mục tiêu chiến

lược của chương trình này là Đánh giá tác động của BĐKH đến các vùng, lĩnh vực/ngành trong các giai đoạn cụ thể và các kế hoạch hành động mang tính khả thi ứng phó với BĐKH trong giai đoạn ngắn và dài hạn nhằm đảm bảo sự phát

triển bền vững của Việt Nam, bắt kịp các cơ hội phát triển hướng tới nền kinh tế

có luợng các bon thấp, góp sức với cộng đồng Quốc tế trong việc giảm thiểu ảnhhưởng của BĐKH và bảo vệ hệ khí hậu toàn cầu Các mục tiêu cụ thể của Chươngtrình bao gồm:

1) Xác định các đặc tính BĐKH ở Việt Nam; Đánh giá tác động của BĐKH

(bao gồm sự biến động về khí hậu, mực nước biển tăng và các vấn đề bấtthường của khí hậu) đối với tất cả các lĩnh vực, khu vực và địa phương;

2) Xác định các công cụ đo lường ứng phó với BĐKH;

3) Thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ nhằm tạo lập một

cơ sở khoa học và thực tiễn về các công cụ đo lường ứng phó với BĐKH;

4) Nâng cao năng lực của các tổ chức, thể chế đồng thời ban hành và thực

hiện các chính sách có liên quan đến BĐKH;

5) Tăng cường nhận thức, trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng, phát

triển nguồn nhân lực ứng phó với BĐKH;

Trang 31

6) Mở rộng quan hệ Quốc tế nhằm thu hút sự hỗ trợ từ bên ngoài trong việc

ứng phó với BĐKH, tranh thủ các cơ hội để phát triển hướng tới một nềnkinh tế có hàm lượng carbon thấp, góp sức với cộng đồng Quốc tế trongviệc giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH và bảo vệ hệ khí hậu toàn cầu

7) Hợp tác với Chương trình mục tiêu quốc gia trong chiến lược phát triển

kinh tế xã hội và các chiến lược phát triển địa phương và ngành nghề;

8) Xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH ở tất cả các Bộ, Ban,

Ngành và địa phương; thực hiện các tiểu dự án nhằm ứng phó với BĐKH;Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã phê duyệt Khung chương trình hànhđộng ứng phó với BĐKH trong Ngành nông nghiệp giai đoạn từ 2008 – 2020(Quyết định số 2730/QĐ-BNN-KHCN) Trong đó Viện Quản lý thủy lợi đã thựchiện nghiên cứu về ảnh hưởng của mực nước biển dâng đến tình trạng ngập lụt vànhiễm mặm ở ĐBSH, ĐB Sông Mê Kông và Ven biển Miền Trung năm 2008

b Hỗ trợ đối với sản xuất và quản lý nguồn tài chính

Được sự hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài, Việt Nam đã thực hiện rất nhiềuchương trình hỗ trợ cho các nông hộ sản xuất nhằm giảm thiểu ảnh hưởng củathiên tai Năm 2007, 30 tấn Ngô giống và 62.156 tấn giống rau các loại đã đượcphân phát miễn phí đến tay người nông dân tại các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, HàTĩnh, Thừa Thiên Huế, Ninh Bình, Hà Nam, Hoà Bình, Phú Thọ và Sơn La khắcphục hậu quả của thiên tai

Tháng 10, năm 2009, tỉnh Quảng Ngãi đã hỗ trợ 500 tấn lúa giống và 11.6 tấngiống ngô lai cho các nông hộ vùng bão lụt của tỉnh nhằm khôi phục sản xuất vụđông – xuân năm 2009-2010 Năm 2009, tỉnh Hà Tĩnh cũng đã xây dựng kế hoạch

hỗ trợ 100% giá giống cho các nông hộ sản xuất nông nghiệp nếu họ gieo trồngđúng lịch thời vụ nhưng bị mất trắng do bão, lũ lụt hoặc các thảm họa thiên taikhác Năm 2008, Hà Nội đã hỗ trợ 47,6 tấn giống cây trồng các loại cho các nông

hộ sản xuất bị mất trắng do mưa lớn và ngập lụt gây nên Năm 2005, Phòng NN &PTNT tỉnh Hải Phòng đã phát miễn phí 4,5 tấn hạt giống rau các loại cho các nông

hộ sản xuất rau nhằm khắc phục hậu quả của thiên tai

Kể từ năm 1998, EU đã hỗ trợ khoảng 10 triệu Euro thông qua 40 chương trìnhnhằm thực hiện hàng loạt các hoạt động nhằm giảm thiểu tác động của thảm hoạthiên tai như bão lũ, lở đất gây nên, đặc biệt là ở các vùng dễ bị tổn thương ở ViệtNam (Vietbao, 23/09/2009) Chính phủ Việt Nam cũng đã thành lập Quỹ phòngchống và giảm nhẹ thiên tai

Ngành nông nghiệp đã phát triển ở Việt Nam khoảng 2000 năm, cho đến đầu thế

kỷ 19, nông nghiệp đã thích ứng tốt với các diễn biến của khí hậu Lũ lụt hàngnăm ở ĐB Sông Mê Kông tăng chậm và chưa từng đạt mức như ở ĐBSH Hơn

Trang 32

nữa, hiện tượng này chỉ xảy ra một lần trong năm từ tháng 8 đến tháng 10 và giảmdần từ tháng 11 Ở ĐB Sông Hồng, lũ lụt có thể xảy ra từ 3 -4 lần trong năm, đặcbiệt là vào mùa mưa Tại ĐBSH, hoạt động thích ứng đầu tiên là việc bảo vệ mùa

vụ, đối phó với úng lụt Trong khi đó, tại ĐB Sông Mê Kông, hành động thích ứngđầu tiên là việc ứng phó với tình trạng úng ngập Do vậy, hệ thống đê điều sẽ làcông cụ để sống chung với lũ lụt ở ĐB Sông Hồng trong khi ở ĐB Sông Mê Kônglại là hệ thống kênh rạch đối phó với tình trạng ngập úng

Các nhà chức trách quốc gia cũng như địa phương ở ĐB Sông Mê Kông đang tổnghợp các chính sách thành Chương trình có quy mô lớn hơn để quản lý vùng venbiển Ở một số vị trí đê điều đã được nâng cấp, làm cao lên hoặc gia cố lại nhằmphòng chống bão, một số nhà dân đã được kè bằng cọc tre, một số nơi, phụ nữ vàtrẻ em được học bơi và sử dụng áo phao

4.4.2.2 Phát triển khoa học công nghệ

Thích ứng công nghệ được tăng cường thông qua các chương trình được thực hiệnhoặc được chính quyền địa phương hỗ trợ thông qua các chương trình nghiên cứu

và phát triển của các doanh nghiệp tư nhân Các giải pháp thích ứng công nghệ đãđược xây dựng hoặc đề xuất trong phát triển trồng trọt (tăng khả năng chống chịu);

hệ thống thông tin dự báo thời tiết (cung cấp các dự báo); và quản lý tài nguyên(đối phó với các rủi ro có liên quan đến khí hậu)

Phát triển các giống cây trồng mới bao gồm đa dạng chủng loại, giống và cácgiống lai có tiềm năng cung cấp nhiều lựa chọn để thích ứng tốt hơn với điều kiệnnhiệt độ, ẩm độ và các điều kiện khí hậu khác liên quan đến BĐKH

Điều này có liên quan đến phát triển các giống cây trồng có khả năng chống chịutốt hơn với điều kiện bất lợi như hạn hán, nóng thông qua các phương pháp chọngiống truyền thông, chọn dòng và xử lý gen

Do lúa là cây lương thực chính, IRRI đã tạo ra những giống lúa mới có đượcnhững đặc tính chống chịu, đồng thời cải thiện công tác quản lý cây trồng nhằmphát triển một hệ thống sản xuất lúa gạo có tính bền vững và mạnh hơn Ở ViệtNam, sau 10 năm nghiên cứu, các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu ngô đãthành công trong việc tạo ra giống ngô LVN-15 có khả năng chịu hạn và khángbệnh Sau 6 năm nghiên cứ, các nhà khoa học thuộc Viện di truyền nông nghiệp

đã tạo ra giống đậu tương DT-2008 có khả năng chịu hạn Một số giống Bưởi vàcam có khả năng kháng mặn cũng được các nhà khoa học thuộc trường ĐH CầnThơ chọn tạo và phát triển Hiện nay, được sự tài trợ của Chính phủ Việt Nam,hàng loạt các giống cây trồng có khả năng kháng sâu bệnh, chịu hạn, chịu úng vàchịu mặn đã, đang được thử nghiệm và chuyển giao cho nông dân

Đối với hệ thống thông tin về thời tiết, khí hậu, dịch vụ khí tượng thủy văn thànhlập Văn phòng quốc gia về BĐKH và bảo vệ tầng Ozone (NOCCOP), văn phòng

Trang 33

này chịu trách nhiệm về chỉ đạo các công việc có liên quan đến BĐKH, xây dựngcác chính sách quốc gia ứng phó với tác động của BĐKH và khuyến khích cáchoạt động hợp tác quốc tế giải quyết các vấn đề về BĐKH

NOCCOP đã truy cập vào mạng lưới HMS của trạm khí tượng thủy văn bao gồm

83 sách tóm tắt, 86 khí hậu học, 90 thuỷ văn học, 163 biện pháp đo lường, 21 tàiliệu về biển, 50 trạm môi trường nước và 20 trạm về môi trường khí quyển, cáctrạm này được phân bố hầu hết các vùng ở Việt Nam Mạng lưới này cung cấpthông tin về khí hậu để lên kế hoạch hoạt động trong sản xuất nông nghiệp, lâmnghiệp, ngành cá, xây dựng, giao thông, công nghiệp và y tế

Biểu đồ 6: Khung hành động Chương trình nghiên cứu về khí hậu

Đối với việc quản lý nguồn tài nguyên (giải quyết các rủi ro liên quan đến khíhậu), cuộc họp của Chính phủ Việt Nam ngày 29/4/2009 đã xác định nhu cầu ràsoát và nâng cấp hệ thống tưới tiêu ứng phó với BĐKH Các hoạt động nâng cấp

hệ thống tưới trong sản xuất nông nghiệp, quy hoạch và thực hiện mở rộng hệthống đê biển cũng đồng thời được thực hiện Vấn đề quy hoạch sử dụng đất trongđiều kiện BĐKH cũng được coi là một chủ đề đưa ra thảo luận trong cuộc họp.Năm 2005, do điều kiện BĐKH, MARD báo cáo việc chuyển đổi 35.000 ha đấtlúa (tương đương 4,2% diện tích lúa) sang trồng một số loại cây trồng cạn khácnhư ngô, đậu tương, khoai tây, mía, đậu các loại và cỏ trong vụ đông 2005-2006

4.4.2.3 Thực hành đồng ruộng

Các biện pháp canh tác trên đồng ruộng có liên quan đến các thay đổi trong biệnpháp canh tác đã được các chương trình Chính phủ khuyến khích hoặc thông báo.Các biện pháp thực hành thích ứng trên đồng ruộng bao gồm các quyết định phảnánh việc sử dụng đất, địa hình đất, tưới tiêu và thời vụ

Việc thay đổi các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp có khả năng giảm nhẹ cácrủi ro liên quan đến khí hậu và tăng tính chủ động trong sản xuất khi có BĐKHxảy ra Những thích ứng trong sản xuất có thể bao gồm cả việc đa dạng hoá cácgiống cây trồng, vật nuôi Các giống cây trồng, vật nuôi mới là sự thay thế cácgiống cây trồng vật nuôi đang sử dụng bằng các giống mới có kiểu hình, giống lai,

Đánh giá tác động:

nhằm xác định ảnh hưởng của BĐKH đến các hoạt động kinh tế-

xã hội

Các ứng phó thích ứng: đương đầu với

BĐKH, cơ sở cho các chiến lược phát triển bền vững ở V.Nam

Các biện pháp hạn chế: hạn chế thải khí

Trang 34

các loài vật nuôi được chọn lọc để có khả năng chống chịu tốt hơn với điều kiệnkhô hạn, nóng…tăng hiệu quả sản xuất trong điều kiện bất lợi của ẩm độ và nhiệt

độ Sự thay đổi mức độ canh tác (ví dụ: phân bón, thuốc trừ sâu), nguồn tài chính,công lao động là tiềm năng giảm nhẹ rủi ro của BĐKH trong sản xuất

Trong những năm gần đây, nông dân Việt Nam có khả năng ứng phó tương đốinhanh nhạy với BĐKH 75% nông dân được phỏng vấn cho biết rằng họ đã thayđổi cơ cấu cây trồng trong những năm gần đây Tại 2 tỉnh Thái Bình và NamĐịnh, do BĐKH, một số cây trồng dài ngày đã được thay thế bằng các loại câytrồng ngắn ngày Họ cho biết rằng, việc sử dụng các loại cây trồng ngắn ngày đãtránh được mưa lớn, lũ lụt, sâu bệnh và rét, bằng cách này, năng suất cây trồng đãđạt cao hơn Một số giống lúa mới đang trồng hiện nay gồm có Tạp Giao, BắcThơm, BC15 và C10 Do hiện tượng khô hạn thường xuyên xảy ra nên người dân

đã trồng thêm một số loại cây trồng khác như khoai tây, ngô lai và đậu tương

Ở các tỉnh Miền Nam, một số giống lúa mới kháng mặn đã được đưa vào sản xuất,tuy nhiên diện tích sản xuất nhỏ do năng suất thấp Tại tỉnh Cà Mau, diện tích gieotrồng chỉ còn lại 1/2 (từ 90 ha xuống còn 45 ha) Các giống lúa đang sử dụng hiệnnay gồm có IR42, IR48, OM922, OM723-7, OM723-11, OM1348 vv Hiện nay,

mô hình Tôm – Lúa được thực hiện khá hiệu quả Theo báo cáo của Cục Trồngtrọt năm 2008, mô hình Tôm – Lúa đã được áp dụng và nhân rộng rất nhanh ở 7tỉnh ven biển với tổng diện tích đạt 120.000 ha (Tính từ năm 2003 đến 2008, diệntích áp dụng mô hình Lúa – Tôm đã biến động như sau: Tỉnh Kiên Giang từ20.000 ha tăng lên 60.000; Cà Mau từ 15 tăng lên 25.000 ha; Bạc Liêu từ 10.000

ha tăng lên 21.000 ha) Ước tính rằng diện tích này còn có thể sớm đạt 200.000 ha

Do điều kiện BĐKH, người dân cũng đã phải thay đổi thời vụ gieo trồng, trong đó

ở hai tỉnh Nam Định và Thái Bình, nông dân phải trồng vụ lúa xuân muộn hơn sovới trước đây, trong khi người dân ở các tỉnh Nam Bộ thay đổi thời vụ gieo trồngnhằm mục đích tránh ngập úng và các hiện tượng thời tiết bất thường Nông dân ởcác tỉnh Miền Bắc, đặc biệt là vùng ĐBSH đã có sự chuyển đổi về thói quen canhtác, vụ dụ chuyển từ cấy lúa sang gieo thẳng nhằm giảm công lao động cũng nhưrút ngắn thời gian sinh trưởng của lúa Vụ xuân năm 2009, diện tích sản xuất lúa

áp dụng phương pháp gieo thẳng đạt 45.700 ha, chiếm khoảng 8.4% tổng diện tíchgieo trồng, tăng 16.6% so với năm 2008 Theo báo cáo của sở NN & PTNT cáctỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình và Hà Nội, năng suất lúa áp dụng phươngpháp gieo thẳng đã đạt cao hơn so với năng suất lúa sản xuất theo phương pháp cũ

từ 10-12%

c Quản lý tài chính

Các giải pháp thích ứng ở cấp trang trại là các giải pháp sử dụng chiến lược nguồnthu nhập trang trại trong ứng phó (Chính phủ hỗ trợ và tư nhân) nhằm giảm rủi ro

Trang 35

mất nguồn thu do BĐKH gây nên Các chương trình khuyến khích và hỗ trợ củachính phủ trong nông nghiệp có tác động rất lớn đến các quyết định đưa ra trongquản lý nguồn tài chính ở cấp trang trại Các giải pháp thích ứng cấp trang trại cóliên quan đến các quyết định về việc sử dụng các dịch vụ như bảo hiểm trồng trọt,các chương trình ổn định hoá thu nhập và thu nhập của nông hộ

Có thể cho rằng thị trường bảo hiểm cây trồng không tồn tại ở Việt Nam, do vậynông dân luôn phải chủ động đa dạng hoá cây trồng cũng như các hoạt động cóliên quan đến sinh kế để giảm thiểu rủi ro Mỗi hộ nông dân thường sử dụng nhiềuloại giống lúa khác nhau để tránh rủi ro vì mỗi giống có sức chống chịu với điềukiện bất lợi khác nhau (kháng bệnh, chịu hạn, chịu úng và chịu mặn), đồng thờinông dân cũng trồng nhiều loại cây trồng khác nhau kết hợp với các hoạt động phinông nghiệp Có thể thấy, sự đa dạng hóa hệ thống cây trồng, các hoạt động nôngnghiệp kết hợp với phi nông nghiệp đã giúp cho người nông dân tránh được cácrủi có liên quan đến thời tiết

4.4.3 Thiếu các giải pháp thích ứng cho Ngành Trồng trọt

a Thiếu thông tin về dự báo thời tiết ở Việt Nam

Thông tin dự báo thời tiết ở Việt Nam đôi khi không chính xác Ngày 20/11/2009,

Bộ trưởng, Bộ Tài nguyên và Môi trường ông Phạm Khôi Nguyên cho biết, chỉtrong vòng 1 tháng, dự báo thời tiết đã có 5 lần đưa ra thông tin không chính xác(Bảng tinVTC, tháng 11 năm 2008) Giám đốc Trung tâm khí tượng quốc gia, BùiMinh Tăng cho rằng với điều kiện hiện có, Trung tâm chỉ có thể đưa ra đượcthông tin dự báo chính xác trong khoảng 10 – 12 giờ, ngoài khoảng 12 giờ thì rấtkhó có thể đưa ra được thông tin dự báo chính xác Theo ý kiến của Bộ trưởng bộTài nguyên môi trường, dự báo thời tiết hiện nay chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm(hoặc quy luật), tuy nhiên trong thời gian tới, việc dự báo thời tiết không thể dựavào quy luật do hiện tượng thời tiết bất thường có thể diễn ra thường xuyên hơn.Hiện nay, nguồn nhân lực của ngành dự báo thời tiết ở Việt Nam thiếu cả về sốlượng lẫn chất lượng, thêm vào đó, Việt Nam có rất ít trạm quan trắc với trangthiết bị lạc hậu (kết quả phỏng vấn Phó Giám đốc Trung tâm dự báo quốc gia,Nguyễn Lan Châu, báo TuanVietnam 2008)

Thiếu các trung tâm quan trắc cũng như thiếu trang thiết bị hiện đại là trở ngạichính dẫn đến việc đưa ra các thông tin dự báo thời tiết thiếu chính xác ở ViệtNam Vì vậy, chương trình phát triển nguồn nhân lực vững mạnh phải luôn đi đôivới việc thay thế trang bị lạc hậu bằng trang thiết bị hiện đại

b Vấn đề quản lý rủi ro thiên tai ở Việt Nam

Ở Việt Nam, quản lý rủi ro thiên tai vẫn tồn tại ở các ứng phó trong trường hợpkhẩn cấp và tái thiết thay vì phòng chống và thích nghi hoặc nói cách khác, hầuhết nguồn tài trợ ở Việt Nam dùng để ứng phó, cụ thể 3% nguồn ngân sách của cả

Trang 36

cấp Trung ương và cấp tỉnh được đưa vào quỹ dùng cho ứng phó trong các trườnghợp khẩn cấp Nguồn ngân sách này rất hiếm khi được sử dụng cho các hoạt độnggiảm thiểu mặc dù nó vẫn được chi ra hàng năm Trong khi đó, ở cả cấp Trungương và địa phương luôn có nguồn kinh phí hàng năm hỗ trợ cho tái định cư chongười dân ở các vùng thiên tai cũng như hỗ trợ cho việc củng cố hệ thống đê điều

c Thiếu nhận thức về BĐKH và tác động của BĐKH

Mặc dù BĐKH có thể là nguyên nhân chính tác động nghiêm trọng đến nền kinh

tế của Việt Nam song nhận thức về BĐKH và ảnh hưởng của nó vẫn còn thiếu.Mức độ nhận thức về BĐKH có sự khác nhau rõ rệt giữa các huyện, cộng đồng,làng và các hộ gia đình Nhận thức chung về BĐKH chỉ hạn chế ở một vài chuyêngia, nhà chức trách địa phương và các tổ chức phi Chính phủ Ở nước ta, ban đầuviệc nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH và giảm nhẹ rủi ro thiên taiđược thực hiện thông qua một số dự án tài trợ chứ không phải là từ Chính phủViệt Nam Hiện nay, ở người dân Việt Nam đã biết đến BĐKH và thảm hoạ tựnhiên thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thannh, truyềnhình hoặc qua các hoạt động cộng đồng trong quản lý rủi ro thiên tai được tài trợbởi các tổ chức phi Chính phủ

Bảng 14 Thông tinh đánh giá của nông dân về BĐKH

T.Bình N.Định S.Trăng C.Mau Tổng

2 Nhận thức chung đối với thông

tin về BĐKH trong những năm gần

Trang 37

- Hiệu ứng nhà kính 55.6 39.1 30.8 57.7 46.1

- Chất thải ô nhiễm môi trường 96.3 95.7 42.3 50.0 70.6

- Suy thoái tài nguyên rừng 85.2 73.9 38.5 65.4 65.7

Nguồn: Điều tra, 2009

Khái niệm về BĐKH, tác động của nó và nhu cầu thích ứng chưa được biết đến ởViệt Nam trừ một số chuyên gia, cán bộ chương trình, một số tổ chức và địaphương người đã được hưởng lợi từ một số dự án có liên quan đến BĐKH (PeterChaudhry and Greet Ruysschaert, 2007)

Bảng 15 Thông tin đánh giá của nông dân về BĐKH

T.Bình N.Địn

2 Nhận thức chung đối với thông

tin về BĐKH trong những năm

- Chất thải ô nhiễm môi trường 53.3 80.0 66.7 92.3 72.4

- Suy thoái tài nguyên rừng 53.3 73.3 73.3 84.6 70.7

Nguồn: Điều tra, 2009

d Hạn chế của các giống chống chịu và mẫn cảm

Trang 38

Mặc dù nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để chọn tạo ra các giống cây trồng cókhả năng chịu mặn, chịu hạn, chịu nóng song các kết quả nghiên cứu này vẫn chưađáp ứng được nhu cầu của thực tế Giám đốc sở NN & PTNT tỉnh Cà Mau báo cáorằng, một số giống lúa chịu mặn đã được đưa vào sản xuất ở địa phương songnăng suất rất thấp Chính vì vậy mà diện tích gieo trồng các giống lúa này đã giảm

từ 90.000 ha xuống còn 45.000 ha

Một trong những cơ chế đối phó khuyến cáo là sử dụng các giống cây trồng cónhu cầu nước ít Tuy nhiên, hầu hết nông dân đối mặt với tình trạng thiếu khảnăng đáp ứng được yêu cầu của công nghệ cũng như vốn đầu tư Điều này củng cốthêm tầm quan trọng của Các cơ quan nông nghiệp nhà nước trong việc tìm ra cácgiải pháp ứng phó với BĐKH

e Vấn đề về đê điều

Việt Nam có khoảng 5,000 km đê sông và 3,000 km đê biển, tập trung chủ yếu ởMiền Bắc và Khu vực Miền Trung Hệ thống đê này có thể ngăn ngập trongkhoảng từ 5-10% nguồn nước từ Sông Cả, Sông Mã và Sông Hồng Hàng ngàn

km đê đã được xây dựng để ngăn mặn và chống ngập tại khu vực Nam Trung bộ

và Miền Nam Thực tế cho thấy cấp độ xuất hiện và mức độ ngập đã và đang bịgia tăng ở các vùng này

f Thiếu các thích ứng dựa trên cơ sở cộng đồng

Một trong những điểm yếu là cộng đồng nông thôn những người sống phụ thuộcvào sản xuất nông nghiệp, do vậy việc tập trung đánh giá tác động của BĐKH đếnsinh kế và tái thiết mối liên quan giữa đói nghèo, sinh kế và môi trường Tuynhiên, tập trung vào cộng đồng không cũng chưa đủ Kết quả phỏng vấn nông dân

và cán bộ địa phương đã cho thấy hầu như cộng đồng chưa có vai trò gì trong việcứng phó với BĐKH (ngoại trừ một số trường hợp khẩn cấp) Do cộng đồng nôngthôn trước hết không trở thành một bộ phận của Chính phủ, vì vậy rất khó để duytrì sự nỗ lực Yêu cầu quan trọng đầu tiên là việc phát triển sinh kế nông thôn bềnvững, và để đạt được sự phát triển bền vững là tốt và có Chính phủ có thể thựchiện được Chính vì vậy, mối quan hệ giữa địa phương, chính phủ và cộng đồng làrất quan trọng

g Không có chương trình bảo hiểm nhằm giảm thiểu tác động của thiên tai

Ở Việt Nam không có chương trình bảo hiểm cấy trồng, do vậy mất mùa là điềutồi tệ nhất đối với nông hộ Đôi khi, trong trường hợp mất mùa do bão lũ gây ra,người dân cũng nhận được một số hỗ trợ thong qua việc cắt giảm thuế hoặc cấpgiống, phân bón và một số vật tư nông nghiệp khác

4.4.4 Biện pháp thích ứng của Ngành Trồng trọt đối với BĐKH ở Việt Nam

Thích ứng là một hợp phần quan trọng trong đánh giá tác động của BĐKH và mức

độ tổn thương và là một trong những biện pháp chính sách trong ứng phó với tác

Ngày đăng: 31/05/2017, 09:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ Việt Nam - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Hình 1 Bản đồ Việt Nam (Trang 11)
Bảng 1. Diện tích các loài cây trồng (1000 ha) - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Bảng 1. Diện tích các loài cây trồng (1000 ha) (Trang 12)
Bảng 2. Diện tích và năng suất cây có hạt - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Bảng 2. Diện tích và năng suất cây có hạt (Trang 13)
Bảng 3. Diện tích cây công nghiệp lưu niên chính (1000 ha) - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Bảng 3. Diện tích cây công nghiệp lưu niên chính (1000 ha) (Trang 13)
Bảng 5. Những thay đổi về lượng mưa hàng năm giai đoạn 1980 – 1999 - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Bảng 5. Những thay đổi về lượng mưa hàng năm giai đoạn 1980 – 1999 (Trang 15)
Bảng 4. Mức thay đổi nhiệt độ trung bình ( o C) giai đoạn 1980-1999 - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Bảng 4. Mức thay đổi nhiệt độ trung bình ( o C) giai đoạn 1980-1999 (Trang 15)
Bảng 7. Ý kiến của nông dân về sự xuất hiện của biến đổi khí hậu - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Bảng 7. Ý kiến của nông dân về sự xuất hiện của biến đổi khí hậu (Trang 18)
Bảng   8.   Hiện   trạng   lũ   lụt   tại   Đồng   Bằng   sông   Cửu   long   của   Việt   Nam (1000ha) - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
ng 8. Hiện trạng lũ lụt tại Đồng Bằng sông Cửu long của Việt Nam (1000ha) (Trang 20)
Bảng 10. Hiện trạng lũ lụt tại vùng đồng bằng Sông Hồng (1,000ha) - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Bảng 10. Hiện trạng lũ lụt tại vùng đồng bằng Sông Hồng (1,000ha) (Trang 21)
Hình 2. Bản đồ đánh giá tài nguyên nông nghiệp ở ĐBSCL khi BĐKH - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Hình 2. Bản đồ đánh giá tài nguyên nông nghiệp ở ĐBSCL khi BĐKH (Trang 22)
Hình 3: Bản đồ xâm nhập mặn tối đa mùa khô năm 2004 - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Hình 3 Bản đồ xâm nhập mặn tối đa mùa khô năm 2004 (Trang 23)
Hình 4: Bản đồ ranh giới mặn 4% vùng Đồng Bằng Sông Hồng - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Hình 4 Bản đồ ranh giới mặn 4% vùng Đồng Bằng Sông Hồng (Trang 24)
Bảng 12.  Mức thay đổi sản lượng lúa và ngô ở Việt Nam % (so với năm  giai đoạn, 1980 – 1990) - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Bảng 12. Mức thay đổi sản lượng lúa và ngô ở Việt Nam % (so với năm giai đoạn, 1980 – 1990) (Trang 25)
Bảng 14. Thông tinh đánh giá của nông dân về BĐKH - BÁO CÁO THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM  bộ NÔNG NGHIỆP
Bảng 14. Thông tinh đánh giá của nông dân về BĐKH (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w