Trong đó, Xơnur là tác phẩm điêu khắc đặc sắc trên góc độ mỹ thuật, gắn với đời sống văn hóa và tín ngưỡng, phản ánh những giá trị văn hoá tộc người, trở thành một biểu tượng của người C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO & DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
-* -
Lê Anh Tuấn
CỘT XƠNUR TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA - TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC CƠTU
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Chí Bền
Phản biện 1: PGS.TS Phạm Quang Hoan
Học viện Khoa học xã hội
Phản biện 2: PGS.TS Đinh Hồng Hải
Trường ĐH Khoa học, Xã hội và Nhân văn
Phản biện 3: TS Bùi Thiên Thai
Viện Văn học, Viện hàn lâm Khoa học xã hội VN
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện tại:
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt nam
32 Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bức tranh vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, dân tộc Cơtu có vai trò nổi bật về lịch sử, ngôn ngữ cũng như hoạt động giao thương, phong tục lễ hội và nghệ thuật tạo hình Trong đó, Xơnur là tác phẩm điêu khắc đặc sắc trên góc độ mỹ thuật, gắn với đời sống văn hóa và tín ngưỡng, phản ánh những giá trị văn hoá tộc người, trở thành một biểu tượng của người Cơtu
Trong không gian cấu trúc làng, Xơnur luôn giữ chức năng trung tâm nghi lễ hiến sinh, một tín ngưỡng quan trọng nhất của người Cơtu trước đây cũng như hiện nay Tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng của Xơnur gắn với nghi lễ đâm trâu, nhằm phản ánh những khía cạnh nổi bật của đời sống tín ngưỡng và xã hội, đã góp phần hình thành nên những giá trị văn hóa đặc trưng Cơtu
Trong rất ít những nghiên cứu về cột Xơnur chủ yếu là ghi chép, khảo tả mang tính khái quát, hoặc thiên về giá trị tạo hình, chưa xem
là một đối tượng nghiên cứu độc lập Điều này đặt ra sự cần thiết nghiên cứu Xơnur một cách hệ thống và chuyên sâu hơn, bằng những phương pháp liên ngành
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ hiện nay đã tác động đến sự biến đổi Xơnur trên khía cạnh tạo hình lẫn tính thiêng Sự biến đổi của Xơnur về hình thức và ý nghĩa dẫn đến đánh mất giá trị nhân sinh, gây nên những nhận thức sai lệch về nghi lễ hiến sinh trâu Do
đó, cần thiết nghiên cứu, đưa ra nhận định về biến đổi và nhận thức
về bảo tồn các giá trị Xơnur cũng như lễ hội đâm trâu trong bối cảnh hiện nay
Trang 42 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, tìm hiểu ý nghĩa và vai trò biểu tượng của cột Xơnur trong nghi lễ hiến sinh đối với đời sống văn hóa và tín ngưỡng, nhằm phản ánh những giá trị đặc trưng dân tộc Cơtu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xem xét quy trình chế tác, ghi chép các motif hoa văn, tìm hiểu giá trị tạo hình và ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur;
- Tìm hiểu ý nghĩa, vai trò cột Xơnur đối với đời sống xã hội và tín ngưỡng Cơtu qua các nghi lễ hiến sinh cụ thể
- Xem xét sự biến đổi cột Xơnur trong bối cảnh hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Cột Xơnur trong nghi lễ hiến sinh
trâu của dân tộc Cơtu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: huyện Đông Giang, Tây Giang, tỉnh Quảng
Nam, là vùng cư trú chính và lâu đời; chọn điểm nghiên cứu: nhóm ở vùng thấp/cao, thuần Cơtu/xen cư, thị tứ/vùng ven
- Phạm vi thời gian: Dựa trên nguồn tư liệu, phạm vi thời gian được xác định từ những năm 1930 của thế kỷ XX đến nay
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Đóng góp vào lý thuyết nghiên cứu về ý nghĩa biểu tượng nói chung và cột hiến tế nói riêng, bằng phương pháp liên ngành, thông qua tìm hiểu ở một tộc người vùng núi Trung Bộ
Trang 54.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đóng góp luận cứ khẳng định ý nghĩa biểu tượng của Xơnur đối với đời sống tâm linh và xã hội; Những nhận định về biến đổi và sự cần thiết phải bảo tồn các giá trị Xơnur trong bối cảnh hiện nay, gắn với định hướng duy trì lễ hội đâm trâu hợp lý, đáp ứng nhu cầu tinh thần và tín ngưỡng của đồng bào Cơtu
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp điền dã Dân tộc học (quan sát, ghi chép tổng quan; phỏng vấn hồi cố; vẽ, chụp ảnh), Phương pháp quan sát tham dự Nhân học (tham dự lễ đâm trâu, tạo tác Xơnur; quan sát, chụp ảnh, ghi chép các hoạt động lễ tế), Phương pháp phỏng vấn Xã hội học (câu hỏi mở/định tính), Phương pháp phân tích cấu trúc (nghiên cứu Xơnur trong cấu trúc nghi lễ và cấu trúc xã hội Cơtu),…
6 Cấu trúc của luận án
Luận án ngoài Mở đầu (8 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo (13 trang), có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, Cơ sở lý thuyết vận
dụng và khái quát về dân tộc Cơtu (32 trang);
Chương 2: Cột Xơnur và nghệ thuật tạo hình của người Cơtu (37
trang);
Chương 3: Cột Xơnur và đời sống tín ngưỡng của người Cơtu (37
trang);
Chương 4: Một số biến đổi của cột Xơnur trong đời sống Văn hóa -
Tín ngưỡng của người Cơtu hiện nay (33 trang)
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC CƠTU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu biểu tượng và cột hiến sinh
Nghiên cứu của học giả nước ngoài phản ánh qua một số khuynh hướng nổi bật: nghiên cứu biểu tượng trên khía cạnh tâm linh và xã hội (E.Durkhem, C.Geertz); văn hóa là tổng thể hệ thống ngôn ngữ
ký hiệu (L.Strauss, IU.Lotman); đề cao bối cảnh xã hội trong giải mã
ý nghĩa biểu tượng (L.White, E.Turner); đề cao bối cảnh và lý giải của cộng đồng khi tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng tôn giáo (C.Geertz, V.Turner),…
Đối với nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam, có các tác giả tiêu biểu: Nguyễn Từ Chi, Đoàn Văn Chúc, Chu Quang Trứ, Trần Lâm Biền, Trịnh Bá Đĩnh, Tạ Đức, Nguyễn Văn Hậu, Trần Ngọc Thêm, Đinh Hồng Hải,… Xu hướng nổi bật là tiếp cận liên ngành giải mã ý nghĩa các biểu tượng cụ thể, của chuyên ngành Văn hóa dân gian, Ngôn ngữ học, Dân tộc học, Mỹ thuật, Nhân học biểu tượng,… Tình hình nghiên cứu về cột tế trâu khá ít và thiếu chuyên sâu Đối với học giả nước ngoài, có tác giả Condominas với công trình
Chúng tôi ăn rừng Đá-Thần Gôo, Guilleminet về Lễ đâm trâu của người Bana ở tỉnh Kontum-Cuộc lễ, Dam Bo về Miền đất huyền
ảo,… Học giả trong nước có các công trình: Các hình thức thờ
phụng bộ lạc (Ngọc Anh), Những phong tục lạ ở Đông Nam Á (Ngô
Văn Doanh) về cột tế và nghi lễ các tộc người ở Châu Á Ở Việt
Nam, đáng chú ý có các công trình: Quanh chuyện cảnh quan và bộ
mặt tộc người (Nguyễn Từ Chi), Lễ hội bỏ mả các dân tộc Bắc Tây
Trang 7Nguyên (Ngô Văn Doanh), Cột ăn trâu (Nguyễn Duy Thiệu), Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên (Lưu Hùng),…
Như vậy, biểu tượng được nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc
độ, khuynh hướng khác nhau, trong đó các chuyên ngành Ký hiệu học, Cấu trúc luận, Nhân học biểu tượng,… nổi bật với xu hướng đề cao bối cảnh xã hội của sự ra đời và tồn tại trong đánh giá vai trò, giá trị, ý nghĩa của biểu tượng
1.1.2 Tình hình nghiên cứu văn hóa Cơtu và cột Xơnur
Tình hình nghiên cứu Cơtu trước 1975 chủ yếu là học giả nước ngoài Công trình sớm nhất là “Những kẻ săn máu” của Le Pichon (BAVH, 1938) Những năm tiếp theo, người Cơtu được ghi chép bởi các học giả L.Bezacier, G.Hickey, R.Mole, D.Thomas,… Trong đó, tiểu biểu nhất là Costello Nancy với nhiều công trình về người Cơtu
ở Việt Nam và Lào Gần đây có một số chuyên luận của các nhà nhân học Thủy Điển
Nghiên cứu của học giả trong nước trước 1975 khá ít Sau 1975, bắt đầu xuất hiện bài viết về dân tộc Cơtu của các nhà Dân tộc học
Năm 1984 đánh dấu ra đời công trình Các dân tộc ít người ở Bình
Trị Thiên Những năm cuối XX và đầu XXI được đánh giá là giai
đoạn phát triển nghiên cứu về người Cơtu cả về số lượng lẫn nội dung, với nhiều công trình, bài viết trên mọi các lĩnh vực, của các tác giả tiêu biểu: Trần Ánh, Nguyễn Hữu Thông, Tạ Đức, Lưu Hùng, Nguyễn Xuân Hồng, Đinh Hồng Hải, Trần Đức Sáng,
Tình hình nghiên cứu Xơnur phản ánh xu hướng tiếp cận khái
quát gắn với lễ đâm trâu, công trình tiểu biểu: Những kẻ săn máu (L.Pichon), Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên (Nguyễn Quốc Lộc), Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơ Tu (Lưu Hùng), Tìm hiểu văn
Trang 8hóa Katu (Tạ Đức), Katu Kẻ sống đầu ngọn nước (Nguyễn Hữu
Thông), Ngôn ngữ biểu tượng trong đời sống văn hóa của người
Cơtu (Đinh Hồng Hải),… Như vậy, luận án là công trình đầu tiên
nghiên cứu Xơnur trong nghi lễ hiến sinh một cách chuyên sâu, có hệ thống với tư cách là một đối tượng độc lập, tiếp cận bằng phương pháp liên ngành, xem xét trên vai trò tâm linh và vai trò xã hội
1.2 Các lý thuyết nghiên cứu và quan điểm tiếp cận ý nghĩa biểu tượng của cột lễ hiến sinh
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, luận án đã xem xét một số khái niệm: biểu tượng, cột, biểu tượng cột, cột tế, nghi lễ hiến sinh/hiến
tế, đời sống tín ngưỡng Trong đó, làm rõ khái niệm “Xơnur” là cột
tế trâu của người Cơtu: cột gỗ hình trụ, được trang trí chạm khắc, dựng giữa sân làng, dùng để buộc trâu tế thần trong các nghi lễ hiến sinh quy mô và quan trọng, nhằm đạt mục đích cầu no đủ, khỏe mạnh, yên ổn
1.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu và quan điểm tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng của cột tế Xơnur
Luận án sử dụng lý thuyết nghiên cứu của chuyên ngành gần là
Ký hiệu học, Cấu trúc luận và Nhân học biểu tượng, là cơ sở định hướng cho việc tiếp cận và giải mã ý nghĩa biểu tượng của Xơnur trên khía cạnh tâm linh và xã hội, đề cao bối cảnh xã hội Cơtu, kết hợp những kiến giải của chủ thể với diễn giải của nhà nghiên cứu
1.2.3 Một số khuynh hướng nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng của cột tế Xơnur gắn với tín ngưỡng và mỹ thuật
Khuynh hướng nghiên cứu Xơnur gắn với nghi lễ hiến sinh: đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa cột tế và nghi lễ hiến sinh về quan
Trang 9niệm và thực hành Bởi Xơnur có nguyên nhân ra đời và không gian tồn tại gắn với mục đích của nghi lễ hiến tế
Khuynh hướng nghiên cứu Xơnur gắn với mối liên hệ biểu tượng hóa giữa Xơnur với hình tượng điệu múa thiêng Padil dơ dá Xét về tạo hình cũng như mối tương quan về nguồn gốc hình thành, cho rằng Xơnur là sự thể hiện hình tượng người phụ nữ Cơtu trong điệu Padil dơ dá
1.3 Khái quát về dân tộc Cơtu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm cư trú và dân cư
Địa bàn cư trú chính là ba huyện vùng cao tỉnh Quảng Nam: huyện Nam Giang, Tây Giang, Đông Giang, và huyện Nam Đông (Thừa Thiên Huế) Người Cơtu cư trú dọc triền dốc, thung lũng các sông Giằng, sông Cái, sông Bung, sông Thu Bồn và các phụ lưu Hiện nay, xu hướng cư trú tập trung theo đường giao thông để đi lại
và giao thương thuận lợi
Dân số Cơtu hiện có 61.588 người (31.038 nam, 30.550 nữ), phân
bố tập trung ở tỉnh Quảng Nam là 45.715 người (22.972 nam, 22.743 nữ); Thừa Thiên Huế là 14.629 người (7.438 nam, 7.193 nữ); Đà Nẵng là 950 người (478 nam, 472 nữ) Trong đó, huyện Tây Giang
có 15.803 người (91%); Đông Giang có 18.904 người (77%)
1.3.2 Tộc danh, nguồn gốc tộc người, đặc trưng ngôn ngữ
Người Cơtu có nhiều tên gọi khác nhau: Cao, Hạ, Phương, Ca Tang, Ca tu, Cơ tu, A taouat, Thap, Phuang, Hiện nay, tên gọi chính thức là “Cơtu” và các tên gọi khác là Ca tu, Cao, Phương, Hạ,
Ca Tang,… theo danh mục công bố của nhà nước
Về nguồn gốc, chưa thể xác định chính xác thời điểm có mặt của tộc người Môn - Khmer nói chung và nhóm Katuic nói riêng ở
Trang 10Trung Bộ, nhưng họ đã sinh tụ trên một địa bàn rộng lớn, kéo dài
từ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến Quảng Nam và lan xuống tận biển từ rất sớm
Ngôn ngữ Cơtu thuộc phân nhánh ngôn ngữ Katuic, của ngôn ngữ Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á Ở Đông Nam Á, Katuic có ba phân nhánh chính gồm 18 nhóm tộc người, trong đó có người Katu/Cơtu,
cư trú ở Việt Nam, Lào
1.3.3 Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội
Kinh tế Cơtu truyền thống là canh tác nương rẫy với kỹ thuật giản đơn, công cụ thô sơ, nên sản lượng thấp và bấp bênh, phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và thần linh Các hoạt động săn bắn, khái thác, chăn nuôi giữ vai trò phụ cung cấp nguồn thực phẩm Canh tác lúa nước
du nhập muộn nhưng ngày càng có vai trò Kinh tế Cơtu hiện nay phản ánh một cơ cấu đa ngành nghề
Tổ chức làng Cơtu truyền thống gọi là Vel, một đơn vị cư trú phản ánh tính cộng đồng rõ nét, là đơn vị xã hội độc lập, tự cung tự cấp và không chịu sự quản lý của một tổ chức nào cao hơn; mọi việc điều hành đều xoay quanh một nhóm các già làng, đứng đầu là
“Takoh Bhươl” (chủ làng)
Dòng họ Cơtu truyền thống gọi là Tô, gồm những người chung dòng máu phụ hệ và có quan hệ vật tổ Đứng đàu là chủ họ được đề cao về uy tín và trách nhiệm Hiện nay, bên cạnh họ Cơtu, họ sử dụng thêm các tên họ Kinh như: Lê (A Lăng, Jơ râm), Nguyễn (A Ting), Trần (A Râl),…
Gia đình Cơtu truyền thống là phụ quyền, người đàn ông quản
lý và quyết định những công việc quan trọng, ngoại giao và “tiếp xúc” với Yang Người phụ nữ không tham gia vào các hoạt động
Trang 11xã hội, mà là lao động gia đình, bảo tồn nòi giống, duy trì sinh hoạt thường nhật
Đời sống tín ngưỡng Cơtu phản ánh sự phụ thuộc mạnh vào thần linh, thể hiện qua hệ thống lễ nghỉ phủ kín và trãi dài chu kỳ canh tác và vòng đời Trong đó, quy mô và quan trọng nhất là nghi lễ đâm trâu
Tiểu kết
Tình hình nghiên cứu cho thấy, cột Xơnur chưa được tiến hành nghiên cứu như một đối tượng độc lập Các lý thuyết nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng góp phần định hướng tiếp cận của đề tài dựa trên các chuyên ngành gần là Ký hiệu học, Cấu trúc luận và Nhân học biểu tượng,… với sự đề cao bối cảnh xã hội và sự diễn giải của cộng đồng Cơtu là một dân tộc quan trọng của vùng Trường Sơn, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á, cư trú chính ở miền núi Quảng Nam Đặc trưng văn hóa – xã hội nổi bật thể hiện trên các khía cạnh đời sống kinh tế, sinh hoạt văn hóa, tổ chức xã hội
Chương 2 CỘT XƠNUR VÀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH
CỦA NGƯỜI CƠTU 2.1 Tên gọi, chức năng và cấu trúc cột Xơnur
Tên gọi “Xơnur” được người Cơtu dùng để chỉ “cột tế” trong nghi
lễ hiến sinh trâu cho thần linh, hay cách gọi phổ biến hơn là “cột tế trâu” hay “cột đâm trâu”
Chức năng Xơnur được phản ánh qua vị trí và vai trò trong nghi
lễ hiến tế: là trung tâm của nghi lễ; là điều kiện để được tế trâu; nơi buộc trâu tế; ban thờ dâng cúng lễ vật; nơi thần linh trú ngụ khi về dự
lễ Đảm nhận hiến tế con vật quý nhất, Xơnur gắn với chức năng
Trang 12thiêng của “cột thông linh” kết nối giữa đất với trời, là “công cụ giao tiếp đặc biệt” của con người với thần linh.
Xơnur là cột gỗ hình trụ, có điêu khắc trang trí, có cấu tạo gồm các bộ phận: cột trụ, hai cánh Gương, bốn thanh Kéng coong, bốn dải Zơnơ và Chơro aruếch trên ngọn Cột trụ được chia làm ba phần dựa: phần gốc (buộc trâu), thân (trang trí) và ngọn (ban thờ) Ngoài
ra, gắn với Xơnur còn có bộ phận Đhơ đoong là hai cây tre đối xứng trên cao
2.2 Quá trình chế tác, điêu khắc cột Xơnur
2.2.1 Nguyên liệu chế tác cột Xơnur
Tìm kiếm nguyên liệu và khai thác là công đoạn đầu tiên của quá trình chế tác Xơnur được lựa chọn và khai thác tuân theo quy định luật tục, gắn với nhiều kiêng cữ Công đoạn lựa chọn mở đầu cho quá trình “thiêng hóa”, đảm bảo để Xơnur từ cây cột vật chất thành cột thiêng
2.2.2 Điêu khắc, tạo hình cột Xơnur
Trong điêu khắc Xơnur, phần gốc để nguyên, phần trang trí chính được tập trung vào giữa thân và trên ngọn Phần thân được tạo hình theo bố cục “tròn-vuông-tròn”: ở bố cục “tròn” là các motif “cối-nồi đất-cối”; ở bố cục “vuông” là motif h’rơ bạc; ở bố cục “tròn” là cái cối Ở “nồi đất” gắn hai cánh Gương đối xứng, tạo hình đa dạng Phần ngọn Xơnur gắn Chơro aruếch có dạng hình nơm đặt ngửa, là ban thờ đặt lễ vật tế Yang Phần ngọn cũng là nơi gắn bốn thanh Kéng coong, quay bốn hướng, treo bốn dải Zơnơ làm tua tre nối dài xuống chân cột Trên các bộ phận điêu khắc đó, nghệ nhân Cơtu trang trí, kẻ vẽ các hoa văn hình học, hoa văn thực vật, động vật, sự
Trang 13vật và đồ vật cách điệu,…theo những trật tự nhất định của bố cục và màu sắc
2.3 Giá trị mỹ thuật và ý nghĩa biểu tượng của Xơnur
2.3.1 Giá trị mỹ thuật của cột Xơnur
Giá trị mỹ thuật của Xơnur phản ánh qua ngôn ngữ tạo hình và thủ pháp nghệ thuật trong thể hiện các chủ đề hoa văn trang trí, motif cách điệu, mang những ý nghĩa biểu tượng, phản ánh đời sống nhân sinh và thế giới quan của người Cơtu
Giá trị mỹ thuật được phản ánh qua những hoa văn, hình tượng vừa tả thực vừa cách điệu, chuyển tải những thông điệp, những ước
mơ rất cụ thể, thiết thực về cuộc sống, qua hình ảnh “cây lúa trĩu hạt” (bông lúa, giỏ cá, cái cối, chày giã gạo, con cá, con chim, con sóc, sừng trâu, cào cỏ, cây báo mùa, )
Giá trị mỹ thuật được phản ánh qua nghệ thuật sử dụng và phối màu trên Xơnur, dù chỉ ba màu cơ bản nhưng đã thể hiện một cách sinh động các ý tưởng, thủ pháp nghệ thuật, thể hiện sắc độ đối lập tạo sự nổi bật cho các motif, hoa văn trang trí, hình tượng điêu khắc
2.3.2 Ý nghĩa biểu tượng của cột Xơnur
Ý nghĩa biểu tượng của Xơnur gắn với “biểu tượng cây”, phản ánh qua nguồn gốc vật chất (cây gỗ), cấu trúc (gốc, thân và ngọn, cành) và đặc điểm tạo hình điêu khắc với motif trang trí về thực vật chiếm tỉ lệ lớn, trong đó liên quan nhiều về cây lương thực và hoạt động trồng trọt
Ý nghĩa biểu tượng của Xơnur được phản ánh qua mối quan hệ giữa vòng tròn và tâm điểm: vòng tròn gắn với sự không phân chia, còn tâm điểm gắn với sự hội tụ