1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giải pháp giảm thiểu thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện sa pa, tỉnh lào cai

114 418 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Pa từ năm 2011 đến 2015; - Đánh giá những năng lực để đối phó

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

QUẢNG VĂN VIỆT

GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU THIỆT HẠI CỦA

RỦI RO THIÊN TAI ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI

Mã số: 60 34 04 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TS Trần Văn Đức

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Quảng Văn Việt

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Văn Đức đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế, Khoa kinh tế và PTNT - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức phòng Kinh

tế huyện Sa Pa, đặc biệt là các xã Bản Hồ, Nậm Cang, Nậm Sài, Thanh Phú, Thanh Kim thuộc huyện Sa Pa đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích kịp thời giúp tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Quảng Văn Việt

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục viết tắt vii

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis Abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Đóng góp mới của luận văn 3

Phần 2 Cơ sơ lý luận và thưc tiễn 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến thiên tai 4

2.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu rủi ro thiên tai 12

2.1.3 Rủi ro thiên tai trong sản xuất nông nghiệp 13

2.1.4 Nội dung của biện pháp giảm nhẹ rủi ro thiên tai 17

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng với rủi ro thiên tai 19

2.2 Cơ sở thực tiễn 21

2.2.1 Thực trạng thiên tai và công tác phòng, chống thiên tai ở Việt Nam 21

2.2.2 Thực trạng thiên tai và quản lý rủi ro thiên tai ở tỉnh Lào Cai 25

2.2.3 Một số nghiên cứu liên quan 30

Trang 5

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 32

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu 46

3.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu 46

3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 47

3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 49

4.1 Thực trạng thiên tai và rủi ro thiên tai đối với sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện sa pa 49

4.1.1 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thiên tai 49

4.1.2 Thực trạng thiên tai ở huyện Sa Pa 50

4.1.3 Thực trạng thiệt hại do rủi ro thiên tai đối với sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 53

4.1.4 Thiệt hại của rủi ro thiên tai theo đánh giá của nông dân huyện Sa Pa 54

4.2 Đánh giá năng lực ứng phó với rủi ro thiên tai của huyện sa pa 60

4.2.1 Năng lực ứng phó với rủi ro thiên tai của người dân 60

4.2.2 Năng lực ứng phó với rủi ro thiên tai của chính quyền các cấp 64

4.2.3 Hỗ trợ của Nhà nước 67

4.3 Sự thích ứng của người dân huyện sa pa trong hoạt động sản xuất 68

4.3.1 Sự thích ứng của người dân trong hoạt động sản xuất 68

4.3.2 Một số hoạt động thích ứng với thiên tai của chính quyền 77

4.4 Một số giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại cua rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện sa pa, tỉnh lào cai 78

4.4.1 Nhóm giải pháp giảm thiểu mức độ phơi bày của sản xuất nông nghiệp trước thiên tai 78

4.4.2 Giải pháp nâng cao năng lực và phân bổ nguồn lực ứng phó với thiên tai trong sản xuất nông nghiệp 79

4.4.3 Giải pháp cảnh báo sớm 81

4.5 Một số giải pháp mới nhằm đối phó với rủi ro thiên tai trong sản suất nông nghiệp 82

Trang 6

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 84

5.1 Kết luận 84

5.2 Kiến nghị 86

5.2.1 Đối với Nhà nước 86

5.2.2 Đối với tỉnh Lào Cai 86

5.2.3 Đối với chính quyền địa phương 86

5.2.4 Đối với người dân 87

Tài liệu tham khảo 88

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tần suất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam 22

Bảng 2.2 Tổng hợp thiệt hại do thiên tai từ năm 2010 - 2014 tỉnh Lào Cai 27

Bảng 3.1 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai năm 2015 41

Bảng 3.2 Bảng hỏi về rủi ro thiên tai 46

Bảng 3.3 Tỷ lệ hộ trên từng loại hình sản xuất 47

Bảng 4.1 Các hiện tượng thiên tai huyện Sa Pa từ năm 2011 – 2015 52

Bảng 4.2 Tình hình thiệt hại của huyện Sa Pa do thiên tai giai đoạn 2011-2015 53

Bảng 4.3 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của thiên tai đối với canh tác nông nghiệp của hộ gia đình giai đoạn 2011 - 2015 54

Bảng 4.4 Tình hình thiệt hại do thiên tai gây ra đối với hoạt động trồng trọt giai đoạn 2011 - 2015 55

Bảng 4.5 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của thiên tai đối với chăn nuôi của hộ gia đình giai đoạn 2011 – 2015 56

Bảng 4.6 Tình hình thiệt hại do thiên tai gây ra đối với hoạt động chăn nuôi giai đoạn 2011 - 2015 57

Bảng 4.7 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của thiên tai đối với nuôi trồng thủy sản của hộ gia đình giai đoạn 2011 - 2015 58

Bảng 4.8 Tình hình thiệt hại do thiên tai gây ra đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2011 - 2015 59

Bảng 4.9 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của thiên tai đến hoạt động lâm nghiệp của hộ gia đình giai đoạn 2008-2014 59

Bảng 4.10 Tình hình thiệt hại do thiên tai gây ra đối với ngành lâm nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 60

Bảng 4.11 Lực lượng trong Ban chỉ huy PCTT và TKCN 65

Bảng 4.12 Phương thức thích ứng với rủi ro thiên tai trong canh tác nông nghiệp 68

Bảng 4.13 Phương thức thích ứng với rủi ro thiên tai trong chăn nuôi 70

Bảng 4.14 Phương thức thích ứng với rủi ro thiên tai trong nuôi trồng thủy sản 71

Bảng 4.15 Phương thức thích ứng với rủi ro thiên tai trong trong lâm nghiệp 72

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững 21

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Quảng Văn Việt

Tên đề tài: “Giải pháp giảm thiểu thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất

nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”

Ngành: Quản lý Kinh tế; Mã số: 60 34 04 01

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

1 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Pa từ năm 2011 đến 2015;

- Đánh giá những năng lực để đối phó với rủi ro thiên tai của người nông dân huyện Sa Pa qua các năm 2011 đến 2015;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai trong thời gian tới

2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu, xử lý thông tin, đánh giá thống kê mô

tả, thống kê so sánh

- Trả lời các câu hỏi: ảnh hưởng của thiên tai tới sản xuất nông nghiệp ở huyện

Sa Pa như thế nào? Người dân, cộng đồng và chính quyền huyện Sa Pa đang làm gì để phòng và chống các loại thiên tai chủ yếu? Những giải pháp nào có thể hạn chế ảnh hưởng của rủi ro do thiên tai tới sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Pa?

3 Kết quả nghiên cứu

- Thực trạng thiên tai và rủi ro thiên tai đối với sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Pa từ năm 2011 - 2015:

+ Thực trạng thiệt hại của rủi ro thiên tai đối với sản xuất nông nghiệp của các

hộ nông dân trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai;

+ Thiệt hại của rủi ro thiên tai theo đánh giá của nông dân huyện Sa Pa

- Đánh giá năng lực ứng phó với rủi ro thiên tai của người dân, chính quyền các cấp huyện Sa Pa;

- Sự thích ứng của người dân trong hoạt động sản xuất;

- Một số nhóm giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Pa

Trang 11

+ Giải pháp nâng cao năng lực và phân bổ nguồn lực ứng phó với thiên tai trong sản xuất nông nghiệp;

+ Giải pháp cảnh báo sớm; một số giải pháp mới nhằm ứng phó với rủi ro thiên tai trong sản xuất nông nghiệp

4 Kết luận

Trước diễn biến của thiên tai ngày càng bất thường so với các năm trước đây Công tác quản lý và PCTT của người dân cũng như chính quyền địa phương đã có những thay đổi tiến bộ vượt bậc, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Nhằm giảm thiểu thiệt hại của rủi ro thiên tai gây ra trong thời gian tới, tôi đề xuất một

số giải pháp cơ bản như sau:

Một là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đặc biệt đối với những người dân sinh sống ở những nơi xa trung tâm xã, đi lại khó khăn, nhận thức còn hạn chế, kinh tế khó khăn, thuộc đối tượng dễ bị tổn thương, khả năng tự phòng tránh và ứng phó với thiên tai hạn chế Đối với những nơi ngôn ngữ bất đồng thì nội dung tuyên truyền cần phiên dịch thành tiếng bản địa để người dân hiểu và thực hiện

Hai là tổ chức tập huấn, tuyên truyền cho cán bộ, người dân về kỹ năng phòng, tránh, ứng phó với các loại thiên tai; quan tâm đến đào tạo nghề cho người dân Hướng dẫn người dân các biện pháp phòng, chống rét cho người, cây trồng và vật nuôi; chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi nhằm thích ứng với thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Ba là phát huy khả năng phòng, chống thiên tai trong cộng đồng thông qua việc phát huy cao nhất "bốn tại chỗ" (chỉ người dân mới hiểu rõ nhất trong thôn, bản mình thường xảy ra những loại thiên tai gì, xảy ra vào thời điểm nào)

Bốn là hàng năm rà soát các khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng do lũ quét, sạt lở đất, ngập úng để bổ sung vào phương án phòng, chống và chuyển đổi cây trồng phù hợp; mạnh dạn ứng dụng công nghệ cao vào trong sản suất

Năm là sửa chữa, nâng cấp và xây dựng các công trình phòng, chống thiên tai; trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ; nâng cấp các hệ thống kênh mương đảm bảo tiêu thoát lũ, cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp

Sáu là triển khai lắp đặt hệ thống cảnh báo sớm, lắp đặt một số trạm đo lượng mưa, trạm đo mực nước tại các vùng trọng điểm để cảnh báo sớm về khí hậu, thời tiết phục vụ công tác chỉ đạo của chính quyền các cấp

Bảy là tổ chức trực ban 24/24 giờ để tiếp nhận, xử lý thông tin về thiên tai kịp thời để cảnh báo đến người dân chủ động phòng, tránh

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Author: Quang Van Viet

Topic title: “Measures to reduce the risks of disaster damage and loss to

agricultural production in Sa Pa district, Lao Cai province”

Education agency: Vietnam Agriculture Institute

1 Research aims to:

- Examine the current situation of disaster risks to agricultural production in Sa Pa district from 2011 to 2015

- Assess the capacity to deal with disaster risks of farmers in Sa Pa district over the period from 2011 to 2015

- Propose some solutions to reduce the damage caused by natural disasters to agricultural production in Sa Pa district, Lao Cai province in the coming time

2 Research methodology

- Methods of collecting, synthesizing materials, processing information,

evaluating descriptive statistics and statistical comparisons

- Answer the questions: How natural disasters are affecting agricultural production in

Sa Pa district? What are the people, communities and local authorities in Sapa district doing to prepare for and prevent major natural disasters? Which measures can limit the impact of risks posed by natural disasters to agricultural production in Sa Pa district?

3 Research results

- Actual situation of natural disasters and disaster risks for agricultural production

in Sa Pa district from 2011 - 2015:

+ Actual situation of damage caused by natural disasters for agricultural production

of farmers in Sa Pa district, Lao Cai Province

+ Loss caused by disasters as assessed by farmers in Sa Pa district

- Assessment of the capacity to cope with natural disasters of the people, local authorities of different levels in Sa Pa district:

- Adaptability of the people in production activities

- Some groups of measures to minimize the damage of natural disasters to agricultural production in Sa Pa district:

+ Solutions to enhance capacity and allocation of resources to respond to natural disasters in agricultural production;

+ Early warning solutions; some new solutions to respond to natural disaster risks

in agricultural production

Trang 13

4 Conclusion

In the situation of increasingly unusual occurrence of natural disasters than in previous years, the disaster risk management (preparedness and prevention) of local people and authorities has made significant progress, but many limitations still exist

To minimize possible damage caused by disaster risks in the future, I suggest some basic solutions as follows:

First, to strengthen awareness raising activities, particularly for people living in locations remote from commune centers with difficult conditions for transportation, limited knowledge, economic hardship, and being vulnerable with low capacity to prevent and respond to disasters For places where there are language barriers, the contents of awareness raising materials should be translated into local languages so people can understand and follow more easily

Second, to organize training and awareness raising for local government staff and people in skills to prevent and respond to different types of natural disasters; to interest local people in vocational training to diversify their skills and livelihood opportunities;

to provide guidance to people on how to prevent and prepare for the impacts of extreme cold weather on human, plants and animals; to change plant varieties and animal breeds

to adapt to natural disasters in the context of climate change

Third, to make better use of natural disaster prevention and control capacities within communities through promoting the application of the "four on-the-spot" principle (local people best understand their village or hamlet situation and what kinds

of disasters often happen and when)

Fourth, to review the situation of areas at risk of flash floods, landslides, inundation to supplement the plans for disaster prevention and control, and change for appropriate plants, applying high-tech in production

Fifth, to repair, upgrade and construct works for the prevention of natural disasters; to afforest and to protect preventive forests; to upgrade irrigation systems to ensure drainage of flood water and provision of adequate water for agricultural production

Sixth, to install equipment for early warning, including rain gauge stations, tide gauge stations in key areas to provide early warning of climate and weather to serve the government directions to authorities at different levels

Seventh, to carry out 24hr/7days duty to receive, and process information of hazards in time to warn people to prepare for and reduce the likelihood of loss of life and damage to their livelihoods and assets

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đâydo biến đổi khí hậu toàn cầu, tình hình thiên tai

ở các tỉnh miền núi Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, khó dự đoán, nhiều loại thiên tai bất thường xảy ra Trong đó, hiện tượng rét đậm, rét hại, mưa tuyết, đặc biệt là trượt lở đất, đá, lũ, lũ quét xảy ra thường xuyên gây tổn thất nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường sinh thái Theo số liệu thống kê của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương (2014), từ năm 2000 đến 2014 đã xảy

ra 250 đợt lũ quét, sạt lở ảnh hưởng tới các vùng dân cư, làm chết và mất tích

646 người, bị thương gần 351 người; hơn 9.700 căn nhà bị đổ trôi; hơn 100.000 căn nhà bị ngập, hư hại nặng; hơn 75.000 ha lúa và hoa màu bị ngập; hàng trăm

ha đất canh tác bị vùi lấp; nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi, dân sinh kinh tế

bị hư hỏng nặng nề, tổng thiệt hại ước tính trên 3.300 tỷ đồng Các tỉnh thường xuyên xảy ra lũ quét, sạt lở đất nhất gồm: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Cạn, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, và Bình Thuận

Sa Pa là huyện miền núi của tỉnh Lào Cai, có địa hình dốc và thường xuyên xảy ra những loại thiên tai điển hình như sạt lở đất, lũ ống, lũ quét, rét đậm, rét hại, sương muối, mưa tuyết…gây thiệt hại lớn về người, tài sản, mất đất sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân Trong những năm qua dưới tác động của biến đổi khí hậu, trên địa bàn huyện các hiện tượng thời tiết cực đoan

và thiên tai như lốc xoáy, lũ lụt, sạt lở đất, lũ quét, rét đậm rét hại kéo dài có xu hướng gia tăng cả về tần số và cường độ Đây là mối đe dọa thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng, đặc biệt những năm gần đây do tác động của biến đổi khí hậu, các hiện tượng thiên tai, thời tiết cực đoan xảy ra ngày càng nhiều: các đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài như đợt rét đậm, rét hại 38 ngày ở Sa Pa đã gây thiệt hại về gia súc, gia cầm và ảnh hưởng đến hoa màu trên diện rộng; hạn hán, nắng nóng kéo dài gây thiếu nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp Thêm vào đó, Sa Pa là một huyện miền núi, có 6 dân tộc cùng nhau sinh sống (Mông, Dao, Tày, Giáy, Xa Phó, Kinh, Hoa) Trình độ dân trí phần lớn của người dân Sapa đặc biệt là dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế, việc tiếp cận kiến thức phòng, tránh và giảm thiểu

Trang 15

rủi ro thiên tai gặp nhiều khó khăn Người dân nơi đây còn có tâm lý chủ quan, xem nhẹ công tác phòng, tránh rủi ro thiên tai

Mặc dù thiên tai ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trên địa bàn huyện Sa Pa còn chưa được các cấp quan tâm đúng mức nhất là cấp cơ sở; chưa lồng ghép công tác phòng, chống thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương; việc đầu tư xây đựng cơ sở hạ tầng chưa quan tâm tính đến tình hình thiên tai của địa phương; việc đầu tư chưa được đồng bộ, thống nhất; ý thức của người dân còn hạn chế, mang nặng phong tục tập quán; điều kiện kinh tế của người dân thấp…Để góp

phần giải quyết vấn đề này, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp giảm thiểu

thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa

Pa, tỉnh Lào Cai”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp, đánh giá những năng lực để đối phó với rủi ro thiên tai của người nông dân huyện Sa Pa qua những năm gần đây, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai trong thời gian tới

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu trong đề tài này là:

Trang 16

1 Ảnh hưởng của thiên tai tới sản xuất nông nghiệp ở huyện Sa Pa như thế nào?

2 Người dân, cộng đồng và chính quyền huyện Sa Pa đang làm gì để phòng và chống các loại thiên tai chủ yếu?

3 Những giải pháp nào có thể hạn chế ảnh hưởng của rủi ro do thiên tai tới sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Pa?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các giải pháp giảm thiểu thiệt hại của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Đối tượng khảo sát: là các hộ nông dân và lãnh đạo UBND xã, phòng Kinh tế huyện Sa Pa

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu thực trạng của rủi ro thiên tai phổ biến (lũ quét, sạt lở đất, rét đậm, rét hại, hạn hán) tới một số hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện Sa Pa (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản,

1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN:

- Luận văn đã nêu ra được thực trạng của thiên tai và những rủi ro thiên tai

có thể xảy ra, từ đó đưa ra các giải pháp cho từng lĩnh vực như trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp trước các loại thiên tai đặc trưng thường xuyên xảy ra trên địa bàn huyện Sa Pa

- Đánh giá được những thiệt hại mà thiên tai gây ra, những điểm mạnh, điểm yếu của người dân và chính quyền địa phương trong công tác phòng, chống, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai

- Đánh giá được nhận thức, năng lực của người dân về việc phòng, chống thiên tai, mối quan tâm của người dân đối với từng loại hình thiên tai ở địa phương

Trang 17

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến thiên tai

2.1.1.1 Thiên tai

* Khái niệm

Thiên tai là các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện dễ bị tổn

thương của xã hội làm thay đổi nghiêm trọng chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi (IPCC, 2012) Nói cách khác, thiên tai là hiện tượng tự nhiên nhưng có mối quan

hệ nhất định với biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan

Nhằm làm rõ hơn các hiện tượng thời tiết cực đoan, gắn với các hiểm họa

tự nhiên Luật Phòng, Chống thiên tai (Luật số 33/2013/QH13) đã định nghĩa:

thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản,

môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác

* Nhận diện một số loại thiên tai thường gặp

Luật Phòng chống thiên tai ngày 19 tháng 6 năm 2013 Quy định 19 loại thiên tai gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác (Thủ tướng Chính phủ, 2014, Nghị định 66/2014/NĐ-CP ngày 4/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng chống thiên tai) Tuy nhiên trong luận văn này tác giả chỉ tập trung đi vào tìm hiểu một số loại thiên tai chủ yếu diễn ra trên địa bàn huyện Sapa, tỉnh Lào Cai

Trang 18

- Lũ quét:

Lũ là hiện tượng mực nước và tốc độ của dòng chảy trên sông, suối vượt quá bình thường.Có lũ quét là hiện tượng thường xuyên xảy ra ở Sa Pa, đây là hiện tượng xảy ra nhanh, thời gian ngắn, dòng chảy mạnh Điều kiện hình thành

lũ quét là mưa lớn kéo dài, đất trống đồi trọc còn nhiều, chặt phá rừng bừa bãi dẫn đến thảm thực vật bị suy giảm, khi xảy ra mưa đã tác động trực tiếp lên bề mặt của đất gây sói mòn và sạt lở đất Lũ quét gây ra nhiều thiệt hại lớn như: gây chết người, hư hỏng nhà cửa, tài sản, làm chết gia súc, gia cầm, phát sinh nhiều bệnh tật, gây cản trở giao thông và ảnh hưởng đến nguồn nước sạch (Trung tâm Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, 2011)

- Hạn hán

Hạn hán là hiện tượng thiếu nước trong một thời gian dài Nguyên nhân dẫn đến hạn hán đó là không có mưa trong một thời gian dài hay do trên mặt đất không có cây (vì con người chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy), khi mưa xuống đất không có khả năng giữ nước dẫn đến nước bị trôi đi rất nhanh Hạn hán có thể gây ra các bệnh về tiêu chảy và truyền nhiễm; không có nước sử dụng hàng ngày (ăn uống, tắm rửa); không có nước để trồng trọt và chăn nuôi gia súc dẫn đến bị thiếu lương thực, thực phẩm (Trung tâm Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, 2011)

- Sương muối, rét đậm, rét hại

Sương muối là hiện tượng thời tiết khi nhiệt độ trên bề mặt các vật thể hạ thấp xuống tới điểm băng thì lớp tinh thể băng trắng và xốp được tạo thành Thông thường sương muối hình thành về đêm hoặc sáng sớm, trời lặng gió, quang mây, nhiệt độ không khí xuống thấp làm cho nhiệt độ bề mặt các vật thể hay cây cỏ ở mặt đất đạt tới điểm băng đủ cho hơi nước ngưng kết khi điều kiện

độ ẩm không khí thích hợp Khi có sương muối xuất hiện, nhiệt độ mặt đất thường dưới 50C, nhiệt độ không khí thường dưới 70C Ở nhiệt độ này rất nguy hiểm cho cây trồng và vật nuôi (SREX Việt Nam, 2015)

Sa Pa mùa đông lạnh giá (nhiệt độ trung bình ngày ≤ 150C đối với những ngày rét đậm; nhiệt độ trung bình ngày ≤ 130C đối với những ngày rét hại) và những ngày có nhiệt độ thấp xảy ra liên tiếp, kéo dài, có nơi tuyết rơi Ở Sa Pa số ngày rét đậm trung bình xấp xỉ 100 ngày Đặc biệt, trong những năm gần đây đã

Trang 19

xuất hiện những đợt rét đậm, rét hại kéo dài kỷ lục, hiện tượng băng tuyết dường như xuất hiện nhiều hơn (SREX Việt Nam, 2015)

- Sạt lở đất

Sạt lở đất là do tác động của mưa, lũ cuốn, độ kết cấu của đất kém kết hợp với những chấn động tự nhiên của mặt đất, do thi công cơ sở hạ tầng Những trận sạt lở đất gây ra nhiều thiệt hại khó lường cho người dân vùng sạt

lở như làm cho người và động vật bị chết hoặc bị thương do đất đá chôn vùi; nhà cửa, đồ đạc có thể bị phá hủy hoặc hư hỏng; giao thông bị cản trở và đất trồng trọt bị đất đá vùi lấp có thể không sử dụng được (Trung tâm Phòng tránh

và giảm nhẹ thiên tai, 2011)

2.1.1.2 Rủi ro thiên tai

Rủi ro thiên tai là thiệt hại do thiên tai có thể gây ra về người, tài sản,

môi trường sống, các hoạt động kinh tế, xã hội tại một số cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định (Trung tâm Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, 2011)

Về mặt bản chất rủi ro là sự không chắc chắn về thiệt hại không mong muốn Thiên tai là các hiện tượng thời tiết khách quan đối với cuộc sống của con người, nó thường xuyên xảy ra, tuy nhiên chúng ta không chắc chắn được

là nó xảy ra khi nào, tần xuất xảy ra là thường xuyên hay không thường xuyên

và đặc biệt chúng ta cũng không chắc chắn được mức độ thiệt hại của nó như thế nào

Theo báo cáo SREX của IPCC, rủi ro thiên tai được cấu thành từ 3 yếu tố: (1) Hiểm họa (hazard); (2) Mức độ phơi bày trước hiểm họa (exposure); và (3) Tính dễ bị tổn thương (vulnerability) Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì không hình thành rủi ro thiên tai

Trang 20

hiện tượng tự nhiên đó Hiểm họa là một thành phần của rủi ro thiên tai chứ không phải là sự rủi ro hoặc một thiên tai

(2) Mức độ phơi bày trước hiểm họa

Mức độ phơi bày trước hiểm họa được sử dụng để chỉ sự hiện diện (theo

vị trí) của con người, các hoạt động sinh kế, các dịch vụ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, các tài sản kinh tế, xã hội, văn hóa,…ở những nơi có thể chịu những ảnh hưởng bất lợi bởi các hiểm họa và vì thế sẽ bị tổn hại, mất mát, hư hỏng tiềm tàng trong tương lai (IPCC, 2012) Mức độ phơi bày trước hiểm họa là yếu tố cần, nhưng chưa đủ để quyết định rủi ro Một đối tượng nào đó có thể tiếp xúc với hiểm họa, nhưng chưa chắc đã dễ bị tổn thương (ví dụ người dân sống trong vùng lũ, nhưng có đầy đủ các phương tiện để thay đổi cấu trúc xây dựng và các hoạt động hạn chế những mất mát có thể xảy ra) Một đối tượng dễ bị tổn thương nếu không bị phơi bày trước hiểm họa thì sẽ không xảy ra rủi ro thiên tai Rủi ro thiên tai chỉ xảy ra nếu một đối tượng dễ bị tổn thương với một hiện tượng khí hậu cực đoan bị phơi bày trước hiểm họa đó

(3) Tình trạng dễ bị tổn thương

Tính dễ bị tổn thương là khái niệm quan trọng trong Quản lý rủi ro thiên tai và Biến đổi khí hậu (QLRRTT và BĐKH) Khái niệm này còn được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực khác nhau Nguyễn Thanh Sơn và Cấn Thu Văn (2012, trang 116-117) đã phân tích 3 trường phái về tính dễ bị tổn thương Trường phái

1 “chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa vật lý, bao gồm phân tích điều kiện phân bố các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động”

Trường phái 2 “chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư bao gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với hiểm họa

Trường phái 3: kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính dễ bị tổn thương bao gồm cả rủi ro cũng như những tác động thích ứng của xã hội (Nguyễn Thanh Sơn và Cấn Thu Văn, 2012)

Tính dễ bị tổn thương cũng mang hàm ý khác nhau giữa những nhà xã hội học và khí hậu học Các nhà xã hội học có xu hướng nhìn nhận tính dễ bị tổn thương là tập hợp các yếu tố kinh tế - xã hội để xác định khả năng đối phó với sự căng thẳng hay thay đổi; trong khi đó, các nhà khí hậu học thường xem xét tính

Trang 21

dễ bị tổn thương dưới góc độ khả năng xảy ra và tác động của các hiện tượng thời tiết và khí hậu (Brooks, 2003)

Tính dễ bị tổn thương cũng được hiểu là hàm số của mức độ phơi bày trước hiểm họa, độ mẫn cảm và năng lực thích ứng (IPCC, 2007 và IPCC, 2001) Tính dễ bị tổn thương được xác định trong từng bối cảnh cụ thể, tương tác với hiểm họa tạo nên các rủi ro Tính dễ bị tổn thương đề cập đến khuynh hướng của các yếu tố dễ bị tác động của hiểm họa như con người, cuộc sống của họ và tài sản bị ảnh hưởng bất lợi khi bị tác động bởi các hiểm họa (IPCC 2012) Tính dễ

bị tổn thương là các điều kiện tác động bất lợi ảnh hưởng đến khả năng của một

cá nhân, hộ gia đình hoặc một cộng đồng trong việc phòng ngừa và đối phó với một hiểm họa và những ảnh huởng của BĐKH dẫn đến những tổn thất và thiệt hại mà họ có thể gặp phải

Như vậy: tình trạng dễ bị tổn thương là những đặc điểm của một cộng

đồng, hệ thống hoặc tài sản làm cho cộng đồng, hệ thống hoặc tài sản đó dễ bị tác động có hại do hiểm họa tự nhiên (thiên tai) gây ra

Tình trạng dễ bị tổn thương là xu hướng hay khuynh hướng bị ảnh hưởng xấu Khuynh hướng này cấu thành một đặc tính bên trong của các yếu tố ảnh hưởng Trong lĩnh vực rủi ro thiên tai, điều này bao gồm các đặc tính của một người hoặc một nhóm và tình hình của họ có ảnh hưởng đến khả năng của họ để

dự đoán, đối phó với, chống lại, và phục hồi từ các tác động có hại của hiện tượng vật lý Tình trạng dễ bị tổn thương là kết quả của nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường và các quy trình (IPCC, 2012)

2.1.1.3 Năng lực đối phó với rủi ro thiên tai

Năng lực là tổng hợp các nguồn lực, điểm mạnh và đặc tính sẵn có trong

từng cá nhân, cộng đồng, xã hội và tổ chức có thể được sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu chung (IPCC, 2012) Năng lực bao gồm các điều kiện và các đặc điểm cho phép các tổ chức, các địa phương, các cá nhân v.v…tiếp cận và sử dụng các tài nguyên xã hội, kinh tế, tâm lý, văn hóa và tài nguyên tự nhiên có liên quan đến sinh kế, cùng với những thông tin cần thiết để giảm tính dễ bị tổn thương và giải quyết các hậu quả của thiên tai

Trang 22

Thiếu năng lực có thể coi là một phần của tính dễ bị tổn thương, và cũng

có thể coi là một khái niệm riêng biệt, không phải là một phần của dễ bị tổn thương nhưng góp phần làm tăng tính dễ bị tổn thương Sự hiện diện của tính dễ

bị tổn thương là sự thiếu năng lực tương đối chứ không phải là tuyệt đối

Năng lực được nhấn mạnh như một cách để thay đổi cán cân phân tích từ các khía cạnh tiêu cực của tính dễ bị tổn thương đến những hành động tích cực của người dân, và khái niệm về năng lực là nền tảng cho sự thay đổi quan niệm giúp giảm thiểu rủi ro và thích ứng với biến đổi khí hậu

Đối phó được định nghĩa là việc sử dụng các kỹ năng, các nguồn lực sẵn có, và các cơ hội để xác định những điều kiện bất lợi, quản lý và khắc phục chúng, nhằm đạt được chức năng cơ bản trong ngắn hạn và trung hạn (IPCC, 2012)

2.1.1.4 Mối quan hệ giữa rủi ro thiên tai, năng lực và tình trạng dễ bị tổn thương

Mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương là những yếu tố quan trọng quyết định rủi ro thiên tai và tác động (thiệt hại) khi rủi ro xảy ra (IMHEN và UNDP, 2015) Không có mối quan hệ 1-1 giữa các hiện tượng cực đoan và thiên tai Các hiện tượng khí hậu và thời tiết cực đoan sẽ dẫn tới thiên tai nếu: (1) các cộng đồng, hộ gia đình bị phơi bày trước những hiện tượng đó; và (2) sự phơi bày trước những hiện tượng cực đoan với những khả năng gây thiệt hại cao đó đi kèm với mức độ cao của tính dễ bị tổn thương Mức độ phơi bày và tính dễ bị tổn thương cao sẽ dẫn tới thiên tai do các hiện tượng khí hậu và thời tiết cực đoan Các hiện tượng khí hậu nhỏ và vừa tái diễn thường xuyên ảnh hưởng tới cộng đồng sẽ bào mòn các cơ sở hạ tầng và lựa chọn sinh kế, và tăng tính dễ bị tổn thương Tác động của những hiện tượng lặp đi lặp lại trở nên nghiêm trọng hơn do các điều kiện vật lý, sinh thái và xã hội có thể làm tăng mức độ phơi bày và/hoặc tính dễ bị tổn thương Những hiện tượng này ảnh hưởng không đồng đều tới những người nghèo, phụ nữ và trẻ em, những người

có năng lực hạn chế trong giảm nhẹ hiểm họa, mức độ phơi bày và tính dễ bị tổn thương với hiểm họa

Như vậy, mối quan hệ giữa rủi ro thiên tai, năng lực, và tình trạng dễ bị tổn thương có thể trình bày như sau: Rủi ro thiên tai sẽ tăng lên nếu hiểm họa tự nhiên (thiên tai) tác động đến một cộng đồng dễ bị tổn thương và có năng lực hạn chế Do đó để giảm nhẹ rủi ro thiên tai, một cộng đồng có thể thực hiện các hoạt

Trang 23

động nhằm làm giảm nhẹ tác hại của hiểm họa tự nhiên, giảm nhẹ tình trạng dễ

bị tổn thương và nâng cao năng lực của cộng đồng Kết quả này là kết quả nghiên cứu của mô hình hội tụ thiên tai (Winser et al, 2004 trích dẫn bởi Nguyễn Nguyễn Tùng Phong, Roger Few (Nguyễn Tùng Phong, Roger Few, Philip Buckle và cs., 2011)

Sơ đồ Mô hình áp lực và giải tỏa thiên tai

Nguồn: Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai - DMC (2011)

Nhìn vào sơ đồ Mô hình hội tụ cho ta thấy: thiên tai chỉ xảy ra khi có một hiểm họa kết hợp với tình trạng dễ bị tổn thương thì mới tạo ra thiên tai Hoặc nói cách khác là một hiểm họa chỉ tạo thành thiên tai khi nó được kết hợp với một tình trạng dễ bị tổn thương

2.1.1.5 Quản lý rủi ro thiên tai

* Khái niệm quản lý rủi ro thiên tai

Quản lý rủi ro thiên tai là quá trình mang tính hệ thống nhằm áp dụng các quy định hiện hành, huy động tổ chức, cá nhân và kỹ năng, năng lực tác nghiệp

để thực hiện các chiến lược, chính sách và nâng cao năng lực ứng phó nhằm giảm thiểu tác động của thiên tai

IPCC (2012) định nghĩa quản lý rủi ro thiên tai là các quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá chiến lược, chính sách và các biện pháp để nâng cao sự hiểu biết về rủi ro thiên tai, thúc đẩy giảm nhẹ rủi ro thiên tai và chuyển giao, thực hiện cải tiến liên tục trong phòng chống, ứng phó và phục hồi sau thiên tai, với mục đích rõ ràng để tăng cường an ninh cho con người, hạnh phúc, chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững

Trang 24

* Quy trình quản lý rủi ro thiên tai

QLRRTT có thể được chia thành hai thành phần có liên quan nhưng độc lập: GNRRTT và quản lý thiên tai

Giảm nhẹ rủi ro thiên tai vừa là một mục tiêu hoặc mục đích chính sách,

vừa là các biện pháp chiến lược và công cụ được sử dụng để dự tính rủi ro thiên tai trong tương lai, giảm hiểm họa, giảm mức độ phơi bày trước hiểm họa, hoặc mức độ bị tổn thương, và nâng cao khả năng chống chịu Giảm nhẹ rủi ro thiên tai bao gồm việc giảm bớt sự tổn thương của người dân, sinh kế, và các tài sản, và đảm bảo quản lý bền vững thích hợp của đất, nước, và các thành phần khác của môi trường (IPCC, 2012)

Quản lý thiên tai được hiểu là quá trình xã hội trong xây dựng, thực hiện

và đánh giá chiến lược, chính sách và biện pháp thúc đẩy và nâng cao phòng tránh thiên tai, ứng phó và phục hồi hoạt động ở các cấp tổ chức và xã hội khác nhau Quá trình này bao gồm việc triển khai hệ thống cảnh báo sớm, kế hoạch

dự phòng, ứng phó khẩn cấp, và phục hồi Quản lý thiên tai giải quyết các rủi ro thiên tai mà quá trình giảm thiểu rủi ro thiên tai đã không loại bỏ được, hoặc ngăn chặn hoàn toàn

Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu chính là nội dung giảm nhẹ rủi ro thiên tai chứ không đi vào nội dung quản lý thiên tai

* Biện pháp giảm nhẹ rủi ro thiên tai

Khái niệm giảm nhẹ rủi ro thiên tai là một tiếp cận toàn diện để ứng phó với rủi ro thiên tai và đã trở thành nguyên tắc hướng dẫn cho hành động của quốc

tế về thiên tai GNRRTT được xây dựng và mở rộng từ ý tưởng của quản lý rủi

ro thiên tai để nhận biết các tình trạng dễ bị tổn thương chính góp phần vào rủi ro như thế nào

Giảm nhẹ rủi ro thiên tai (GNRRTT) là giảm thiểu hoặc hạn chế các tác

động có hại của hiểm họa tự nhiên thiên tai (Trung tâm Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, 2011)

Về mặt bản chất, giảm thiểu rủi ro thiên tai là nhằm giảm mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương cũng như xác suất xảy ra của một số hiện tượng Giảm nhẹ rủi ro thiên tai bao gồm việc giảm nhẹ mức độ nguy hiểm, nâng cao năng lực quản lý các tác động của hiểm họa, quan tâm hơn tới giảm nhẹ

Trang 25

tình trạng dễ bị tổn thương đối với người và tài sản, và quản lý tốt hơn về đất đai

và môi trường

Nội dung các biện pháp giảm nhẹ rủi do bao gồm: (1) dự tính rủi ro thiên tai trong tương lai, giảm hiểm họa, (2) giảm mức độ phơi bày trước hiểm họa, hoặc (3) giảm mức độ bị tổn thương (đạt được điều kiện an toàn hơn), thông qua (4) nâng cao năng lực (khả năng chống chịu) của cộng đồng

Nội dung của các biện pháp trên là kết quả rút ra sau khi nghiên cứu: Mô hình giải tỏa thiên tai

Sơ đồ Mô hình áp lực và giải tỏa thiên tai

Nguồn: Trung tâm phòng tránh và Giảm nhẹ thiên tai - DMC (2011)

Nhìn vào sơ đồ Mô hình giải tỏa ta thấy: muốn kiểm soát được thiên tai thì cần có các biện pháp nhằm giảm nhẹ các tác động bởi hiểm họa đến tình trạng

dễ bị tổn thương, đồng thời nâng cao khả năng phòng, tránh nhằm đảm bảo điều kiện an toàn hơn trước mỗi hiểm họa

2.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu rủi ro thiên tai

Trước thực trạng diễn biến thiên tai và những rủi ro thiên tai tác động trực tiếp và gây ảnh hưởng đến tính mạng về người, tài sản, cơ sở hạ tầng và sản xuất nông nghiệp, làm dán đoạn quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Do đó, việc nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại của rủi do thiên tai gây ra là rất quan trọng, cụ thể:

- Tham mưu kịp thời cho lãnh đạo Ban chỉ huy, UBND các cấp chỉ đạo kịp thời công tác phòng, tránh và ứng phó với mọi tình huống thiên tai có thể xảy ra;

Trang 26

- Đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra; chủ động tổ chức phòng, chống và ứng phó hiệu quả;

- Hướng dẫn các biện pháp, kỹ năng phòng, tránh, ứng phó và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra;

- Tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai công tác PCTT và TKCN ở các cấp, các ngành;

- Đưa ra các giải pháp mang tính khả thi, cụ thể hóa và khắc phục những tồn tại, hạn chế của cơ chế, chính sách liên quan đến quá trình chỉ đạo, khắc phục hậu quả thiên tai;

- Giải quyết được những tồn tại, hạn chế trong công tác chỉ đạo, lồng ghép

kế hoạch PCTT và TKCN vào kế hoạch Phát triển kinh tế - Xã hội của địa phương; từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách về lĩnh vực PCTT

2.1.3 Rủi ro thiên tai trong sản xuất nông nghiệp

2.1.3.1 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

* Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên

Ở mỗi vùng, mỗi Quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ

ẩm, ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và

sử dụng đất Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho ngành nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp cần phải chú ý các vấn đề kinh tế

- kỹ thuật sau đây:

- Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông - lâm - thuỷ sản trên phạm vi cả nước cũng như tính vùng miền để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp

- Việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng

- Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từng khu vực nhất định

Trang 27

* Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao

Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì tái sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn kết với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết - khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, các loại cây xanh có vai trò cực kỳ to lớn, là sinh vật có khả năng hấp thu

và tàng trữ nguồn năng lượng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành chất hữu cơ, tạo nguồn thức ăn cơ bản cho con người và vật nuôi Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân

Tạo hoá đã cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng, ôn độ, độ ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp chất lượng Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như: thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu v.v… Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải

có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư - kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn

2.1.3.2 Ảnh hưởng của rủi ro thiên tai đến sản xuất nông nghiệp

Do đặc điểm của ngành nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Trong thiên nhiên thì các hiểm họa luôn thường trực với những rủi ro thiên tai Rủi ro thiên tai có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, đa dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng

do ngập nước và do khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt chủng của động vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm Một số loài nuôi có thể bị tác động làm giảm sức đề kháng do biên độ dao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại cảnh khác tăng lên Sự thay đổi các yếu tố khí hậu và thời tiết có thể làm nảy sinh một

Trang 28

số bệnh mới đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm và phát triển thành dịch hay đại dịch

Trong đó, ngành nông nghiệp và bà con nông dân là những đối tượng bị ảnh hưởng sớm nhất và nặng nề nhất Vì vậy, việc nghiên cứu và thực hiện các biện pháp để thích ứng và đối phó có hiệu quả hơn với rủi ro thiên tai là nhiệm

vụ quan trọng của cơ quan chuyên môn

* Tác động của thiên tai đến hoạt động trồng trọt

Sản xuất trồng trọt đóng vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc Biến đổi khí hậu tác động đến sản xuất của ngành trồng trọt ở miền núi phía Bắc thông qua một số khía cạnh sau:

Một số biểu hiện của BĐKH làm mất diện tích đất canh tác Miền núi phía Bắc vốn được đặc trưng bởi địa hình phức tạp và có ít diện tích đất canh tác Một

số biểu hiện của biến đổi khí hậu như: sạt lở đất, lũ quét làm mất diện tích đất canh tác, làm hạn chế nguồn vốn sinh kế cho người dân, đặc biệt là người nghèo Hạn hán, rét đậm rét hại làm giảm hoặc phá hủy các diện tích đã được gieo trồng,

từ đó giảm sản lượng lương thực sản xuất được Kết quả nghiên cứu ở miền núi phía Bắc cho thấy diện tích đất nông nghiệp bị mất mùa vào vụ đông xuân và hè thu hàng năm do hạn hán giao động trong khoảng từ 25 đến 9050 ha

Rét đậm, rét hại cũng làm thiệt hại lớn đến sản xuất lúa Đợt rét đậm rét hại vào năm 2008 ở miền núi phía Bắc đã phá hủy khoảng 100.000 ha lúa, ước tính tổng thiệt hại do đợt rét này lên đến 30 triệu đô la (Oxfam International in Vietnam, 2008) Riêng ở tỉnh Lào Cai đợt rét đậm này đã gây thiệt hại hơn 84 tấn lúa giống do người dân phải gieo trồng lại sau khi đợt rét đậm đi qua Không những chỉ tác động đến sản xuất lúa, các hiện tượng thời tiết cực đoan còn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất lâm nghiệp, cây ăn quả và hoa màu trong vườn Kết quả nghiên cứu ở Bắc Kạn cho thấy lũ quét và lụt đã ảnh hưởng trực tiếp đến cây lương thực, hoa màu, cây ăn quả và cây lâm nghiệp làm mất diện tích đất canh tác và giảm năng suất (Center for Sustainable Rural Development, 2009)

Biến đổi khí hậu thông qua nhiệt độ tăng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đã ảnh hưởng một cách tổng hợp đến năng suất và chất lượng cây trồng Kết quả nghiên cứu ở Bắc Kạn cho thấy tác động của biến đổi khí hậu có thể làm giảm từ 30 đến 100% năng suất của cây trồng (Center for Sustainable Rural Development, 2009), từ đó gây mất an ninh lương thực và nghèo đói cho người dân

Trang 29

* Tác động của thiên tai đến hoạt động chăn nuôi

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh của vật nuôi Để chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa biến đổi khí hậu và dịch bệnh vật nuôi là điều không

dễ và nhiều khi không cần thiết Kết quả nghiên cứu ở vùng núi phía Bắc cho thấy dịch bệnh xảy ra nhiều hơn trong những năm gần đây, ví dụ dịch Lở mồn long móng diễn ra vào năm 2006 ở tỉnh Bắc Kạn, gây thiệt lại lớn đến chăn nuôi trâu, bò của tỉnh (Center for Sustainable Rural Development, 2009) Kết quả thảo luận nhóm phụ nữ người Tày và người Hán ở xã Ngọc Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang cho thấy dịch bệnh xảy ra trên trâu, bò và lợn ngày càng nhiều hơn, đặc biệt trong những năm gần đây, thậm chí dịch bệnh xảy ra trên cả gia súc

đã được tiêm phòng Khi nhiệt độ tăng sẽ hỗ trợ cho việc lan truyền mầm bệnh đến những vùng lạnh hơn, cả ở vùng cao (như bệnh tụ huyết trùng) hoặc trong đến những vùng có khí hậu ôn hòa hơn Thay đổi lượng mưa cũng có thể ảnh hưởng rộng đến sự di chuyển dịch bệnh trong thời gian nhiệt độ ẩm ướt Trong khi đó người nghèo sống ở vùng cao không có khả năng tiếp cận được với các dịch vụ thú y, dẫn đến bùng nổ dịch bệnh trên vật nuôi và kết quả tăng tỷ lệ chết gia súc, gia cầm (theo phỏng vấn của người dân)

Nhiệt độ thấp (rét đậm và rét hại) làm khan hiếm nguồn thức ăn cho vật nuôi đồng thời làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể, tăng nguy cơ mắc bệnh từ đó gây chết vật nuôi Đợt lạnh ở vùng núi phía Bắc vào năm 2008 đã làm chết hơn 60,000 con trâu, bò, trong đó riêng tỉnh Lào Cai có 18,760 con trâu, bò chết (Oxfarm Great Britain in Vietnam, 2008)

* Tác động của thiên tai đến hoạt động nuôi trồng thủy sản

Tại Việt Nam, rất nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản ven biển đã được phát triển cho từng nhóm đối tượng có đặc tính phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của từng vùng Hoạt động nuôi trồng thủy sản thường xuyên chịu tác động của thời tiết và BĐKH như nước biển dâng, nhiệt đô tăng, bão, lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác Khu vực Bắc Trung Bộ, nơi thường xuyên phải chịu tác động bất lợi của thời tiết và khí hậu, như hạn hán, bão, lũ lụt, gió Tây Nam khô nóng, nước biển dâng, thì việc gia tăng nhiệt độ và thay đổi lượng mưa gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho việc nuôi trồng thủy sản tại đây Những tác động bất lợi và tiêu cực của BĐKH nếu không có biện pháp can thiệp, sẽ đe dọa đến mục tiêu tăng trưởng bền vững của ngành thủy sản

Trang 30

Một số nghiên cứu cho thấy, BĐKH có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nuôi trồng thủy sản thông qua nguồn nước, diện tích nuôi, môi trường nuôi, con giống, dịch bệnh và qua đó gây ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng

và cở sở hạ tầng của các vùng nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi trồng thủy sản vùng cao nói riêng

Nông nghiệp bấp bênh, khả năng chống chịu với thiên tai, dịch bệnh còn nhiều yếu kém, bất cập Thiệt hại vật chất do thiên tai, dịch bệnh hàng năm khoảng 1% GDP, tác động chủ yếu vào nông nghiệp, thủy sản và người nông dân nghèo khó Theo thống kê, nông dân chiếm 9% tổng số người nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn chưa bằng một nửa khu vực thành thị nhưng đang đóng góp khoảng 20% GDP, trong khi nhà nước đầu tư cho nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản chỉ khoảng 8,5% (chủ yếu cho thủy lợi phục vụ đa mục tiêu), đáp ứng được 17% nhu cầu phát triển (Tô Vân Trường, 2009)

2.1.4 Nội dung của biện pháp giảm nhẹ rủi ro thiên tai

Nội dung các biện pháp giảm nhẹ rủi do bao gồm: (1) dự tính rủi ro thiên tai trong tương lai, giảm hiểm họa, (2) giảm mức độ phơi bày trước hiểm họa, hoặc (3) giảm mức độ bị tổn thương (đạt được điều kiện an toàn hơn), thông qua (4) nâng cao năng lực (khả năng chống chịu) của cộng đồng

2.1.4.1 Dự tính rủi ro thiên tai trong tương lai và giảm thiểu hiểm họa

Mục tiêu của đánh giá hiểm họa là để xác định các mối hiểm họa, các mối

đe dọa tiềm năng hiện có mà người dân trong cộng đồng có thể phải đối mặt có những đặc điểm, tính chất gì Mặt khác mục đích của biện pháp này nhằm tuyên truyền, phổ biến, cung cấp thông tin cho người nông dân có ý thức cảnh giác và chủ động đối phó với rủi ro thiên tai Để hiểu được vấn đề này, chúng ta cần xác định các yếu tố có liên quan tới một hiểm họa:

- Danh mục các hiểm họa: danh mục này có thể nhận biết từ các tài liệu lịch sử và từ nhận thức của người dân địa phương như bão, lũ, sạt lở ,

- Lực: gió (gió trong bão, trong dông lốc), nước (nước mưa, nước lũ, nước dâng do bão, vv và hạn hán), đất (động đất, trượt lở đất, bồi lấp, lũ bùn đất, vv.), nhiệt độ (sóng nhiệt, sóng lạnh), hỏa hoạn (cháy rừng, cháy nhà, vv.)

- Các dấu hiệu cảnh báo: là các dấu hiệu khoa học, tự nhiên hoặc mang tính địa phương cho thấy hiểm họa có thể xảy ra

Trang 31

- Thời gian cảnh báo trước: là thời gian từ khi đưa ra cảnh báo cho tới khi

có các tác động của hiểm họa (khoảng thời gian từ khi biết một hiểm họa sắp xảy

ra cho đến khi hiểm họa đó thực sự xảy ra)

- Tốc độ xảy ra hiểm họa: là tốc độ khi hiểm họa tới và gây ra tác động

Có thể phân biệt giữa các hiểm họa xảy ra mà hầu như không có dấu hiệu nào cảnh báo trước (ví dụ như động đất) và loại hiểm họa mà có thể dự báo trước khi

nó xảy ra từ 3 đến 4 ngày (ví dụ như bão) tới loại hiểm họa diễn ra chậm như hạn hán có thể mất vài tháng để hình thành

- Tần suất: hiểm họa có thường xuyên xảy ra hay không? có dự báo được không? xảy ra theo mùa? hay theo năm? bao nhiêu năm xảy ra một lần?

- Thời điểm xảy ra: hiểm họa xảy ra vào một thời điểm cụ thể nào đó trong năm? hay vào một tháng nào đó?

- Khoảng thời gian xảy ra: thời gian xảy ra hiểm họa trong vòng bao lâu? vài phút (đối với động đất) hay vài ngày/ vài tuần/ vài tháng (đối với hạn hán)?

- Địa điểm: hiểm họa xảy ra ở đâu?

- Nguyên nhân: nguyên nhân nào dẫn tới hiểm họa?

2.1.4.2 Giảm mức độ phơi bày trước hiểm họa

Hoạt động sản xuất nông nghiệp có đặc điểm là đa số được thực hiện ngoài trời, tức là có mức độ phơi bày trước các hiểm họa thiên nhiên là rất cao Điều này là nguyên nhân chính dẫn tới nguy cơ rủi ro cho các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp trước thiên tai Do vậy cần thiết phải có biện pháp thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp từ thủ công, tự phát truyền thống sang sản xuất có đầu tư, tính toán và áp dụng các kỹ thuật cao Ví dụ sản xuất nông nghiệp trong nhà kính, lắp đặt các giàn che mưa, nắng, kè chắn ngập, lụt, hay xây dựng chuồng trại kiên cố trong chăn nuôi

2.1.4.3 Giảm mức độ bị tổn thương

Như đã đề cập bên trên mức độ bị tổn thương của người nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp rất cao so với các nhóm người khác trong xã hội, đặc biệt là người nông dân thuộc các dân tộc thiểu số, sinh sống ở những khu vực có vị trí địa lý không thuận lợi

Trang 32

Bản thân những đối tượng nông dân này có những đặc điểm bất lợi trong việc nhận diện, đối phó, thích ứng với thiên tai và rủi ro thiên tai như: không hiểu được các thông tin tuyên truyền do không biết tiếng Kinh, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, sinh sống và sản xuất ở những khu vực xa xôi, hẻo lánh, đi lại khó khăn Do vậy cần có giải pháp hỗ trợ phù hợp cho những đối tượng này để nhằm làm giảm mức độ tổn thương

Các biện pháp cụ thể có thể bao gồm: in, phát, tuyên truyền tài liệu bằng tiếng dân tộc; vận động bà con di dời đến khu vực sinh sống được quy hoạch an toàn, sản xuất tập trung, ứng dụng những tiến bộ khoa học và kỹ năng canh tác vào trong sản xuất

2.1.4.4 Nâng cao năng lực đối phó (khả năng chống chịu) của người nông dân đối với các rủi ro thiên tai

Năng lực của người nông dân là có hạn so với các nhóm đối tượng khác trong xã hội Do vậy cần thiết phải đặc biệt quan tâm, giúp đỡ họ nâng cao năng lực để từ đó có khả năng giảm tình trạng dễ bị tổn thương trước các rủi ro thiên tai Nâng cao năng lực đối phó cần tập trung vào việc nâng cao 2 nội dung cơ bản: năng lực kinh tế (điều kiện về sản xuất nông nghiệp như đất đai, vốn, kỹ thuật), năng lực xã hội (khả năng tiếp cận thông tin, sự hỗ trợ của cộng đồng, xã hội)

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng với rủi ro thiên tai

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng với thiên tai của người dân chủ yếu phụ thuộc vào năm nguồn vốn sinh kế Khi năm nguồn vốn sinh kế này

ở mức cao, chất lượng tốt thì đồng nghĩa là năng lực thích ứng vói thiên tai của người dân sẽ cao Với năm nguồn vốn sinh kế Koss Neefjes (2003) đã thiết kế ra khung sinh kế bền vững (hình 2.1) Khung sinh kế bền vững bao gồm năm nguồn vốn sinh kế: tự nhiên, xã hội, con người, vật chất và tài chính Mỗi hộ gia đình sẽ quyết định loại hình cũng như chiến lược sinh kế của mình dựa vào sự kết hợp năm nguồn vốn sinh kế nói trên cũng như môi trường chính sách, thể chế trong bối cảnh dễ bị tổn thương do thiên tai (Koss Neefjes, 2003)

Vốn con người (Human capital) là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc

và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia đình đó Vốn con người là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác

Trang 33

Vốn tài chính (Financial capital) là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau

Vốn tự nhiên (Natural capital) là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước,… mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng

sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ Đây có thể là khẳ năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện qui mô và chất lượng đất đai, qui mô và chất lượng nguồn nước, qui mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, qui

mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố

tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự đa dạng sinh học

Vốn vật chất (Physical capital) bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình

Vốn xã hội (Social capital) là một loại tài sản sinh kế Nó nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể mà qua

đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế

Trang 34

Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững

Nguồn: Koss Neefjes (2003)

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Thực trạng thiên tai và công tác phòng, chống thiên tai ở Việt Nam

2.2.1.1 Thực trạng thiên tai ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng khí hậu cực đoan trong hai thập kỷ trở lại đây Trước tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp, không theo quy luật như trước đây; tần suất tăng lên, cường độ mạnh hơn, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng nặng nề của Biến đổi khí hậu

Mức độ thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng cả về quy mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường Theo số liệu thống kê, trong

12 năm gần đây, các loại thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết

Trang 35

và mất tích hơn 9.600 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm

Bảng 2.1 Tần suất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam

CAO (≥ 4 lần/năm) TRUNG BÌNH

Nguồn: Báo cáo của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương (2014)

Theo Trung tâm Điều phối Biến đổi khí hậu cho biết, thành phố Hồ Chí Minh luôn ngập trong triều cường, rồi cả một dải đất miền Trung liên tục bão gối bão, lũ gối lũ Miền Trung gồng mình trong trận lũ kinh hoàng đã đưa con số người chết và mất tích lớn hơn tổng số người thiệt mạng trong trận siêu bão Haiyan Hơn 100 trường học bị nhấn chìm trong biển nước Có những em học sinh đã không bao giờ được trở lại mái trường nơi miền quê nghèo quanh năm hứng chịu bão lũ Rét buốt hơn, tuyết xuất hiện bất thường, lũ tàn phá kinh hoàng hơn là những hệ quả của biến đổi khí hậu đang ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sinh hoạt của con người

2.2.1.2 Công tác phòng, chống thiên tai ở Việt Nam

Là một Quốc gia có Khí hậu nhiệt đới gió mùa với bão và lũ lụt khá phổ biến trong mùa mưa ở nhiều vùng trên cả nước, Việt Nam đã sớm xây dựng và ban hành các Đề án, kế hoạch, chương trình có liên quan đến phòng tránh thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan Ngay từ những năm 1970 của thế kỷ trước

mà những chính sách này chỉ tập trung vào đối phó với bão và lũ lụt

Vào đầu những năm 2000, khi vấn đề BĐKH thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều trên trường Quốc tế, thì Việt Nam đã tham gia vào một số các hoạt động về BĐKH nhằm thực hiện Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto - với Bộ tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối Quốc gia của UNFCCC đồng thời là cơ quan thẩm quyền quốc gia

về Cơ chế Phát triển Sạch (CDM) Các hoạt động chính trong giai đoạn khởi đầu này là việc soạn thảo báo cáo ban đầu của Quốc gia, xây dựng các dự án và qui trình Quốc gia liên quan đến CDM Trong những năm gần đây, nhiều chính sách

Trang 36

Quốc gia đã lồng ghép BĐKH vào như quản lý môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và các chính sách liên ngành khác như chính sách giảm nghèo hay vì sự tiến

Tháng 12 năm 2008, Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Ứng phó với BĐKH đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành Chương trình này nhằm đưa các quan tâm về BĐKH vào Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội (giai đoạn 2011 - 2020) cũng như vào các chính sách về giảm nhẹ thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan, quản lý ven biển, cung cấp và sử dụng năng lượng (UNDP, 2009) Kế hoạch hành động đến năm 2015 cho từng ngành cũng như từng địa phương sẽ được xây dựng dựa trên khuôn khổ Chương trình Mục tiêu Quốc gia Chương trình này còn hỗ trợ cho các nghiên cứu, các chương trình nâng cao nhận thức và việc điều phối thực hiện chương trình Chương trình Mục tiêu Quốc gia cũng khuyến khích tăng cường hợp tác Quốc tế nhằm thu hút được nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ cho công tác ứng phó với BĐKH sao cho đạt được 50% tổng kinh phí dự kiến cho toàn Chương trình (tức là khoảng 1.000 tỷ đồng Việt Nam hay 53,3 triệu đôla Mỹ, tính theo

tỷ giá qui đổi năm 2010)

Kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 được ban hành năm 2009, đã đề ra khuôn khổ Quốc gia cho quản lý thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan Chiến lược này ưu tiên việc nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng, giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chung sống với lũ Những hoạt động quan trọng khác của Chiến lược này bao gồm: xây dựng các trung tâm cảnh báo thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan; xây dựng hành lang an toàn lũ ở miền Nam; tăng cường vai trò của trường học và các phương tiện thông tin đại chúng trong việc nâng cao nhận thức; đề xuất lập một quỹ Quốc gia về phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan v.v…(Nghị định

Trang 37

94/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập và quản

lý quỹ phòng chống thiên tai)

Kế hoạch hành động về Giảm thiểu và Ứng phó với BĐKH của ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là một chính sách quan trọng nhằm đạt được sự phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững Chiến lược này đã được

Bộ Nông nhiệp và PTNT ban hành tháng 9 năm 2008 Kế hoạch đã tập trung vào:

(a) đảm bảo an toàn và ổn định cho người dân ở các vùng khác nhau, đặc biệt là vùng ĐBSCL, đồng bằng sông Hồng, các khu vực miền trung và miền núi;

(b) đảm bảo sản xuất ổn định và an toàn lương thực;

(c) đảm bảo duy trì hệ thống đê điều và các hạ tầng cơ sở khác nhằm đáp ứng yêu cầu của phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan

Kế hoạch này thậm chí còn có một nghiên cứu về tác động của BĐKH đến sản xuất muối và an toàn muối ở Việt Nam Điều đặc biệt cần lưu ý ở đây là Kế hoạch hành động của Bộ Nông nghệp và PTNT đã được Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT phê chuẩn và ban hành trước khi Chương trình Mục tiêu Quốc gia ra đời Điều này cho thấy một thực tế rằng ngành nông - lâm - ngư nghiệp và các vùng nông thôn là những nơi chịu sự tác động mạnh mẽ của BĐKH Do đó

Bộ Nông nghiệp và PTNT không đợi chính sách Quốc gia mà đã sớm chủ động xây dựng Kế hoạch của ngành mình nhằm ứng phó với BĐKH

Ngoài một số chính sách quan trọng nêu trên, còn có rất nhiều các văn bản pháp qui, các chiến lược, kế hoạch và chương trình quốc gia trong đó chứa đựng những nội dung đáng kể liên quan đến BĐKH Ví dụ như Chiến lược Bảo vệ Môi trường đến năm 2010 (2003), Chương trình Nghị sự 21 (2004) về phát triển bền vững, Luật bảo vệ Môi trường (2005), Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xóa đói Giảm nghèo (2002), Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Giảm nghèo, Chương trình quốc gia về chống sa mạc hóa giai đoạn 2006 - 2010 và hướng tới năm 2020 (2006), Chương trình Nâng cao Nhận thức Cộng đồng về Quản lý Thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan dựa vào Cộng đồng (2009), đặc biệt

từ 2011 - 2012 Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong chính sách và chương trình liên quan đến BĐKH như: Chiến lược Quốc gia về BĐKH, Chương trình Khoa học công nghệ ứng phó với BĐKH, Kế hoạch hành động Quốc gia ứng phó với BĐKH, Kịch bản BĐKH & Nước biển dâng (chi tiết hơn các kịch bản trước), Chiến lược tăng trưởng xanh, Khung ma trận chính sách BĐKH

Trang 38

Mặc dù số lượng về các chính sách và chương trình có liên quan đến BĐKH ở Việt Nam là khá nhiều song vẫn còn có những bất cập Hệ thống văn bản pháp qui hiện nay về ứng phó với BĐKH còn chưa đồng bộ Một số chương trình được ban hành song thiếu cơ sở pháp lý cần thiết để có thể triển khai mọi hoạt động Bên cạnh đó, còn thiếu cơ chế điều phối cụ thể, rõ ràng giữa các Bộ, ngành

và các địa phương, cũng như cơ chế hợp tác giữa mọi thành phần trong xã hội, giữa các cộng đồng với nhau nhằm thực thi các chương trình ứng phó với BĐKH

Nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Nông thôn và tổ chức ActionAid Việt Nam (2008) đã phát hiện ra rằng nhiều chính sách đề cập đến người trồng lúa song lại rất ít chính sách nhằm bảo vệ những ngư dân hay nông dân nuôi trồng thủy sản Về góc độ vùng, các chính sách và chương trình đã tập trung nhiều hơn vào vùng ven biển và ĐBSCL trong khi vùng miền núi chưa được quan tâm thích đáng

2.2.2 Thực trạng thiên tai và quản lý rủi ro thiên tai ở tỉnh Lào Cai

2.2.2.1 Thực trạng thiên tai trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015

Trong những năm qua, do ảnh hưởng của biến đổi Khí hậu toàn cầu, diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp và khó lường, mức độ và tần xuất ngày càng tăng; thiên tai xảy ra không theo quy luật đã lảm ảnh hưởng và gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội Từ năm 2011-2015 qua tổng hợp theo dõi, Lào Cai là một trong những tỉnh miền núi phía Bắc chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các loại hình thiên tai (có 16/19 loại thiên tai), thiên tai đã gây thiệt hại lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng và hoa màu của Nhà nước và nhân dân, làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Các loại hình thiên tai thường xuyên xảy ra như lũ quét, sạt lở đất, rét hại, sương muối, sét đánh, giông lốc, băng giá, mưa đá, hạn hán…đã gây thiệt hại hàng 100 tỷ đồng mỗi năm Tình hình thiệt hại do thiên tai cụ thể như sau:

* Thiệt hại về người

Người chết 60 người; (Thành phố Lào Cai 01, Bắc Hà 14, Bát Xát 4, Văn Bàn 11, Bảo Thắng 5, Bảo Yên 10, Sa Pa 15) Trong đó chết do lũ cuốn trôi là 49 người, do sét đánh là 8 người, mưa đá là 2 người, sạt lở đất đá 01 người

Người bị thương 104 người (Thành phố Lào Cai 2, Bắc Hà 8, Si Ma Cai 5, Bát Xát 3, Bảo Thắng 5, Bảo Yên 27, Mường Khương 30, Sa Pa 24)

Trang 39

Đặc biệt nghiêm trọng đêm 4/9/2013, lũ quét tại thôn Can Hồ A, xã Bản Khoang (Sa Pa) làm chết và mất tích 12 người; 17 người bị thương, 10 ngôi nhà sập trôi; 32 ngôi nhà bị ảnh hưởng; đêm 27/3/2013 trên địa bàn 34 xã thuộc 03 huyện Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai xảy ra trận mưa đá kèm theo lốc xoáy kéo dài 30 phút với cường độ rất lớn (đường kính viên đá trung bình từ 2-3cm, có nơi từ 8-10cm), làm bị thương 56 người và gây hại rất lớn về nhà cửa, tài sản, hoa màu của nhân dân, nhiều điểm trường, trụ sở làm việc và các cơ sở khác bị

thiệt hại

* Thiệt hại về nhà ở

Nhà bị sập đổ, hư hỏng hoàn toàn 260 nhà; nhà bị hư hỏng, ảnh hưởng 22.678 nhà Trong số 260 nhà bị hư hỏng hoàn toàn gồm: thành phố Lào Cai

10, Bắc Hà 33, Si Ma Cai 12, Bát Xát 12, Văn Bàn 44, Bảo Thắng 21, Bảo Yên

108, Mường Khương 3, Sa Pa 17) Đặc biệt nghiêm trọng vào các ngày 27, 29 tháng 3 năm 2013 tại địa bàn 4 huyện Si Ma Cai, Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Yên, xả ra mưa đá làm hư hỏng 13.513 nhà chiếm gần 60% tổng số nhà bị ảnh hưởng trong 5 năm (Bảo Yên 2.871, Bắc Hà 2.890, Si Ma Cai 2.981, Mường Khương 4.771)

* Thiệt hại về sản xuất

- Diện tích lúa, hoa màu bị ảnh hưởng do mưa lũ là 22.161 ha;

- Gia súc bị chết: 15.931 con, nguyên nhân chủ yếu là do rét đậm, rét hại Trong đó riêng năm 2011 là 14.320 con chiếm 90% so với tổng số gia súc bị chết trong vòng 5 năm 2011-2015

* Thiệt hại về cơ sở hạ tầng

- Công trình giao thông bị hư hỏng: 34 công trình

- Khối lượng sạt lở lên đến: 23.393 x 103m3

- Kênh mương bị hỏng: 126 công trình (hư hòng đập đầu mối và kênh dẫn)

- Trường học, trụ sở làm việc, trạm y tế: 264 điểm

Ngoài ra còn nhiều thiệt hại về cơ sở hạ tầng khác

* Tổng thiệt hại về kinh tế: 1.545 tỷ đồng

Trang 40

Bảng 2.2 Tổng hợp thiệt hại do thiên tai từ năm 2010 - 2014 tỉnh Lào Cai

TT Danh mục thiệt hại đơn vị tính 2010 2011 2012 2013 2014 Cộng

Nguồn: Văn phòng Ban chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh Lào Cai (2015)

2.2.2.2 Công tác phòng, chống thiên tai ở tỉnh Lào Cai

* Công tác chỉ đạo các cấp

Hàng năm, trước mùa mưa lũ Văn phòng Thường trực Ban chỉ huy PCTT

và TKCN tỉnh đã chủ động tham mưu cho Sở Nông nghiệp và PTNT, Ban chỉ

huy PCTT và TKCN tỉnh ban hành các Văn bản chỉ đạo, Quyết định, Chỉ thị,

Công điện về công tác phòng chống thiên tai và TKCN kịp thời; xây dựng

phương án, kế hoạch phòng, chống thiên tai và TKCN, phương án ứng phó với

bão mạnh, siêu bão, trang cấp trang thiết bị PCTT và TKCN cho các địa phương

Xây dựng kế hoạch lồng ghép kế hoạch PCTT và TKCN vào kế hoạch phát triển

KT-XH Triển khai tốt Luật phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh Ban chỉ huy

PCTT và TKCN tỉnh đã chỉ đạo sát sao các địa phương trong công tác PCTT như:

Ngày đăng: 30/05/2017, 23:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai tỉnh Lào Cai, (2011 - 2015) Sở Nông nghiệp và PTNT Lào Cai “Báo cáo tổng kết phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh
9. Lê Văn Hoàn (2015). ‘Nghiên cứu tác động của tai biến thiên nhiên tới hoạt động sản xuất nông nghiệp xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình’, Luận văn thạc sĩ địa lý, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề:
Tác giả: Lê Văn Hoàn
Năm: 2015
10. Nguyễn Thị Hương Giang (2012). ‘Đánh giá tác động và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng tại xã Hưng Hòa - Thành phố Vinh - Tỉnh Nghệ An’, Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề:
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Giang
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Thanh Hoài (2014). ‘Đánh giá khả năng thích ứng với lũ của hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp tại xã Sơn Giang, Hương Sơn, Hà Tĩnh’, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề:
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hoài
Năm: 2014
13. Phòng Kinh tế huyện Sa Pa, (2011- 2015) “Báo cáo tổng hợp thiệt hại do thiên tai gây ra trên địa bàn huyện Sa Pa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp thiệt hại do thiên tai gây ra trên địa bàn huyện Sa Pa
14. Trần Hữu Hào (2011). ‘Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng xã Tây Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình’, Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề:
Tác giả: Trần Hữu Hào
Năm: 2011
17. Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai - DMC (2011) “Tài liệu kỹ thuật Quản lý rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu”.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu kỹ thuật Quản lý rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu
21. Tuan T.H. and B.D. The (2012), “Natural Disasters In Vietnam: A Synthesis From A SocioEconomic Perspective” in the edited book "The Economic Impact of Natural Disasters", by Debarati Guha-Sapir & Indhira Santos, Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Natural Disasters In Vietnam: A Synthesis From A SocioEconomic Perspective” in the edited book "The Economic Impact of Natural Disasters
Tác giả: Tuan T.H. and B.D. The
Năm: 2012
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2011). Tài liệu kỹ thuật quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Khác
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014). Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008). Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Khác
5. Hoàng Trọng (2005). Phân tích nhân tố, Tài liệu giảng dạy chương trình Fulbright Khác
6. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Nhà xuất bản Hồng Đức, thành phố Hồ Chí Minh Khác
7. Lê Anh Tuấn và Trần Thị Kim Hồng (2012). ‘Đánh giá tổn thương và khả năng thích nghi ở hộ gia đình trước thiên tai và biến đổi khí hậu trong khu vực thuộc Quận Bình Thủy và huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ’, Tạp chí khoa học, Trường Đại học Cần Thơ. 22b. tr. 221-230 Khác
8. Lê Thị Kim Thoa (2013). ‘Năng lực thích ứng của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Bến Tre trong bối cảnh biến đổi khí hậu’, Tạp chí khoa học, Trường Đại học Thủ Dầu Một. (5). tr. 12 Khác
15. 13. Trần Hữu Tuấn (2012). ‘Nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho người dân ven biến tỉnh Thừa Thiên Huế’, Tạp chí khoa học, Trường Đại học Huế. 72B (3). tr. 379-386 Khác
16. Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012). Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội Khác
18. Remy Sietchiping, Department of Primary Industries, PIRVIC (2006). ‘Applying an index of adaptive capacity to climate change in North-Western Victori, Australia’. Applied GIS, Volume 2, Number 3, 2006 Monash University Epress Khác
19. Remy Sietchiping, Department of Primary Industries, PIRVIC. Applying an index of adaptive capacity to climate change in North-Western Victoria, Australla Khác
20. S. Huq, A. Rahman, M. Konate, Y. Sokona and H. Reid (2003), Mainstreaming Adaptation to Climate Change in Least Developed Countries, IIED, London Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w