Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề này tại huyện Lương Tài nhằm cung cấp thông tin và những tư liệu cần thiết cho Hội liên Hiệp phụ nữ huyện, Phòng t
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM HUY HOÀNG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Mậu Dũng
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Huy Hoàng
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Mậu Dũng cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới những sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi huyện Lương Tài, UBND thành Huyện Lương Tài, Phòng Tài nguyên và Môi trường Huyện Lương Tài, Hội Liên hiệp Phụ nữ Huyện Lương Tài, Phòng nông nghiệp, Công ty TNHH một thành viên Môi trường và Công trình đô thị Hà Bắc, thị trấn Thứa, UBND xã Trung Kênh, UBND xã Quảng Phú, các Ban, Ngành, Đoàn thể cùng với các tổ chức,
cá nhân có liên quan đã giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Huy Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình, hộp và sơ đồ ix
Trích yếu luận văn x
Thesis Abstract Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Cơ sở lý luận về sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Đặc điểm và nội dung tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 10
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 16
2.2 Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 19
2.2.1 Kinh nghiệm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường ở các nước trên thế giới 19
2.2.2 Kinh nghiệm tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn một số địa phương ở Việt Nam 23
2.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho đề tài 30
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
Trang 53.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 40
3.1.4 Giới thiệu chung về Phụ nữ huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 41
3.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 43
3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 46
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 46
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 48
4.1 Khái quát sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 48
4.1.1 Khái quát về tình hình ô nhiễm môi trường nông thôn ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 48
4.1.2 Hệ thống tổ chức, quản lý môi trường nông thôn ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 51
4.1.3 Khái quát về sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 52
4.2 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 54
4.2.1 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức vệ sinh môi trường nông thôn 54
4.2.2 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong thu gom và sử lý rác thải sinh hoạt ở nông thôn 58
4.2.3 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong thu gom và sử lý rác thải nông nghiệp 62
4.2.4 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong xử lý nước thải Huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 67
4.2.5 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong công tác vệ sinh đường làng ngõ xóm ở vùng nông thôn Huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 70
4.2.6 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong công tác cải tạo cảnh quan và trồng cây xanh ở Huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 72
4.2.7 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong xây dựng nhà vệ sinh hố tiêu hợp vệ sinh 74
4.2.8 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực cấp nước sạch 76
4.2.9 Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong công tác di dời chuồng trại chăn nuôi 79
4.3 Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 81
4.3.1 Về cơ cấu tổ chức quản lý môi trường 81
Trang 64.3.2 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa đến sự tham gia của phụ nữ trong quản
lý môi trường nông thôn 83
4.3.3 Ảnh hưởng của ngành nghề đến sự tham gia của phụ nữ trong bảo vệ môi trường, quản lý môi trường và thu gom rác thải 85
4.3.4 Công tác chỉ đạo và vận động phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường của tổ chức phụ nữ 86
4.3.5 Yếu tố cơ sở hạ tầng, công nghệ phục vụ cho quản lý và bảo vệ môi trường 87
4.3.6 Chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với quản lý và bảo vệ môi trường 88
4.3.7 Đánh giá chung đối với quản lý và bảo vệ môi trường 89
4.4 Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 90
4.4.1 Định hướng 90
4.4.2 Giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 91
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 97
5.1 Kết luận 97
5.2 Kiến nghị 98
Tài liệu tham khảo 99
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BVMT Bảo vệ môi trường
CNH Công nghiệp hóa CNH Công nghiệp hóa ĐVT Đơn vị tính HĐH Hiện đại hóa HGĐ Hộ gia đình LHPN Liên Hiệp phụ nữ TNMT Tài nguyên môi trường
QLMT Quản lí môi trường UBND Ủy ban nhân dân VSMT Vệ sinh môi trường
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích, cơ cấu đất ở huyện Lương Tài 35
Bảng 3.2 Dân số huyện Lương Tài giai đoạn 2000 - 2014 36
Bảng 3.3 Lao động huyện Lương Tài giai đoạn 2000 - 2014 36
Bảng 3.4 Cơ cấu kinh tế huyện Lương Tài giai đoạn 2010 - 2015 39
Bảng 3.5 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 43
Bảng 4.1 Nguồn phát sinh chất thải gây ô nhiễm ở huyện Lương Tài 50
Bảng 4.2 Sự tham gia của phụ nữ trong công tác quản lý môi trường 53
Bảng 4.3 Sự tham gia của phụ nữ trong công tác tuyên truyền 55
Bảng 4.4 Nội dung tuyên truyền quản lý môi trường nông thôn 56
Bảng 4.5 Ý Kiến đánh giá về công tác tuyên truyền 57
Bảng 4.6 Sự tham gia của phụ nữ trong phân loại rác thải 58
Bảng 4.7 Sự tham gia của phụ nữ trong thu gom rác thải sinh hoạt 59
Bảng 4.8 Sự tham gia của phụ nữ trong xử lý rác thải sinh hoạt 60
Bảng 4.9 Đánh giá của lãnh đạo, Ban chỉ đạo về sự tham gia của phụ nữ trong thu gom, xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt 61
Bảng 4.10 Sự tham gia của phụ nữ trong thu gom rác thải nông nghiệp 62
Bảng 4.11 Sự tham gia của phụ nữ trong xử lý rác thải từ nông nghiệp 64
Bảng 4.12 Đánh giá của cán bộ địa phương về sự tham gia của phụ nữ trang thu gom, xử lý rác thải nông nghiệp 66
Bảng 4.13 Sự tham gia của phụ nữ trongxử lý nước thải sinh hoạt 67
Bảng 4.14 Sự tham gia của phụ nữ trong xử lý nước thải chăn nuôi tại các xã và thị trấn được điều tra 69
Bảng 4.15 Đánh giá của cán bộ địa phương về sự tham gia của phụ nữ trong xử lý nước thải nông nghiệp 70
Bảng 4.16 Đánh giá sự tham gia của PN trong công tác vệ sinh đường làng ngõ xóm 71
Bảng 4.17 Đánh giá của cán bộ địa phương về sự tham gia của phụ nữ trong quản lý đường làng ngõ xóm 72
Bảng 4.18 Sự tham gia của PN trong công tác tạo cảnh quan môi trường 73
Trang 9Bảng 4.19 Sự tham gia của phụ nữ trong xây dựng hố tiêu hợp vệ sinh 75 Bảng 4.20 Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động cấp nước sạch 77 Bảng 4.21 Đánh giá của cán bộ địa phương về mức độ tham gia của phụ nữ
trong di dời chuồng trại chăn nuôi 80 Bảng 4.22 Sự tham phụ nữ về quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương thông
qua trình độ văn hóa 84 Bảng 4.23 Ảnh hưởng của ngành nghề đến sự tham gia của phụ nữ trong bảo
vệ môi trường và thu gom rác 85 Bảng 4.24 Thời gian lao động của phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường 87
Trang 10DANH MỤC HÌNH, HỘP VÀ SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Các mức độ tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 10 Hình 2.2 Các hình thức tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường
nông thôn 13 Hình 3.1 Vị trí huyện Huyện Lương Tài trong tỉnh Bắc Ninh 32 Hộp 4.1 Ý kiến của phụ nữ về công tác thu gom rác thải 59 Hộp 4.2 Ý kiến của Lãnh đạo Hội liên hiệp phụ nữ về công tác tham gia xây
dựng hố tiêu hợp vệ sinh 76 Hộp 4.3 Ý kiến của Lãnh đạo địa phương về công tác tham gia xây dựng hố
tiêu hợp vệ sinh 76 Hộp 4.4 Lãnh đạo Phòng tài nguyên môi trường đánh giá sự tham gia của phụ
nữ trong hoạt động cấp nước sạch 78 Hộp 4.5 Ý kiến của Lãnh đạo địa phương về sự tham gia của phụ nữ trong di
dời chuồng trại chăn nuôi 79 Hộp 4.6 Ý kiến của Lãnh đạo Phòng Nông nghiệp huyện về công tác tham gia
di dời chuồng trại của phụ nữ 80 Hộp 4.7 Ý kiến của phụ nữ về công tác tham gia di dời chuồng trại chăn nuôi 81
Sơ đồ 4.1 Cơ cấu tổ chức quản lý môi trường của huyện Lương Tài 82
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tóm tắt
- Tên tác giả: Phạm Huy Hoàng
- Tên luận văn: “Giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý
môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
- Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60 34 04 10
- Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Mậu Dũng
2 Nội dung bản trích yếu
Vai trò và trách nhiệm của phụ nữ huyện Lương Tài trong các phong trào về môi trường trong những năm qua, phụ nữ huyện Lương Tài đã thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để đáp ứng yêu cầu của thực tế Sự tham gia của phụ nữ ở huyện trong phong trào phụ nữ quản lý môi trường nông thôn đã có ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu quốc gia về quản lý môi trường của toàn huyện
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề này tại huyện Lương Tài nhằm cung cấp thông tin và những tư liệu cần thiết cho Hội liên Hiệp phụ nữ huyện, Phòng tài nguyên môi trường, ban quản lý xây dựng nông thôn huyện Lương Tài cùng các phòng ban khác của huyện Lương Tài trong quá trình tham gia quản lý môi trường nông thôn Để từ đó có những định hướng những giải pháp để nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ cùng quản lý môi trường nông thôn trên toàn
huyện Lương Tài Do đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp tăng cường sự
tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Lương Tài, Tỉnh Bắc Ninh” Với mục tiêu chung của là đánh giá tình hình thực hiện công tác
quản lí môi trường nông thôn trên địa huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm pháp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Lương Tài, Bắc Ninh trong thời gian tới
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã chọn điều tra 3 xã, 90 phụ nữ chia đề cho
3 xã, 26 cán bộ đang làm việc trên địa bàn huyện và cơ sở, thu thập thông tin từ các phòng ban liên quan, tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra và từ sách báo, tạp chí, mạng internet,
Kết quả cho thấy: Phạm vi hoạt động của phụ nữ trong lĩnh vực quản lý môi trường trên địa bàn toàn huyện Lương Tài được chú trọng nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay Rác thải sinh hoạt không được phân loại tại nguồn mà thu
Trang 12gom lẫn lộn tới 30/90 phụ nữ điều tra chiếm tỷ lệ 33,33%; rác thải trồng trọt chiếm 18,89%, rác thải và nước thải từ chăn nuôi vẫn chưa được sử lý triệt để, vẫn xả trực tiếp ra cống rãnh, ao hồ chiếm 7,78%, dẫn đến môi trường nông thôn vẫn bị ô nhiễm Việc tham gia của phụ nữ trong thu gom, vận chuyển rác thải trên địa bàn huyện
đã được triển khai, tuy nhiên còn manh mún, hiệu quả triển khai thực hiện còn thấp Nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật liên quan đến công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý rác thải sinh hoạt và rác thải phát sinh từ trồng trọt, chăn nuôi nói riêng đã ban hành, triển khai trên địa bàn huyện Lương Tài, tuy nhiên hiệu quả không cao Công tác bảo vệ môi trường chưa được chính quyền huyện quan tâm đúng mức Việc huy động kinh phí từ các tổ chức, cá nhân để trả tiền lương, tiền công và mua sắm công cụ, dụng cụ, phương tiện cho công tác vệ sinh môi trường đã được xây dựng cụ thể nhưng quá trình triển khai còn nhỏ lẻ, nguồn kinh phí huy động được còn thấp, không đáp ứng được yêu cầu thực tế
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ trong QLMT nông thôn huyện Lương Tài bao gồm: (1) Cơ cấu tổ chức quản lí môi trường; (2) Trình độ văn hóa của phụ nữ nông thôn; (3) Ảnh hưởng từ nghành nghề ; (4) Công tác chỉ dạo vận động; (5) Yếu tố cơ sở hạ tầng; (6) Yếu tố về chính sách hỗ trợ
Vì vậy, trong thời gian tới đề nghị Hội phụ nữ cùng các ban ngành các cấp trong huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh cần có những hành động, giải pháp thiết thực tăng cường sự tham quản lý môi trường nông thôn của phụ nữ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lí môi trường nông thôn như:
- Giải pháp tăng cường về thông tin tuyên truyền về QLMT nông thôn ở huyện Lương Tài
- Giải pháp huy động nguồn nhân lực ở huyện Lương Tài
- Giải pháp huy động nguồn vốn ở huyện Lương Tài
- Xã hội hóa trong kiểm tra, giám sát thu gom, vận chuyển rác thải ở huyện Lương Tài
- Tăng cường thành lập các tổ đội vệ sinh môi trường tự quản ở thôn, khu phố ở huyện Lương Tài
Trang 13THESIS ABSTRACT
1 Summary
- Name of candidate: Phạm Huy Hoàng
- Topic of the dissertation: “The enhancement solution the participation of
women in rural environmental management of Luong Tai District - Bac Ninh Province”
- Specialized in: Economic management Code number:60 34 04 10
- Institution: Vietnam national university of agriculture
- Scientific Supervisors: Associate Professor Doctor Nguyen Mau Dung
of Environment and Natural resources, New rural development unit of Luong Tai district and other departments of Luong Tai district participated in the process of rural environmental management Based on that, there are oriented solutions to trigger the participation of women in rural environmental management across Luong Tai district
Therefore, I conducted a study entitled "Solutions to strengthen the participation of
women in rural environmental management Luong Tai district , Bac Ninh province"
With the general objective of evaluating the implementation of rural environmental management in the area of Luong Tai District, Bac Ninh Province, I proposed a number
of solutions to strengthen the participation of women in rural environmental management Luong Tai district, Bac Ninh Province in the future
To conduct the research, we selected three communes in the survey with 90 women and 26 staff working in the district and the communal level I also collected secondary information from the relevant departments, from books, magazines, internet,
The results showed that: The scope of activities of Women Union has focused on the field of environmental management, however it still does not meet need of the current development Family waste is not classified in the original sources with
Trang 14proportion 33.33% ; waste from crop production accounts for 18.89%, solid waste and waste water from livestock have not been thoroughly treated , still discharged directly into drains, ponds with proportion of 7.78% , resulting in pollution of a rural environment
The participation of women in the collecting and transportation of waste in the district have been significant, but still not reach need of reality, and ineffective Many laws, bylaws related to environmental management in general and management of family waste and waste from cropping and livestock in particular has been implemented
in the district Luong Tai, however being ineffective Environmental protection in the district has not been paid attention
The mobilization of funds from organizations or individuals to pay salaries, wages and procurement of tools, instruments and means for sanitation work has been built specifically but also slowly conducted, financial resources are limited
Factors effecting on the participation of rural women in environmental management Luong Tai district include: (1) Structure of environmental management; (
2 ) Education of rural women; (3 ) The impact of occupations; (4) The movement conducting activities; (5) infrastructure elements; (6) elements of policy support Therefore, in the future, I propose WU at all levels in Luong Tai District, Bac Ninh Province should have significant actions, practical solutions to strengthen the participation of rural environmental management of women for improving the efficiency of rural environmental management, those solutions include:
- Solutions to strengthen propagandas on rural environmental management in Luong Tai district
- Solution to mobilize human resources in Luong Tai district
- Solution to mobilize funds in Luong Tai district
- Socializing in inspecting and monitoring the collection and transportation of waste in Luong Tai district
- Enhancing the establishment of autonomous teams in sanitation at village level
in Luong Tai district
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong đấu tranh cách mạng, phụ nữ không chỉ là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, mà còn là những chiến sỹ cách mạng kiên cường, bất khuất, làm nên một thương hiệu phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” mà Bác Hồ trao tặng Từ 2010 đến nay, Việt Nam luôn coi trọng giáo dục phẩm chất đạo đức cho phụ nữ theo tiêu chí: có lòng yêu nước; có sức khoẻ; có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; năng động, sáng tạo; có lối sống văn hoá và lòng nhân hậu Triển khai thực hiện hiệu quả đề án tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi của người dân, cộng đồng, xã hội, đặc biệt là phụ nữ trong việc giữ gìn, phát huy và xây dựng phẩm chất, đạo đức tốt đẹp với sự trân trọng, tự hào, giữ gìn, phát huy những truyền thống tốt đẹp đó và khắc phục hạn chế, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực để góp phần xây dựng phẩm chất đạo đức của phụ nữ Việt Nam thời kỳ mới: “Tự trọng - Tự tin - Đảm đang - Trung hậu” (Hiếu Hạnh, 2015)
Đặc biệt vấn đề nông nghiệp, nông thôn luôn được đặt lên hàng đầu và có những chuyển biến tích cực Về nông nghiệp, cơ cấu sản xuất chuyển mạnh sang hướng sản xuất tập trung chuyên môn hóa mang lại hiệu quả kinh tế cao Về nông thôn, hạ tầng kỹ thuật được nâng cấp xây mới và kiên cố hóa làm thay đổi
bộ mặt nông thôn Đời sống vật chất của dân cư nông thôn không ngừng được cải thiện, nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng xuất hiện biến đổi tiêu cực làm ảnh hưởng tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống người dân do kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi nhu cầu sản phẩm tăng cả về chất lượng và số lượng gây gánh nặng cho sản xuất nông nghiệp và làm ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp
và chăn nuôi Mặt khác khi đời sống của người dân được cải thiện và nâng cao làm lượng rác thải, khí thải và nước thải tăng và về số lượng và nồng độ, nếu giải quyết không triết để sẽ gây ô nhiễm môi trường và làm mất mỹ quan nông thôn Thực hiện Luật bảo vệ môi trường ngày 23/6/2014; Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công
Trang 16nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy những năm qua, vấn đề quản lý môi trường nông thôn được các cấp, các ngành, đoàn thể của huyện đặc biệt quan tâm, trong đó có phụ nữ các cấp trong huyện Bằng nhiều cách khác nhau, phụ nữ đã phần nào làm thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề quản lý môi trường, hướng đến sự phát triển môi trường bền vững Trong công tác quản lý môi trường, phụ nữ huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh đóng một vai trò quan trọng Phụ nữ vừa là người sử dụng, tiếp cận, vừa là người giải quyết hàng ngày các vấn đề rác thải, nước sinh hoạt, giữ vệ sinh gia đình Phụ nữ cũng là những người sẽ gánh chịu hậu quả đầu tiên từ ô nhiễm môi trường, đồng thời cũng là người tham gia và hưởng lợi từ việc quản lý các vấn đề môi trường trên địa bàn dân cư Để làm được điều đó, với vai trò là trung tâm, hàng năm, phụ nữ huyện cụ thể hóa nội dung kế hoạch quản lý môi trường thành những việc làm thiết thực, phù hợp với nhiệm vụ của từng phụ nữ
cơ sở Trước hết là quan tâm tới đội ngũ tuyên truyền viên, hội viên nòng cốt
Để nâng cao vai trò và trách nhiệm của phụ nữ huyện Lương Tài trong các phong trào những năm qua, phụ nữ huyện Lương Tài đã thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để đáp ứng yêu cầu của thực tế Sự tham gia của phụ nữ ở huyện trong phong trào phụ nữ quản lý môi trường nông thôn đã có ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu quốc gia về quản lý môi trường của toàn huyện Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề này tại huyện Lương Tài nhằm cung cấp thông tin và những tư liệu cần thiết cho Phòng tài nguyên môi trường, phụ nữ huyện, ban quản lý xây dựng nông thôn huyện Lương Tài cùng các phòng ban của huyện Lương Tài trong quá trình tham gia quản lý môi trường nông thôn Để từ đó có những định hướng những giải pháp để nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ cùng quản lý môi trường nông
thôn trên toàn huyện Lương Tài Do đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, để từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
Trang 17- Đề xuất số định hướng và giải pháp chủ yếu tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh thời gian tới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này nhằm trả lời câu hỏi sau:
1 Tình hình thực hiện tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn đang diễn ra như thế nào?
2 Kết quả đạt được trong quá trình tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn thực hiện là gì?
3 Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình thực hiện tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn?
4 Các giải pháp nào để khắc phục khó khăn trong việc thực hiện quản lý môi trường nông thôn?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn đồng thời đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng đến kế quả thực hiện quản lý môi trường nông thôn tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh;
- Đối tượng khảo sát của đề tài là sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Trang 181.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi nội dung
- Đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu về công tác tăng cường sự tham gia của
phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh;
- Nghiên cứu thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn và đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đó là rác thải sinh hoạt, rác thải nông nghiệp, rác thải từ làng nghề và cách
mà phụ nữ xử lý ra sao tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh;
- Từ thực trạng nghiên cứu, đề tài đưa ra những giải pháp tăng cường hơn nữa sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 5/2015 đến tháng 6/2016
Trang 19PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN
LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về tham gia và sự tham gia phụ nữ nông thôn
* Khái niệm về sự tham gia
Theo Tạ Quỳnh Hoa (2006) thì sự tham gia là một quá trình mà Chính
phủ và cộng đồng cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động chung để cung cấp dịch vụ đô thị cho tất cả các cộng đồng
Như vậy: Sự tham gia là một quá trình trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình đánh giá, quy hoạch, thực hiện, quản lý sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động Yếu tố quan trọng nhất của sự tham gia là đảm bảo đảm cho những người chịu ảnh hưởng được tham gia vào quyền quyết định một công việc hay một dự án nào đó
Để tiến hành được việc quy hoạch cải tạo với sự tham gia của cộng đồng, yếu tố cần thiết hàng đầu đó là sự nỗ lực tham gia của người dân Người dân phải thể hiện tính tự chủ tối đa và nỗ lực để cải thiện điều kiện sống và môi trường nơi họ đang ở Ngoài ra, cần tồn tại các nguồn lực của cộng đồng: tiền, sức lao động, kiến thức, kỹ năng, sự lãnh đạo, hệ thống tổ chức xã hội trong cộng đồng Bên cạnh đó, cũng cần có sự trợ giúp về kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ của Chính phủ hoặc các tổ chức nào đó để khuyến khích óc sáng tạo, sự giúp đỡ lẫn nhau và tính tự lực của cộng đồng (Tạ Quỳnh Hoa, 2006).
Theo dịch giả Nguyễn Ngọc Hợi (2003) cho rằng sự tham gia là một quá trình tạo khả năng nhạy cảm của người dân và làm tăng khả năng tiếp thu vào năng lực của người dân nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển cũng như khích lệ các sáng kiến địa phương Quá trình này hướng tới sự tăng cường năng lực tự kiểm soát các nguồn lực và tổ chức điều hành trong những hoàn cảnh nhất định Tham gia bao hàm việc ra quyết định, thực hiện, phân chia lợi ích và đánh giá các hoạt động phát triển của người dân (Nguyễn Ngọc Hợi, 2003)
Theo Vũ Thị Huyền Trang (2009) thì những năm 1970 thì các khái niệm
như “sự tham gia” hay “tăng cường quyền lực” đã được sử dụng rất phổ biến
Trang 20cải thiện hiệu quả tính bền vững của các biện pháp thúc đẩy sự phát triển Tuy vậy không có một định nghĩa duy nhất về “sự tham gia” để có thể áp dụng cho tất
cả các chương trình hay dự án phát triển, việc diễn giải bản chất cũng như quá trình tham gia phụ thuộc vào yêu cầu phát triển của mỗi tổ chức
Các lĩnh vực tham gia thay đổi tùy theo mục tiêu của người nghiên cứu Tuy nhiên, việc ra quyết định luôn được xem là lĩnh vực quyết định nhất cho bất
kì mục tiêu nào và không đựơc bỏ qua và đã đưa ra khung phân tích để giám sát vai trò của tham gia trong các dự án và chương trình phát triển Họ thấy có 4 lĩnh vực tham gia: (1) ra quyết định, (2) Thực hiện, (3) Hưởng lợi, (4) Đánh giá (Vũ Thị Huyền Trang, 2009)
Trong khi đó, Vũ Thị Huyền Trang (2009) nhận thấy dự án có 3 pha và 5 hình thức tham gia là (1) Lập kế hoạch (nguyên gốc và thiết kế), (2) Thực hiện (thực hiện và thiết kế lại), và (3) bảo dưỡng Khung phân tích có mục tiêu tham gia và khung phân có mục tiêu dự án, nhưng chúng tương hợp để phù hợp với thực tế (Vũ Thị Huyền Trang, 2009)
Như vậy, với phạm vi nghiên cứu của đề tài về sự tham gia phụ nữ trong trong quản lý môi trường nông thôn cũng mang đầy đủ những nội dung và tính chất của sự tham gia như trong bất kỳ sự tham gia và phát triển nào Trong nghiên cứu này, sự tham gia của phụ nữ được hiểu là sự tham gia của tổ chức và của cả các hội viên trong tổ chức đó vào các hoạt động trong chương trình quản
lý môi trường nông thôn nông thôn
* Khái niệm về phụ nữ
Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng Nó
đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là không xấu, đến những giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này (Khuyết danh, Bách khoa toàn thư mở, 2015)
Còn theo Lưu Bình Nhưỡng (2010) thì phụ nữ là người luôn gắn với gia đình, con cái từ lâu, phụ nữ được trao cho “thiên chức” là mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa Tuy nhiên, trong thực tế và xét về tiềm năng thì vấn đề con cái không chỉ có vậy Người phụ nữ luôn gần gũi với con, là chỗ dựa tinh thần cho con,
Trang 21là người chăm sóc con từ khi còn thơ bé đến khi trưởng thành Người phụ nữ luôn thể hiện đức tính đảm đang, chăm lo cho gia đình Thường là từ khi lấy chồng, người phụ nữ bắt đầu thay đổi và tập trung vào gia đình - tổ ấm của mình dường như đây là “thiên chức” thứ hai của người phụ nữ “bảo mẫu” của gia đình
Phụ nữ có đời sống khá phong phú Người phụ nữ luôn luôn nhạy cảm trước những vấn đề của cuộc sống Họ thường tìm cách chia sẻ với những người thân thiết, những người xung quanh Sự ước vọng vươn lên trong cuộc sống và làm những điều lớn lao hoặc có ý nghĩa đối với bản thân, với gia đình là điều khá thường trực đối với họ (Lưu Bình Nhưỡng, 2010)
* Khái niệm về Nông thôn
Nông thôn được coi là khu vực địa lý, nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn do đó cũng có nhiều khái niệm khác nhau về nông thôn
Khi tìm hiểu khái niệm về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với thành thị Có quan điểm cho rằng khi xem xét khái niệm nông thôn, người ta dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư ở nông thôn thấp hơn so với thành thị Ý kiến khác lại cho rằng, dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị
Một quan điểm khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của dân cư nông thôn trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển,
cơ cấu kinh tế, cơ cấu áp dụng cho từng nền kinh tế Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu:
"Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ
chức khác" (Mai Thanh Cúc và cs., 2005)
Trang 222.1.1.2 Khái niệm về quản lý môi trường nông thôn
a Môi trường và chức năng cơ bản của môi trường
* Khái niệm: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất
nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Ðó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
- Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
- Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Ðoàn, Ðội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các
cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Trang 23Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển
* Các chức năng cơ bản môi trường gồm
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
- Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi
b.Môi trường nông thôn
Môi trường nông thôn được hiểu là: “Một thành phần của môi trường tự nhiên, trong đó được cấu thành bởi những yếu tố cơ sở vật chất hạ tầng (nhà ở, vườn tược, ruộng đồng, đường giao thông…), các phương tiện máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, trong đó trọng tâm vẫn là người nông dân và công nhân nông nghiệp với những sản xuất nông nghiệp, cảnh quan nông thôn, các yếu tố trên được quan hệ với nhau bằng dây truyền thực phẩm và dòng năng lượng Ngoài hoạt động sản xuất còn có những sinh hoạt về văn hóa xã hội, tập quán,
tình cảm của làng xóm của người nông dân” (Ngô Thị Phụng, 2007)
c Quản lý môi trường nông thôn
Quản lý môi trường nông thôn chính là: tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, con người cùng với xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội ở một vùng miền nào đó
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý môi trường nông thôn bao gồm:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người
Trang 24- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội
- Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương
và cộng đồng dân cư (Bộ tài nguyên môi trường, 1994)
2.1.2 Đặc điểm và nội dung tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
2.1.2.1 Đặc điểm sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
Quản lý môi trường nông thôn được thực hiện thông qua tăng cường năng lực cho phụ nữ và cộng đồng để họ “tham gia” thực sự vào các hoạt động quản lý môi trường nông thôn Tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, văn hoá, điều kiện kinh tế, địa lý của từng vùng miền khác nhau, mức độ tham gia của người dân vào quản lý môi trường nông thôn ở các cấp độ khác nhau Các mức độ tham gia của phụ nữ có thể được coi như một tiến trình liên tục và chia thành 5 cấp độ khác nhau thể hiện chất lượng sự tham gia (thể hiện ở hình 2.1)
Hình 2.1 Các mức độ tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
Nguồn: Phụ nữ huyện Lương Tài (2013)a
- Tham gia thụ động: Phụ nữ thụ động tham gia vào các hoạt động quản lý môi trường nông thôn, bảo gì làm đấy, không tham dự vào quá trình ra quyết định, xây dựng kế hoạch;
Tự nguyện và chủ động Theo định hướng từ bên ngoài Theo nghĩa vụ hay bị bắt buộc Cung cấp thông tin
Trang 25- Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin: thông qua việc trả lời các câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu Phụ nữ không tham dự vào quá trình phân tích và sử dụng thông tin;
- Tham gia bởi nghĩa vụ hay bị bắt buộc: thông qua việc đóng góp lao động, tiền hay một số nguồn lực khác Phụ nữ cho rằng đây là nghĩa vụ họ phải đóng góp Các hoạt động thường do các tổ chức quần chúng, cán bộ dự án khởi xướng, định hướng và hướng dẫn;
- Tham gia bởi định hướng từ bên ngoài: Phụ nữ tự nguyện tham gia vào các tổ, nhóm do dự án hoặc các chương trình khởi xướng Bên ngoài hỗ trợ và người dân tự chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định;
- Tự nguyện: Phụ nữ tự khởi xướng về việc xác định, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các hoạt động phát triển không có sự định hướng từ bên ngoài
2.1.2.2 Các hình thức tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
Theo Đức Hiếu (2015) thì sự tham gia của phụ nữ vào việc quản lý môi trường nông thôn được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ Khi tham gia vào quá trình quản lý môi trường thôn với sự hỗ trợ của Nhà nước, phụ nữ tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý môi trường nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Khi xem xét quá trình tham gia của phụ nữ trong các hoạt động quản lý môi trường nông thôn, vai trò của của phụ nữ ở đây được thể hiện: Phụ nữ biết, phụ nữ bàn, phụ nữ đóng góp, phụ nữ làm, phụ nữ kiểm tra, phụ nữ quản lý và dân hưởng lợi Như vậy, vai trò của người phụ nữ vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với điều kiện, yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới hiện nay:
- Phụ nữ biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của phụ nữ về những
kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quản lý môi trường ở nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng môi trường nông thôn Mặt khác, phụ nữ có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình, phụ nữ nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ công đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi;
Trang 26- Phụ nữ bàn: Ở đây gồm sự tham gia ý kiến của Hội phụ nữ liên quan đến
kế hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của phụ
nữ trên địa bàn như: bàn luận mở ra một hướng về quản lý môi trường, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu
từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính,… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi;
- Phụ nữ đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc
mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính
tự giác của từng phụ nữ trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ;
- Phụ nữ làm: là sự tham gia lao động trực tiếp từ phụ nữ vào các hoạt
động phát triển nông thôn như: phụ nữ thực hiện quản lý môi trường ở nông thôn, phụ nữ tham gia quét dọn đường làng ngõ xóm, phụ nữ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phụ nữ với các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và
sử dụng công trình Phụ nữ trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập
kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho phụ nữ có việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ
- Phụ nữ kiểm tra: có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có sự
giám sát và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính
- Phụ nữ quản lý: đó là các thành quả của các hoạt động mà phụ nữ đã
tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của phụ nữ tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình;
Trang 27- Mọi người cùng hưởng lợi: chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của của việc thu gom rác thải, dọn vệ sinh đường làng ngõ xóm, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng,… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập,… (Đức Hiếu, 2015)
Hình 2.2 Các hình thức tham gia của phụ nữ trong quản lý
môi trường nông thôn
Nguồn: Phụ nữ huyện Lương Tài (2013)b
2.1.2.3. Nội dung tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
a Sự tham gia của phụ nữ trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức
và trách nhiệm bảo vệ môi trường
Phụ nữ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy vai trò phụ nữ tự quản, hình thành ý thức chủ động về bảo vệ môi trường, vận động sâu rộng về quản lý môi trường nông thôn trong hệ thống tổ chức nhằm phát huy đầy đủ, toàn diện nội lực và tiềm năng, sáng tạo của phụ nữ, động viên, khuyến khích phụ nữ chủ động, tích cực tham gia với vai trò chủ thể ở nông thôn
Trang 28Phối hợp với Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia quản lý môi trường nông thôn của Trung ương, của huyện và địa phương mình, xây dựng và
tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến 100% cán bộ, hội viên, về ý nghĩa, mục đích, chủ trương của Đảng, chính sách đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, của địa phương về quản lý môi trường nông thôn, trên cơ sở đó tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động của phụ nữ, khuyến khích, động viên phụ
nữ tích cực tham gia, đóng góp công sức, tiền của, đất đai… quản lý môi trường nông thôn với vai trò của người làm chủ
Tổ chức biên soạn tài liệu tập huấn, tuyên truyền về quản lý môi trường nông thôn và tổ chức tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức với nhiều hình thức phong phú như: Hội thảo, giao lưu sân khấu hóa, tọa đàm, thi tìm hiểu kiến thức, các
sự kiện truyền thông
Tổ chức thông tin tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng về chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các mô hình, điển hình tiên tiến về quản lý môi trường nông thôn, kịp thời động viên và khuyến khích việc học tập các mô hình, điển hình tiên tiến với phong trào “Phụ
nữ với phong trào 5 không 3 sạch” (Hội phụ nữ Lương Tài, 2014)
b Sự tham gia của phụ nữ trong xử lý rác thải sinh hoạt và bảo vệ nguồn nước
Phụ nữ tích cực vận động, huy động các cán bộ, hội viên, và mọi người dân tham gia tích cực vào các hoạt động quản lý môi trường nông thôn cụ thể, phát triển hạ tầng kinh tế - bằng các việc làm thiết thực như hiến đất làm làm các hố bi đựng rác thải trên đồng ruộng nông thôn, xả rác đúng nơi quy định, ủng hộ vật chất, tiền mặt, ngày công lao động để xây dựng nhà vệ sinh cho các hội viên nghèo, hỗ trợ xây hầm Bio ga cho các hộ gia đình chăn nuôi gia xúc, gia cầm … Phụ nữ tuyên truyền vận động thành lập các tổ vệ sinh môi trường của từng thôn và đội thu gom rác thải, tăng cường công tác khuyến nông, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị sản xuất
Bảo vệ, sử dụng nguồn nước sạch hợp lý và tiết kiệm, hiệu quả Kiên quyết lên án, tạo áp lực xã hội đối với những hành vi cố tình xả, thải gây ô nhiễm
môi trường (Hội phụ nữ Lương Tài, 2014)
c Sự tham gia của phụ nữ trong quản lý vệ sinh đường làng ngõ xóm
Đăng ký và tổ chức cho phụ nữ tham gia xây dựng, tu sửa đường giao thông nông thôn, đường trục chính nội đồng, hệ thống kênh mương, thủy lợi và
Trang 29các công trình phúc lợi, xây dựng các "Đoạn đường phụ nữ tự quản” và gắn biển các đoạn đường do phụ nữ quản lý xanh - sạch - đẹp, định kỳ huy động lực lượng tham gia vệ sinh, duy tu, bảo dưỡng
Huy động nguồn lực, xã hội hóa với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", đẩy mạnh công tác bê tông hóa đường làng, ngõ xóm tạo cảnh quan
và bảo vệ môi trường sống (Hội phụ nữ Lương Tài, 2014)
d Sự tham gia của phụ nữ trong cải tạo cảnh quan (trồng cây, cải tạo ao hồ sinh thái )
Phụ nữ phải là người đi đầu trong việc cải tạo ao, hồ, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy đảm bảo cảnh quan và bảo vệ môi trường Kiên quyết lên
án, tạo áp lực xã hội đối với những hành vi cố tình xả rác thải, chất thải gây ô nhiễm môi trường sống
Tích cực vận động phụ nữ và mọi người dân cùng tham gia trồng cây xanh, bảo vệ rừng, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng, trồng cây cải tạo cảnh quan môi trường sống, khu dân cư, cơ quan, trường học (Hội phụ
nữ Lương Tài, 2014)
e Sự tham gia của phụ nữ trong công tác xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh
Thành lập mới các mô hình tình nguyện để hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh cho các hộ gia đình chính sách, gia đình khó khăn trong địa bàn
Phụ nữ tích cực tuyên truyền, góp phần nâng cao nhận thức cho nhân dân địa phương nên thay đổi tập quán đi vệ sinh lạc hậu, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, chất lượng môi trường sống, hạn chế ô nhiễm môi trường khu
vực nông thôn (Hội phụ nữ Lương Tài, 2014)
f Sự tham gia của phụ nữ trong công tác di dời chuồng trại chăn nuôi
Phụ nữ vận động các hộ gia đình trong đó chị em là người đi đầu trong cải tạo nhà cửa, vườn, ao, di dời chuồng trại ra xa khu vực nhà ở để đảm bảo vệ sinh
và giữ gìn sức khỏe
Tổ chức cho phụ nữ tham gia các hoạt động thường xuyên và đột xuất tham gia giải quyết các vấn đề về môi trường trên địa bàn dân cư (Hội phụ nữ Lương Tài, 2014)
Trang 30g Sự tham gia của phụ nữ trong công tác thu gom và sử lý rác thải nông nghiệp ở nông thôn
Phụ nữ là người đi đầu trong việc thu gom rác thải nông nghệp đảm bảo cảnh quan và bảo vệ môi trường Kiên quyết lên án, tạo áp lực xã hội đối với những hành vi cố tình xả rác thải gây ô nhiễm môi trường sống
Tích cực vận động phụ nữ và mọi người dân cùng tham gia thu gom và sử
lý hay tận dụng rác thải giác thải một cách khoa học vừa đỡ lãng phí và cũng
tránh ô nhiễm (Hội phụ nữ Lương Tài, 2014)
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
2.1.3.1 Trình độ học vấn của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
Đây là yếu tố khá quan trọng, trình độ của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn theo thống kê cũng cho thấy có mối liên hệ trực tiếp giữa biến
số trình độ học vấn với mức độ tham gia vào hoạt động thu gom, phân loại và xử
lý rác thải ở nông thôn, học thức không cao sẽ làm theo bản năng tập quán và làm theo kinh nghiêm Kết quả này cũng được phản ánh trong các thông tin định tính (Nguyễn Văn Chung, 2015)
2.1.3.2 Nhận thức và hành vi của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
Những người phụ nữ nhận thức được tầm quan trọng của mình trong hoạt động quản lý môi trường sẽ có xu hướng tham gia và vận động những người khác trong cộng đồng cùng tham gia tích cực hơn trong các hoạt động này Một phát hiện khác được đưa ra là không phải những người nhận thức đúng sẽ có hành vi đúng Biểu hiện là nhiều người nhận thấy những khó khăn của công tác quản lý môi trường do thiếu nguồn tài chính nhưng lại e ngại và không muốn đóng thêm phí Rõ ràng, tồn tại khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của người phụ nữ (Nguyễn Văn Chung, 2015)
2.1.3.3 Điều kiện kinh tế tài chính của phụ nữ
Trong nhiều nghiên cứu cho thấy, điều kiện kinh tế gia đình ảnh hưởng không nhỏ đến sự tham gia của phụ nữ trong quá trình bảo vệ môi trường trên địa bàn họ sinh sống, có sự ổn định về mặt kinh tế, họ mới có thể tích cực tham gia các hoạt động cụ thể như đóng góp nguồn lực cho hoạt động bảo vệ môi trường
Trang 31Mặt khác, sự phát triển về thể chất: đó là: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, điều kiện kinh tế, quan hệ xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác bảo vệ môi trường của phụ nữ Trong một nghiên cứu khác cho thấy lịch sử di dân và định
cư của hộ gia đình cũng ảnh hưởng tới sự tham gia
Các đặc trưng tự nhiên của bất kỳ chương trình dự án nào cũng không đủ
để huy động sự tham gia của phụ nữ, nếu không có nghiên cứu về các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, lịch sử…đặc biệt là yếu tố kinh tế (Nguyễn Văn Chung, 2015)
2.1.3.4 Sự tham gia của phụ nữ, người dân và các tổ chức xã hội
Sự tham gia của phụ nữ và quần chúng là yếu tố chủ yếu, là một trong những thành tố chính của sự phát triển cộng đồng Sự tham gia của phụ nữ và người dân là phương tiện hữu hiệu để huy động nguồn lực địa phương, tận dụng năng lực và tính sáng tạo của phụ nữ để tổ chức các hoạt động hoàn thành tiêu chí môi trường Nó giúp xác định nhu cầu của phụ nữ được sát đáng (phụ nữ cần), sự nhận thức của phụ nữ đầy đủ và rộng rãi (phụ nữ biết), dân chủ động tham gia góp ý xây dựng (phụ nữ bàn), phụ nữ tự đứng ra góp công, góp của xây dựng cùng với sự tham gia hướng dẫn của tổ chức Hội (phụ nữ làm), vì là công trình của phụ nữ, do phụ nữ tự bỏ công xây dựng nên người phụ nữ sẽ là người trực tiếp và tự kiểm tra bảo vệ công trình của mình (phụ nữ kiểm tra), vì lợi ích trực tiếp của chính mình (phụ nữ hưởng lợi) (Nguyễn Văn Chung, 2015)
2.1.3.5 Cơ sở hạ tầng và công nghệ của nông thôn
Không phải mọi điều kiện về cơ sở hạ tầng và công nghệ hiện đại đều mang lại tác động tốt, mà bên cạnh đó nó còn tạo nhiều tác động ngược tới môi trường do phá vỡ sự ổn định, cân bằng của mô hình sinh thái tự nhiên Vì thế trong quá trình thực hiện công tác quản lý môi trường cần đánh giá tác động của từng công trình và công nghệ tới môi trường để có quyết định đầu tư, xây dựng đúng đắn (Nguyễn Văn Chung, 2015)
2.1.3.6 Công tác chỉ đạo của cán bộ chính quyền địa phương
Đảng và nhà nước đã thể hiện sự quan tâm trong quản lý môi trường qua các mục tiêu phấn đấu xây dựng môi nông thôn xanh sạch đẹp, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh, quy hoạch nghĩa trang, bãi xử lý rác, triển khai
Trang 32các hoạt động bảo vệ và phát triển nông thôn bền vững Để quản lý môi trường nông thôn Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, khuyến khích xã hội hóa nhằm thúc đẩy hoàn thiện xây dựng môi trường nông thôn phát triển có lợi hơn Các
cơ chế này có ảnh hưởng lớn tới tình hình thực hiện quản lý môi trường tại địa phương, nó đem lại tác động về kinh tế xã hội và cơ bản là môi trường nông thôn
Chỉ đạo đối với hộ gia đình: Việc lồng ghép quản lý vệ sinh môi trường
trong việc đánh giá “Gia đình văn hóa” Sẽ thúc đẩy cho quá trình đảm bảo vệ sinh môi trường tại các khu dân cư
Chỉ đạo đối với thôn: Thành lập các tổ vệ sinh môi trường, thường xuyên
thu gom rác thải của các họ gia đình, làm sạch đường làng ngõ xóm Nguồn kinh phí chi trả cho người lao động sẽ chủ yếu được thu từ các hộ dân, các cá nhân phát sinh rác thải và các nguồn đóng góp, hỗ trợ khác Xe chở rác được tỉnh hỗ trợ còn lại là tự trang bị thêm xe trở rác để đáp ứng hoạt động vệ sinh môi trường
Chỉ đạo đối với khu công nghiệp: Khu công nghiệp hoàn thiện hệ thống xử
lý nước thải tập trung Hệ thống này được kiểm định, đánh giá theo quy chuẩn môi trường hiện hành
Các cơ chế này có ảnh hưởng lớn tới tình hình thực hiện mục tiêu về môi trường tại địa phương, nó đem lại tác động về kinh tế xã hội và cơ bản là môi trường nông thôn (Nguyễn Văn Chung, 2015)
2.1.3.7 Sự tham gia của các bên liên quan (stak holdes) trong hoạt động quản
lý môi trường
a Nhóm công nhân vệ sinh môi trường
Các xử lý thống kê định lượng đã chỉ ra mối liên hệ thuận chiều giữa mức
độ tham gia của công nhân vệ sinh môi trường và của người dân trong hoạt động phân loại và hoạt động thu gom rác thải, nghĩa là công nhân vệ sinh môi trường tham gia càng tích cực tham gia bao nhiêu thì người dân sẽ tham gia tích cực bấy nhiêu (Nguyễn Thị Kim Nhung, 2014)
b Đoàn thể xã hội:
Đoàn thể xã hội có vai trò động viên người dân thực hiện các quy định về phân loại và thu gom rác, chất thải Trong các đoàn thể xã hội tại cộng đồng,
Trang 33Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Mặt trận Tổ quốc là những đoàn thể tham gia tích cực, trong khi đó hội viên phụ nữ thể chưa thể hiện được vai trò thúc đẩy và huy động người dân tham gia quản lý môi trường nông thôn (Nguyễn Thị Kim Nhung, 2014)
c Nhóm người thu mua phế liệu
Một trong các cách phân loại rác thải được nhiều người dân lựa chọn là lọc ra những chai lọ nhựa, báo bìa để đem bán cho người thu mua phế liệu Câu hỏi đặt ra là nếu không có nhóm thu mua phế liệu thì người dân có lọc ra những loại rác có thể tái chế không? Và nếu lọc ra rồi thì họ sẽ xử lý như thế nào tiếp theo? Rõ ràng, nhóm thu mua phế liệu không chính thức này không chỉ có vai trò quan trọng trong cả hệ thống quản lý rác thải mà còn có những ảnh hưởng nhất
định đến hành vi phân loại rác thải của người dân đô thị hiện nay (Nguyễn Thị
Kim Nhung, 2014)
d Truyền thông
Hiệu quả của truyền thông mang lại hiệu quả to lớn đến hành vi của phụ
nữ và người dân, đặc biệt là truyền thông qua hệ thống loa phát thanh của khu dân cư (Nguyễn Thị Kim Nhung, 2014)
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN
LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
2.2.1 Kinh nghiệm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường ở các nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm ở Nhật Bản
Theo Ông Lê Văn (2010) trích từ bài báo người Nhật và 8 điều “quái dị” trong xử lý rác được đăng trên Báo Thanh Niên Bắc Kinh sau chuyến đi khảo sát cách xử lý rác ở Nhật Bản: Nhật Bản là một nước đi đầu trong việc bảo vệ môi sinh nhất là xử lý chất thải bởi sản xuất càng phát triển, chất thải ngày càng nhiều Những điều Nhật Bản đã và đang làm trong vấn đề xử lý rác thải sẽ là những điều rất quý báu với Việt Nam, nếu chúng ta biết vận dụng kịp thời, biến rác thành tài nguyên Mỗi năm Nhật Bản thải ra khoảng 55 – 60 triệu tấn rác nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó phải đưa đến bãi chôn lấp, còn phần lớn được đưa đến các nhà máy để tái chế Kinh nghiệm quản lý rác thải của Nhật Bản:
Trang 34* Phân loại ngay tại thùng: trên các thùng rác hai bên vệ đường có vẽ những loại rác được phép bỏ vào, người dân rất tự nguyện bỏ rác đúng loại vào
thùng như là một thói quen sinh hoạt
* Sản xuất đi kèm tái chế: việc thu gom rác ở Nhật cũng không giống như
ở Việt Nam, chất thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của Nhà nước, còn chất thải từ các công ty, nhà máy… cho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty
do chính quyền địa phương chỉ định Một điều mà Nhật Bản làm rất chặt chẽ trong việc quản lý rác thải công nghiệp là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải
tự chịu trách nhiệm về rác thải của mình Và điều này được quy định bởi luật về
bảo vệ môi trường
* Khu công nghiệp sinh thái: từ năm 1991, chính phủ Nhật Bản chính thức khuyến khích tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải tái chế, các công ty tái chế chất thải chủ yếu các mặt hàng như bao bì, gỗ, đồ điện tử….Không những khuyến khích các công ty tái chế, tái sử dụng các chất thải, Nhà nước cũng khuyến khích người dân sử dụng rác như một nguyên liệu sản xuất, xử lý rác thải
hữu cơ làm phân bón cho cây trồng
* Giáo dục ý thức người dân: chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức các chiến dịch xanh, sạch, đẹp phố phường nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân và tặng thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc Chương trình này đã được đưa vào trường học và đã tỏ ra hiệu quả Học sinh ngay từ cấp tiểu học đã được dạy về việc ý thức bảo vệ môi trường Do đó ý thức bảo vệ môi trường của người dân Nhật quả thật đáng để Việt Nam học tập (Lê Văn, 2010)
2.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường tại Trung Quốc
Theo chương trình hợp tác quốc tế, UNICEF đã tổ chức chuyến tham quan học tập kinh nghiệm về Cấp nước và Vệ sinh môi trường tại tỉnh Giang Tây Trung Quốc từ ngày 20-26/11/2005 Thành phần đoàn gồm đại diện UNICEF, Bộ
Y tế và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sau đây là bài học kinh nghiệm thu nhận được từ các điểm tham quan và làm việc với Bộ Y tế Trung Quốc Nước sạch và vệ sinh môi trường ở Trung Quốc được bắt đầu từ những năm 80 của thế
kỷ trước Sau khoá họp lần thứ 35 của WHO (phát động thập kỷ nước sạch) Từ
đó đến nay Trung Quốc đã liên tục tổ chức thực hiện các kế hoạch năm năm Kế hoạch 5 năm 2000-2005 đã xác định vấn đề nước sạch và Vệ sinh môi trường lồng nghép với phát triển kinh tế và là tiền đề cho xây dựng kế hoạch 5 năm tiếp
Trang 35theo 2006-2010 Chìa khoá thành công của Trung Quốc chính là quá trình lập kế hoạch, xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành của trung ương và địa phương Theo kinh nghiệm của Trung Quốc sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài chính là rất quan trọng Chiến lược huy động vốn
từ 3 nguồn: Từ nguồn vốn của chính phủ trung ương và địa phương, huy động quyên góp vốn từ các tổ chức, giới kinh doanh, đóng góp của người hưởng lợi từ chương trình Từ 1980, trong quá trình thực hiện các kế hoạch năm năm đã qua mỗi giai đoạn đều có tỷ lệ đầu tư về vốn khác nhau Hiện nay trong giai đoạn lồng ghép vệ sinh môi trường với phát triển kinh tế thì số lượng vốn từ phía Nhà nước phải nhiều hơn Ví dụ trong dự án vay vốn WB cho nước sạch và vệ sinh môi trường 50% vốn từ WB, 25% từ Chính phủ TQ và 25% còn lại là đóng góp của hộ gia đình (đối tượng được hưởng lợi) Chiến lược huy động vốn ở Trung Quốc rất hiệu quả, trung bình mỗi năm huy động trên 10 tỷ nhân dân tệ cho VSMT nông thôn Về lĩnh vực cấp nước: Trung Quốc chủ trương khuyến khích hình thức cấp nước bằng đường ống và tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà lắp đặt các hệ thống cho phù hợp Đến cuối năm 2004, tỷ lệ người dân được sử dụng nước máy là 60% Hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ qua các thiết kế mẫu, hướng dẫn kỹ thuật theo từng loại hình cấp nước khác nhau, ban hành tiêu chuẩn nước
ăn uống Trong khoảng thời gian 20 năm Trung Quốc đã có 4 giai đoạn vay vốn của WB cho lĩnh vực phát triển hệ thống cấp nước tại 17 tỉnh điểm
Người thụ hưởng có khoảng 30% người nghèo sẽ hỗ trợ 100% vốn góp 70% số còn lại trả vốn qua tiền nước sử dụng Quản lý chất lượng nước: Năm
1985 ban hành tiêu chuẩn nước ăn uống áp dụng cho toàn Trung Quốc Tiêu chuẩn Quốc gia là tiêu chuẩn nước uống duy nhất cho toàn Trung Quốc Năm
1991 do ở nhiều vùng nông thôn khó đạt được tiêu chuẩn này Quốc gia do vậy Trung Quốc đã ban hành Hướng dẫn giám sát chất lượng nước cho vùng nông thôn Kinh nghiệm thực tế nếu chỉ ban hành các tiêu chuẩn hay hướng dẫn thì chưa đủ mà cần có các cơ quan quản lý, giám sát và các giải pháp phù hợp, xây dựng tổ chuyên trách và đề ra chế tài xử lý sẽ góp phần đảm bảo chất lượng nước Vệ sinh môi trường nông thôn: Tình trạng vệ sinh môi trường ở nông thôn Trung Quốc chưa được khả quan, còn nhiều lạc hậu so với các nước phát triển Nguyên nhân của sự chậm tiến đó là do: Nếp sống và văn hoá của từng địa phương, nhiều gia đình có nhà rất to nhưng do tập quán nên nhà tiêu vẫn để ngoài nhà và chưa đạt vệ sinh Tuy vậy Trung Quốc vẫn đưa mục tiêu phấn đấu
Trang 36vào năm 2000 đã đạt 50% HGĐ được sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh so với điều tra đánh giá năm 1993 chỉ có 7,5% HGĐ Chính phủ có cam kết với Quốc tế về hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ là phấn đấu giảm dưới 50% người dân không
có điều kiện tiếp cận với các điều kiện vệ sinh tối thiểu nhưng dự kiến vào năm
2015 tỷ lệ này sẽ là 70% Theo đại diện Bộ Y tế thì Trung Quốc sẽ hoàn thành được cam kết trên với lý do: Đã có nhiều nỗ lực và đã có những thành tựu nhất định trong việc nâng cao tỷ lệ bao phủ nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh Có cơ chế chính sách khuyến khích và hỗ trợ thay đổi hành vi vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường Trong 10 năm qua Trung Quốc đẫ đạt được thành công lớn trong lĩnh vực dục vệ sinh: Các cấp lãnh đạo từ trung ương cho tới các cấp nhỏ nhất và người dân đều đã hiểu được tầm quan trọng của nước sạch và vệ sinh môi trường Nên nếu hỏi bất kỳ một người dân nào về việc có đồng ý xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh không? thì cũng sẽ nhận được câu trả lời là có Vụ giáo dục vệ sinh đã thực hiện rất tốt công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ: Việc giáo dục nâng cao kiến thức được chia làm các giai đoạn như: Giai đoạn đầu tập trung vào nâng cao nhận thức về điều cần thiết có nhà tiêu hợp vệ sinh; Từ năm 2004 tập trung vào tổ chức thực hiện, hàng năm Chính phủ giành khoảng 100 triệu cho nông thôn trong đó có 1 tỷ cho xây dựng và phát triển nhà tiêu hợp vệ sinh Bên cạnh đó chính quyền địa phương cũng có đầu tư nhất định cho xây dựng và phát triển nhà tiêu Cơ chế đầu tư xây dựng phần âm (bể chứa) do Chính phủ, phần trên do người thụ hưởng chi trả Hỗ trợ kỹ thuật: Trung Quốc đã xây dựng 2 tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn nhà tiêu hợp vệ sinh và Tiêu chuẩn xử lý rác thải (lò đốt rác) Ban hành thiết kế chuẩn cho nhà tiêu nông thôn gồm các loại sau: Biogas, Tự hoại 3 bể, tự hoại 2 bể, nhà tiêu khô sinh thái, nhà tiêu tự hoại nối với hệ thống nước thải chung, nhà tiêu GIO Các loại hình nhà tiêu này rất quan trọng với cả Trung Quốc và Việt Nam do chúng ta đều có thói quen sử dụng chất thải hữu cơ (phân người và gia súc) làm phân bón cây trồng và nếu không đảm bảo vệ sinh sẽ nguy hiểm cho sức khoẻ Điều phối và phối hợp liên ngành trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn
Lĩnh vực vệ sinh môi trường và đặc biệt là nhà tiêu nông thôn không thể chỉ do một cơ quan, tổ chức thực hiện được Trung Quốc đã lập Ủy ban phát triển chiến dịch y tế với mục tiêu đẩy truyền thông đi trước một bước Ủy ban này có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và 2 tổ chức lớn nhất Trung Quốc là thanh niên và phụ nữ Trong đó thanh niên là lực lượng trẻ, thích tiếp cận các vấn
Trang 37đề mới và thường cập nhật thông tin mới Phụ nữ thường hay quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ và gia đình đặc biệt là vấn đề vệ sinh nông thôn và nước sạch Các địa phương cũng có mô hình tổ chức và hợp tác tương tự như Trung ương, hợp tác theo cấp với 2 tổ chức quần chúng ở cấp mình quản lý (Y tế-Nông nghiệp-Thanh niên-Phụ nữ) Nước sạch –Vệ sinh trong nhà trường: Trung Quốc không có một chương trình hay dự án riêng về lĩnh vực này Nhưng các can thiệp đầu tiên ở địa phương thuộc lĩnh vực vệ sinh môi trường là ở trường học Các hoạt động trong trường học rất có lợi do học sinh vừa là đối tượng được truyền thông vừa là các truyền thông viên về vệ sinh môi trường cho cộng đồng Trường học là nơi có độ tập trung đông người, nếu các điều kiện vệ sinh không đảm bảo
sẽ xẩy dịch và lan nhanh do dó cần quan tâm và đầu tư các điều kiện vệ sinh cho nhà trường Năm 2004, Bộ Y tế và Bộ Giáo dục phối hợp nghiên cứu để đưa ra thiết kế vệ sinh môi trường trong trường học Xử lý rác thải Nilon: Trung Quốc
có thể nói là có và không có vấn đề về rác thải nilon Các thành phố có hệ thống thu gom và nhà máy chế biến rác, còn ở nông thôn, nhiều nơi rác thải nilon cũng
có vấn đề cần quan tâm, đặc biệt là dùng nilon trong trồng trọt và thải ra môi trường Biện pháp đang thực hiện ở các vùng nông thôn là chôn lấp Bài học về kinh nghiệm quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường ở Trung Quốc cho thấy, việc thành công chỉ có thể có được khi chiến lược, quy hoạch phải phù hợp với điều kiện và tập quán của nhân dân, công tác truyền thông thông qua các chiến dịch phải được duy trì thường xuyên và rộng rãi kết hợp giữa các bộ, các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ (Nguyễn Vũ Hoan và Trương Đình Bắc, 2005)
2.2.2 Kinh nghiệm tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn một số địa phương ở Việt Nam
2.2.2.1 Kinh nghiệm tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Hưng Hà (Thái Bình)
Trong khi bài toán xử lý rác thải ở nông thôn vẫn là vấn đề nhức nhối ở nhiều địa phương trong cả nước, thì tại huyện Hưng Hà (Thái Bình), mô hình phân loại rác tại nguồn do Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh phối hợp Hội Phụ nữ huyện Hưng
Hà thực hiện đang phát huy hiệu quả Sau hơn 1 năm triển khai, mô hình đã mang lại diện mạo môi trường và cảnh quan xanh, sạch, đẹp cho nông thôn ở đây
Trang 38Hầu hết tại các vùng nông thôn hiện nay, mặc dù quỹ đất rộng nhưng không quy hoạch được bãi rác tập trung, không có hệ thống thu gom, vận chuyển rác thải, do vậy mỗi hộ phải tự xử lý rác thải của gia đình mình Chị Trần Thị Đà (thôn Khánh Lai, xã Tây Đô) cho biết: trước đây, theo thói quen gia đình chị thường cho gà, lợn ăn các loại rau, củ thừa qua quá trình sinh hoạt Còn các loại rác khác kể cả túi ni - lông, do không có bãi rác nên những ngày nắng thường đem phơi rồi đốt Hoặc cũng có những gia đình đem đổ ở ao, đường làng Nhà nọ thấy nhà kia đổ được thì cũng "tham gia", và kết quả là hình thành những bãi rác nhỏ rải rác khắp thôn, xóm, đọng mùi hôi thối rất khó chịu, không chỉ gây ô nhiễm môi trường, mất cảnh quan nông thôn, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho dịch bệnh vật nuôi, cây trồng có điều kiện phát triển và diễn biến phức tạp
Xác định công tác bảo vệ môi trường ở nông thôn là nhiệm vụ cấp thiết, đồng thời cũng là tiêu chí để phấn đấu xây dựng nông thôn mới, ngay từ năm
2010, Hội Phụ nữ huyện Hưng Hà đã phối hợp cùng Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện nghiên cứu và triển khai mô hình phân loại rác thải tại nguồn, thực hiện thí điểm tại xã Tây Đô Chị Đinh Thị Yến, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Tây Đô cho biết: Đối tượng chính được xác định để tuyên truyền, triển khai thực hiện mô hình là phụ nữ Phòng Tài nguyên Môi trường huyện đã mở các lớp, các buổi nói chuyện lồng ghép trong các buổi sinh hoạt phụ nữ, nhằm giáo dục, phổ biến tới các chị em trong xã kiến thức cơ bản về cách làm mô hình Từ 50 gia đình làm thí điểm năm 2010, đến nay hàng trăm gia đình thuộc 8/8 thôn của xã Tây Đô đã tham gia thực hiện mô hình, góp phần cải thiện vệ sinh gia đình, cải thiện môi trường trong làng, ngoài xóm
Trong khuôn viên của vườn nhà, các gia đình chỉ cần đào một chiếc hố có chiều rộng 60 cm, chiều cao 80 cm, đặt vào trong hố chiếc sọt tre có nắp đậy Mọi rác thải hữu cơ trong sinh hoạt gia đình được bỏ xuống đó Sự phân hủy của rác tạo ra nguồn phân bón tự nhiên giúp cây cối phát triển tốt Cứ sau khoảng 2-
3 tháng, khi rác trong hố đã đầy, người dân tiếp tục lấp đất lên trên, và trên mặt đất đó có thể tận dụng trồng chuối, rau, sắn hay cây cảnh… Liên tục luân chuyển như vậy trong diện tích vườn nhà, với chi phí chỉ khoảng vài chục ngàn đồng, người dân vừa cải thiện được môi trường, vừa trồng được cây, rau, quả tươi tốt Những loại rác vô cơ khác, sẽ được bỏ vào sọt rác gia đình và mang đến bãi rác
tập trung
Trang 39Gia đình chị Đà là một trong những hộ đầu tiên thực hiện thí điểm mô hình này Mùa trước, chị đã trồng sắn trên diện tích hố rác đã lấp trong vườn Củ sắn thu về to, chắc, không kém gì loại trồng ở vườn đồi Chị cho biết: Nhiều chị
em trong thôn thấy mô hình hiệu quả nên đã áp dụng cho gia đình mình Nay tình trạng vứt rác bừa bãi trong thôn đã cải thiện đáng kể, thói quen sinh hoạt của người dân đã thay đổi cơ bản Từ đó, các chị còn chủ động giáo dục con em mình hình thành thói quen trong việc phân loại rác trong gia đình và ngoài xã hội
Ở mọi làng quê, mỗi gia đình đều có những khoảng vườn rộng rãi Mỗi hố rác như thế chỉ chiếm 60 cm, trung bình một khu vườn ở nông thôn cũng có thể chứa được hàng chục hố Thiết nghĩ, cách làm hiệu quả này cần được nhân rộng,
góp phần giải quyết bài toán xử lý rác thải tại nông thôn (Thu Hoài, 2012)
2.2.2.2 Kinh nghiệm về bảo vệ môi trường ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Những năm trước đây, các xã, thị trấn của huyện Tiên Du, tình trạng rác thải không có nơi tập kết, người dân xả rác tùy tiện diễn ra khá phổ biến Nhưng
từ khi “Tổ phụ nữ thu gom rác thải” được thành lập và đi vào hoạt động (từ tháng
3 năm 2010), đường làng, ngõ xóm mang một diện mạo mới Tình trạng đổ rác thải bừa bãi, không đúng nơi qui định đã không còn nữa
Một buổi tổng vệ sinh của CLB “Phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường”
thôn An Động
Chị Nguyễn Thị Sang, Phó Chủ tịch Hội LHPN huyện Tiên Du cho biết:
“Các mô hình về BVMT do Hội Phụ nữ đảm nhận và phối hợp với các đơn vị, đoàn thể không chỉ góp phần giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường gây bức xúc trong nhân dân mà còn nâng cao nhận thức, ý thức bảo vệ môi trường (BVMT) của người dân Hầu hết các hộ dân đều tự nguyện ký cam kết BVMT gắn với việc thực hiện quy ước xây dựng nếp sống văn hóa của địa phương, chủ
Trang 40động áp dụng các biện pháp BVMT và tự giác đóng góp cho hoạt động thu gom,
xử lý rác thải”
Toàn huyện hiện duy trì 95 tổ phụ nữ thu gom rác thải ở 67/67 chi hội, mỗi tổ có từ 2-5 chị tham gia; 13 đoạn đường phụ nữ tự quản tại 4 xã (Phú Lâm, Nội Duệ, Minh Đạo, Cảnh Hưng) Các tổ thu gom rác thải đều được thôn trang bị
xe chuyên chở và bảo hộ lao động như găng tay, khẩu trang, quần áo, chổi, xẻng… Mỗi xóm được xây dựng 1 bể chứa rác thải, các tổ thu gom thường xuyên rắc thuốc khử trùng, không để ứ đọng rác ở ngõ xóm gây ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường sống và sinh hoạt của các hộ dân Các cơ sở Hội thường xuyên lồng ghép nội dung tuyên truyền vận động người dân bỏ rác đúng nơi quy định, nâng cao ý thức BVMT trong các buổi sinh hoạt Hội, sinh hoạt CLB phụ nữ ở thôn, xóm Nhiều gia đình hội viên đầu tư xây dựng công trình vệ sinh, công trình chăn nuôi hợp vệ sinh, phân loại xử lý rác thải từ hộ gia đình
Để thực hiện có hiệu quả phong trào 3 sạch “Sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ”, các cơ sở Hội đã làm tốt công tác vận động phụ nữ nhận “Đoạn đường phụ
nữ tự quản”, tham gia tổ thu gom rác thải bảo vệ môi trường, vệ sinh đường làng ngõ xóm, vận động chị em phụ nữ đi chợ bằng làn, không sử dụng túi nilon khi
đi chợ; sản xuất và sử dụng thực phẩm sạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Điển hình là phụ nữ xã Cảnh Hưng, thị trấn Lim, Phật Tích Tỷ lệ hộ gia đình đăng ký dịch vụ thu gom rác thải tăng lên, việc tổ chức tổng vệ sinh được phát động thường xuyên, nhất là vào các dịp lễ, Tết, góp phần gắn kết, thắt chặt tình làng nghĩa xóm, thúc đẩy các hoạt động khác của khu dân cư
Mô hình phân loại rác thải tại gia đình được triển khai làm điểm tại thôn Rền (xã Cảnh Hưng), thôn Duệ Đông (thị trấn Lim) từ tháng 3-2014 với 120 hộ Phân loại rác thải góp phần tiết kiệm tài nguyên; mang lại lợi ích cho chính các
hộ gia đình từ việc tận dụng phế liệu tái chế góp phần giảm thiểu ô nhiễm, tiết kiệm chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý Tháng 6-2015, Hội LHPN huyện Tiên
Du nhân rộng mô hình này tại thôn Hoài Thượng (Liên Bão) với sự tham gia của
288 hội viên Hội Phụ nữ tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kiến thức bảo vệ môi trường, hướng dẫn người dân cách thu gom, phân loại rác Ngoài ra, Hội Phụ
nữ còn tuyên truyền người dân hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thu gom
và xử lý vỏ chai, lọ, bao bì đúng nơi quy định Từ khi áp dụng mô hình phân loại,
xử lý rác ngay tại trong các hộ gia đình, mọi thành viên trong gia đình được làm thí điểm đều hưởng ứng nhiệt tình, thực hiện tốt các quy trình phân loại, xử lý rác