1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu thực thi chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh

123 538 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thực thi chính sách bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh" và từ đó đề xuấ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN HỒNG THÁI

NGHIÊN CỨU THỰC THI CHÍNH SÁCH

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phượng Lê

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Thái

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Phượng Lê đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và chính sách, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của Sở Tài nguyên & Môi trường, Ban quản lý KCN, Phòng Tài nguyên & môi trường thành phố Bắc Ninh và huyện Yên Phong, UBND xã Nam Sơn – TP Bắc Ninh, UBND xã Yên Trung – H Yên Phong đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Thái

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục sơ đồ ix

Danh mục hộp x

Trích yếu luận văn xi

Thesis abstract xiii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Một số khái niệm liên quan 5

2.1.2 Các công cụ quản lý môi trường 7

2.1.3 Đặc điểm của thực hiện chính sách bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 9

2.1.4 Vai trò của thực thi chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp trong khu công nghiệp 11

2.1.5 Nội dung nghiên cứu về thực thi chính sách bảo vệ môi trường 13

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 23

2.2 Cơ sở thực tiễn 27

2.2.1 Kinh nghiệm thực thi chính sách bảo vệ môi trường của một số nước trên thế giới 27

Trang 5

2.2.2 Kinh nghiệm thực thi chính sách bảo vệ môi trường tại một số địa

phương ở Việt Nam 34

2.2.3 Một số nghiên cứu có liên quan 37

2.2.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở lý luận và thực tiễn trong thực thi chính sách bảo vệ môi trường 39

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 41

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 41

3.1.1 Địa lý tự nhiên – tài nguyên môi trường 41

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 44

3.2 Phương pháp nghiên cứu 49

3.2.1 Phương pháp chọn điểm 49

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 49

3.2.3 Phương pháp tổng hợp xử lý thông tin và số liệu 50

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 50

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu dùng nghiên cứu đề tài 51

Phần 4 Kết quả và thảo luận 52

4.1 Tình hình thực thi chính sách bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp tỉnh bắc ninh 52

4.1.1 Khái quát một số chính sách về bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp 52

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực thi chính sách bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp của tỉnh bắc ninh 80

4.2.1 Nguồn lực của cơ quan thực thi chính sách 80

4.2.2 Nhận thức của doanh nghiệp 85

4.2.3 Khả năng phối kết hợp giữa các đơn vị 86

4.3 Một số giải pháp về thực thi chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp trong khu công nghiệp của tỉnh bắc ninh 87

4.3.1 Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường 87

4.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác thanh tra về môi trường ở các khu công nghiệp 90

4.3.3 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục 91

4.3.4 Giải pháp nâng cao nhận thức của các chủ thể thực hiện pháp luật về vai trò, tầm quan trọng và nội dung của pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp 92

Trang 6

4.3.5 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật trong

việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp 93

4.3.6 Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, áp dụng giải pháp kỹ thuật, công nghệ 95

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 97

5.1 Kết luận 97

5.2 Kiến nghị 99

Tài liệu tham khảo 101

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT-BTNMT Thông tư Bộ Tài nguyên môi trường

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Bắc Ninh từ năm 2013-2015 43

Bảng 3.2 Dân số tỉnh Bắc Ninh giaiđoạn 2013 – 2015 44

Bảng 3.3 Lao động đang làm việc theo khu vực kinh tế của Bắc Ninh giai đoạn 2013 – 2015 45

Bảng 3.4 Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2013 - 2015 46

Bảng 3.5 Kết quả sản xuất kinh doanh tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013 – 2015 47

Bảng 3.6 Phân loại mẫu điều tra doanh nghiệp trong khu công nghiệp 50

Bảng 4.1 Số lượng văn bản quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực liên quan đến chính sách bảo vệ môi trường 52

Bảng 4.2 Các tiêu chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 53

Bảng 4.3 Đánh giá của cán bộ các cấp về mức độ khẩn trương trong công tác triển khai chính sách bảo vệ môi trường 55

Bảng 4.4 Lưu lượng xả thải của các doanh nghiệp trongkhu công nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 63

Bảng 4.5 Tình hình xử lý nước thải của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp được điều tra 64

Bảng 4.6 Tình hình thu nộp phí nước thải của các doanh nghiệp được điều tra 65

Bảng 4.7 Ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp về quản lý nước thải 66

Bảng 4.8 Đăng ký quản lý chủ nguồn chất thải nguy hại của các doanh nghiệp tại Khu công nghiệp được điều tra 70

Bảng 4.9 Ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp 71

Bảng 4.10 Bảng phân loại nguồn xả khí thải của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp được điều tra 72

Bảng 4.11 Kiểm soát khí thải trong nhà máy của doanh nghiệp được điều tra 73

Bảng 4.12 Tuyên truyền, tập huấn các nội dung nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp 75

Bảng 4.13 Đánh giá của doanh nghiệp về công tác tuyên truyền 76

Bảng 4.14 Công tác thanh tra môi trường tỉnh Bắc Ninh qua các năm 78

Bảng 4.15 Tình hình xử lý vi phạm về quản lý nước thải của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh 79

Trang 9

Bảng 4.16 Trang thiết bị phục vụ việc lấy mẫu và phân tích môi trường nước

của Trung tâm Quan trắc tài nguyên môi trường tỉnh 81 Bảng 4.17 Tổng hợp trình độ chuyên môn của các cán bộ tham gia thanh tra

môi trường khu công nghiệp 83 Bảng 4.18 Số cán bộ thanh tra có chuyên ngành về quản lý BVMT các cấp 84

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp Amata 35

Sơ đồ 4.1 Sơ đồ tổ chức các cơ quan quản lý môi trường tỉnh Bắc Ninh 54

Sơ đồ 4.2 Phân công phối hợp trong quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường

tỉnh Bắc Ninh 57

Sơ đồ 4.3 Công tác thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt, chất thải không

nguy hại của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp 68

Trang 11

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1 Tham gia đoàn thanh tra nhưng chuyên môn về quản lý BVMT

chưa nhiều… 85 Hộp 4.2 Tỉnh cần bổ sung trạm quan trắc tại các khu công nghiệp 85

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở nước ta hiện nay, chủ yếu là do sự ô nhiễm từ môi trường nước, không khí và từ chất thải rắn là chủ yếu Ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ KCN trong những năm gần đây là rất lớn, tốc độ gia tăng này cao hơn rất nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực khác Ô nhiễm môi trường, không khí thường chủ yếu tập trung tại các KCN cũ, do các KCN này đang sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường Tuy nhiên, lượng CTR đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN Sự gia tăng phát thải trên đơn vị diện tích đã phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất công nghiệp, xuất hiện các ngành có mức phát thải cao và quy mô ngày càng lớn tại các khu công nghiệp Từ những vấn đề trên tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thực thi chính sách bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh" và từ đó đề xuất các giải

pháp nhằm tăng cường công tác quản lý về thực thi chính sách bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp Để thực hiện đề tài tôi tiến hành lập phiếu câu hỏi và điều tra, phỏng vấn, thảo luận nhóm các cán bộ quản lý, cán bộ thanh tra, chủ doanh nghiệp liên quan đến bảo vệ môi trường khu công nghiệp Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp và phân tích các số liệu thu thập

Đề tài đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về tình hình thực thi chính sách bảo vệ môi trường khu công nghiệp Cơ sở lý luận đưa ra những khái niệm liên quan đến thực thi chính sách bảo vệ môi trường; nêu được vai trò, đặc điểm, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo

vệ môi trường của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Đề tài còn hệ thống hóa cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường của một số nước trên thế giới, kinh nghiệm thực thi chính sách bảo vệ môi trường của một số tỉnh

ở Việt Nam và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về thực thi chính sách bảo

vệ môi trường tại các khu công nghiệp

Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đầy đủ các văn bản chính sách của Nhà nước về chính sách bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, tuy nhiên công tác triển khai còn chậm Bộ máy quản lý Nhà nước quy định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của các

cơ quan liên quan đến công tác bảo vệ môi trường Chất lượng cán bộ về trình độ văn hóa nhìn chung cao, tuy nhiên số lượng cán bộ thanh tra còn ít, ở xã chưa có cán bộ có chuyên môn về quản lý môi trường, cán bộ thanh tra liên ngành còn thiếu, yếu về chuyên môn quả lý môi trường Đa số các cơ sở sản xuất kinh doanh trong các khu công nghiệp chấp hành tốt quy định của Nhà nước về chính

Trang 13

sách bảo vệ môi trường, bên cạnh đó vẫn còn một số doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về xả các chất thải ra môi trường, chủ doanh nghiệp chưa tham gia đầy đủ các lớp tập huấn về quy định bảo vệ môi trường nhưng cũng đang được nhắc nhở để tham gia và chấp hành đầy đủ Công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh này được tiến hành khá tốt ở đoàn thanh tra chuyên ngành, phát hiện và xử phạt đối với các hành vi vi phạm chính sách bảo vệ môi trường Công tác tập huấn cho chủ các doanh nghiệp, tuy nhiên chưa chú trọng đào tạo, tập huấn chuyên môn quản lý môi trường cho cán bộ quản lý, đặc biệt cán bộ tham gia đoàn thanh tra

Từ những bất cập kể trên nghiên cứu cũng đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường như: hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường; về công tác quy hoạch các khu công nghiệp; nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác thanh tra về môi trường ở các khu công nghiệp; tuyên truyền giáo dục về pháp luật trong bảo vệ môi trường; nâng cao nhận thức của chủ doanh nghiệp trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường và tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo

vệ môi trường, khuyến khích các doanh nghiệp xử dụng kỹ thuật, công nghệ thân thiện với môi trường

Trang 14

THESIS ABSTRACT

Environmental pollution in industrial parks, industrial clusters in our country today, mainly due to the environmental pollution of water, air and solid waste from mainly Environmental pollution caused by sewage water from industrial zones in recent years is very large, this growth rate is much higher than the total wastewater from other areas Environmental pollution, the air is often mainly concentrated in the old industrial zone, because this IPs are using outdated production technology have not been invested or exhaust treatment system before discharging into the environment However, the CTR is increasing along with the increase in the occupancy rate of the industrial zones The increase in emissions per unit of area reflects the change in the structure of industrial production, the appearance of high-emissions industries and growing scale in the industrial zone From the above issues I studied the subject:

"Research policy enforcement of environmental protection by enterprises in the industrial zone in Bac Ninh province," and then to propose measures to strengthen management policy enforcement on environmental protection in the industrial zone

To implement the project was carried out up questionnaires and surveys, interviews, focus group discussions the managers, inspectors, business owners related to environmental protection industrial parks Use Excel to sum up and analyze the collected data

The theme has been codified theoretical basis, practical basis on the implementation of policies for environmental protection industrial parks Rationale given the concepts related to the implementation of policies for environmental protection; outlined the role, characteristics, content, factors affecting the implementation of environmental policies of businesses in the industrial park The theme also systematized practical basis for implementing environmental policies of some countries in the world, experienced implementation of environmental protection policies of some provinces in Vietnam and from which to draw lessons learned on the implementation of environmental protection policy in industrial areas

The study results showed: Bac Ninh has deployed the full text of the State policy

on environmental protection policies for businesses in industrial zones in the province, but also implementing work slow State management apparatus clearly defined tasks and powers of the agency related to environmental protection The quality of staff education levels are generally high, but the number of inspectors is low, no staff commune with expertise in environmental management, interdisciplinary inspectors lacking, weak effective environmental expertise The majority of business and

Trang 15

production facility in the industrial park well observe the State's regulations on environmental protection policies, besides still some businesses not strictly implement regulations on the discharge of the waste into the environment, business owners are not fully participate in training on environmental protection regulations, but are also being reminded to participate and fully comply Inspection and examination of production and business establishments are conducted fairly good at specialized inspection teams, detect and sanction for the violation of environmental protection policies Business training for business owners, but not focus on training, professional training for environmental management for managerial staff, especially staff to the inspection team From the aforementioned research gaps also offer solutions to enhance the State management on the implementation of environmental policies, such as improving the law on environmental protection; on the planning of industrial zones; capacity building for staff working on environmental inspections in the industrial park; Communication and education about the law in environmental protection; raising awareness of entrepreneurs in the implementation of environmental protection policy and strengthen inspection and supervision, handling violations of the legislation on environmental protection, encourages the use of technical enterprise, tech environmentally friendly

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời với nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển toàn diện kinh tế xã hội của đất nước thì nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và nhà nước coi trọng Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững Từ khi luật Bảo vệ môi trường ra đời cùng với những tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng thì nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, ngành và nhân dân đã được nâng lên đáng kể Tuy nhiên quá trình đô thị hóa, sự gia tăng dân số, việc đẩy mạnh phát triển các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ… làm môi trường nước ta bị xuống cấp nhanh bởi lẽ môi trường hàng ngày đã phải gánh chịu biết bao nhiêu lượng và chủng loại chất thải từ các nhà máy sản xuất trong khu công nghiệp thải ra ngoài môi trường tự nhiên

Ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở nước ta hiện nay, chủ yếu là do sự ô nhiễm từ môi trường nước, không khí, từ chất thải rắn là chủ yếu Ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ KCN trong những năm gần đây là rất lớn, tốc độ gia tăng này cao hơn rất nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực khác như tại khu vực Ðông Nam Bộ, lượng nước thải từ các KCN chiếm đến 49% lượng nước thải của các KCN trong toàn quốc Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các KCN có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp Trong khi đó, theo ước tính

có khoảng 70% trong tổng số hơn một triệu mét khối nước thải ngày, đêm phát sinh từ các KCN được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý (Bộ Tài

nguyên và Môi trường, 2016 Monre.gov.vn)

Ô nhiễm môi trường, không khí thường chủ yếu tập trung tại các KCN cũ,

do các KCN này đang sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư

hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường Ô nhiễm không khí tại các KCN chủ yếu là bụi, một số KCN có biểu hiện ô nhiễm CO2, SO2 và tiếng ồn Thống kê cho thấy, năm 2011 mỗi ngày các KCN nước ta thải ra khoảng tám nghìn tấn chất thải rắn (CTR), tương đương khoảng ba triệu tấn một năm

Trang 17

Tuy nhiên, lượng CTR đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN, nếu như tính trung bình cả nước, năm 2005 – 2006, một ha diện tích đất cho thuê phát sinh CTR khoảng 134 tấn/năm, thì đến năm 2008 – 2009, con số này đã tăng lên 204 tấn/năm (tăng 50%) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016 Monre.gov.vn)

Sự gia tăng phát thải trên đơn vị diện tích đã phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất công nghiệp, xuất hiện các ngành có mức phát thải cao và quy mô ngày càng lớn tại các khu công nghiệp và dự báo tổng phát thải CTR từ các KCN năm 2015 sẽ vào khoảng 6 đến 7,5 triệu tấn/năm và đến năm 2020 đạt từ 9 đến

13,5 triệu tấn/năm (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016 Monre.gov.vn)

Kể từ khi tách tỉnh năm 1997 đến nay, nền kinh tế của Bắc Ninh đã có những bước phát triển nhảy vọt Từ một tỉnh Trung ương phải hỗ trợ ngân sách đến nay đã tự chủ về ngân sách và đã có đóng góp cho ngân sách Trung ương, sự phát triển này có vai trò quan trọng của nền công nghiệp tỉnh Từ khi không có khu công nghiệp nào đến nay tỉnh đã hình thành được 12 KCN trong đó 9 KCN

đã đang hoạt độngđược nhiều năm Nguồn thu từ công nghiệp chiếm 57% tổng thu ngân sách của tỉnh Tuy nhiên, cùng với sự phát triển thì vấn đề ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp của Bắc Ninh đang có chiều hướng gia tăng Việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp của tỉnh hiện vẫn đang là bài toán khó cho các cấp, các ngành trong tỉnh

Theo kết quả thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp theo Quyết định

số 907/QĐ-UBND ngày 29/7/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc thành lập Đoàn Thanh tra liên ngành trong công tác bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp trong cáckhu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh,Quyết định số 48/QĐ-TNMT ngày 23/4/2014 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh về thanh tra việc chấp hành pháp luật về Bảo vệ tài nguyên môi trường tại khu công nghiệp Quế Võ, đến nay một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp

đã có biện pháp xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại bằng cách ký hợp đồng với các công ty có chức năng vận chuyển và xử lý chất thải rắn không nguy hại

và chất thải rắn nguy hại theo quy định Nước thải của các nhà máy hầu hết đã được xử lý sơ bộ trước khi đổ vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN Cũng qua thanh tra, kiểm tra của Đoàn công tác Sở Tài nguyên và Môi trường thì phần lớn các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đã lập hồ sơ bảo vệ môi trường; tuy nhiên các doanh nghiệp này đã không thực hiện đúng các cam kết và

Trang 18

biện pháp xử lý môi trường theo như báo cáo đã được phê duyệt, không đăng ký lại chủ nguồn chất thải nguy hại theo quy định Thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung chương trình quan trắc, giám sát theo quy định Nguyên nhân của tình trạng này là hầu hết các doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng thường không đủ vốn đầu tư đường xá, sân bãi, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc ,

cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường, dẫn đến tình trạng chung là cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện nên trong quá trình sản xuất một số nhà máy, xí nghiệp công nghiệp đã gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Nhiều nhà máy hoạt động gây tiếng

ồn ở mức cao, nhà xưởng chưa thông thoáng, nhiều nơi khí độc và nhiệt thừa làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân Bên cạnh đó, do còn thiếu những quy định đối với vấn đề quản lý môi trường tại KCN, lực lượng cán bộ làm công tác môi trường thuộc cơ quan quản lý môi trường của tỉnh như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý các khu công nghiệp còn mỏng, đặc biệt là ở cấp huyện đội ngũ cán bộ có chuyên môn về công tác bảo vệ môi trường hầu như còn trống nên không đảm bảo nguồn nhân lực làm công tácgiám sát việc thực hiện các cam kết trong đánh giá tác động môi trường hoặc kiểm soát cácnguồn ô nhiễm Phương tiện và trang thiết bị kiểm tra, đánh giá chất lượng môi trường còn thiếu, lạc hậu , chế tài xử phạt các trường hợp vi phạm theo Luật Bảo vệ môi trường còn ở mức thấp, chưa đủ sức răn đe để buộc các đối tượng vi phạm nỗ lực thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường hoặc thay đổi hành vi gây ô nhiễm

Từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thực thi

chính sách bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh"

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá tình hình thực thi chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý về thực thi chính sách bảo vệ môi trường ở địa phương

Trang 19

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực thi tốt chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các vấn đề kinh tế và quản lý liên quan đến thực thi chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

- Chủ thể nghiên cứu là các đối tượng có liên quan đến việc thực thi chính sách bảo vệ môi trường: các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, cán bộ quản lý môi trường các cấp, người dân

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực thi chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

* Phạm vi không gian: Khu công nghiệp Yên Phong và khu công nghiệp Quế Võ tỉnh Bắc Ninh

Trang 20

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm liên quan

2.1.1.1 Khái niệm về môi trường

Có rất nhiều quan điểm đưa ra các khái niệm về môi trường, một số định nghĩa của một số tác giả được nêu ra như sau:

Masn and Langenhim (1957) cho rằng: “Môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật”

Tác giả Joe Whiteney (1993), định nghĩa môi trường đơn giản hơn: “Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể, có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như: đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ozone, sự đa dạng của các loài”

Theo tác giả Công Chung (2006) thì: “Môi trường là tất cả mọi người chung quanh chúng ta Với thế giới tuổi thơ ở trường phổ thông – nơi các em đang ngày đêm học tập, môi trường là không khí trong lành, là sân chơi, vườn trường với thật nhiều hoa tươi và cây xanh.Với công nhân nhà máy – nơi họ làm việc, làm môi trường.Nói cách khác, môi trường là một trung tâm cụ thể với những nhân tố xung quanh trung tâm đó.Vì vậy, những trung tâm khác nhau thì môi trường cũng lớn nhỏ khác nhau.Môi trường lớn của nhân loại là trái đất, bầu khí quyển, lục địa Môi trường nhỏ gắn liền với đời sống hàng ngày của con người: Trường học, nhà máy, đường phố, cánh đồng”

“Môi trường là các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, lý học, hóa học, sinh học cùng tồn tại trong một không gian bao quanh con người.Các yếu tố đó

có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên các cá thể sinh vật hay con người để cùng tồn tại và phát triển.Tổng hòa của các chiều hướng phát triển của từng nhân tố này quyết định chiều hướng phát triển của cá thể sinh vật của

hệ sinh thái và của xã hội con người” (Quốc hội, 2014)

Như vậy môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống con người, mức sống của con người càng được nâng cao thì lượng rác thải tạo ra môi trường ngày càng lớn, mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng lớn

Trang 21

2.1.1.2 Khái niệm về ô nhiễm môi trường

Theo định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Ô nhiễm môi trường (ONMT) là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Quốc hội, 2014)

Theo Tổ chức y tế thế giới: ONMT là việc chuyển các chất thải hoặc nguyên liệu vào môi trường đến mức có khả năng gây hại cho sức khoẻ con người và sự phát triển của các sinh vật hoặc giảm chất lượng môi trường sống

Ô nhiễm môi trường là hiện tượng suy giảm chất lượng môi trường quá một giới hạn cho phép, đi lại với mục đích sử dụng môi trường, ảnh hưởng đến sức

khoẻ con người và sinh vật (Lê Huy Bá, 2005)

Theo cách hiểu chung, ONMT là hiện tượng một chất nào đó có mặt trong môi trường với thành phần và lượng chất có khả năng ngăn cản các quá trình tự nhiên vận hành một cách bình thường hoặc làm cho các quá trình này xảy ra theo

xu hướng không như mong muốn, gây nên những ảnh hưởng có hại đối với sức khoẻ và sự sinh tồn của con người hoặc của các loài sinh vật khác sinh sống trong môi trường đó

Vậy ô nhiễm môi trường là hiện tượng giảm chất lượng môi trường và tác động tiêu cực đến sức khoẻ con người và sự phát triển của sinh vật

2.1.1.3 Khái niệm chất thải

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định:

"Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt động khác.Chất thải có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác"

* Chất thải rắn (rác thải): là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác

* Chất thải rắn nguy hại: là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm,

gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác

Rác và chất thải tự bản thân nó có thể chưa gây ô nhiễm hoặc mới ở mức làm bẩn môi trường, nhưng qua tác động của các yếu tố môi trường, qua phân

Trang 22

giải, hoạt hóa mà chất thải mới trở nên ô nhiễm và gây độc.Rác hữu cơ thì bị lên men gây thối và độc Nước thải chứa hóa chất làm ô nhiễm đất, ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, chất thải phóng xạ gây ô nhiễm phóng xạ, hầu như ở đâu có sinh vật sống là ở đấy có chất thải, hoặc ở dạng này hoặc ở dạng khác Vì vậy chỗ nào càng tập trung sinh vật, con người và hoạt động của họ càng cao thì chất thải càng nhiều

Các nhà máy sản sinh ra nhiều loại chất thải: rắn, lỏng, khí Vì mục đích lợi nhuận các công ty, nhà máy, xí nghiệp luôn tìm cách tối thiểu hóa chi phí, việc đầu tư cho xử lý các loại chất thải bị hạn chế.Chính vì vậy, nếu không có các biện pháp quản lý chặt chẽ từ các cơ quan chức năng chất thải từ khu vực này sẽ gây ONMT nghiêm trọng

2.1.1.4 Khái niệm về bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác,

sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên (Quốc hội, 2014)

2.1.1.5 Khái niệm quản lý môi trường

Quản lý môi trường là bằng mọi biện pháp thích hợp tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người nhằm làm hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và môi trường, sao cho vừa thỏa mãn nhu cầu của con người, vừa bảo đảm được chất lượng của môi trường và không quá khả năng chịu đựng của hành tinh chúng ta (Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh, 2000)

Quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường là một nội dung cụ thể của quản lý Nhà nước Đó là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng MT sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội của quốc gia

2.1.2 Các công cụ quản lý môi trường

Công cụ quản lý môi trường nó là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của Nhà nước Mỗi công cụ có chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau

Trang 23

- Công cụ pháp luật và chính sách: Công cụ này bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia

- Các công cụ kinh tế: Công cụ kinh tế dựa trên cơ chế thị trường và mối quan hệ giữa chi phí kinh tế và hành động gây ô nhiễm, nói cách khác, công cụ kinh tế dựa trên nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền"

Công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm:

+ Thuế và phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

+ Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay "cota ô nhiễm"

+ Ký quỹ môi trường

+ Trợ cấp môi trường

+ Nhãn sinh thái

+ Tự nguyện xây dựng tiêu chuẩn môi trường: ISO

Việc sử dụng các công cụ kinh tế có tác động tích cực như hành vi môi trường được thuế điều chỉnh một cách tự giác, các chi phí của xã hội cho công tác bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu triển khai

kỹ thuật công nghệ có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu nhập phục

vụ công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia

- Công cụ giáo dục và thông tin môi trường: Nhóm công cụ này được thực hiện nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới Người gây ô nhiễm thông qua việc nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của họ hoặc của cộng đồng có liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường

Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bản chất là bảo đảm cho “quyền được biết và quyền được tham gia” của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường và thường được thực hiện thông qua hai nhóm chính sách: chính sách minh bạch hóa thông tin và chính sách huy động sự tham gia của cộng đồng

- Công cụ kỹ thuật quản lý: các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự

Trang 24

hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản

lý bao gồm các đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải (Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh, 2000)

2.1.3 Đặc điểm của thực hiện chính sách bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp

Cơ sở khoa học, công nghệ của quản lý môi trường

Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh

tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia Các nguyên tắc quản lý môi trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường

Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học thế giới, trong thời gian từ năm 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình, chuyên khảo Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở, phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên lý và quy luật môi trường

Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới Tóm lại, quản lý môi trường cầu nối giữa khoa học môi trường với hệ thống

tự nhiên – con người – xã hội đã được phát triển trên nền phát triển của các bộ môn chuyên ngành (Lê Đắc Trường và Vũ Văn Doanh, 2011)

Cơ sở kinh tế của hoạt động quản lý môi trường

Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo giá trị Loại hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh Trong khi đó, loại hàng hoá kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng Vì vậy, chúng ta có thể dùng các

Trang 25

phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường

Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế, phí và lệ phí, cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi hoàn, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái, hệ thống các tiêu chuẩn ISO Một số ví dụ về phân tích kinh tế trong quản lý tài nguyên và môi trường như lựa chọn sản lượng tối ưu cho một hoạt động sản xuất có sinh ra

ô nhiễm Q nào đó, hoặc xác định mức khai thác hợp lý tài nguyên tái tạo v.v

(Lê Đắc Trường và Vũ Văn Doanh, 2011)

Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường

Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường

Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi Từ hội nghị quốc tế về "Môi trường con người" tổ chức năm 1972 tại Thuỵ Ðiển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết

Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ Môi trường được quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất Chính phủ đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường Bộ Luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Ðất đai, Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo

vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp luật bảo vệ các công trình giao thông

Trang 26

Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc tế được nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý nhà nước về

bảo vệ môi trường

2.1.4 Vai trò của thực thi chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp trong khu công nghiệp

Để bảo vệ môi trường (BVMT), con người phải sử dụng tổng hợp các biện pháp như chính trị, tuyên truyền, giáo dục, kinh tế, công nghệ, hệ thống pháp luật Các biện pháp BVMT nói trên tuy có tác động nhưng chắc chắn không phát huy tác dụng nếu không có sự trợ giúp của pháp luật và pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng Môi trường bị hủy hoại chủ yếu là do sự tàn phá của con người và đối tượng để thực hiện việc BVMT cũng chính là con người Vì vậy, muốn BVMT trước hết là tác động đến hành vi con người Pháp luật thông qua các hệ thống quy phạm để điều chỉnh hành vi xử sự của con người và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường

Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường bằng việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường và quy định các phương tiện, biện pháp, nhân lực, để đảm bảo thực hiện các chính sách, kế hoạch đó Chính vì thế, pháp luật về bảo vệ môi trường đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường Đặc biệt, thời gian qua pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện, góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực môi trường Như vậy

ta có thể đánh giá vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay cụ thể như sau:

- Định hướng các hành vi con người theo hướng có lợi cho môi trường, đảm bảo các hành vi của con người không xâm hại tới môi trường, hạn chế những tác hại, ngăn chặn suy thoái và ô nhiễm môi trường

Phá hoại, khai thác trái phép rừng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; Khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp huỷ diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật; Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các loại thực vật, động vật hoang

dã quý hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;

Trang 27

Chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng nơi quy định và quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường; Thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước; Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép; Nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức (Quốc hội, 2014)

- Bảo vệ lợi ích của chính tổ chức, cá nhân và lợi ích chung lâu dài của xã hội Các chế tài đó không chỉ là biện pháp trừng phạt vi phạm pháp luật môi trường, ngăn ngừa, giáo dục cải tạo chủ thể vi phạm mà còn răn đe chủ thể khác

để họ tự giác tuân theo các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, qua đó ngăn ngừa và hạn chế tác động xấu do con người gây ra cho môi trường

Vì thế, pháp luật quy định các chế tài hành chính, dân sự, hình sự để buộc các tổ chức, cá nhân phải thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố môi trường

- Tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ chức, cơ quan bảo vệ môi trường Cụ thể là nhờ có pháp luật, nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường với các nội dung như: kiểm soát ô nhiễm, suy thoái sự cố môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học; đánh giá tác động môi trường

và đánh giá môi trường chiến lược; kiểm soát ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, suy thoái đất, suy thoái rừng, nguồn thủy sinh, nguồn gen và kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động có ảnh hưởng đặc biệt tới môi trường; thanh tra và kiểm tra

xử lý và giải quyết tranh chấp về môi trường; thực thi các công ước quốc tể về kiểm soát ô nhiễm ở Việt Nam, thực thi các điều ước quốc tế về đa dạng sinh học

và bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam

Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình, đảm bảo hoàn thành tốt công tác quản lý Nhà nước đối với môi trường Pháp luật cũng phân chia nhiệm vụ giữa các cơ quan, tránh việc quản lý chồng chéo, đồng thời tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cơ quan, nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước về môi trường

Trang 28

2.1.5 Nội dung nghiên cứu về thực thi chính sách bảo vệ môi trường

2.1.5.1 Ban hành các văn bản, chính sách về bảo vệ môi trường

- Xây dựng chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường: cần xây dựng chúng đồng thời với chính sách phát triển kinh tế- xã hội để gắn kết các mục tiêu phát triển bền vững vào hoạt động phát triển của từng ngành, từng vùng, tạo sự liên kết giữa các ngành các cấp với các doanh nghiệp trong việc thực hiện các mực tiêu bảo vệ môi trường để phát triển môi trường công nghiệp bền vững

- Phối hợp giữa các đơn vị có liên quan: sự phối hợp giữa trung ương và địa phương (giữa Bộ TN&MT, Sở TN&MT, Ban quản lý các KCN) trong việc triển khai các hoạt động quản lý nước thải công nghiệp Tăng cường phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan gồm: Sở TN&MT, Cảnh sát môi trường, UBND quận, huyện (có KCN) với BQL các KCN trong kiểm tra, giám sát, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về việc

xả thải và xử lý nước thải cũng như bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong KCN

- Các chính sách, văn bản, các quy chuẩn kỹ thật về nước thải công nghiệp cũng như quá trình thu gom, xử lý và thải ra môi trường Việc ban hành quy chế quản lý nước thải nội bộ KCN là đặc biệt cần thiết Quy định này sẽ tạo cơ chế hoạt động riêng theo đặc thù của từng KCN và xác định rõ trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia KCN Trong đó, nhiều cơ chế, ưu đãi và lợi ích của từng KCN sẽ được quy định Mỗi KCN có thể có những cơ chế riêng, mang tính nội

bộ như thỏa thuận như giá xử lý nước thải (một giá, nhiều giá) nhưng không được trái các quy định pháp luật hiện hành

- Chủ đầu tư và các doanh nghiệp trong KCN thực hiện nghiêm túc việc tự quan trắc theo đúng cam kết và tuân thủ chế độ báo cáo thường xuyên cho các cơ quan có thẩm quyền theo quy định Yêu cầu bắt buộc các trạm xử lý nước thải tập trung của các KCN phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động giám sát chất lượng nước thải trước khi thải ra môi trường Số liệu được truyền tự động và liên tục về các cơ quan quản lý môi trường quốc gia và địa phương

Trang 29

2.1.5.2 Nội dung thực thi chính sách bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp

a Về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái, sự cố ô nhiễm môi trường

Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác,sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học (Quốc hội, 2014)

Bảo vệ môi trường còn là tập hợp các biện pháp giữ gìn, bảo vệ, phục hồi,

sử dụng hợp lý môi trường sinh học, môi trường sinh thái, nghiên cứu, thử nghiệm các thiết bị, áp dụng khoa học công nghệ không có phế liệu nhằm tạo ra cuộc sống tối ưu cho con người Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: “ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật Thông thường chất gây ô nhiễm là các chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất công nghiệp hoặc trong các hoạt động khác, chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng Hầu hết các chất thải này là các chất gây

ô nhiễm

Chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm

Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ

nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác

Mức độ ô nhiễm môi trường đối với thành phần môi trường cụ thể thường được xác định dựa vào mức vượt tiêu chuẩn chất lượng môi trường của các chất gây ô nhiễm có trong thành phần môi trường đó

- Tiêu chuẩn môi trường: "là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường” (Hoàng Xuân Cơ, 2012)

- Suy thoái môi trường: “là sự suy giảm về chất lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”

Trang 30

- Sự cố môi trường: “ là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái

hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng” (Quốc hội, 2014)

Trong quá trình sản xuất ở các khu công nghiệp đã làm cho môi trường bị ô nhiễm, bị suy thoái và những sự cố môi trường ngày càng nghiêm trọng thì các

cơ quan Nhà nước, các đơn vị kinh tế ở các khu công nghiệp phải có những hành động nhất định để khắc phục, xử lý khống chế ô nhiễm Đó chính là hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường "Kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng hợp các hoạt động của Nhà nước của các tổ chức và cá nhân nhằm loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường; phòng ngừa ô nhiễm môi trường; khắc phục, xử lý hậu quả do ô

nhiễm môi trường gây nên" (Lê Hồng Hạnh và cs., 2008)

Từ đó chúng ta có thể rút ra hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị kinh tế nhằm loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường; phòng ngừa ô nhiễm môi trường; khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường gây nên từ những hoạt động sản xuất ở các khu công nghiệp Kiểm soát

ô nhiễm không chỉ được thực hiện bằng các biện pháp mệnh lệnh – kiểm soát bằng các công cụ hành chính mà còn được thực hiện đồng bộ bằng các công cụ kinh tế, các biện pháp kỹ thuật, các giải pháp công nghệ, các yếu tố xã hội và yếu tố thị trường

b Về kiểm soát ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí là sự thay đổi tính chất không khí, vi phạm tiêu chuẩn không khí mà pháp luật đã quy định Nói cách khác, ô nhiễm không khí là tình trạng không khí có xuất hiện chất lạ hoặc có sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí làm thay đổi tính chất lý, hoá vốn có của nó, vi phạm tiêu chuẩn môi trường do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, gây bất lợi cho con người và thiên nhiên Ô nhiễm không khí đã được đề cập cách đây hàng thế kỷ song mãi đến thế kỷ XX đặc biệt một số thập kỷ gần đây, khi xảy ra, con người mới bắt đầu quan tâm hơn đến nó và đưa ra các biện pháp để phòng ngừa

Trong quá trình tiến hành các hoạt động của mình, con người đã gây rất nhiều tác động tiêu cực cho môi trường nói chung và không khí nói riêng Có thể

kể đến hoạt động của con người như giao thông vận tải, sinh hoạt tiêu dùng và trong quá trình phát triển các khu công nghiệp Hoạt động ở các khu công nghiệp

Trang 31

có thể coi là nguồn gây ô nhiễm không khí ở nước ta đang tăng lên mức báo động

mà chủ yếu là do cơ sở sản xuất có thiết bị lọc bụi, song lại hầu như chưa có thiết

bị xử lý khí thải độc hại Nói cách khác là chúng không đảm bảo được tiêu chuẩn

về chất lượng môi trường nhất là khi quá trình đô thị hoá diễn ra, phạm vi các thành phố ngày càng mở rộng nên hiện nay phần lớn các khu công nghiệp cũ đều nằm trong nội thành của nhiều thành phố làm cho mức độ ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng Như vậy, không khí ở nước ta đã và đang bị ô nhiễm, suy thoái là do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có hoạt động ở các khu công nghiệp là nguồn gây ô nhiễm

Việc xác định được nguồn gây ô nhiễm là điều quan trọng để ban hành các quy định để kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm này Có thể nói trong các loại nguồn thải đã đề cập ở trên thì việc kiểm soát điều chỉnh hành vi của các đơn vị kinh tế đang hoạt động sản xuất, kinh doanh ở các khu công nghiệp là rất quan trọng Khu công nghiệp phải có hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường

và phải được vận hành thường xuyên Bộ phận chuyên môn về Bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp có nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với cơ sở dự án đầu tư bên trong khu công nghiệp; quản lý hệ thống xử lý khí thải, tổ chức quan trắc, đánh giá hiện trạng môi trường, tổng hợp, xây dựng báo cáo môi trường và định kỳ báo cáo với cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh Thông qua hoạt động này, những biến đổi xấu với môi trường không khí sẽ thường xuyên được xem xét,

đánh giá (Lê Hồng Hạnh và cs., 2008)

c Về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Nước là thành phần môi trường gắn với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như sự sống của hành tinh Hoạt động của con người có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng, trừ lượng nước đang dần bị cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước mà nguyên nhân chính là do hoạt động sản xuất, kinh doanh có đặc thù là sử dụng nguồn nước tập trung với lực lượng lớn dẫn tới suy thoái, cạn kiệt nguồn ở những khu vực nhất định (nhất là cạn kiệt các mạch nước ngầm) Đặc biệt, hoạt động sản xuất ở các khu công nghiệp thải ra một lượng lớn nước thải (chứa các chất gây ô nhiễm môi trường) và các chất thải khác Lượng nước thải và chất thải này thường chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn, được thải trực tiếp vào các nguồn nước mặt, hoặc ngấm qua đất tới các mạch nước ngầm là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở nước ta hiện nay

Trang 32

Bảo vệ tài nguyên nước là một lĩnh vực hoạt động bảo vệ môi trường, bao gồm các biện pháp về giữ gìn trữ lượng, chất lượng tài nguyên nước, phòng chống khắc phục các hậu quả tác hại cho nước gây ra Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm các nguồn nước đã quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng như các tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ phát triển nguồn nước để từ đó buộc cơ quan Nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước (Quốc hội, 2014)

Khu công nghiệp phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung và đạt tiêu chuẩn môi trường, các doanh nghiệp sản xuất trong các khu công nghiệp phải có hệ thống

xử lý nước thải sơ bộ đạt tiêu chuẩn trước khi thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp, hệ thống này phải được vận hành thường xuyên Bộ phận chuyên môn về BVMT trong khu công nghiệp có nhiệm vụ; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các yêu cầu về BVMT đối với các cơ sở, dự án đầu tư bên trong khu công nghiệp; quản lý hệ thống xử lý nước thải tập trung, tổ chức quan trắc, đánh giá hiện trạng môi trường, tổng hợp, xây dựng báo cáo môi trường và định kỳ báo cáo cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh

d Về kiểm soát chất thải rắn, chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn thông thường

Trong quá trình sản xuất, dù là sản xuất với công nghệ hiện đại nhất cũng không tránh khỏi việc thải ra các loại chất thải Chất thải sản xuất là những thành phần do công nghệ thải ra mà không thể sử dụng lại được hoặc không muốn sử dụng lại

Chất thải rắn nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc tố, phóng xạ, dễ cháy, dễ

nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác Chất thải rắn công nghiệp có thể phân thành chất thải rắn nguy hại và chất thải rắn không nguy hại

Chất thải rắn công nghiệp rất đa dạng từ cặn bùn thải, phế liệu đến các loại bao bì, rác thải độc hại,…

+ Chất thải rắn nguy hại là chất thải chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người Nguồn gốc phát sinh trong sản xuất tập trung vào các ngành như: hoá chất, luyện kim, hoá dầu, sơn mạ, thuộc

da, nhuộm…

Trang 33

+ Chất thải rắn không nguy hại là những chất thải không chứa hoặc chứa một lượng rất nhỏ các chất hoặc hợp chất có thể gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người

Khu công nghiệp phải có đầy đủ các thiết bị, dụng cụ thu gom, tập trung chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại và đáp ứng cao yêu cầu tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các cơ sở sản xuất trong khu sản xuất Bộ phận chuyên môn về BVMT trong khu công nghiệp có nhiệm vụ, quản lý hệ thống thu gom, tập trung chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại (Nguyễn Văn Phước, 2013)

e Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)

Đánh giá tác động môi trường được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Xét dưới góc độ quản lý, nó được coi là biện pháp quản lý Nhà nước về môi trường, xét dưới góc độ khoa học, nó là những nghiên cứu về mối liên hệ, những tác động biện chứng giữa hoạt động phát triển và môi trường Với tư cách là khái niệm pháp lý, ĐTM là các quan hệ pháp lý hình thành giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các cơ quan, tổ chức đề xuất, thực hiện hoạt động phát triển trong việc khảo sát và đánh giá tác động của các hoạt động phát triển đó đối với các yếu tố

môi trường cũng như các giải pháp giảm thiểu tác động đó

ĐTM là định chế pháp lý, xét ở khía cạnh chủ quan của pháp lý thì ĐTM

là các quy tắc xử sự mà các chủ thể cần phải thực hiện khi tiến hành dự án phát triển có khả năng tác động đến môi trường Như vậy, bản chất pháp lý của ĐTM thể hiện ở chỗ nó là nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ yêu cầu của quản

lý Nhà nước về BVMT, từ nghĩa vụ hiến định của tất cả cá nhân, tổ chức về BVMT Bản chất này của ĐTM được thể hiện ở những yêu cầu sau; bất kỳ tổ chức, cá nhân nào nếu thực hiện dự án có thể gây ảnh hưởng đến môi trường đều phải thực hiện việc phân tích và đánh giá môi trường gắn liền với chủ thể

cụ thể, tức là chủ thể đề xuất dự án có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường Đánh giá môi trường không phải là nghĩa vụ mang tính chất hình thức, tức không phải chỉ là điều kiện giấy tờ cần phải có cho việc phê duyệt dự án

mà là nghĩa vụ mang tính nội dung ĐTM cần được xem xét, cân nhắc một cách đầy đủ như các yếu tố vật chất khác của dự án, hoạt động Theo khoản 20 điều 3 luật Bảo vệ môi trường "Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là việc

Trang 34

phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa

ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó" (Quốc hội, 2014) Hoạt động đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi vì nó giúp chúng ta xem xét nhiều vấn đề quan trọng, nhất là công nghệ xử lý nước thải, giảm thiểu tiêu cực tới môi trường và giám sát môi trường Đánh giá môi trường góp phần giảm thiểu, hạn chế các tác động tiêu cực của dự án, hoạt động phát triển tới môi trường Đánh giá môi trường góp phần ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các chủ dự án, các cơ sở Một trong những nội dung quan trọng của quá trình đánh giá môi trường đó là hoạt động giám sát sau dự án Hoạt động này giúp cho cơ quan có thẩm quyền xem xét hoạt động của các cơ sở có vi phạm những gì mà họ đã cam kết trong báo cáo đánh giá môi trường đã được xét duyệt hay không

Việc đánh giá môi trường được thực hiện dưới hình thức văn bản gọi là báo cáo đánh giá tác động môi trường Đây là văn bản quan trọng và sau khi được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt sẽ có ý nghĩa rất lớn, là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định cho phép triển khai thực hiện dự án; là

cơ sở để xác định trách nhiệm của các chủ thể của dự án, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước đối với những hậu quả mà dự án gây ra đối với môi trường, đặc biệt là cơ quan trực tiếp thẩm định báo cáo này

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định đối tượng phải thực hiện đánh gia tác động môi trường, báo cáo, thẩm định

- Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường gồm: Dự án thuộc

thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường

- Thực hiện đánh giá tác động môi trường: Chủ dự án thuộc đối tượng quy

định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này tự mình hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện đánh giá tác động môi trường Việc đánh giá tác động môi trường phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án Kết quả thực hiện đánh giá tác động môi trường thể hiện dưới hình thức báo cáo đánh giá tác động môi trường Chi phí lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc nguồn vốn đầu tư

dự án do chủ dự án chịu trách nhiệm

Trang 35

- Lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường: Chủ dự án phải lập lại báo

cáo đánh giá tác động môi trường trong các trường hợp sau: Không triển khai dự

án trong thời gian 24 tháng kể từ thời điểm quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; Thay đổi địa điểm thực hiện dự án so với phương án trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt; Tăng quy mô, công suất, thay đổi công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt

- Nội dung chính của báo cáo đánh giá tác động môi trường: Xuất xứ của

dự án, chủ dự án, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án; phương pháp đánh giá tác động môi trường Đánh giá việc lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và các hoạt động của dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường Đánh giá hiện trạng môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội nơi thực hiện dự án, vùng lân cận và thuyết minh sự phù hợp của địa điểm lựa chọn thực hiện dự án Đánh giá, dự báo các nguồn thải và tác động của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng Đánh giá, dự báo, xác định biện pháp quản lý rủi ro của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng Biện pháp xử lý chất thải Các biện pháp giảm thiểu tác động đến môi trường và sức khỏe cộng đồng Kết quả tham vấn Chương trình quản lý và giám sát môi trường Dự toán kinh phí xây dựng công trình bảo vệ môi trường và thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường Phương

án tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường

Thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

+ Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chứcthẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án sau: Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Dự án liên ngành, liên tỉnh thuộc đối tượng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều

18 của Luật này, trừ dự án thuộc bí mật quốc phòng, an ninh; Dự án do Chính phủ giao thẩm định

+ Bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của mình + Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của mình và các dự án thuộc bí mật quốc phòng, an ninh

Trang 36

+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư trên địa bàn

Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

+ Thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan được giao thẩm định tổ chức việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thông qua hội đồng thẩm định hoặc thông qua việc lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định

+ Thành viên hội đồng thẩm định và cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến của mình

+ Trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định tổ chức khảo sát thực tế, lấy ý kiến phản biện của cơ quan, tổ chức và chuyên gia để thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

+ Trong thời gian thẩm định, trường hợp có yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung,

cơ quan thẩm định có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho chủ dự án để thực hiện

Phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

+ Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được chỉnh sửa theo yêu cầu của cơ quan thẩm định, thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan thẩm định có trách nhiệm phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; trường hợp không phê duyệt phải trả lời cho chủ dự án bằng văn bản và nêu rõ lý do

+ Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường là căn cứ để cấp có thẩm quyền thực hiện các việc sau: Quyết định chủ trương đầu tư dự án đối với các đối tượng quy định tại Điều 18 của Luật này trong trường hợp pháp luật quy định dự án phải quyết định chủ trương đầu tư; Cấp, điều chỉnh giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác khoáng sản đối với dự án thăm dò, khai thác khoáng sản; Phê duyệt kế hoạch thăm dò, kế hoạch phát triển mỏ đối với dự án thăm dò, khai thác dầu khí; Cấp, điều chỉnh giấy phép xây dựng đối với dự án có hạng mục xây dựng công trình thuộc đối tượng phải có giấy phép xây dựng; Cấp giấy chứng nhận đầu tư đối

Trang 37

Trách nhiệm của chủ đầu tư dự án sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt

+ Thực hiện các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

+ Trường hợp thay đổi quy mô, công suất, công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt nhưng chưa đến mức phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường, chủ đầu tư dự án phải giải trình với cơ quan phê duyệt và chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận của cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Trách nhiệm của chủ đầu tư trước khi đưa dự án vào vận hành

+ Tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường theo quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

+ Phải báo cáo cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường phục vụ vận hành dự án đối với

dự án lớn, có nguy cơ tác động xấu đến môi trường do Chính phủ quy định Những dự án này chỉ được vận hành sau khi cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường

Trách nhiệm của cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

+ Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định và quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

+ Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của chủ đầu tư dự án được quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này, cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường phải tổ chức kiểm tra và cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của

dự án Trường hợp phải phân tích các chỉ tiêu môi trường phức tạp thì thời gian cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của dự án có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày

Ngoài ra pháp luật còn có những quy định về việc cam kết BVMT Trách nhiệm tổ chức đăng ký bản cam kết BVMT thuộc về UBND cấp huyện, trường hợp cần thiết, UBND cấp huyện có thể uỷ quyền cho UBND cấp xã đăng ký Thời hạn chấp nhận bản cam kết BVMT là không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản cam kết môi trường hợp lệ Các đối tượng này

Trang 38

chỉ được hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sau khi đã đăng ký bản cam

+ Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực BVMT

+ Nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, trình độ pháp lý trong lĩnh vực môi trường, thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực môi trường, việc hợp tác quốc tế về BVMT sẽ giúp cho hoạt động quản lý nhà nước về MT đạt kết quả cao hơn, thông qua việc trao đổi thông tin, đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ về tài chính, ký kết các thoả thuận quốc tế, (Quốc hội, 2014)

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp

2.1.6.1 Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường

Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường hoàn thiện thống nhất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật ở các khu công nghiệp có hiệu quả Bởi vì, hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, tạo cơ sở

về mặt pháp lý cho việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp

Thực tế cho thấy việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp khó có thể đạt như kết quả mong muốn, nếu như không có một cơ sở pháp lý vững chắc, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường

ở các khu công nghiệp là hệ thống pháp luật văn bản quy phạm pháp luật bảo

vệ môi trường được xây dựng thống nhất từ trên xuống dưới từ hiến pháp đến luật, đặc biệt là Luật bảo vệ môi trường và những văn bản có liên quan đến hoạt động của các chủ đầu tư cơ sở hạ tầng, các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, kể cả văn bản của UBND các cấp về bảo vệ môi trường Hệ thống pháp luật hoàn thiện đồng bộ và hiện đại là bảo đảm về mặt pháp lý cho việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp Để đáp

Trang 39

ứng được yêu cầu đó cần phải tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp xúc với các

dự thảo môi trường, tham gia thảo luận đóng góp ý kiến… góp phần nâng cao

ý thức tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước về môi trường Sau khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường phải có các hoạt động tuyên truyền, giáo dục trên nhiều kênh thông tin khác nhau để nội dung của các quy phạm này đến được với tất cả các doanh nghiệp

Tuy nhiên thực tế cho thấy hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập Nhiều quy định còn thiếu hoặc một số vấn đề chưa được quy định cụ thể như: Hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia chưa đầy đủ, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn giới hạn tối đa cho phép về ô nhiễm mùi Các quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí hiện nay, còn thiếu, chưa tập trung và hiệu quả điều chỉnh chưa cao "Cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh riêng cho lĩnh vực này" (Lê Hồng Hạnh

và cs., 2008)

Bên cạnh đó một vấn đề cần đề cập đến là pháp luật về bảo vệ môi trường Việt Nam không có quy định về việc áp dụng hồi tố Thực tế này làm cho việc gây ô nhiễm môi trường trở nên phổ biến hơn Không ít khu vực sông hồ bị ô nhiễm nặng trở thành các khu vực "chết", các sông "chết" nhưng không xác định được, cá nhân hay doanh nghiệp nào phải chịu trách nhiệm pháp lý, dẫn đến việc truy cứu rất khó trên thực tế và pháp lý

Hiện nay nước ta chưa ban hành thuế bảo vệ môi trường, kiểm toán môi trường, chưa quy định cụ thể chi tiết chế định bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường

2.1.6.2 Ý thức chấp hành pháp luật của các chủ doanh nghiệp về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp

Ý thức pháp luật cũng là một yếu tố bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp Bởi ý thức pháp luật là sự phản ánh một cách tích cực và sáng tạo đời sống xã hội mà trực tiếp là đời sống pháp luật không đồng nhất với pháp luật, đời sống pháp luật là tổng thể các hiện tượng pháp luật như hệ thống các văn bản pháp luật, tình trạng pháp chế, văn hoá pháp lý, hoạt động tổ chức thi hành và áp dụng pháp luật, thái độ của người dân đối với pháp luật, các tài liệu, sách báo về pháp luật

Trang 40

Các hiện tượng trên lặp đi lặp lại thường xuyên phổ biến trong đời sống xã hội được phản ánh thông qua bộ não con người một cách tích cực và sáng tạo hình thành lên ý thức pháp luật Nhờ sự phản ánh và thông qua sự phản ánh này

mà con người có được thông tin, sự hiểu biết về thái độ của nhà nước, của xã hội đối với các sự kiện pháp luật và các hiện tượng pháp luật Từ đó mà hình thành khái niệm, quan điểm, tư tưởng, và niềm tin đối với pháp luật Thông qua ý thức pháp luật giúp con người tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với pháp luật

Thực tế đã chứng minh cho chúng ta thấy ở nơi nào, ý thức pháp luật của chủ thể pháp luật cao thì hiệu quả thực hiện pháp luật nói chung rất cao và ngược lại ở những địa phương trong những thời kỳ mà ý thức pháp luật của những cá nhân, tổ chức chưa được nâng cao thì hiệu quả thực hiện pháp luật rất thấp Việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp cũng như vậy, khi ý thức pháp luật của các doanh nghiệp về pháp luật bảo vệ môi trường chưa đầy đủ thì hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường xảy ra nhiều hơn với mức độ nghiêm trọng hơn Do vậy, dù pháp luật

về bảo vệ môi trường được xây dựng hoàn chỉnh và đầy đủ đến đâu đi chăng nữa cũng sẽ không được thực hiện nghiêm chỉnh nếu ý thức của các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước không đầy đủ Đối với các doanh nghiệp ý thức pháp luật của họ được thể hiện ở chỗ họ nhận thức được đúng quyền và nghĩa

vụ của mình Họ có quyền tác động, được sử dụng một hoặc nhiều thành phần môi trường Ví dụ: sử dụng nước để xây dựng nhà xưởng, nước để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất… đồng thời họ phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, không được thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm như: không được thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường, các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước, thải khói, bụi khí

có chất hoặc mùi độc hại vào không khí, phán tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hoá vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép…

Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý, thanh tra, kiểm tra, điều tra và xử lý trong lĩnh vực môi trường cũng được pháp luật quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể

Đối với việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp thì việc các doanh nghiệp nắm được các thông tin, hiểu biết về các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường để có được thái độ đúng đắn trong việc khai

Ngày đăng: 30/05/2017, 23:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2000), “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững
Tác giả: Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
20. Trần Tuấn Anh (2011). “Nghiên cứu tình hình xây dựng khu công nghiệp Amata thành khu công nghiệp sinh thái”. Luận văn tốt nghiệp, Đại học Quốc Gia TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình xây dựng khu công nghiệp Amata thành khu công nghiệp sinh thái
Tác giả: Trần Tuấn Anh
Năm: 2011
21. Trương Thị Bích Phượng (2011). “Nghiên cứu tình hình thực thi chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh”. Luận văn cao học, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình thực thi chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Trương Thị Bích Phượng
Năm: 2011
16. Nguyễn Văn Phước (2013). Giáo trình quản lý và xử lý chất thải rắn. Truy cập ngày 10/10/2015 tại http://moitruong.com.vn/tai-lieu/giao-trinh-quan-ly-va-xu-ly-chat-thai-ran-nguyen-van-phuoc-7551.htm Link
2. Báo cáo công tác bảo vệ môi trường (2013), của Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh Khác
3. Báo cáo công tác bảo vệ môi trường (2014), của Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh Khác
4. Báo cáo công tác bảo vệ môi trường (2015), của Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh Khác
5. Cục thống kê Bắc Ninh (2015): Các báo cáo tổng kết phát triển kinh tế - xã hội, dân số, lao động, đất đai của tỉnh trong giai đoạn 2013 – 2015 Khác
6. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt (2003). Nghị định số 106/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ quy định về việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí Khác
7. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009). Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Khác
8. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định 179/2013/NĐ – CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường Khác
9. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định 18/2015/NĐ – CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường Khác
10. Hoàng Xuân Cơ (2012). Giáo trình kinh tế môi trường. Nhà xuất bản giáo dục Khác
11. Lê Đắc Trường, Vũ Văn Doanh (2011). Giáo trình cơ sở khoa học môi trường, Hà Nội Khác
12. Lê Hồng Hạnh và Dương Thanh An, Đặng Hoàng Sơn, Nguyễn Văn Phương và Vũ Khác
14. Monre.gov.vn: Ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp – Hệ lụy đã thấy rõ, truy cập ngày 22/2/2016 tại Khác
17. Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Bảo vệ Môi trường Khác
18. Thu Huyền (2016). Xu hướng trong xử lý rác thải – Bài học từ Ấn Độ, truy cập ngày 10/10/2015 tại Khác
22. UBND tỉnh Bắc Ninh (2011), Quyết định số 64/2011/QÐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc Ban hành Quy chế Bảo vệ môi trường làng nghề, cụm công nghiệp tỉnh Bắc Ninh Khác
4. Tên người được phỏng vấn 5. Chức vụ của người được phỏng vấn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp Amata - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp Amata (Trang 50)
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Bắc Ninh từ năm 2013-2015 - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Bắc Ninh từ năm 2013-2015 (Trang 58)
Bảng 3.2.  Dân số tỉnh Bắc Ninh giaiđoạn 2013 – 2015 - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 3.2. Dân số tỉnh Bắc Ninh giaiđoạn 2013 – 2015 (Trang 59)
Bảng 3.3. Lao động đang làm việc theo khu vực kinh tế của Bắc Ninh giai đoạn 2013 – 2015 - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 3.3. Lao động đang làm việc theo khu vực kinh tế của Bắc Ninh giai đoạn 2013 – 2015 (Trang 60)
Bảng 3.4. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2013 - 2015 - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 3.4. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2013 - 2015 (Trang 61)
Bảng 3.5. Kết quả sản xuất kinh doanh tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013 – 2015 - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 3.5. Kết quả sản xuất kinh doanh tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013 – 2015 (Trang 62)
Sơ đồ 4.1. Sơ đồ tổ chức các cơ quan quản lý môi trường tỉnh Bắc Ninh - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 4.1. Sơ đồ tổ chức các cơ quan quản lý môi trường tỉnh Bắc Ninh (Trang 69)
Bảng 4.3. Đánh giá của cán bộ các cấp về mức độ khẩn trương trong - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 4.3. Đánh giá của cán bộ các cấp về mức độ khẩn trương trong (Trang 70)
Sơ đồ 4.2. Phân công  phối hợp trong quản lý Nhà nước về bảo vệ môi - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 4.2. Phân công phối hợp trong quản lý Nhà nước về bảo vệ môi (Trang 72)
Bảng 4.7. Ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp về quản lý nước thải - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 4.7. Ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp về quản lý nước thải (Trang 81)
Sơ đồ 4.3. Công tác thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt, chất thải không - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 4.3. Công tác thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt, chất thải không (Trang 83)
Bảng 4.11. Kiểm soát khí thải trong nhà máy của doanh nghiệp được điều tra - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 4.11. Kiểm soát khí thải trong nhà máy của doanh nghiệp được điều tra (Trang 88)
Bảng 4.12. Tuyên truyền, tập huấn các nội dung nâng cao nhận thức bảo vệ - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 4.12. Tuyên truyền, tập huấn các nội dung nâng cao nhận thức bảo vệ (Trang 90)
Bảng 4.14. Công tác thanh tra môi trường tỉnh Bắc Ninh qua các năm - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 4.14. Công tác thanh tra môi trường tỉnh Bắc Ninh qua các năm (Trang 93)
Bảng 4.16. Trang thiết bị phục vụ việc lấy mẫu và phân tích môi trường  nước của Trung tâm Quan trắc tài nguyên môi trường tỉnh - nghiên cứu thực thi chính sách  bảo vệ môi trường của doanh nghiệp  trong các khu công nghiệp tỉnh bắc ninh
Bảng 4.16. Trang thiết bị phục vụ việc lấy mẫu và phân tích môi trường nước của Trung tâm Quan trắc tài nguyên môi trường tỉnh (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w