1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo tại huyện sơn dương,tỉnh tuyên quang

104 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu: Nội dung nghiên cứu của luận văn đề cập đến các vấn đề sau: Đối tượng thụ hưởng thực tế về việc thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo; Đánh gi

Trang 1

NGUYỄN VĂN TÙNG

ĐÁNH GIÁ CỦA HỘ NÔNG DÂN VỀ THỰC HIỆN

HỖ TRỢ NÔNG NGHIỆP TRONG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN SƠN DƯƠNG,

TỈNH TUYÊN QUANG

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn gốc Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề tài này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương nơi thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tùng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc giảng viên GS.TS.Đỗ Kim Chung đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn kinh tế nông nghiệp & chính sách, Khoa kinh tế và phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên UBND huyện Sơn Dương và toàn thể các cán bộ làm việc tại UBND xã Lương Thiện và thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tùng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục sơ đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis Abstract xii

Phần 1 Đặt vấn đề 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4

2.1 Cơ sở lý luận về đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo 4

2.1.1 Khái niệm và bản chất về đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo 4

2.1.2 Vai trò của hộ nông dân trong đánh giá thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo 7

2.1.3 Đặc điểm của hộ nông dân trong đánh giá thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo 7

2.1.4 Nội dung nghiên cứu đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo 8

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo 9

Trang 5

2.2 Cơ sở thực tiễn về tình hình hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm

nghèo của hộ nông dân .10

2.2.1 Thực trạng hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo của hộ nông dân trên thế giới 10

2.2.2 Thực trạng đánh giá thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo của hộ nông dân ở Việt Nam 16

2.2.3 Bài học kinh nghiệm từ những nguyên cứu có liên quan 20

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 22

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 22

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 25

3.2 Phương pháp nghiên cứu 38

3.2.1 Phương pháp tiếp cận 38

3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38

3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 39

3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 40

3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 40

3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu .41

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 22

4.1 Thực trạng đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo .42

4.1.1 Khái quát chung về chính sách, thực hiện chính sách PTNN và chính sách giảm nghèo tại huyện .42

4.1.2 Đối tượng thụ hưởng thực tế về việc thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo 46

4.1.3 Đánh giá của người dân về thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất trong giảm nghèo 49

4.1.4 Tác động của hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo đối với hộ nông dân được tiếp cận 64

4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo .68

4.2.1 Dân tộc, thói quen và lối sống .69

Trang 6

4.2.2 Trình độ học vấn 71

4.2.3 Sự tham gia của người dân 72

4.2.4 Năng lực cán bộ địa phương 72

4.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo .76

4.3.1 Bình xét hộ nghèo và cận nghèo 76

4.3.2 Thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất trong giảm nghèo 76

4.3.3 Đối với người dân 76

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 79

5.1 Kết luận 79

5.2 Kiến nghị 80

Tài liệu tham khảo 81

PHỤ LỤC 85

Trang 7

Chương trình

133

Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

EU Cộng đồng chung châu Âu

FAO Tổ chức Nông-Lương Liên hợp quốc

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình đất đai và cơ cấu sử dụng đất huyện Sơn Dương 26

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Sơn Dương 28

Bảng 3.3 Cơ cấu các ngành kinh tế và tổng giá trị sản xuất huyện Sơn Dương 31

Bảng 3.4 Kết quả sản xuất Công nghiệp - Thương mại - dịch vụ của huyện 31

Bảng 3.5 Kết quả sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp của huyện 32

Bảng 3.6 Kết quả sản xuất chăn nuôi của huyện 33

Bảng 3.7 Bảng chọn điểm và mẫu điều tra tại huyên Sơn Dương 40

Bảng 4.1 Đánh giá của hộ về cách thức bình xét hộ nghèo theo loại hộ 47

Bảng 4.2 Đánh giá của hộ về cách thức bình xét hộ nghèo theo xã 48

Bảng 4.3 Đánh giá của hộ về bình xét đối tượng thụ hưởng 48

Bảng 4.4 Đánh giá của hộ về huy động nguồn lực thực thi chính sách 50

Bảng 4.5 Đánh giá của hộ về cách thức phổ biến tuyên truyền chính sách 51

Bảng 4.6 Đánh giá của hộ về phổ biến tuyên truyền chính sách theo xã 53

Bảng 4.7 Đánh giá sự phù hợp trong cách thức tiếp nhận chính sách của hộ 53

Bảng 4.8 Đánh giá của hộ về phân công phối hợp thực hiện chính sách 54

Bảng 4.9 Đánh giá của hộ về hỗ trợ thực tế nhận được 55

Bảng 4.10 Hỗ trợ thực tế nhận được tại xã Lương Thiện 58

Bảng 4.11 Đánh giá của hộ về mức độ phù hợp của hỗ trợ 58

Bảng 4.12 Một số hỗ trợ thực tế của hộ 61

Bảng 4.13 Đánh giá của hộ về giám sát, đánh giá thực hiện chính sách 62

Bảng 4.14 Ý kiến của hộ về điều chỉnh chính sách 63

Bảng 4.15 Đánh giá của hộ về tổng kết chính sách 64

Bảng 4.16 Mức thay đổi kinh tế phân theo loại hộ 65

Bảng 4.17 Sự thay đổi kinh tế của hộ xét trên cấp xã 66

Bảng 4.18 Đánh giá của hộ nghèo về nguyên nhân nghèo 67

Bảng 4.19 Đánh giá của hộ về lý do thoát nghèo 68

Bảng 4.20 Tỷ lệ dân tộc thiểu số của chủ hộ 69

Bảng 4.21 Yếu tố dân tộc ảnh hưởng đến kinh tế của hộ 70

Bảng 4.22 Trình độ học vấn của hộ 72

Bảng 4.23 Mức tham gia đóng góp của người dân 73

Bảng 4.24 Mức tham gia đóng góp theo loại hộ tại xã Lương Thiện 73

Bảng 4.25 Sự tham gia của hộ nghèo và cận nghèo tại xã Lương Thiện 74

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Quy trình bình xét hộ nghèo 43

Sơ đồ 3.2 Trình tự lập, phê duyệt hỗ trợ 44

Sơ đồ 3.3 Trình tự cấp vốn 45

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: NGUYỄN VĂN TÙNG

Tên Luận văn: “Đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp

trong chính sách giảm nghèo tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”

Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu: Đề tài luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về

đánh giá việc thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách nghèo Phân tích đánh giá của hộ nông dân về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách nghèo tại huyện Sơn Dương Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách nghèo cho

hộ nông dân tại địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới

Phương pháp nghiên cứu: Nội dung nghiên cứu của luận văn đề cập đến các vấn đề sau:

Đối tượng thụ hưởng thực tế về việc thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo; Đánh giá của hộ nông dân về thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất trong giảm nghèo; Tác động của hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo đối với hộ nông dân

Các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng : phương pháp tiếp cận hệ thống

và tiếp cận phân cấp được sử dụng trong quá trình thu thập số liệu Quá trình phân tích

số liệu sử dụng các phương pháp như: tiếp cận phân cấp, thống kê miêu tả, thống kê so sánh và chuyên gia chuyên khảo

Về huy động nguồn lực thực thi chính sách tại địa phương tỏ ra yếu kém khi công tác tuyên truyền huy động nguồn lực từ người dân không được chú trọng Đây có thể coi là sự thiếu năng lực của cán bộ chuyên trách, nhầm lẫn trong việc huy động nguồn lực thực thi chính sách

Trang 11

Đối với công tác tuyên truyền chính sách của địa phương chưa mang lại hiệu quả Người dân thu nhận thông tin chính sách không đầy đủ, chính xác do cán bộ địa phương không chú trọng Điều này làm giảm tính hiệu quả trong quá trình triển khai chính sách tại địa phương cho người dân

Trong công tác thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp tại địa phương cho thấy tỷ lệ hộ nhận được cách hỗ trợ còn chưa cao, còn nhiều thiếu sót về chất lượng chuyên môn Các hộ nhận được hỗ trợ chưa cảm thấy hài lòng và phù hợp do hỗ trợ còn thấp, thiếu tính kịp thời…

Đặc biệt các vấn đề về giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách, điều chỉnh

và tổng kết chính sách lộ rõ sự thiếu sót trong quá trình triển khai tại địa phương Người dân không được tham gia, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của triển khai chính sách hỗ trợ nông nghiệp, chính sách giảm nghèo tại địa phương

Nghiên cứu cũng cho thấy tác động của hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo đối với hộ nông dân được tiếp cận trên phương diện kinh tế là chưa lớn Điều đó là hợp lý với việc triển khai chính sách còn yếu tại địa phương

Qua tìm hiểu thì các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp trong giảm nghèo : Dân tộc, thói quen và lối sống; trình độ học vấn; sự tham gia của người dân; năng lực cán bộ địa phương

Việc triển khai hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo tại địa phương chưa mang lại hiệu quả là do nguyên nhân chủ yếu sau: Trình độ người dân còn thấp, người dân chưa quan tâm đến chính sách được triển khai tại địa phương, việc tuyên truyền phổ biến thông tin về chính sách tại địa phương còn chưa tốt, năng lực cán bộ địa phương còn yếu dẫn đến các sai sót trong quá trình triển khai; vị trí và vai trò của người dân chưa được nhìn nhận trong các khâu triển khai chính sách tại địa phương Trên cơ sở các phân tích, đánh giá, tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao pháp tăng cường thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo của hộ nông dân tại huyện Sơn Dương Các giải pháp tập trung vào các nhóm như: Thay đổi cách thức bình xét hộ nghèo; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, linh hoạt để thông tin chính sách đến với người dân Thay đổi việc triển khai hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo tại địa phương, trong đó chú trọng đến vai trò, vị trí của người dân; nâng cao năng lực của cán bộ triển khai chính sách, thay đổi tuy duy thực hiện chính sách của cán bộ; Nâng cao trình độ của người dân, từ bước thay đổi tư duy của người dân về chính sách của như việc triển khai chính sách tại địa phương

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Name of author: NGUYỄN VĂN TÙNG

Thesis title: “Farmers’ assessment of the implementation of agricultural

supports in poverty reduction policy in Son Duong district, Tuyen Quang province”

Major: Economic Management Code: 60 34 04 10

Educational institution: Vietnam National University of Agriculture

Objective of the study

The general objective of the research is to review theoretical and empirical literature on assessing the implementation of agricultural supports in poverty reduction policy; to analyze farmers’ assessment of the implementation of agricultural supports in poverty reduction policy and its affecting factors in Son Duong district; thereby proposing several solutions for enhancing the implementation of agricultural supports in poverty reduction policy for agricultural households at the study site in the future

Methodology

This thesis focuses on the following issues: the actual beneficiaries of the agricultural support in the poverty reduction policy; farmers’ assessment of the implementation of agricultural supports in poverty reduction policy; and the impacts of those supports on agricultural households

The data collection research methodologies employed are systematic approach, expert consultation, and decentralized approach In addition, the main data analysis methods used in the study include descriptive statistics and comparative statistical analysis

Main findings and conclusions

The research results reveal that the practice of identifying poor households was implemented fairly well in the district However, some changes still need to be done in order to identify correctly all the beneficiaries

The limitations of the local policy implementers and the difficulties faced by farmers all contributed to the fact that the efficiency of the policy implementation was below expectations

Moreover, the resource mobilization for local policy implementation seemed to

be under-performance when not much attention was paid for the propaganda for mobilizing resources from households That could be due to the incapacity of the local

Trang 13

specialized staff that might make some mistakes in mobilizing resources for implementing the policy

The policy propaganda implemented in the district was not effective The information that farmers received was not adequate and correct because local staff did not pay attention to this aspect That further reduced the efficiency of implementing agricultural support policy for households

The percentage of households that received supports was not high, and there were still many limitations in terms of specialization quality Furthermore, the households that received supports were also not satisfied with the supports and believed that the supports were not suitable because they were in fact not adequate and were often delivered late, etc Noticeably, the monitoring and evaluation of the policy implementation, adjustment and summarization applied during the implementation process had some clear limitations Farmers were not allowed to participate in the monitoring and evaluation process of the policy implementation, which then greatly affected the implementation efficiency of the agricultural support policy and the poverty reduction policy

The research also shows that the economic impacts of agricultural supports in the poverty reduction policy on local farmers were insignificant It is reasonable while taking into account the poor policy implementation in the district

In addition, the research results suggest that the main factors that affect the implementation of agricultural support policy in poverty reduction include ethnicity, habits, life styles; education level; farmers’ participation; and capabilities of the local staff

The fundamental reasons for the low efficiency of the implementation of agricultural support in poverty reduction policy include: (i) Farmers had low education level, and they did not pay much attention to the policy; (ii) The policy propaganda was not implemented well; (iii) Low capacities of local staff, which lead to a number of mistakes while implementing the policy; (iv) Farmers’ role and position were not taken into account during various policy implementation phases

Based on the above analysis and assessment, there are several solutions for enhancing the implementation of agricultural supports in household poverty reduction policy in Son Duong district, which focus on various aspects as follows: Making adjustment in the identification of poor households; Improving policy propaganda practice

so that all farmers have access to information about policy; Making changes in implementing agricultural supports in poverty reduction policy in the district, in which pay attention to farmers’ role and position; Improving capacities of local staff, and changing their mindset in implementing the policy; Improving farmers’ education level, and gradually making mindset change for farmers about policy and policy implementation

Trang 14

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam là một nước nông nghiệp, nằm trong những nước nghèo nhất thế giới với 70,4% dân số sống ở nông thôn và 70% (Tổng cục thông kê, 2014) lao động làm trong lĩnh vực nông, lâm và ngư nghiệp Vì vậy, trong quá trình phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì phát triển nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ rất quan trọng Những năm gần đây, nông nghiệp ngày càng được coi trong và có vai trò to lớn trong việc phát kinh tế và ổn định

xã hội Trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn, bên cạnh các chủ trương, chính sách xã hội phù hợp, còn cần những nguồn lực hỗ trợ cho quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn như tài chính, kỹ thuật - công nghệ và không thể thiếu yếu tố hộ gia đình, đây là yếu tố trọng tâm, là nguồn lực quan trọng nhất, nó quyết định tới sự thành công của cả quá trình phát triển Yếu tố hộ gia đình được nhắc đến ở đấy chính là hộ nông dân – thành phần chủ yếu và quan trọng nhất trong khu vực nông nghiệp nông thôn

Hộ nông dân được xác định và trở thành đơn vị kinh tế sản xuất kinh doanh tự chủ và đã phát huy tính năng động sáng tạo, tích cực trong sản xuất kinh doanh làm cho nông nghiệp nước ta phát triển mạnh mẽ Hiện nay, hộ nông dân đã nhận thức và phát huy vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp Chính hộ nông dân là những người đã giúp cho Việt Nam vượt qua khủng hoảng, và góp phần quan trọng trong việc thu ngoại tệ bằng chính những sản phẩm của mình

Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nước ta trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Ý thức được tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn

và nông dân, Đảng ta đã ban hành nhiều chính sách cũng như các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho các khu vực nông thôn, kém phát triển như chương trình 133, 135, chương trình 62 huyện nghèo… Kết quả bước đầu đã có những thành công cụ thể đời sống và thu nhập người dân được cải thiện, nâng cao Nhưng vẫn còn chưa bền vững, tỷ lệ hộ nghèo vẫn con cao so với chuẩn nghèo mới, những hộ thoát nghèo có xu hướng nghèo trở lại

Trang 15

Thực tế cho thấy, dù là lực lượng lao động chính trong sản xuất nông nghiệp, đóng vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn, nhiều cách thức và giải pháp đã được đưa ra nhằm thúc đẩy, tăng cường khả năng tiếp cận chính sách cho hộ nông dân giảm nghèo Song hộ nông dân còn đang gặp nhiều khó khăn, thách thức trong tiếp cận hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo từ chính phủ Nhiều cách thức và giải pháp đã được đưa ra nhằm thúc đẩy, tăng cường khả năng tiếp cận chính sách cho hộ nông dân giảm nghèo Sơn Dương là một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nước, đời sống kinh tế xã hội của nhân dân trong huyện cũng có nhiều thay đổi Vốn là một huyện miền núi, đất đai rộng lớn chủ yếu là đất đồi núi, trình độ sản xuất thấp, việc phát triển kinh tế hộ nồng dân còn gặp nhiều khó khăn, việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của hộ nông dân vẫn chưa tốt Vấn đề phát triển kinh tế hộ nông dân, giảm nghèo được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể các ngành và các nhà khoa học quan tâm bằng các chính sách cũng như các chương trình hỗ trợ sản xuất giảm nghèo đã được triển khai trên địa bàn huyện Nhưng khả năng tiếp cận của hộ nông dân với các chính sách, chương trình giảm nghèo còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế khiến cho hiệu quả của chính sách cũng như các chương trình của chính phủ mang lại chưa cao.Từ những thực tế trên, thêm vào đó chưa có nghiên cứu nào về sự tiếp cận của hộ nông dân đến hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo, nên em lựa chọn đề tài:

“Đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu đánh giá của hộ nông dân và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách nghèo trên địa bàn huyện, từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp nhằm tăng cường thực hiện

hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo của hộ nông dân tại huyện

Sơn Dương

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về đánh giá việc thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

Trang 16

- Phân tích đánh giá của hộ nông dân về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo tại huyện Sơn Dương

- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện các hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo cho hộ nông dân tại địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo tại huyện Sơn Dương

- Các yếu tố ảnh hưởng đến đánh thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo tại huyện Sơn Dương

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian : số liệu dự kiến sẽ thu thập trong khoảng thời gian từ

tháng 15/10/2012- 18/11/2015

- Phạm vi không gian: Trên địa bàn huyện Sơn Dương trong đó tập trung

vào hộ nông dân

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình tiếp cận hỗ trợ

nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo của hộ nông dân tại huyện Sơn Dương

Trang 17

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CỦA HỘ NÔNG DÂN VỀ THỰC HIỆN HỖ TRỢ NÔNG NGHIỆP TRONG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO 2.1.1 Khái niệm và bản chất về đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ

trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

2.1.1.1 Khái niệm và bản chất của hộ nông dân

Về hộ nông dân, tác giả FrankEllis (1993) định nghĩa "Hộ nông dân là các

hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong

hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" Một

số nhà khoa học cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định" và coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp" Luận điểm này đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển Sau đó, quan điểm này được bổ sung và

nhấn mạnh thêm "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản" Chính vì vậy, cải cách

kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo Lê Đình Thắng (2002) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh

tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ

nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm

cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo nhà

khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho

rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường

xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch

vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp"

Hộ nông dân là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn

Trang 18

chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều được hưởng phần thu nhập và mọi quyết định dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình

Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa

là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay

Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức cá nhân, tôi cho rằng: Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, lao động và có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau

2.1.1.2 Khái niệm đánh giá, đánh giá của hộ nông dân

a, Khái niệm đánh giá

Thuật ngữ đánh giá là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đo lường được qua các kỳ kiểm tra trong quá trình và kết thúc bằng các đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn được xác định rõ rằng trước đó trong các mục tiêu Trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm đánh giá, tuy nhiên về cơ bản đánh giá vẫn được hiểu theo các nghĩa sau:

- Đánh giá là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kết hoạch, quyết định và hành động có kết quả

- Đánh giá là quá trình qua đó ta quy cho đối tượng, sự việc một giá trị nào đó

- Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về: mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển…, những kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại đang xét so với mực tiêu hay chuẩn mực đã được xác lập

Trang 19

b, Khái niệm đánh giá của hộ nông dân

Đánh giá của hộ nông dân là những nhận định tổng hợp của hộ nông dân

về các dữ kiện đo lường được qua các kỳ kiểm tra trong quá trình và kết thúc bằng các đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn được xác định rõ rằng trước đó trong các mục tiêu

2.1.1.3 Khái niệm và bản chất thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

a, Khái niệm hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

Trước khi đưa ra khái niệm về hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo, ta cần thống nhất cách hiểu về chính sách nói chung Có nhiều khái niệm khác nhau về chính sách , tuy nhiên trong khuôn khổ nghiên cứu này thì chính sách dùng để chỉ ý định của chính quyền các cấp Phần lớn các nhà khoa học đều cho rằng chính sách nên hiểu theo các nghĩa sau:

- Chính sách bao gồm những dự định lập kế hoạch, hưỡng dẫn, tác động, tài trợ hoặc thông qua các dự án, chương trình, hoặc những hoạt động đang được thực hiện của chính phủ Hay hiểu một cách đầy đủ và chặt chẽ hơn thì chính sách là những quyết định, quy định của nhà nước (tức từ các cấp chính quyền trung ương đến cấp địa phương) được cụ thể hóa thành các chương trình, dự án cùng các nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào đối tượng có liên quan, thay đổi trạng thái của đối tượng mà nhà nước mong muốn

- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó

Bên cạnh đó, một số quan điểm khác cho rằng: Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề

ra Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân

Xuất phát từ cách tiếp cận trên, hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo là những quyết định của nhà nước được cụ thể hóa trong các chương trình,

dự án cùng với nguồn lực, vật lực… hiện nhằm hỗ trợ vào lĩnh vực nông nghiệp

Trang 20

cho các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là giảm nghèo

b, Khái niệm thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

Thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo là thực hiện quyết định của nhà nước được cụ thể hóa trong các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, vật lực… hiện nhằm hỗ trợ vào lĩnh vực nông nghiệp cho các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo sản xuất nông nghiệp với mục đích cuối

Trong việc đánh giá thực hiện chính sách nói chung và đánh giá thực hiện

hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo nói riêng, hộ nông dân đóng vai trò chủ thể cung cấp các thông tin cần thiết, hữu ích cho cơ quan nhà nước, các nhà nghiên cứu về việc thực hiện các chính sách của chính phủ, giúp cho việc thực hiện chính sách, lập chính sách cũng như hưỡng dẫn thực hiện chính sách cải thiện mang lại hiệu quả như mong muốn

2.1.3 Đặc điểm của hộ nông dân trong đánh giá thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

Trong kinh tế hộ nông dân, hộ nông dân là đơn vi kinh tế tự chủ đang tiến dần đến sản xuất hàng hóa có khả năng điều chỉnh theo cơ chế thị trường Còn trong đánh giá thực hiện chính sách nói chung, đánh giá thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo nói riêng thì cơ bản hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau :

- Hộ nông dân trong đánh giá thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo nhìn nhận trên góc độ chủ quan là người thụ hưởng chính sách, đánh giá việc thực hiện chính sách dựa trên tác động, lợi ích bản thân nhận được từ chính sách

Trang 21

- Những đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo được nhìn nhận một cách trực tiếp, cụ thể mức thụ hưởng cao hay thấp có được từ chính sách được thực hiện

- Hộ nông dân cũng đánh giá việc thực hiện chính sách thông qua việc nhìn nhận quá trình tiếp nhận lợi ích từ chính sách đơn giản hay phức tạp, phân tán hay tập chung

- Sự công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng luôn là vấn đề hộ nông dân chú ý tới

2.1.4 Nội dung nghiên cứu đánh giá của hộ nông dân về thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

2.1.4.1 Đối tượng thụ hưởng thực tế về việc thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

Mỗi chính sách được chính phủ ban hành và thực hiện đều phục vụ một số mục tiêu nhất định trong phát triển kinh tế - xã hội Các chính sách này phần lớn đều có đối tượng thụ hưởng rõ ràng Việc xác định đúng đối tượng thụ hưởng giúp cho việc thực hiện cũng như mục tiêu của chính sách dễ dàng hơn Việc xác định đối tượng thụ hưởng chính sách cũng góp phần quan trọng trong quá trình đánh giá việc thực hiện chính sách có mang lại hiệu quả như mong đợi hay hay Chính vì vậy, trong đánh giá việc thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo cần xác định rõ đối tượng thụ hưởng thực tế từ chính sách để đối chiếu với đối tượng thụ hưởng chính sách để so sánh giữa việc ban hành và thực hiện thực tế có khách quan hay mắc những sai lầm khuyết điểm ở đâu

2.1.4.2 Đánh giá của Hộ nông dân về thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất trong giảm nghèo

Để một chính sách được thực thi hiệu quả, người dân ủng hộ, đặc biệt đó

là hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo thì cần đánh giá mức độ phù hợp, hài lòng của người dân về chính sách một cách toàn diện Hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo phù hợp với thực tế, mang lại hiệu quả đối với hộ nông dân cần chú ý đến tất cả các khâu trong qua trình triển khai chính sách triển khai chính sách Từ khâu tuyên truyền chính sách tới người dân, để người dân nắm rõ được chính sách, lấy đó làm căn cứ, là chỗ dựa để hộ nông dân

từ đó mới có cách đánh giá so sánh giữa thực tế và ban hành Đồng thời, nghiên

Trang 22

cứu các khâu như : huy động nguồn lực cho chính sách ; phân công phối hợp thực hiện chính sách; kiểm tra, giám sát, điều chỉnh và tổng kết chính sách để có cách nhìn rõ ràng nhất quá trình triển khai chính sách tại địa phương Nghiên cứu

sẽ tập chung xem xét tình hình chính sách hỗ trợ nông nghiệp cho giảm nghèo của hộ nông dân được thụ hưởng và hộ nông dân không được thụ hưởng để có cái nhìn tổng quát việc thực hiện chính sách cũng như đánh giá của hộ nông dân

về việc thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo Dưới góc độ

là người hưởng lợi trực tiếp của hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo,

hộ nông dân sẽ đánh giá một cách khách quan hiệu quả của việc thực hiện chính sách Nhờ đó, giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện, việc triển khai thực

hiện ngày càng hiệu quả hơn

2.1.4.3 Tác động của hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo đối với

hộ nông dân

Dưới góc độ là người hưởng lợi trực tiếp của hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo, hộ nông dân sẽ đánh giá một cách khách quan tác động của chính sách hỗ trợ nông nghiệp lên hộ của mình Ở phần này, chúng ta chỉ xem xét tác động của chính sách hỗ trợ nông nghiệp trong lĩnh vực mức thay đổi kinh tế của hộ nông dân khi chưa tiếp nhận được chính sách và thay đổi kinh tế

của hộ nông dân khi tiếp nhận được chính sách qua đánh giá của hộ nông dân

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

Ở phần này, nghiên cứu sẽ đi sâu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo Các yếu tố được xết đến ở đây là:

- Dân tộc, thói quen và lối sống

- Trình độ học vấn

- Sự tham gia của người dân

- Năng lực cán bộ địa phương

Việc tìm hiểu các yếu tố trên sẽ giúp cho chính phủ hiểu được các yếu tố bên ngoài cũng như bên trong hộ nông dân ảnh hưởng tới viêc thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo Từ đó có những thay đổi hợp lý trong quá trình triển khai chính sách, làm tăng tính hiệu quả của hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo

Trang 23

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TÌNH HÌNH HỖ TRỢ NÔNG NGHIỆP TRONG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO CỦA HỘ NÔNG DÂN

2.2.1 Thực trạng hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo của hộ nông dân trên thế giới

2.2.1.1 Chính sách nông nghiệp và chương trình ở Nigeria

a) Các chính sách và các chương trình nông nghiệp trong thời kỳ thuộc địa Tiềm năng của nông nghiệp đối với thúc đẩy phát triển kinh tế của Nigeria

đã được công nhận bởi các chính sách được đưa ra để khuyến khích tăng trưởng sản lượng và xuất khẩu mang lại những hiệu quả cao Chính sách chú trọng đến khai thác tài nguyên rừng và xuất khẩu nông nghiệp như ca cao, cà phê, cao su, lạc, dầu cọ…

Những chính sách phát triển nông nghiệp chủ yếu của họ là: chính sách lâm nghiệp, Chính sách Nông nghiệp, chính sách Marketing của dầu, Hạt dầu và bông, chính sách lâm nghiệp cho khu vực phía Tây, Chính sách Tài nguyên và Chính sách Nông nghiệp phía Tây Nigeria Các chính sách tập chung vào các vấn

đề rừng, ít chú trọng đến sản lượng lương thực và động vật Hầu hết các chính sách đã được thực hiện không thích hợp với nội dung và mục tiêu cụ thể của các chương trình, dự án cụ thể, chiến lược được đề ra trước đó của chinh sách

b) Các chính sách và các chương trình nông nghiệp trong thời kỳ sau thuộc địa

- Từ độc lập đến 15 tháng 1 năm 1966

Các chính sách mới đã được xây dựng trong thời kỳ sau độc lập để hiện thực hóa sự tăng trưởng công bằng hơn trong nông nghiệp Các chính sách chuyển sang việc theo đuổi sự tăng trưởng dựa vào xuất khẩu Điều này dẫn đến việc phân chia khu vực nông nghiệp: khu vực Tây trồng ca cao, khu vực phía bắc trồng lạc và khu vực Đông trồng cọ lấy dầu Đây là chiến lược tốt nhất để đạt được tăng trưởng kinh tế Trong chính sách này, người ta hy vọng hàng nhập khẩu sẽ được thay thế bởi hàng sản xuất trong nước, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng

- Thời kỳ quân sự (15/1 /1966 – 29/5/ 1999)

Các chính sách nông nghiệp được ban hành trong khoảng thời gian này là chính sách nông nghiệp cho Nigeria năm 1988, chính sách kiểm soát nhập khẩu

Trang 24

trong nông nghiệp năm 1990 Một số chương trình, dự án được tiến hành trong giai đoạn này bao gồm:

+ Chương trình sản xuất quốc gia tăng tốc sản xuất thực phẩm: mang

về một gia tăng đáng kể trong việc sản xuất ngô, sắn, gạo và lúa mì ở các bang miền bắc thông qua sản xuất vừa đủ sống trong một khoảng thời gian ngắn

+ Các dự án phát triển nông nghiệp: mang lại giải pháp phát triển sản

xuất nông nghiệp nhằm duy trì nguồn cung cấp lương thực trong nước, thông qua

hỗ trợ của quỹ ngân hàng thế giới về cung cấp dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ đầu vào kỹ thuật và cơ sở hạ tầng nông thôn cho nông dân

+ Chương trình chăn nuôi quốc gia: nhằm tăng sản lượng lương thực

trong cả nước thông qua việc người dân tham gia tích cực vào chương trình từ đó người dân có khả năng tự nuôi sống bản thân

+ Nghị định phát triển lưu vực sông: nhằm cung cấp nước sinh hoạt và

thủy lợi cho người dân đồng thời tăng cường tiềm lực kinh tế dựa thủy sản với thủy điện Sau đó đẩy mạnh sản xuất và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

+ Cách mạng Xanh: nhằm tăng sản lượng lương thực đảm bảo an ninh

lương thực, đẩy mạnh sản xuất chăn nuôi và thủy sản để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Đồng thời mở rộng và đa dạng hóa nguồn thu ngoại

tệ của quốc gia thông qua sản xuất và chế biến nông sản xuất khẩu

+ Cơ sở hạ tầng nông thôn: Chương trình được thiết kế để cải thiện chất

lượng cuộc sống và mức sống của người dân nông thôn thông qua việc sử dụng

nhiều tài nguyên ở các khu vực nông thôn có sự tham gia của người dân

+ Chương trình cuộc sống tốt hơn với phụ nữ nông thôn: nhằm khuyến

khích và thúc đẩy phụ nữ nông thôn trong việc cait thiện mức sống của mình

+ Phát triển đất nông nghiệp: nhằm hỗ trợ cho chiến lược phát triển đất

đai, hỗ trợ việc sử dụng đất nông thôn và an ninh lương thực Đồng thời thúc đẩy

cơ hội tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người dân nông thôn

+ Chương trình hỗ trợ gia đình: nhấn mạnh vào các lĩnh vực như y tế,

giáo dục, phụ nữ trong phát triển, nông nghiệp, phúc lợi trẻ em và phát triển thanh niên, khuyết tật, nghèo túng, tạo thu nhập cũng như tạo điều kiện cho việc cung cấp nơi trú ẩn cho những thiệt thòi hơn trong xã hội từ trên đi chương trình nhà ở của Chính phủ

Trang 25

+ Dự án Phát triển thủy lợi quốc gia: mục tiêu chính là tăng thu nhập

bền vững cho người dân thông qua việc mở rộng các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp có giá trị gia tăng đầu ra

Từ năm 1999 Nigeria đã bắt tay vào một chương trình cải cách kinh tế đầy tham vọng là mang lại kết quả ấn tượng Các chương trình của chính phủ trong thời kỳ có liên quan đến nông nghiệp nhấn mạnh xóa đói giảm nghèo Chúng bao gồm: (1) Chiến lược Phát triển Nâng cao năng lực kinh tế quốc gia; (2) Chương trình quốc gia đặc biệt về an ninh lương thực (3) Chương trình mở rộng cây lấy củ

c) Những thiếu sót được xác định

Qua quá trình tìm hiểu về chính sách nông nghiệp và chương trình của Nigenia, ta có thể thấy được những thiếu sót Nigenia gặp phải trong quá trình triển khai các chính sách nông nghiệp và chương trình Đó là những thiếu sót sau:

- Không có sự tương tác giữa các bên liên quan tham gia

- Chính sách nông nghiệp yếu kém: Chính sách nông nghiệp không chỉ cụ thể, riêng biệt mà còn có mối quan hệ với các ngành liên quan

- Xung đột vai trò giữa các chương trình và dự án khác nhau

- Sự không thống nhất, không tương thích của các chính sách, chương trình với các chính sách quốc gia và chương trình khu vực

- Nhấn mạnh chủ yếu vào sản xuất thực phẩm và động vật: Tăng trưởng và phát triển nông nghiệp cần đa dạng hóa sang các lĩnh vực khác nhau như sản xuất

và dịch vụ Dựa hoàn toàn vào sản lượng nông nghiệp như hầu hết các chính sách

và các chương trình nông nghiệp nhấn mạnh phương tiện phải chịu các cư dân của các quốc gia để kinh niên nghèo, ra bên lề và trì trệ

- Sự chậm chễ, tham ô, biển thủ và thiếu vốn để theo đuổi chính sách, chương trình cụ thể

- Thiếu kỹ thuật dịch vụ tư vấn, mở rộng phổ biến đổi mới trong nông nghiêp

- Thiếu giám sát và đánh giá các chương trình / dự án không đầy đủ: tầm quan trọng của giám sát và đánh giá đã không chú trọng trong Nigeria

Trang 26

2.2.1.2 Một số chính sách của Chính phủ Nhật Bản đối với nông nghiệp, nông dân

a) Phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp

Sau chiến tranh, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề, không chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng Do vậy trong điều kiện đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp, Nhật Bản coi phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hoá học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất Đây là một thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông nghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh Sản xuất tiếp tục phát triển và tới 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30% Sản xuất nâng cao là điều kiện thuận lợi để Nhật Bản thực hiện Chương trình hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp

Để phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và của chính quyền các địa phương Nhờ vậy, việc phát triển và mở rộng việc áp dụng các nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường hiệu quả sản xuất nông nghiệp song song với những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực phát triển cơ giới hoá, đầu tư và hoàn thiện những cơ sở hạ tầng

b) Cải cách ruộng đất

Nhật Bản thực hiện cải cách ruộng đất triệt để Mọi nông dân đều được chia ruộng đất, nhưng đa phần họ sở hữu ít ruộng, thửa nhỏ Hoạt động sản xuất khá manh mún, dựa vào sức lao động là chính, khó áp dụng máy móc, khoa học

kỹ thuật

Chính phủ Nhật Bản tạo điều kiện để nông dân sản xuất giỏi có thể tích luỹ ruộng đất, phát triển quy mô sản xuất, trở thành nông dân chuyên nghiệp sản xuất hàng hoá lớn Thông qua tổ chức hợp tác, trang bị cho họ kỹ năng sản xuất, quản lý nông hộ, năng lực tiếp thu khoa học - công nghệ và nắm bắt các yêu cầu của thị trường

Trang 27

c) Phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản

Chính sách nông nghiệp của Nhật Bản đã nhấn mạnh tới việc chuyển từ chỗ tăng sản lượng lương thực một cách đơn thuần sang phát triển nông nghiệp trên cơ sở tăng hiệu quả kinh tế Bước ngoặt của chính sách nông nghiệp thực sự bắt đầu khi Luật Nông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm 1961, với hai phương hướng chính sách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất những nông phẩm có sức tiêu thụ kém Hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, kể

cả việc phát triển những nông hộ và hợp tác xã có năng lực về quản lý kinh doanh và canh tác Chính sách giá cả được xem là quan trọng nhưng Nhật Bản còn ngần ngại khi thực hiện nâng giá, lý do đơn giản là sợ làm tăng nhanh nguồn thu nhập của nông dân

Trong những năm 1960 và 1970, khẩu phần ăn của người dân có sự thay đổi tạo điều kiện cho chính sách sản xuất có chọn lọc được áp dụng cho chăn nuôi và cây ăn quả Từ đó làm thay đổi cơ cấu lao động, lao động trong nông nghiệp giảm xuống khoảng 50%, song năng suất lao động lại tăng bình quân Đồng thời điều đó làm cho nghành thực phẩm chế biến ngày càng chiếm vị trí quan trọng Các chính sách về mua bán và chế biến nông phẩm như: hoàn thiện

và củng cố mạng lưới bán buôn từ cấp trung ương tới địa phương; tổ chức hệ thống tín dụng cho những người tham gia dịch vụ mua bán; hướng dẫn kỹ thuật

và quản lý cho những người quản lý các xí nghiệp nhỏ; bảo hộ cho người tiêu dùng cũng được thực hiện

d) Phát triển các HTX và các tổ chức kinh tế HTX dịch vụ

Tầng lớp nông dân nhỏ ở Nhật Bản cạnh tranh thành công trên thị trường

là nhờ kinh tế hợp tác rất phát triển Hiện các hợp tác xã nông nghiệp ở Nhật Bản

có vai trò lớn, thu hút và hỗ trợ hiệu quả hơn 3 triệu hộ nông dân Gần như 100% nông dân ở Nhật Bản là hội viên nông hội và xã viên hợp tác xã Hệ thống hợp tác xã và nông hội được tổ chức theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng

Trang 28

du lịch và đặc biệt là thương mại Các tổ tư vấn nông nghiệp trong mỗi hợp tác

xã làm cầu nối với các cơ quan nông nghiệp, các trạm nghiên cứu, cán bộ thú y

và các nhóm nghiên cứu khoa học khác Năm 1997, Nhật Bản có khoảng 16.869

tổ tư vấn nông nghiệp trong các hợp tác xã Đây cũng là thị trường lớn thu hút cán bộ kỹ thuật, kỹ sư về công tác ở nông thôn

e) Chính sách hỗ trợ nông nghiệp

Nhật Bản coi an ninh lương thực là mục tiêu số một, nên ngành nông nghiệp được bảo hộ rất cao; và được khuyến khích theo kiểu tự cung tự cấp thông qua việc hạn chế nhập khẩu một cách tối đa Điều đó dẫn tới mức giá nông phẩm cao và khuyến khích sản xuất trong nước Nhà nước can dự rất sâu trong kiểm soát việc cung cấp và ấn định các mức giá cho một số loại hàng hoá nông phẩm ở thị trường nội địa

Chính sách hỗ trợ nông nghiệp kéo dài của Nhật Bản đang làm tổn thương tới những điều mà nó cố tình bảo vệ, đặc biệt đối với những ai có mức thu nhập thấp Điều này làm giảm sức mua của người tiêu dùng, do đó làm tổn thương tới các nhà cung cấp khác, tạo ra các ảnh hưởng kinh tế mang tính dây chuyền, khả năng đảm bảo an ninh lương thực của Nhật Bản bị giảm sút Nhật Bản đang phải đối mặt với những phản ứng của các đối tác thương mại trên các diễn đàn song phương và đa phương về “sức ỳ” quá lớn của Nhật Bản đối với tiến trình tự do hoá trong lĩnh vực nông nghiệp Trước tình hình trên, Nhật Bản đã đưa ra “Luật

cơ bản mới về lương thực, nông nghiệp và khu vực nông thôn” với hứa hẹn có những cuộc cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp Song thực tế, cải cách nông nghiệp diễn ra hết sức chậm chạp Đến nay, Nhật Bản vẫn duy trì mức thuế cao đối với các mặt hàng như gạo, lúa mỳ và các sản phẩm từ sữa

f) Chính sách phát triển nông thôn

Chính sách “ly nông bất ly hương”: Hai nhóm chính sách chính là: phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp lớn về nông thôn để tạo sự gắn

bó hài hoà phát triển nông thôn với phát triển công nghiệp, xoá bỏ khoảng cách

về mức sống giữa đô thị và nông thôn

Ở Nhật Bản, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến nông sản mà cả các ngành cơ khí, hoá chất đều được phân bố trên toàn quốc Nhờ chủ trương này

mà công nghiệp sử dụng được một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có điều kiện cải thiện thu nhập

Trang 29

Nhờ chính sách đưa công nghiệp về nông thôn, ngày nay ở Nhật Bản hầu như không còn vùng nông thôn thuần tuý, kể cả vùng núi, vùng xa Ranh giới giữa nông thôn và thành thị thật khó phân biệt cả về kinh tế, xã hội và đời sống Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã cơ bản hoàn thành

Hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng trên nền tảng làng xã nông thôn Nhật Bản, từ đó tạo quan hệ cộng đồng mới vững chắc được bắt nguồn từ bên trong cộng đồng làng xã Do vậy, hợp tác xã cũng rất chú trọng đến các hoạt động mang tính cộng đồng để làm cho cuộc sống ở nông thôn tốt đẹp hơn

2.2.2 Thực trạng đánh giá thực hiện hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo của hộ nông dân ở Việt Nam

2.2.2.1 Một số hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo cho hộ nông dân

Chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta là kết quả của quá trình xây dựng trên quan điểm đổi mới trong một thời gian dài Khởi điểm của quá trình đổi mới đó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 về giao quyền tự chủ cho hộ nông dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) tháng 11-1988 về giao đất cho hộ nông dân

Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp lý xác định chế độ, chính sách đối với đất nông nghiệp, trong

đó nổi bật là Luật Đất đai sửa đổi năm 2003, Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp) Nội dung cơ bản của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước Việt Nam hiện nay thể hiện qua chế độ sở hữu đất nông nghiệp, chính sách giá đất của Nhà nước, chính sách tích tụ và tập trung đất nông nghiệp, chính sách thuế đất nông nghiệp và chính sách bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp

Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 của Quốc hội về miễn, giảm thuế

sử dụng đất nông nghiệp

Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Theo đó có 7 lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với nội dung nhấn mạnh về vay không tài sản bảo đảm đến 3

tỷ đồng Lãi suất và thời gian cho vay được nghị định nêu rõ

Trang 30

Quyết định Số: 107/2008/QĐ-TTg Về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn đến năm 2015

Luật Hợp tác xã năm 2012 ra đời nhằm khuyến khích và phát triển mô hình hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đòi hỏi cần thiết có chính sách ưu đãi hơn về nguồn vốn tín dụng để phục vụ phát triển các loại hình kinh tế này

Nhóm chính sách hỗ trợ đối tượng ứng dụng tiến bộ kĩ thuật hiện đang phát huy tác dụng nhiều nhất trong việc giúp đưa các tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp Trước hết việc đổi mới quản lý sử dụng đất nông nghiệp đã tạo điều kiện tốt hơn cho nông dân trong ứng dụng tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ về đào tạo, tập huấn, xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp đã góp phần quan trọng để nâng cao kiến thức kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp cho nông dân Về vốn, Nhà nước cũng liên tục

có những chính sách đổi mới về tín dụng để phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp cũng như xóa đói giảm nghèo cho các hộ nông dân nghèo, đồng thời chỉ đạo hệ thống ngân hàng tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận được nguồn vốn tín dụng dễ dàng hơn Về thị trường, Chính phủ ban hành các chính sách về mua bán sản phẩm thông qua hợp đồng, khuyến khích phát triển hệ thống bảo quản và chế biến sản phẩm nông nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông và thông tin, để tăng giao lưu trong mua bán sản phẩm và vật tư nông nghiệp

2.2.2.2 Thực trạng hỗ trợ nông nghiệp trong chính sách giảm nghèo tại Việt Nam

a) Thực trạng chính sách đất nông nghiệp

- Chế độ sở hữu đất nông nghiệp

Chế độ sở hữu đất nông nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành hai quyền: quyền sở hữu và quyền sử dụng Hai quyền ấy được phân cho hai chủ thể khác nhau là Nhà nước (đại diện cho chủ sở hữu toàn dân) và người sử dụng, chủ yếu là nông dân

Chế độ sở hữu đất đai đặc biệt của Việt Nam đã đưa đến một số hệ quả: Ở Việt Nam đã hình thành hai thị trường đất đai: thị trường cấp I là thị trường giao dịch giữa Nhà nước và người sử dụng đất Thị trường cấp II là thị trường giao dịch giữa những người sử dụng đất nông nghiệp với nhau Thị trường cấp I được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ còn thị trường cấp II Nhà nước chỉ đứng ra cung cấp các dịch vụ pháp lý cần thiết cho giao dịch

Trang 31

và thu thuế Trong thực tế, thị trường cấp II chưa được tổ chức quy củ và chưa có dịch vụ thích ứng nên hạn chế khả năng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân

Người nông dân ở vào vị thế yếu trong giao dịch đất nông nghiệp, thể hiện qua các khía cạnh: Người nông dân chỉ được sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp.Nhà nước toàn quyền quy hoạch và thu hồi đất nông nghiệp mà nông dân không có quyền thỏa thuận phản đối giá đất bị thu hồi để đảm bảo quyền lợi của mình

Thời hạn giao đất nông nghiệp cho nông dân theo quy định của pháp luật hiện hành là quá ngắn (50 năm với đất trồng cây lâu năm, 20 năm với đất còn lại)

so với thời hạn giao đất phi nông nghiệp Hạn mức diện tích đất giao khá thấp

- Chính sách giá đất nông nghiệp

Chính sách giá đất nông nghiệp được quy định có hai phương pháp xác định giá đất: theo giá thị trường và theo thu nhập từ đất Quyền xác định giá đất được phân cấp rộng rãi cho chính quyền cấp tỉnh Chế độ điều chỉnh giá cũng linh hoạt hơn trước và bám sát giá thị trường

Với việc chính thức công nhận giá đất thị trường và điều chỉnh giá nhà nước theo giá thị trường, Nhà nước Việt Nam đã gián tiếp thừa nhận quyền sử dụng đất có giá cả, tồn tại thị trường quyền sử dụng đất và là một trong những cơ

sở để Nhà nước xác định giá giao dịch đất giữa Nhà nước và người dân

Do thị trường đất nông nghiệp hoạt động rất lẻo lẻo và chưa được tổ chức nên hầu như không thể thu thập được thông tin tin cậy về giá Do không có thông tin giá thị trường thuyết phục nên các tổ chức định giá đất thường lấy giá quy định từ đầu năm của chính quyền cấp tỉnh Giá đất này cũng được xác định một cách chủ quan nên chưa được người dân tin cậy Cách làm này dẫn đến hệ lụy:khuyến khích nông dân chây ì, người nông dân luôn ở trạng thái bất bình do nhận thức mình bị thiệt thòi

Để khắc phục khó khăn, nhiều địa phương đã tiến hành các biện pháp nửa vời, dự án thuận lợi thì đền bù theo giá nhà nước, dự án khó khăn thì để nhà đầu

tư phụ thêm tiền đền bù theo giá thỏa thuận với nông dân Thậm chí, để giải phóng mặt bằng nhanh, nhiều nhà đầu tư chấp nhận trả thêm tiền cho các hộ chây

ì Cách làm như vậy đã gây tác động không tốt cho các hộ đã di dời

Trang 32

- Chính sách khuyến khích tích tụ và tập trung đất

Nhà nước giao đất cho hộ theo chế độ bình quân cả về diện tích lẫn hạng đất

Hệ quả là đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình nông dân rất manh mún

Để khuyến khích nông dân tập trung đất nông nghiệp phục vụ sản xuất quy mô lớn, Nhà nước sau đó có chính sách khuyến khích nông dân “dồn điền, đổi thửa”, chuyển đổi, chuyển nhượng đất cho nhau Phong trào “dồn điền, đổi thửa” được chính quyền hưởng ứng, nhưng kết quả đạt được không mấy khả quan Số thửa ruộng của một hộ có giảm đi, nhưng quy mô đất canh tác của một

hộ nông dân tăng không đáng kể do các hộ nông dân không muốn nhượng quyền

sử dụng đất nông nghiệp cho người khác vì nhiều lý do

Các chính sách khuyến khích sử dụng đất tập trung ở quy mô lớn, như hình thành các nông, lâm trường, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cũng tỏ ra không hiệu quả Thậm chí các nông, lâm trường buộc phải giao đất cho hộ công nhân nông, lâm trường để họ canh tác theo phương thức gia đình Mặc dù quá trình giao đất nông, lâm trường cho hộ nông, lâm trường viên có tạo được động lực sử dụng đất hiệu quả hơn, sản xuất phát triển hơn, nhưng gây khó khăn cho việc quản lý đất công thuộc quyền sử dụng của nông, lâm trường, trong một số trường hợp còn gây

ra sự bất bình đẳng về quy mô đất được giao giữa gia đình nông, lâm trường viên

và gia đình nông dân canh tác ở cùng một khu vực Một số hộ nông dân thậm chí

lấn chiếm đất nông, lâm trường để sử dụng một cách bất hợp pháp

- Chính sách thu hồi và đền bù đất nông nghiệp

Từ thập niên 90 của thế kỷ thứ XX đến nay, Nhà nước tiến hành thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị tập trung Chính vì thế, chính sách thu hồi, đền bù đất nông nghiệp tác động lớn đến nông dân

Nhà nước có quyền thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở của nông dân để sử dụng cho các mục đích công cộng hoặc phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Với quyền hạn như vậy, chính quyền một số địa phương đã thu hồi đất nông nghiệp một cách thiếu thận trọng và ở quy mô lớn, khiến diện tích đất của nông dân nhiều vùng giảm nhanh

Trang 33

- Chính sách thuế đất nông nghiệp

Nhà nước thu từ nông dân sử dụng đất nông nghiệp các khoản: tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và một số lệ phí quản lý đất đai Nhìn chung, tổng thuế sử dụng đất nông nghiệp không lớn

Tiền thuê đất chỉ áp dụng đối với diện tích đất vượt hạn điền hoặc đất đấu thầu Các khoản lệ phí về đất không lớn, thường là phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phí trích lục bản đồ, phí đăng ký đất

Xét tổng thể, chính sách thuế đất nông nghiệp của Việt Nam được giảm nhẹ ở nhiều khâu, kể cả việc Nhà nước không thu thuế chuyển nhượng đất nông nghiệp giữa những người nông dân với nhau nhằm khuyến khích tập trung đất và chưa thu thuế giá trị gia tăng từ đất

b) Thực trạng chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn được triển khai trong những năm qua đã tạo điều kiện cho người dân vay vốn tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, qua thực tiễn chính sách tín dụng không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương Người dân ở thị trấn, các phường thuộc thị xã, thành phố có nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp nhưng lại không được tiếp cận chính sách Mức cho vay không có tài sản bảo đảm cao nhất cũng chỉ 500 triệu đồng nên không còn phù hợp với quy

mô và chi phí cho sản xuất nông nghiệp hiện nay

Trước thực trạng này, Chính phủ ban hành Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” phát triển của ngành Nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn, ứng dụng công nghệ cao và liên kết theo chuỗi giá trị của sản phẩm Trong đó, chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng Chính phủ ban hành chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thay thế nhằm đảm bảo thống nhất giữa các chính sách, phù hợp với các yêu cầu thực tiễn

và hỗ trợ hiệu quả cho phát triển nông nghiệp, nông thôn

2.2.3 Bài học kinh nghiệm từ những nguyên cứu có liên quan

Bài học thứ nhất: Tăng cường đầu tư và tích cực chuyển giao công nghệ,

đào tạo và dạy nghề cho nông dân nhằm phát huy tài nguyên con người và áp dụng khoa học - công nghệ có hiệu quả

Trang 34

Bài học thứ hai: Nhà nước cần hỗ trợ mạnh cho các hợp tác xã, hội nông

dân để giúp các tổ chức này hoạt động tốt trong vai trò cung ứng vật tư nông nghiệp thiết yếu, đào tạo, dạy nghề, cung cấp thông tin, hỗ trợ kinh phí, điều kiện sinh hoạt, buôn bán xuất khẩu nông sản, bảo vệ lợi ích của người nông dân

Bài học thứ ba: Đổi mới chính sách đất nông nghiệp theo hướng tăng quy

mô đất canh tác của hộ gia đình và hạn điền, tăng vị thế của nông dân trong giao dịch đất Thay đổi chính sách giá quyền sử dụng đất nông nghiệp theo hướng coi trọng hơn lợi ích của người dân thuộc diện thu hồi đất, tạo điều kiện để nông dân tham gia thỏa thuận giá đất đền bù Cần có chính sách bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, hạn chế chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng đô thị, nhà ở, công sở

Bài học thứ tư: Cải cách thủ tục hành chính quản lý đất nhằm kích hoạt thị

trường đất nông nghiệp Công khai hóa và tinh giản thủ tục quản lý đất để quyền sử dụng đất nông nghiệp và khuyến khích phát triển thị trường chuyển nhượng, cho thuê đất nông nghiệp theo hướng công khai, minh bạch, được Nhà nước bảo hộ

Bài học thứ năm: Thực hiện liên kết nông nghiệp, nông thôn với công

nghiệp và đô thị nhằm thu hẹp khoảng cách giữa đô thị và nông thôn theo hướng đưa công nghiệp, kể cả công nghiệp nặng về phân tán ở nông thôn

Bài học thứ sáu: Tạo sự liên kết, thống nhất có mối liên hệ giữa các nghành

, chính sách có liên quan với nhau Hạn chế và khắc phục những xung đột, không tương thích các chính sách, chương trình trong phát triển vùng, quốc gia

Bài học thứ bảy: Cải thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp, cải tiến, đơn

giản hóa các thủ tục vay vốn Giảm các khâu trung gian không cần thiết để vốn đến tay người nông dân với thời gian sớm nhất phục vụ nông nghiệp thoát nghèo

Trang 35

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Sơn Dương là một huyện miền núi nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm thành phố Tuyên Quang 30 km về phía Đông Nam Tổng diện tích tự nhiên của huyện theo số liệu điều chỉnh kết quả thống kê đất đai năm

2013 là 78.783,51 ha, chiếm 13,43% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh, bao gồm 33 đơn vị hành chính cấp xã (01 thị trấn và 32 xã) Trên địa bàn huyện có tuyến Quốc lộ 37, Quốc lộ 2C chạy qua (tuyến giao thông chính nối huyện Sơn Dương với tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ) tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm tiếp theo Huyện Sơn Dương có vị trí địa giới hành chính như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;

- Phía Đông giáp huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;

- Phía Nam giáp huyện Lập Thạch và huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc;

- Phía Tây giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

3.1.1.2 Khí hậu, thời tiết

Trang 36

- Mưa: Lượng mưa trung bình năm từ 1.500 - 1.800 mm, số ngày mưa

trung bình 150 ngày/năm Mùa mưa trùng với thời gian mùa hè Trong tháng 7, tháng 8 có lượng mưa lớn nhất đạt trên 320 mm/tháng Tháng 01 và tháng 12 có lượng mưa trung bình thấp nhất, khoảng 16 - 25 mm/tháng

- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình khoảng 1.500 giờ/năm Trong năm,

từ tháng 5 đến tháng 9 là thời gian nhiều nắng, trung bình khoảng 170 - 190 giờ/tháng; từ tháng 1 đến tháng 3 nắng ít, trung bình khoảng 50 - 70 giờ/ tháng

- Gió: Là yếu tố phụ thuộc vào địa hình của từng địa phương Trong các

thung lũng, hướng gió thường trùng với hướng thung lũng, ở những nơi thoáng, hướng gió thịnh hành phù hợp với hướng gió chung trong mùa Mùa đông là hướng Đông Bắc hay Bắc, mùa hạ là hướng Đông Nam hay Nam, tốc độ gió trung bình chỉ đạt 1m/s

- Độ ẩm không khí: Không có sự khác biệt rỗ rệt theo mùa Trong năm độ

ẩm dao động khoảng 85 - 87%

- Các hiện tượng thời tiết khác:

+ Giông: Trung bình hàng năm có khoảng 25 - 30 ngày có giông Tốc độ

gió thường xảy ra trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 8 trong năm, trong giông tốc độ gió có thể đạt 27 - 28 m/s

+ Mưa phùn: Hàng năm có khoảng 30 -35 ngày có mưa phùn, mưa phùn

xuất hiện trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

+ Sương mù: Hàng năm trung bình có khoảng 25- 55 ngày có sương mù

thường xảy ra vào đầu mùa đông

+ Sương muối, mưa đá: Rất hiếm khi xảy ra

Tóm lại, với tổng số giờ nắng lớn, lượng mưa tương đối dồi dào, chế độ nhiệt phong phú, huyện Sơn Dương có thể phát triển hệ thực vật tự nhiên và cơ cấu cây trồng đa dạng từ ôn đới đến nhiệt đới Tuy nhiên các hiện tượng thời tiết đặc biệt có một số tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp nhưng mức độ

không lớn

b) Thủy văn

Sơn Dương có hệ thống sông suối dày đặc, phân bố tương đối đồng đều giữa các tiểu vùng Có 2 con sông lớn là sông Lô và sông Phó Đáy

Trang 37

- Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc chảy qua tỉnh Hà Giang xuống Tuyên Quang và đi vào địa phận huyện Sơn Dương với diện tích lưu vực gần 2.000 km2, lưu lượng nước lớn nhất là 11.700 m3/s, lưu lượng nước nhỏ nhất là 128 m3/s Sông Lô có khả năng vận tải tốt cho các phương tiện vận tải hàng chục tấn Đây là đường thuỷ quan trọng nhất nối huyện với các tỉnh lân cận

- Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng núi Tam Tạo (Chợ Đồn - Bắc Kạn) với diện tích lưu vực khoảng 640 Km2 Sông Phó Đáy có lòng sông hẹp, nông, khả năng vận tải thuỷ rất hạn chế

Ngoài hai sông lớn trên, huyện Sơn Dương còn có nhiều con suối nhỏ khác liên kết với nhau tạo thành mạng lưới theo lưu vực các sông chính

Hệ thống sông ngòi huyện Sơn Dương là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân nhân trên địa bàn huyện, đồng thời chứa đựng tiềm năng phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ Song do độ dốc lớn, lòng sông hẹp, nên cũng thường gây nguy hiểm và gây lũ lụt ở nhiều vùng thấp vào mùa mưa

Ngoài ra do có địa hình đồi núi và dãy núi Tam Đảo nên hệ thống sông, suối nhỏ, khe, lạch trên địa bàn huyện tạo nguồn nước phong phú, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn Hệ thống kênh mương, được bố trí khá hợp lý, đảm bảo việc cung cấp nước và tưới tiêu thuận lợi Đây là điều kiện thuận lợi cho mục đích phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất cây trồng và hệ số sử dụng đất

Tóm lại, với điều kiện khí hậu thủy văn thuận lợi, huyện Sơn Dương có thể phát triển một hệ thực vật tự nhiên và cơ cấu cây trồng đa dạng, đặc biệt đối với cây chè là cây công nghiệp lâu năm, ưa điều kiện đồi núi, nhiệt độ ôn đói và nhiệt đới trên địa bàn huyện

c) Địa hình

Địa hình của huyện bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và các thung lũng sâu tạo thành các kiểu địa hình khác nhau Địa hình cơ bản được phân loại như sau:

- Vùng 01: Cụm địa hình dọc theo dải núi Tam Đảo, chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, song song với hướng gió mùa Đông Nam Địa hình khu vực này chủ yếu là đồi núi cao

Trang 38

- Vùng 02: Nằm dọc theo dải sông Phó Đáy, địa hình chủ yếu là đồi núi thấp và những dải đất bằng phù xa năm dọc hai bên sông

- Vùng 03: Nằm dọc theo dải sông Lô, địa hình chủ yếu là đồi núi cao, xen

kẽ với những đồi bát úp ở các xã thuộc vùng hạ huyện Sơn Dương

Với địa hình chủ yếu là đồi núi cao, thung lũng bao gồm các nhánh sông nhỏ thuận tiện cho việc phát triển các loại hình cây công nghiệp dài ngày, cây chè chiếm chủ đạo được người dân trồng trên địa bàn huyện

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

3.1.2.1 Điều kiện đất đai và cơ cấu sử dụng đất của huyện

Tổng diện tích đất tự nhiên 78.783,51 ha tính đến thời điểm 31/12/2014 Trong đó đất nông nghiệp là 67.918,76 ha chiếm 86,21% quỹ đất, đất phi nông nghiệp là 8.426,57 ha chiếm 10,7% và đất chưa sử dụng là 2.438,18 ha chiếm 39% trong quỹ đất tự nhiên Điều này cho thấy quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn vẫn lớn nhất trong tổng quỹ đất tự nhiên, thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng hàng năm như lúa, ngô, khoai, sắn, đậu tương cây dài ngày như nhãn, vải, các cây ăn quả khác, đặc biệt là cây công nghiệp như: cây mía, cây chè phù hợp với địa hình của huyện

Qua ba năm huyện Sơn Dương có diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm dần từ 42.995,90 ha năm 2012 xuống 42.989 ha năm 2013, tới năm 2014 diện tích giảm còn 40.898,10 ha đạt tốc độ phát triển bình quân 97,53% giảm 2,47%

so với diện tích đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác Nguyên nhân chính là do Nhà nước thu hồi diện tích đất nông nghiệp để phục vụ cho xây dựng các công trình, đường, cơ sở hạ tầng đảm bảo cho việc xây dựng nông thôn mới và các chương trình, dự án khác Bên cạnh đó, nhiều loại cây trồng không cho năng suất cao, không mang lại hiệu quả kinh tế trong quá trình phục vụ đời sống nhân dân, mặc dù đã áp dụng các giống mới trong quá trình sản xuất, xong năng suất vẫn giảm đi Vì vậy người dân đã chủ động thay thế diện tích những cây trồng không đem lại hiệu quả kinh tế cao bằng các cây trồng hợp

lý cho năng suất cao hơn và hiệu quả hơn, điển hình là diện tích cây ăn quả giảm qua ba năm từ 1379 ha năm 2012 xuống còn 905 ha vào năm 2014, tốc độ phát triển bình quân giảm 18,99%, cây chè năm 2012 tăng từ 1506 ha chiếm 52,20% trong diện tích đất cây lâu năm lên 1.519 ha chiếm 62,76% năm 2014, tốc độc bình quân là 100,43% tăng 0,43% trong vòng ba năm trở lại đây

Trang 39

Bảng 3.1.Tình hình đất đai và cơ cấu sử dụng đất huyện Sơn Dương Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 So sánh (%)

SL (ha) CC (%) SL (ha) CC (%) SL (ha) CC (%) 13/12 14/13 BQ

Trang 40

Diện tích đất khác cũng có xu hướng tăng qua các năm, đặc biệt hơn là diện tích nuôi trồng thủy sản tăng mạnh qua 3 năm là 22,97% do việc người dân tập trung cho việc phát triển các ao cá, xây dựng các mô hình vừa ao chuồng trên địa bàn, nuôi nhiều loại các khác nhau đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân, dẫn tới diện tích nuôi trồng thủy sản tăng nhiều nhất trong 3 năm qua Ngoài ra diện tích đất phi nông nghiệp tăng bình quân 2,14% qua 3 năm, diện tích đất chưa sử dụng cũng tăng 12,83% trong vòng 3 năm, nguyên nhân chính là do hiệu quả sử dụng đất các năm trước chưa hiệu quả, người dân tạm dừng sử dụng một thời gian dài dẫn tới diện tích đất chưa sử dụng tăng

lên chỉ trong vòng 3 năm

3.1.2.2 Tình hình dân số và lao động

Theo số liệu niên giám thống kê huyện Sơn Dương thống kê về biến động dân số, lao động trong ba năm qua cho thấy: Dân số của huyện năm

2014 là 176.283 người, lao động là 109.725 người (chiếm 62,24% trong tổng

số nhân khẩu của toàn huyện), tốc độ tăng dân số qua các năm bình quân là 0,87% Trong tổng lực lượng lao động (năm 2014) thì lao động nông nghiệp chiếm 100.080 người (chiếm 91,21% tổng lực lượng lao động) và chủ yếu là lao động trẻ, và có nhận thức, hiểu biết về sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên bên cạnh vẫn còn khá nhiều nông dân có trình độ hiểu biết, nhận thức thấp về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là đối với đối tượng là các đồng bào dân tộc thiểu

số ở vùng sâu, xa của huyện

Nhìn vào bảng ta thấy lao động phi nông nghiệp tăng mạnh qua ba năm từ 4.085 lao động năm 2012 lên 9.645 lao động năm 2014, tốc độ tăng bình quân 53,66% do vài năm trở lại đây trên địa bàn huyện xây dựng các nhà máy công nghiệp, các lao động đã tập trung làm việc trong các nhà máy, chính điều này làm cho số lượng lao động phi nông nghiệp tăng nhanh hơn so với lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện

Vấn đề đặt ra là khai thác, sử dụng và nâng cao trình độ nhận thức về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất trồng chè nói riêng một cách ổn định và bền vững là rất quan trọng và cần quan tâm giải quyết

Ngày đăng: 30/05/2017, 23:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w