Kết quả chính và kết luận Nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cơ bản đảm bảo về số lượng, chất lượng, cơ cấu giữa các độ tuổi và có tính kế thừa; đa số cán bộ, công chức cấp xã
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ LAN ANH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CẤP XÃ TẠI THÀNH PHỐ HÀ GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Văn Đãn
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn tốt nghiệp này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc thầy TS Đinh Văn Đãn người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của UBND thành phố
Hà Giang, UBND các xã, phường và người dân trên địa bàn thành phố Hà Giang đã giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Anh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn vii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm về chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 4
2.1.2 Đặc điểm, nhiệm vụ cán bộ, công chức cấp xã 7
2.1.3 Nội dung nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 8
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1 Thực trạng lao động hành chính công ở cấp xã, phường, thị trấn hiện nay ở Việt Nam 14
2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 17
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 23
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố 24
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 26
Trang 53.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của thành phố hà giang 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 36
3.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 37
3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 39
4.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại thành phố hà giang 39
4.1.1 Khái quát về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thành phố Hà Giang 39
4.1.2 Thực trạng trình độ đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ở thành phố Hà Giang 41
4.1.3 Chất lượng hoạt động của cán bộ, công chức cấp xã thành phố Hà Giang 50
4.1.4 Thành tựu và hạn chế về chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã thành phố Hà Giang 64
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ công chức cấp xã thành phố hà giang 67
4.2.1 Yếu tố ảnh hưởng từ công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng 67
4.2.2 Yếu tố ảnh hưởng từ công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng đãi ngộ cán bộ, công chức cấp xã 68
4.2.3 Yếu tố ảnh hưởng từ môi trường và điều kiện làm việc 71
4.2.4 Yếu tố ảnh hưởng từ công tác giáo dục phẩm chất, tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, công chức 72
4.3 Định hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã ở thành phố hà giang 76
4.3.1 Bối cảnh phát triển và yêu cầu đối với cán bộ công chức cấp xã ở thành phố Hà Giang đến năm 2020 76
4.3.2 Định hướng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ở thành phố Hà Giang 82
4.3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thành phố Hà Giang 83
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 9999
5.1 Kết luận 9999
5.2 Kiến nghị 100100
Tài liệu tham khảo 101101
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CNH Công nghiệp hóa
KH-XH Kinh tế - Xã hội
CNTT Công nghệ thông tin
UBND Ủy ban nhân dân
SXKD Sản xuất kinh doanh
HĐND Hội đồng nhân dân
UBMTTQ Ủy ban mặt trận Tổ quốc
TNCSHCM Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả thực tế việc sử dụng đất giai đoạn 2012 - 2015 29
Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế của thành phố Hà Giang giai đoạn 2012 - 2015 32
Bảng 3.3 Đối tượng thu thập thông tin 36
Bảng 4.1 Số lượng, cơ cấu cán bộ công chức cấp xã thành phố Hà Giang 40
Bảng 4.2 Trình độ văn hóa CBCC cấp xã thành phố Hà Giang 41
Bảng 4.3 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cán bộ, công chức cấp xã thành phố Hà Giang 42
Bảng 4.4 Trình độ Lý luận chính trị CBCC cấp xã thành phố Hà Giang 45
Bảng 4.5 Trình độ tin học CBCC cấp xã thành phố Hà Giang 46
Bảng 4.6 Trình độ ngoại ngữ CBCC cấp xã thành phố Hà Giang 46
Bảng 4.7 Cơ cấu độ tuổi cán bộ công chức cấp xã thành phố Hà Giang 48
Bảng 4.8 Cơ cấu cán bộ công chức cấp xã phân theo dân tộc 50
Bảng 4.9 Đánh giá của cán bộ xã và cán bộ thôn về tiêu chuẩn chung của đội ngũ công chức cấp xã 51
Bảng 4.10 Đánh giá của người dân về công chức cấp xã 53
Bảng 4.11 Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của chức danh Trưởng công an 55
Bảng 4.12 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh Chỉ huy trưởng quân sự 57
Bảng 4.13 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh VP-TK 58
Bảng 4.14 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh ĐC-XD 59
Bảng 4.15 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh Tài chính - Kế toán 61
Bảng 4.16 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh TP-HT 62
Bảng 4.17 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh VH-XH 63
Bảng 4.18 Thực trạng tuyển dụng cán bộ công chức xã, phường tại thành phố Hà Giang 69
Bảng 4.19 Đánh giá của cán bộ thành phố về tiêu chuẩn chung của đội ngũ cán bộ cấp công chức xã 73
Trang 8TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Mục đích nghiên cứu
Đề tài luận văn nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, qua đó đánh giá thực chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Giang để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và tăng cường vai trò của cán bộ, công chức cấp xã phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã thu thập các số liệu thứ cấp và sơ cấp về chất lượng cán bộ đội ngũ công chức xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Giang thông qua việc thảo luận nhóm các chuyên gia, phỏng vấn các cán bộ quản lý và các đối tượng có liên quan bằng việc chọn mẫu ngẫu nhiên Từ các số liệu thu thập được tác giả tổng hợp bằng phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh để phân tích thực trạng những kết quả đạt được và những khó khăn vướng mắc trong quản lý kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn
Kết quả chính và kết luận
Nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cơ bản đảm bảo về số lượng, chất lượng, cơ cấu giữa các độ tuổi và có tính kế thừa; đa số cán bộ, công chức cấp xã được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước, có ý thức tổ chức kỷ luật, gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Nhiều cán bộ, công chức cấp xã đảm bảo các tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức theo quy định tại Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ và Nghị quyết số 05-NQ/TU của Tỉnh ủy, luôn có trách nhiệm, khắc phục khó khăn, nỗ lực rèn luyện phấn đấu trong công tác và học tập, hăng hái đóng góp tích cực vào sự phát triển của địa phương Thái độ giao tiếp của đa số cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ ở cấp xã đối với các tổ chức, công dân đến liên hệ công việc đã có chuyển biến rõ rệt, tận tình, trực tiếp chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với nhân dân ở cơ sở
Việc tuyển dụng cán bộ, công chức cấp xã đã cơ bản thực hiện nghiêm Nghị quyết
số 05-NQ/TU của Tỉnh uỷ và Quy chế tuyển dụng công chức cấp xã của UBND tỉnh; đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được trẻ hoá, được đào tạo cơ bản và bố trí sử dụng đúng người, đúng việc, đúng trình độ năng lực và được xếp lương theo ngạch, bậc;
hệ số lương tương ướng với trình độ đào tạo, đã tạo sự công bằng với cán bộ, công chức
từ cấp huyện trở lên, kịp thời động viên cán bộ, công chức cấp xã trong quá trình phấn đấu học tập để đạt chuẩn trình độ chính trị, trình độ chuyên môn theo Nghị quyết số 05-
Trang 9NQ/TU của Tỉnh uỷ; vì vậy chất lượng cán bộ, công chức cấp xã được nâng lên năm sau cao hơn năm trước
Tuy nhiên, do trình độ dân trí chung trên địa bàn còn thấp, đời sống người dân còn nhiều khó khăn chưa quan tâm đầu tư cho việc học tập của con em, do đó lực lượng nguồn cho cán bộ công chức cấp xã hiện nay bị hạn chế nhiều về chất lượng Mặt khác,
do kinh tế phát triển nhanh chóng, đội ngũ cán bộ cũ chậm thích ứng được với điều kiện mới, quy định chuẩn hóa cán bộ công chức cấp xã được đặt ra dẫn tới sự cạnh tranh trong đội ngũ cán bộ và một số nơi còn để xảy ra hiện tượng bè phái, cục bộ, phe cánh, dòng tộc, mất đoàn kết, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nhưng chậm được giải quyết Thêm vào đó, việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vừa qua mới chỉ tập trung vào việc chuẩn hóa bằng cấp Không ít cán bộ, công chức đương nhiệm phải
“chạy xô” đi học để có đủ bằng cấp, đáp ứng yêu cầu “chuẩn hóa” Vì vậy, năng lực thực tế của một số cán bộ, công chức cấp xã còn yếu so với yêu cầu nhiệm vụ, còn lúng túng, bất cập về kiến thức, năng lực và kỹ năng công tác, nên có ảnh hưởng đến việc giải quyết công việc chung, nhất là về thủ tục hành chính, làm cho một số tổ chức, công dân đến liên hệ công việc thiếu hài lòng
Xuất phát từ thực tế đó tác giả đã đưa ra các giải pháp cho địa bàn, cụ thể: hoàn thiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí sử dụng và đãi ngộ đối với cán bộ;…
Từ khóa: chất lượng nhân lực; cán bộ, công chức cấp xã, chất lượng cán bộ công chức cấp xã
Trang 10THESIS ABSTRACT Research Objectives
Dissertation studies the theoretical basis and practical for improving staff quality civil servants, thereby assessing the quality of cadres, civil servants and wards in the city Ha Giang to propose solutions to improve the quality and enhance the role of officials and civil servants to serve economic development - local society
Materials and Methods
The author has collected the secondary data on the quality of primary and staff civil servants communes in Ha Giang city through expert group discussions, interviews with managers and objects associated with random sampling From the data collected by the authors aggregated statistical method description and comparison statistics to analyze the situation of the results achieved and the difficulties and problems in business management in the area of agricultural materials you
Main findings and conclusions
Overall staff, civil servants basically ensure the quantity, quality, structure and age among legacy; the majority of cadres, civil servants have been trained, tested in practice, with firm political bravery, exemplary observance of the guidelines, the party line; policies and laws of the state, have a sense of organization and discipline, sticking close to the people and capture the feelings and aspirations of the people Many officials and civil servants to ensure the standards of titles of civil servants as prescribed in Circular No 06/2012/TT-BNV dated 30/10/2012 of the Ministry of Internal Affairs and Resolution No 05- NQ/TU of the Provincial Committee, always responsible, overcome difficulties and strive training efforts in the work and learning, eager to contribute actively to the development of the locality Communication attitude of the majority of cadres and civil servants to do their duty at the commune level for organizations and citizens to contact the work has changed markedly, dedicated, direct care and physical life and the spirit of the people at the grassroots
The recruitment of cadres, civil servants have basically strictly implement Resolution No 05-NQ/TU of the Provincial Party Committee and the Regulation on civil servants recruitment of PPC; cadres and civil servants gradually rejuvenate, basic training and layout using the right person, right job, the right qualifications and salaries according to ranks and grades; equivalents salary coefficients to training level, has to be fair to the staff and officials from the district level upwards, timely mobilization of cadres and civil servants in the process of learning to strive to meet the standards
Trang 11process political, professional qualification under Resolution No 05-NQ / TU of the Provincial Party Committee; so the quality of cadres and civil servants are raised year after year
However, due to the general educational level in the province is low, people's lives more difficult not interested in investing in their children's learning, so the force source for communal officials today restricted lot of quality On the other hand, due to rapid economic development, the old staff was slow to adapt to new conditions, prescribed standardized communal civil servants are set to lead the competition in staff and a some places still to occur factions, local, factions, clans, disunity, violates the principle of democratic centralism, but slow to be resolved In addition, the standardization of cadres, civil servants have only recently focused on the standardization of qualifications Many officials and incumbent civil servants to "rush"
to go to school to get a degree sufficient to meet demand "normalization" Therefore, the actual capacity of a number of officials and civil servants are weak compared to mission requirements, they become confused and inadequate knowledge, ability and work skills, should have an impact on the solving common tasks, especially in administrative procedures, making a number of organizations and citizens to contact the lack of satisfaction
Stems from the fact that the author has given the solution for the province, namely: completing the planning, training and retraining of personnel; recruitment innovation, use and disposition of staff remuneration;
Keywords: quality of human resources; officials and civil servants, ward officials quality commune level
Trang 12PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kinh nghiệm thực tiễn ở trong nước và ngoài nước cho thấy muốn CNH, HĐH thắng lợi, muốn phát triển KT-XH nông thôn nhanh và bền vững thì phải dựa vào đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Cán bộ, công chức cấp xã là trụ cột, là nền móng, là nền tảng đối với toàn bộ chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn và chiếm vị trí trọng yếu trong phát triển KT-XH nông thôn Chính đội ngũ nhân lực này sẽ nghiên cứu, vận dụng đưa nhanh các tiến bộ khoa học-công nghệ vào sản xuất, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã phải có trí tuệ, tinh thông về nghiệp vụ, giàu tính nhân văn và phải có thể lực tốt Cấp cơ sở, trước tiên là cấp xã là nơi quyết định chất lượng trong công việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, nên Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh "nền tảng mọi công tác là cấp xã"
Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân đồng thời trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó việc không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; đặc biệt là đối với những huyện, xã vùng sâu, vùng xa, những huyện miền núi đời sống người dân còn khó khăn, lạc hậu
Mặt khác, trong tình hình kinh tế, xã hội diễn biến phức tạp như hiện nay,
để đảm bảo giữ vững an ninh tổ quốc, đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế chung của đất nước thì càng cần có một đội ngũ cán bộ cơ sở có chất lượng cao, có năng lực trong lãnh đạo, có phẩm chất đạo đức tốt để nhân dân tin theo, ngoài ra cần có một khả năng nhạy bén trong học hỏi và trình độ học vấn đáp ứng tiếp cận, ứng dụng được các khoa học kỹ thuật công nghệ cao trong việc thực hiện quản lý Nhà nước Từ thực tế đó đòi hỏi lực lượng cán bộ công chức cấp xã phải đáp ứng không chỉ về số lượng mà quan trọng còn phải đáp ứng về chất lượng
Hà Giang là vùng miền núi nên dân số trong tỉnh không đông, người Kinh chiếm đa số, còn lại là các sắc dân gồm Thổ, H’Mông, Tày, Dao, Mán,
Trang 13Nùng, Giáy và Lô Lô Phần đông đều thờ cúng tổ tiên, thần linh; và đều có những sắc thái văn hóa đặc thù Cũng vì địa thế toàn rừng núi nên kinh tế Hà Giang tương đối kém phát triển Song nhìn chung nền kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn là nông nghiệp, lâm nghiệp, nguồn thu ngân sách hạn hẹp, GDP bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với bình quân chung của các tỉnh khác Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ công chức nói chung, đặc biệt đối với cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, bởi lẽ đây là đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị ở cơ sở trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn địa phương
Tuy nhiên, một thực tế khách quan đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh hiện nay không chỉ còn thiếu về số lượng mà chất lượng còn rất thấp Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở nói riêng và của Đảng và nhà nước nói chung; tình trạng bất ổn cục
bộ ở một số địa phương, làm suy giảm niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: "Nâng cao chất lượng cán bộ, công
chức cấp xã tại thành phố Hà Giang" làm luận văn nghiên cứu
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Giang đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và tăng cường vai trò của cán bộ, công chức cấp xã phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 141.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng cán bộ công chức cấp xã, phường của thành phố Hà giang
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu công tác tuyển dụng, quy hoạch cán bộ và đào tạo phát triển năng lực của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại thành phố Hà Giang
- Về không gian, đề tài tập trung nghiên cứu tại thành phố Hà Giang, trong
đó tập trung nghiên cứu sâu tại 03 xã/phường trên địa bàn
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu các thông tin, số liệu trong khoảng thời gian từ đầu năm 2013 đến cuối năm 2015 và đề suất một số giải pháp cho những năm tiếp theo đến năm 2020
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng về số lượng và chất lượng cán bộ công chức cấp xã tại thành
Trang 15PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ, PHƯỜNG
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm về chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Trong cuộc nói chuyện với các học viên Trường Nguyễn Ái Quốc năm
1963, Bác có nói: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng
Vì vậy, cán bộ là gốc của mọi công việc Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1963)
a Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
+ Khái niệm cán bộ:
Khoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội Trung ương, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Vì vậy, cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ
+ Khái niệm công chức:
Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
Trang 16đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
b Khái niệm chất lượng cán bộ công chức cấp xã
Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng năm
2000, định nghĩa: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc
Khi đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã, một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của cán bộ, công chức? Chất lượng của cán bộ, công chức được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: Chất lượng của cán bộ, công chức được thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã Chất lượng của cán bộ, công chức được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác Chất lượng của cán bộ, công chức là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng cán bộ Đối với cán bộ, công chức cấp xã, muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương Chẳng hạn, các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý nhà nước, pháp luật v.v ; độ tuổi; thâm niên công tác v.v Chất lượng của cán bộ, công chức còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức đối với công vụ được giao
c Khái niệm chính quyền cấp xã
Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở, đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp xã
Trang 17đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đối với chính quyền cấp
xã Cùng với việc hoàn thiện thể chế, chính sách đãi ngộ và đầu tư cơ sở vật chất, Đảng và Nhà nước luôn chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
Qua từng thời kỳ lịch sử, chính quyền cấp xã không ngừng được xây dựng
và củng cố, bảo đảm cho chính quyền nhà nước vững mạnh từ cơ sở Cán bộ là một yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và củng cố chính quyền cấp xã vững mạnh Đồng thời muốn xây dựng và củng cố chính quyền cấp xã vững mạnh thì phải xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất để thực hiện
sự nghiệp đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng
Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa hệ thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân Cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Chính quyền được hiểu là bộ máy điều khiển, quản lý công việc của nhà nước và hoạt động của nó mang tính chất quyền lực của Nhà nước, bằng phương thức tác động của Nhà nước Vì thế, Chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Qua đó có thể hiểu, chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp của Việt Nam: Trung ương, tỉnh, huyện, xã, đó là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở
cơ sở, thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn
Từ những phân tích trên đây, có thể nêu khái quát chính quyền cấp xã như sau: Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, có chức năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương theo Hiến pháp, pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của
cơ quan quản lý cấp trên
Trang 182.1.2 Đặc điểm, nhiệm vụ cán bộ, công chức cấp xã
2.1.2.1 Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã
Cán bộ, công chức cấp xã là người đại diện cho Nhà nước ở cơ sở thực hiện chức năng Quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được giao và đại đa số cán bộ, công chức cấp xã hầu hết đều là người địa phương, sinh sống tại địa phương, có quan hệ giàng buộc lẫn nhau ở một khía cạnh tình cảm nào đó
Cán bộ, công chức cấp xã: đó là cấp cơ sở triển khai các Nghị quyết, đường lối của Trung ương, nơi đây có các mối quan hệ xóm làng, dòng họ và trực tiếp
do dân bầu ra cho nên cán bộ công chức cấp xã có đặc điểm riêng Do vậy, chúng
ta phải xây dựng các chỉ tiêu sự tín nhiệm trong dân; sự hài lòng của người dân trong giải quyết công việc; chỉ tiêu đánh giá năng lực cán bộ công chức cấp xã; đối với công tác tuyên truyền vận động cơ sở được coi là tiêu chí đánh giá quan trọng của cấp trên đối với cấp dưới hoặc ngược lại
Cán bộ, công chức cấp xã là những người hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần chúng Ta thấy việc làm cán bộ, công chức cấp xã hàng ngày cọ sát với thực tiễn rất phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có bề dày kinh nghiệm và hiểu biết
Như chúng ta đã biết cán bộ, công chức cấp xã khác với công chức hành chính cấp huyện, cấp tỉnh: đó là công chức ở cơ sở gần dân thường xuyên triển khai các Nghị quyết, đường lối chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, cán bộ ở cơ sở có mối quan hệ họ hàng làng xóm gắn bó khó có thể tách rời, cán bộ cấp xã là chế độ dân bầu Chúng ta cần phải xây dựng chỉ tiêu văn hóa, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, trình
độ quản lý nhà nước, kỹ năng trong giải quyết công việc, kỹ năng giao tiếp với mục đích nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội đó là mục đích cuối cùng của việc nâng cao chất lượng CBCC cấp xã
2.1.2.2 Nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã
Theo quy định tại Điều 61 Luật cán bộ, công chức (năm 2008), Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP thì:
Trang 19- Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
+ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc;
+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); + Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
- Công chức cấp xã có các chức danh sau:
+ Trưởng Công an;
+ Chỉ huy trưởng Quân sự;
+ Văn hóa - xã hội
2.1.3 Nội dung nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
- Nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ công chức cấp xã
Trình độ văn hóa là cơ sở để cán bộ, công chức có điều kiện tiếp thu các kiến thức, các kỹ năng trong công tác chuyên môn, trong công tác quản lý nhà nước với những lượng kiến thức được cập nhật liên tục Ngày nay trình độ dân trí của chúng ta ngày càng được nâng lên đòi hỏi người cán bộ, công chức nhà nước cũng phải nâng tầm hiểu biết của mình đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Không nên chủ quan, duy ý chí hài lòng với những gì mình có mà thường xuyên trau dồi các kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm sống không ngừng học tập, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ học vấn, các kỹ năng về chuyên môn nghiệp
vụ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết công việc một cách hài hòa, có hiệu quả
Trang 20Đây là một tiêu chí quan trọng trong công tác đánh giá hoàn thành nhiệm
vụ được giao hàng năm Khi trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhu cầu cuộc sống, trong giải quyết công việc thì việc tiếp thu các kiến thức mới sẽ bị hạn chế, những ý tưởng sâu xa trong công tác tuyên truyền phổ biến chủ trương, tư tưởng, đường lối, các chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước dẫn đến việc thực thi, triển khai Nghị quyết của cấp
ủy đảng, chính quyền khi đi vào cuộc sống cũng sẽ bị hạn chế, gặp nhiều khó khăn nên việc truyền đạt sẽ dẫn đến thiếu sót hoặc thậm chí có những lúc còn gây hiểu sai thì hậu quả thật khôn lường
- Quy hoạch phát triển là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của công tác
tổ chức cán bộ Quy hoạch phát triển là việc lựa chọn những người có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn quy định về khả năng, năng lực, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật…và phù hợp với tình hình cụ thể ở địa phương để đưa vào nguồn kế cận tạo nguồn bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới Do đó quy hoạch phát triển còn là cơ sở của việc đào tạo bồi dưỡng và định hướng việc bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm trong tương lai
- Trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã
Trình độ lý luận chính trị và kiến thức quản lý nhà nước nhà nước đó là những kiến thức chuyên môn rất quan trọng bổ trợ cho cán bộ, công chức trong giải quyết công việc thường xuyên Có những kỹ năng này người cán bộ, công chức cấp
xã được trang bị cho mình lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, kiên định với lý tưởng cộng sản, không dao động trước mọi khó khăn thử thách về vật chất, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Lấy học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động, thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng người cộng sản, suốt đời cống hiến cho lý tưởng không đòi hỏi, không phai nhạt lý tưởng, coi đó như là những phần thưởng vô giá giành cho những con người cống hiến suốt đời cho công lý, cho cách mạng, xây dựng chế độ chính trị
xã hội bền vững thông qua những đấu tranh tư tưởng, coi vật chất trở thành hư vô, suốt đời phấn đấu phục vụ nhân dân coi đó là niềm vui, là chân lý cách mạng
- Trình độ tin học, ngoại ngữ của cán bộ công chức cấp xã
Chúng ta phải khẩn trương và hoàn thiện ngay, trang bị và đào tạo ngay cho cán bộ, công chức cấp xã về chỉ tiêu này Có thể chỉ tiêu về ngoại ngữ chúng ta
Trang 21đào tạo sau vì bây giờ nhu cầu về ngoại ngữ chưa thực sự cần thiết lắm trong lúc này, nhưng nhất thiết phải đào tạo ngay để người cán bộ, công chức cấp xã có thể
sử dụng máy vi tính một cách thành thạo, hoàn thành bản báo cáo hoặc xử lý các văn bản thông thường hàng ngày trên máy vi tính là hết sức cấn thiết và quan trọng Bởi phần lớn cán bộ, công chức cấp xã ở Việt Nam nói chung và cán bộ, công chức cấp xã ở Hải Hậu nói riêng chưa được đào tạo bài bản, học hành thì chắp vá, cán bộ nguồn thì đi lên từ cơ sở không được theo học các khóa học nghiệp vụ hay các kỹ năng chuyên sâu, chuyên nghiệp Bên cạch đó, cán bộ, công chức không chịu khó mày mò nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại phục vụ cho công việc Cho nên, việc nâng cao năng lực về trình
độ tin học là việc làm quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết trong lúc này nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi đối với công việc phục vụ nhân dân địa phương
- Đào tạo theo nghĩa chung nhất là quá trình tác động có hệ thống đến con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo… đạt được năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống, có khả năng nhận sự phân công lao động xã hội nhất định Công tác đào tạo bồi dưỡng là con đường cơ bản để nâng cao kiến thức, sự hiểu biết toàn diện: nhận thức về lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ về quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế xã hội, tin học, ngoại ngũ, kỹ năng nghề nghiệp… nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
- Bồi dưỡng là giai đoạn tiếp theo sau đào tạo, là hoạt động hướng vào mục tiêu liên tục bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng lực nói chung cho những người đã được đào tạo sau một thời gian công tác nhất định
Theo điều 5 Nghị định số 18/CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 xác định: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho từng ngạch công chức Bồi dưỡng theo chức vụ lãnh đạo, quản lý
là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ lãnh đạo, quản lý Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công tác được giao” Trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, bồi dưỡng cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới về kiến thức, kỹ năng, thái độ thực thi nhiệm vụ,
Trang 22công vụ; giúp cho người cán bộ, công chức càng ngày càng hoàn thành công việc được giao có chất lượng, hiệu quả hơn
- Sử dụng cán bộ, công chức cấp xã: việc bố trí, xắp xếp, sử dụng cán bộ công chức đúng người, đúng việc, đúng với năng lực, trình độ của cán bộ, công chức rất quan trọng quyết định yếu tố thành công trong giải quyết công việc làm phát huy hết giá trị thực của bản thân người cán bộ công chức, thông qua người cán bộ, công chức mà mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được truyền đạt đến người dân một cách thấu đáo, rõ ràng nhờ những người cán bộ gương mẫu, tận tuỵ trong công việc hết lòng phục vụ nhân dân lấy nhân dân làm chủ thể hành động, là đối tượng phục vụ chứ không phải ta vào vai cán
bộ công chức có quyền hách dịch, sách nhiễu gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân trong giải quyết công việc
Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin, chính sách pháp luật của nhà nước luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh một cách kịp thời, đảm bảo cho sự nghiệp cải cách kinh tế, cải cách nền hành chính nhà nước, do vậy bồi dưỡng kiến thức về quản lý hành chính và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ cho công chức cấp
xã là vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
2.1.4.1 Yếu tố bên trong
- Tuổi tác và số năm kinh nghiệm làm việc Cán bộ, công chức cấp xã là
những người làm việc trực tiếp với người dân và tiếp xúc với nhân dân hàng ngày nên ngoài kinh nghiệm chuyên môn, các cán bộ, công chức cần có kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử với người dân và nắm rõ phong tục, tập quán địa phương để ứng xử cho phù hợp Cán bộ, công chức có càng nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động sẽ có năng lực tốt hơn
- Sức khỏe, giới tính Trên thực tế các cán bộ và công chức cấp xã thường
xuyên phải xuống cơ sở, thậm chí vào các ngày cuối tuần và ngoài giờ hành chính Do đó, yêu cầu thể lực là một yếu tố quan trọng đối với hoàn thành công việc Cũng như vậy thì nam giới thường có ưu thế hơn nữ giới trong hầu hết các công việc yêu cầu làm việc trên địa bàn rộng và thời gian linh động như vậy, ví
dụ như công tác thú y, thủy lợi
Trang 23- Tinh thần học và tự học Phát triển kinh tế- xã hội nông thôn là cả một
quá trình trong một bối cảnh xã hội luôn biến động, đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức cần luôn tự học, tự rèn luyện để đáp ứng với đòi hỏi của sự phát triển Ngoài các lớp đào tạo, bồi dưỡng được tổ chức, cán bộ công chức cấp xã còn nên
tự học và học hỏi từ kinh nghiệm thực tế của đồng nghiệp
- Sự yêu nghề và gắn bó với nghề Yêu nghề là yếu tố hàng đầu gắn bó
người cán bộ công chức cấp xã với công việc của họ, và là một trong những động lực quan trọng nhất giúp người cán bộ, công chức cấp xã thường xuyên học hỏi
và tự đổi mới, nâng cao năng lực của bản thân
2.1.4.2 Yếu tố bên ngoài
- Quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ Theo Nguyễn Thị Khoa (2013),
quy hoạch cán bộ là một trong những khâu quan trọng trong công tác cán bộ, tạo điều kiện để kiện toàn tổ chức và đổi mới cán bộ một cách thường xuyên, bảo đảm được tính kế thừa và liên tục trong đội ngũ cán và có thể xây dựng được kế hoạch cán bộ Quy hoạch cán bộ được thực hiện đồng bộ sẽ tạo nguồn cán bộ đến việc dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp Mục tiêu của quy hoạch là lựa chọn được những cán bộ thực sự có đức, có tài để đưa vào nguồn kế cận, dự bị; từng bước giao nhiệm vụ, thử thách, rèn luyện, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thông qua trường lớp và qua thực tiễn nhằm tạo nguồn bổ sung cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chât, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới
- Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ Theo Nguyễn Thị Khoa
(2013), đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa là yêu cầu trước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng là một khâu quan trọng trong công tác cán bộ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch là khâu cơ bản có tính chiến lược trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ cho tương lai Trên cơ sở lấy chất lượng
và hiệu quả làm mục triêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bổ sung và nâng cao kiến thức, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp
vụ, theo tiêu chuẩn chức danh đã được xác định Cán bộ được luân chuyển phải trong quy hoạch và được đào tạo, bồi dưỡng, trang bị kiến thức cơ bản trước khi luân chuyển Chú trọng việc thường xuyên bồi dưỡng cập nhật những kiến thức mới về quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
Trang 24nước cho cán bộ lãnh đạo, quản lý Kết hợp chặt chẽ học đi đôi với hành, học tập
lý luận với nâng cao phẩm chất, đạo đức và rèn luyện trong thực tiễn công tác
- Chế độ chính sách Theo Nguyễn Thế Vịnh (2013), hoàn thiện chế độ,
chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức cấp xã là một quá trình; về khách quan, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; về chủ quan, đòi hỏi phải đổi mới tư duy của những người, những cơ quan hoạch định chế độ, chính sách, trước hết phải đổi mới ngay từ khâu phối hợp ban hành văn bản, khắc phục tình trạng bộ, ngành, địa phương nào cũng tham mưu ban hành chế độ đãi ngộ, tạo nên những mâu thuẫn, bất cập trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Trong chế độ, chính sách đãi ngộ cần quan tâm chế độ tiền lương, nghiên cứu việc áp dụng trả lương theo hệ thống vị trí việc làm, bảo đảm cán bộ, công chức cấp xã làm việc ở vị trí như nhau, tài năng và cống hiến như nhau thì được hưởng lương như nhau (không phụ thuộc nhiều vào bằng cấp với tính chất là một tiêu chí của đầu vào); nguồn kinh phí trả lương không chỉ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước cấp mà phải phù hợp với tính chất, đặc điểm từng loại đối tượng cán bộ, từng loại hình cơ sở
Chính sách tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đi kèm với chính sách đãi ngộ là một yếu tố rất quan trọng Nếu chính sách tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đãi ngộ cán bộ, công chức cấp xã được thực hiện tốt sẽ thu hút được những người có năng lực thật sự, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng một tốt hơn còn nếu làm không tốt thì
sẽ có tác dụng ngược lại
Hiện nay có tình trạng, cán bộ trẻ, cán bộ giỏi hầu như không muốn chọn cấp cơ sở là nơi gắn bó cống hiến lâu dài Bên cạnh đó nguồn cán bộ ở xã hạn hẹp, một số đồng chí không đủ tiêu chuẩn vẫn đưa vào quy hoạch, có nơi do nể nang, rà soát nhưng chưa mạnh dạn đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi quy hoạch và chưa bổ sung kịp thời những người trẻ, sức phấn đấu tốt vào quy hoạch Một số chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước có thay đổi điều chỉnh nhưng chưa tương ứng với công sức của cán bộ bỏ ra trong quá trình thực thi nhiệm vụ; thành phố có chế độ hỗ trợ khi đi học nhưng mức trợ cấp không theo kịp mức tăng giá hiện nay; cán bộ lại thực hiện chế độ bầu cử theo nhiệm kỳ từ đó cũng khó khăn cho công tác quy hoạch, bố trí cán bộ ở cơ sở Do vậy cần sử dụng đồng bộ các chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần nhằm khuyến khích cán bộ, công chức đem hết khả năng, năng lực của mình công hiến cho xã hội
Trang 25- Sự phát triển của công nghệ thông tin và hội nhập quốc tế
Sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) ngày nay báo trước một thời kỳ mới với những thay đổi xã hội lớn lao CNTT như một công nghệ chung xâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế của tất cả các quốc gia trên thế giới
CNTT đang có khuynh hướng xóa nhòa các biên giới, không thừa nhận sự biệt lập, mở ra không gian rộng rãi hơn cho con người, vì thế ứng dụng CNTT đang đặt ra những cuộc chơi mới, với những nguyên tắc mới, buộc người tham gia phải chấp nhận Áp lực này chắc hẳn ảnh hưởng không ít đến hoạt động bộ máy hành chính Việt Nam từ cấp Trung ương đến cấp xã phường, thị trấn CNTT như một thách thức đồng thời cũng là công nghệ quan trọng phổ biến nhất, lan tỏa mạnh nhất và hứa hẹn nhất giúp các cấp chính quyền Việt Nam nhanh chóng hòa nhập vào hệ trị thống kinh tế - chính trị và xã hội toàn cầu Vấn đề là phải hướng đến việc tìm ra con đường để CNTT thâm nhập, lan tỏa nhanh nhất cải cách nền hành chính quốc gia
CNTT cũng mở ra không gian rộng lớn để các cấp chính quyền cải cách
bộ máy tổ chức Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ thông tin là loại cải tiến có tính công nghệ, nó có thể thâm nhập vào mọi lĩnh vực, làm thay đổi căn bản quy trình làm việc đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải nhanh chóng nắm bắt và thích ứng Các cấp chính quyền cần phải nhận thức về khả năng áp dụng của CNTT Phải tạo ra các điều kiện tổ chức tốt hơn và chú ý đến việc phát triển tầm nhìn chiến lược về bộ máy tổ chức, về cán bộ Đối với Việt Nam, khi mà đội ngũ cán
bộ, công chức các cấp, nhất là ở cấp xã còn có những hạn chế và chưa thích ứng được muốn nâng cao chất lượng cán bộ, công chức trước hết, không thể không nhận thức những vấn đề cốt lõi chấp nhận và ứng dụng CNTT
một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị
Hiện nay, nước ta có 11.112 xã, phường, thị trấn với tổng số 222.735 cán
bộ, công chức và 317.766 cán bộ không chuyên trách cấp xã (Dương Trung Ý,
Trang 262013) Đây là những người trực tiếp đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, tuyên truyền, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện Kết quả thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở cũng như năng lực lãnh đạo,
uy tín chính trị, bản chất của Đảng, Nhà nước ta gắn liền với năng lực, trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ này Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ vừa là yêu cầu cơ bản, vừa
là đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
Thực hiện Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở Bộ Chính trị các khóa VIII, IX, X đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, quy định về công tác cán bộ Nhờ đó, công tác cán bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp có chuyển biến rõ rệt Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ban hành Nghị quyết “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, trong đó có những quan điểm, chủ trương đặt cơ sở cho việc xác định các chức danh cán bộ, công chức và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 2003 đến nay, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã như: Nghị định
số 114/2003/NĐ-CP về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đến năm 2010; Quyết định
số 31/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006-2010; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định số 170/QĐ-TTg phê duyệt Dự án thí điểm chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học tăng cường về làm phó chủ tịch ủy ban nhân dân các
xã thuộc 62 huyện nghèo… Bộ Nội vụ có Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và Thông tư 06/2012/TT-BNV hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn
Trang 27Những năm gần đây, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đã được các cấp ủy đảng coi trọng và thực hiện một cách bài bản, đồng bộ hơn, từ khâu quy hoạch, tạo nguồn đến đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động… Nhiều cấp ủy đã luân chuyển, tăng cường cán bộ cấp trên về làm bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; cán bộ luân chuyển về cơ sở đã phát huy tác dụng, từng bước trưởng thành, thúc đẩy phong trào địa phương phát triển Nhờ công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ được coi trọng, nên số cán bộ chuyên trách năm 2012 so với năm
2002 đạt chuẩn về chuyên môn là 64,72% (tăng 39,37%), đạt chuẩn về lý luận chính trị là 66,25% (tăng 26,15%); số công chức chuyên môn đạt chuẩn là 89,28% (tăng 56,95%) và đạt chuẩn về lý luận chính trị là 37,61% (tăng 16,07%) Một số địa phương có chính sách thu hút cán bộ trẻ, tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học về công tác ở cấp xã Các tỉnh biên giới tăng cường cán bộ, sĩ quan biên phòng về tham gia công tác ở các xã biên giới, xã vùng khó khăn, góp phần củng cố hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở (Dương Trung Ý, 2013)
Nhìn chung, đa số cán bộ, công chức cơ sở được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có ý thức tổ chức, kỷ luật, gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Nhiều cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn có ý thức trách nhiệm, thái độ cầu thị, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu công tác và học tập, rèn luyện, hăng hái chăm lo việc làng, việc xã, đóng góp tích cực vào sự phát triển của địa phương Thái độ giao tiếp của đa số công chức thực thi nhiệm vụ ở
cơ sở với các tổ chức, công dân có chuyển biến rõ rệt, có ý thức trách nhiệm, tận tình và chu đáo, ứng xử đúng mực, đóng vai trò then chốt trong việc đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với dân, trực tiếp chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở và yêu cầu ngày càng cao trong lãnh đạo, quản lý, điều hành quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội, quản
lý đô thị, xây dựng nông thôn mới… ở cấp xã hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại nhiều địa phương còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về số lượng và chất lượng
Trang 28Về số lượng, vấn đề nan giải đặt ra đối với các xã, phường, thị trấn hiện nay là vừa thừa, lại vừa thiếu cán bộ Số cán bộ được hưởng lương, phụ cấp, bồi dưỡng… từ ngân sách ở cấp xã và dưới xã trung bình khoảng 200 người/xã, có phường lên tới 600 người, dẫn đến tổng số cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách cấp xã và dưới cấp xã cả nước hiện khoảng 2,3 triệu người và xu hướng còn tăng thêm, trong khi đó nhiều nơi lại đang rất thiếu những cán bộ có trình độ, năng lực chuyên môn, có khả năng làm việc tốt Đây thực sự là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước và là bài toán khó cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ này
Bên cạnh hạn chế về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kinh nghiệm, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở nhiều nơi vẫn còn nhiều hạn chế về tinh thần trách nhiệm, thái độ giao tiếp, ứng xử Nhiều cán bộ xã sau khi trở thành công chức có biểu hiện xa dân hơn, quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân Bên cạnh đó, tình trạng cục bộ địa phương theo thôn, xóm, dòng họ trong đội ngũ cán bộ, công chức còn diễn ra ở nhiều nơi
Xu hướng hành chính hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tương đối phổ biến
Có nhiều nguyên nhân của những hạn chế nêu trên, trong đó có nguyên nhân do lịch sử để lại Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, đa số trưởng thành ở cơ sở, tuy có nhiều kinh nghiệm nhưng không được đào tạo bài bản, lại chịu ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ Mặt khác, trong một thời gian dài, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ chưa được thực hiện bài bản Chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ cơ sở còn nhiều bất hợp lý, chưa đảm bảo để cán bộ yên tâm công tác, cống hiến (Dương Trung Ý, 2013)
2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
2.2.2.1 Đà Nẵng chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Xác định rõ vai trò và tầm quan trọng chiến lược của công tác cán bộ trong thực thi các chính sách quản lý hành chính nhà nước, thành phố đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để tạo bước chuyển biến đột phá trong công tác cán bộ và đẩy mạnh triển khai các giải pháp thực hiện mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, năng động, minh bạch và hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XX, nhiệm kỳ 2011
Trang 29- 2015 xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong năm hướng đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; để thực hiện mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thành phố đã ban hành các Đề
án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (trước là Dự án 151, Dự án 32, Đề
án 47 - Đề án hỗ trợ đào tạo bậc đại học tại các cơ sở giáo dục trong nước và ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước dành cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Đề án 393 - Đề án đào tạo 100 thạc sĩ, tiến sĩ tại các
cơ sở nước, nay là Đề án 922) Đến nay, đã có 594 học viên Đề án Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tốt nghiệp đại học (492 học viên) và sau đại học (102 học viên: 19 tiến sĩ và 83 thạc sĩ) tại các cơ sở đào tạo ở trong nước và nước ngoài (trong đó, 319 học viên tốt nghiệp tại các cơ sở ở nước ngoài); thu hút được 1.089 người (15 tiến sĩ, 236 thạc sĩ và 838 đại học loại giỏi, xuất sắc) đã tiếp nhận, bố trí công tác tại các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố; trong đó, có 14 người (học viên Đề án 922: 04 người, đối tượng thu hút: 10 người) được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc, Phó Giám đốc sở và tương đương Thông qua các chính sách này, đã giúp cho thành phố trẻ hóa được đội ngũ cán bộ, bổ sung nguồn nhân lực kịp thời Bên cạnh việc đào tạo nguồn nhân lực, thành phố cũng quan tâm, đào tạo, chuẩn hóa, trẻ hóa đội ngũ cán bộ cơ sở và đã tiếp nhận 139 người tốt nghiệp đại học hệ chính quy, dưới 35 tuổi, có phẩm chất đạo đức tốt, lý lịch rõ ràng, có chiều hướng phát triển để đào tạo nguồn cán bộ cho chức danh Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch UBND phường, xã (Đề án 89) để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phường, xã; trong số 139 người này, có 23 người được chỉ định giữ chức vụ Phó Bí thư Đảng ủy phường, xã; 01 người giữ chức vụ Chủ tịch UBND phường; 03 người được bầu giữ chức vụ Phó Chủ tịch HĐND xã; 24 người giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND phường, xã Trong năm 2013, UBND thành phố xây dựng và triển khai Kế hoạch đẩy mạnh chế độ công vụ, công chức của thành phố Đà Nẵng và các cấp, ngành trong giai đoạn 2013 - 2015; tổ chức lễ tuyên dương cho 71 công chức, viên chức xuất sắc tiêu biểu nguyên tắc công khai, công bằng, khách quan và được xét chọn từ hơn 23.000 công chức, viên chức của các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Cũng trong năm 2013, thành phố triển khai xây dựng Đề án vị trí việc làm và áp dụng phương pháp đánh giá kết quả công việc của công chức hàng tháng theo hình thức trực tuyến đến tất cả các
sở, ban, ngành, quận, huyện và các phường, xã; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hơn nữa đạo đức công vụ theo tinh thần 5 xây: "Trách nhiệm","Chuyên
Trang 30nghiệp", "Trung thực","Kỷ cương","Gương mẫu"; đồng thời kiên quyết thực hiện
3 chống các biểu hiện: "Quan liêu","Tiêu cực","Bệnh hình thức" (Phạm Đức Tuấn, 2013)
Bên cạnh đó, thành phố rất chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và bồi dưỡng kỹ năng theo vị trí việc làm, công việc đang đảm nhận đã góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức; các cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị cũng luôn quan tâm công tác giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, công chức
Qua thực hiện các chủ trương, chính sách mang tính đột phá trong công tác cán bộ và thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong những năm qua thành phố
đã tạo bước chuyển biến tích cực trong công tác cán bộ; đội ngũ cán bộ, công chức đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ và thực thi công vụ
2.2.2.2 Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cơ sở ở Hải Dương
Tỉnh Hải Dương thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm ở trung tâm tam giác tăng trưởng kinh tế phía Bắc (Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh), có 263 xã, phường, thị trấn Đến tháng 12-2015, Hải Dương có tổng số cán bộ chuyên trách
là 2.738, cán bộ công chức cấp xã là 2.027, cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và thôn, khu dân cư là 11.019 (Vũ Thị Phương, 2015)
Xác định rõ tầm quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, những năm qua Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo việc nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, trong đó trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành tiến hành điều tra, khảo sát nắm rõ thực trạng đội ngũ cán bộ để có biện pháp phù hợp Trong các năm 2010-2015, Tỉnh ủy Hải Dương ban hành và chỉ đạo thực hiện Nghị quyết chuyên đề “Xây dựng đội ngũ cán bộ tỉnh Hải Dương đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” Trên cơ sở bám sát tiêu
Trang 31chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới, Ban Tổ chức Tỉnh ủy hướng dẫn xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn, định kỳ rà soát, bổ sung quy hoạch Bằng nhiều biện pháp tích cực, đồng bộ, trong 3 năm 2010-2015, đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đã có 896 người được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn (đại học, cao đẳng 354, trung cấp 542); 763 người được đào tạo về lý luận chính trị (cao cấp 2, trung cấp 761); 234 cán bộ không chuyên trách được đào tạo
về chuyên môn (đại học, cao đẳng 81, trung cấp 153), 121 cán bộ không chuyên trách được đào tạo trung cấp lý luận chính trị
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở từng bước đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Đến nay, trong 6 chức danh chủ chốt bí thư, phó bí thư, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND, phó chủ tịch HĐHD, phó chủ tịch UBND có 68,3% đạt trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên (trong
đó cao đẳng, đại học là 20,5%); 75% có trình độ lý luận chính trị trung cấp Đội ngũ công chức cấp xã: 10,36% có trình độ chuyên môn đại học, cao đẳng, 64,3%
có trình độ chuyên môn trung cấp; 31,8% có trình độ lý luận chính trị trung cấp, 0,4% có trình độ đại học về quản lý nhà nước, 4,2% có trình độ trung cấp về quản
lý nhà nước và 27,4% có kiến thức về tin học (Vũ Thị Phương, 2015)
Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn thấp so với mục tiêu trong Đề án số 02-ĐA/TU ngày 26-01-2007 của Ban Thường vụ Tỉnh
uỷ về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới Để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, vấn đề mấu chốt là phải tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức tốt, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực quản lý, điều hành và thực thi công vụ Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã đề ra phương hướng, mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 là: Có ít nhất 90% số cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn (bí thư, phó
bí thư, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND, phó chủ tịch HĐND, phó chủ tịch UBND) phải có trình độ chuyên môn trung cấp trở lên, trong đó 35-40% có trình
độ chuyên môn đại học; 100% có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên Đối với trưởng các đoàn thể và công chức xã, phường, thị trấn phải có 75-80% có
Trang 32trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, 70% có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên Phấn đấu đến năm 2020, 100% số cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn
có trình độ chuyên môn trung cấp trở lên, trong đó 50-60% có trình độ chuyên môn đại học, 100% trưởng các đoàn thể và công chức cấp xã có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, 90% có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên
Để đạt được mục tiêu trên, trong thời gian tới Hải Dương tiếp tục thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục đổi mới, thực hiện tốt các khâu trong công tác cán bộ,
trước hết là công tác đánh giá cán bộ phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện, thực sự lấy hiệu quả công tác và sự đóng góp thực tế làm thước
đo phẩm chất và năng lực cán bộ Đánh giá đúng cán bộ tạo tiền đề quy hoạch,
bố trí, sử dụng đúng cán bộ
Hai là, làm tốt công tác quy hoạch cán bộ cơ sở Trên cơ sở quy hoạch cán
bộ và căn cứ vào tiêu chuẩn, nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp Tiếp tục thực hiện tốt quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (ban hành kèm theo Quyết định số 1304/2007/QĐ-UBND, ngày 28-3-2007 của UBND tỉnh)
Ba là, xây dựng tiêu chuẩn về trình độ, năng lực chuyên môn từng chức
danh cán bộ cơ sở, tiến hành khảo sát, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã và chất lượng cán bộ trong nguồn quy hoạch hằng năm, nhất là sau đại hội đảng và sau bầu cử HĐND để điều chỉnh kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng từng năm đáp ứng yêu cầu thực tế của địa phương
Bốn là, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo Thực hiện việc đào tạo
theo tiêu chuẩn chức danh về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước Đồng thời, quan tâm bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp trong thực thi công vụ, kỹ năng xử lý tình huống ở cơ sở, bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND, đại biểu HĐND; kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ không chuyên trách ở xã, thôn, khu dân cư Giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, trau dồi đạo đức công chức cho cán bộ (cả chuyên trách và không chuyên trách); xây dựng tinh thần sống và làm việc theo pháp luật, thái độ tôn trọng dân, phục vụ dân Tổ chức thực hiện nghiêm túc Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Trang 33Minh” nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới phương thức đào tạo theo hướng cơ bản, thiết thực, gắn với thực tiễn Đồng thời, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, nhất là giảng viên kiêm chức
Tăng cường sự quan tâm chỉ đạo của cấp uỷ các cấp, sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở đào tạo trong xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; lập dự toán kinh phí đào tạo; theo dõi kiểm tra thực hiện kế hoạch và nội dung, chương trình đào tạo
Năm là, thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ trên cơ sở đảm bảo tiêu chuẩn,
tính liên tục, tính kế thừa Đẩy mạnh việc luân chuyển cán bộ nhằm tạo “dòng chảy” trong công tác cán bộ Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở cơ
sở, cán bộ nữ
Sáu là, thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định về công tác cán bộ và
chính sách bảo đảm vật chất, động viên tinh thần đối với cán bộ cơ sở Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện tốt việc nhân dân giám sát cán bộ, công chức tại cộng đồng dân cư Thực hiện tốt việc lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với các chức danh chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND cấp xã Nâng cao chất lượng tuyển dụng cán bộ, công chức cơ sở Chú trọng thu hút cán bộ giỏi và sinh viên mới tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng về công tác tại xã, phường, thị trấn (Vũ Thị Phương, 2015)
2.2.2.3 Kinh nghiệm Thành phố Nam Định
Thành phố Nam Định là thành phố trực thuộc tỉnh có 25 đơn vị hành chính gồm 20 phường, 5 xã Năm 2013, Thành phố Nam Định xếp loại chính quyền vững mạnh cho các xã, phường cụ thể như sau:
Chính quyền vững mạnh: 9 đơn vị (chiếm 36%); Chính quyền khá: 15 đơn
vị (60%); Chính quyền trung bình: 1đơn vị (đạt 1%)
Tổng số cán bộ công chức cấp xã thành phố là: 453 người, trong đó: cán bộ là: 221người (chiếm 48,78%), công chức là: 232 người (chiếm 51,22%) Trình độ quản lý nhà nước là: 297 người (đạt 65,56%); Trình độ lý luận chính trị là: 314
Trang 34người (đạt 69,31%); Trình độ chuyên môn là: 418người (đạt 92,27%) (Đảng uỷ thành phố Nam Định, 2015)
2.2.3 Bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn, kinh nghiệm nâng cao năng lực quản lý của cán bộ công chức cấp xã có thể rút ra một số bài học quan trọng như sau:
Một là: Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã xác định giải pháp quan trọng hàng đầu để tăng cường hiệu quả, hiệu lực bộ máy hành chính nhà nước
Hai là: Cải cách đồng bộ nền hành chính trong đó quan tâm đặc biệt đến công tác thi tuyển công khai minh bạch nhằm chọn và thu hút những cán bộ giỏi
từ mọi nguồn lực đóng góp cho nhân lực cán bộ công chức cấp xã, ưu tiên trong tuyển dụng là con em địa phương nắm chắc địa bàn
Ba là: Việc nâng cao năng lực có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt Có năng lực hoạt động chỉ đạo thực tiễn của người cán bộ lãnh đạo vừa ở tầm khái quát, hệ thống, vừa cụ thể, vừa chặt chẽ, vừa mềm dẻo, linh động Ở nước ta hiện nay, vai trò của năng lực điều hành, năng lực tư duy lý luận đối với cán bộ công chức cấp xã lại càng quan trọng do phải đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Người cán bộ lãnh đạo cùng với việc rèn luyện trau dồi đạo đức cách mạng thì phải nâng cao năng lực tư duy lý luận, năng lực quản lý điều hành, một trong những yếu tố nền tảng cơ bản nhất của năng lực lãnh đạo
Bốn là: Cán bộ, công chức tiến tới phải là những người được đào tạo cơ bản trong nhà trường và được đào tạo, bồi dưỡng sau khi được bổ nhiệm, tuyển dụng, được rèn luyện qua các cương vị cần thiết trong thực tế, ưu tú về năng lực
và hội tụ tương đối đầy đủ những tố chất đạo đức của người cán bộ, công chức Cần phải đổi mới tư duy trong việc định hướng chiến lược, xây dựng kế hoạch, chương trình, cùng với các giải pháp một cách cụ thể trong việc đào tạo, sử dụng, thu hút những người có đủ các điều kiện đáp ứng yêu cầu của công việc Cần phải thực hiện tốt công tác tổ chức như điều động, bổ nhiệm theo nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ Thực hiện nghiêm túc đúng phương pháp quy trình về đánh giá, nhận xét cán bộ, công chức, tôn trọng công tác quy hoạch từ cơ sở, đảm bảo nguồn cán bộ, công chức kế cận và có sự kế thừa qua các thế hệ Công tác tổ chức cần đảm bảo nguyên tắc phát huy trách nhiệm,
Trang 35quyền hạn, đánh giá đúng khả năng, năng lực của cán bộ, công chức xuất phát từ yêu cầu công việc
Năm là: Chú trọng quy hoạch nguồn cán bộ, công chức trẻ, cán bộ nữ có khả năng năng lực, được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt gắn với kế hoạch đào tạo bồi dưỡng sát với tình hình thực tế tại địa phương, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn
và vượt chuẩn Phải đổi mới và có những chính sách thực hiện việc xét tuyển, thi tuyển công khai, minh bạch mang tính cạnh tranh cao, giáo dục mọi cán bộ, công chức nêu cao ý thức tự giác trau dồi kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp Xây dựng
cơ chế chính sách đãi ngộ thoả đáng, thu hút những người tài, ngoài chế độ chung của Nhà nước cần mạnh dạn ban hành cơ chế chính sách riêng mang tính đột phá, thiết thực về kinh tế, môi trường làm việc Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức cấp xã, kịp thời phát hiện các sai phạm, xử lý,
kỷ luật các cán bộ, công chức có năng lực kém, thoái hoá biến chất, tham nhũng, qua đó góp phần nâng cao năng lực, trách nhiệm phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức
2.3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI ĐÃ CÔNG BỐ
Học viện Hành chính Quốc gia đã có những công trình nghiên cứu như: Nguyễn Duy Gia với “Cải cách nền hành chính Quốc gia ở nước ta”; Đoàn Trọng Tuyến với “Tổng quan về nền hành chính nhà nước Việt Nam”; Chương “Công
vụ và quản lí nhân sự trong hệ thống hành chính nhà nước” của Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu; Trần Ngọc Hiên với “Cải cách chương trình đào tạo cho các loại đối tượng công chức”; Chương “Quy chế pháp lí hành chính của cán bộ, công chức” trong giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội của Trần Minh Hương v.v
Bộ Nội vụ đã có những đề tài nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Đó là “Chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ công chức 2001-2010” của Viện Khoa học tổ chức nhà nước; “Chiến lược đào tạo cán bộ” của Nguyễn Khắc Thái, Nguyễn Trọng Điều; “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng quy chế đào tạo bồi dưỡng công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay -
Trang 36Bộ Nội vụ 2003”; “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức” của Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (NXBCTQG, 2005)
Một số đề tài nghiên cứu đã công bố có liên quan đến chủ đề cán bộ, công chức nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng như Luận văn Trần Thị Ngọc
“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định” Luận văn Hoàng Thị Hào “Đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính cấp tỉnh ở tỉnh Nam Định”; Đề tài “Thực trạng, giải pháp nâng cao chất lượng quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn hiện nay” đề tài
do Sở Nội vụ tỉnh Bắc Cạn chủ trì, nghiệm thu tháng 5/2012; tác giả Trương Minh Nguyễn có bài viết Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã ở Lạng Sơn, đăng trên tạo chí Xây dựng Đảng số tháng 5/2012
Tuy nhiên các đề tài chỉ dừng lại ở một số mặt, một số khía cạnh nhất định, chưa có một đề tài nào đi sâu nghiên cứu đánh giá về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã một các toàn diện, để đưa ra kết luận chính xác khách quan, trên cơ sở đó đề ra được các giải pháp có tính đồng bộ và thực thi một cách
có hiệu quả trên địa bàn thành phố Hà Giang
Trang 37PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ
Trang 38Thành phố Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Hà Giang, nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh, cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc 23 km và cách Hà Nội 318 km Ba phía Bắc, Tây và Nam giáp với huyện Vị Xuyên, phía Đông giáp huyện Bắc Mê Thành phố được thành lập ngày 27 tháng 9 năm 2010 trên cơ sở mở rộng và nâng cấp thị xã Hà Giang
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Ngày 27/9/2010, theo Nghị quyết số 35/NQ - CP, thành phố Hà Giang chính thức được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Hà Giang với diện tích tự nhiên 13.392,8
ha và 71.687 nhân khẩu Thành phố có 8 đơn vị hành chính gồm 5 phường: Trần Phú, Minh Khai, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Ngọc Hà và 3 xã : Ngọc Đường, Phương Thiện, Phương Độ
Thành phố Hà Giang nằm giữa 2 dãy núi Cấm và Mỏ Neo, cách
Hà Nội 318km về phía Bắc theo quốc lộ 2 Phía Đông thành phố Hà Giang giáp huyện Bắc Mê; ba mặt Tây, Nam, Bắc đều giáp huyện Vị Xuyên Là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Giang trong toạ độ địa lý từ 22045' đến 22048' vĩ độ Bắc và từ 104047' đến 105003' kinh độ Đông Cách cửa khẩu Thanh Thuỷ 23 km và cách thành phố Tuyên Quang khoảng 153 km Trên địa bàn thành phố có Quốc lộ 2 là tuyến giao thông huyết mạch trong trục trung chuyển giữa vùng kinh tế Tây Nam của Trung Quốc và các tỉnh miền Bắc Việt Nam
a Địa hình, địa mạo
- Là vùng đồi núi thấp, thung lũng sông Lô càng xuống phía Nam càng được mở rộng Độ cao trung bình từ 50 – 100 m Nằm trong vùng chuyển tiếp của thành phố núi đá vùng cao và các thành phố núi đất vùng thấp, thành phố
Hà Giang có địa hình tương đối phức tạp theo hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông
- Địa hình chủ yếu là các dạng đồi thấp, rừng già xen kẽ các cánh đồng lúa, soi bãi chạy dọc đôi bờ sông, suối Địa hình này được tập trung nhiều ở khu vực phía Tây , một phần ở xã Ngọc Đường và phường Quang Trung Địa hình này có độ cao thay đổi từ 100 - 700 m, địa hình đồi bát úp hoặc lượn sóng thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả
Trang 39- Địa hình thung lũng: Gồm các dải đất bằng thoải hoặc lượng sóng ven sông Lô và sông Miện Các loại đất trên địa hình này được hình thành từ các sản phẩm bồi tụ (phù sa và dốc tụ) Do địa hình khá bằng phẳng có điều kiện giữ nước và tưới nước nên hầu hết đất đã được khai thác trồng lúa và hoa màu Địa hình này tập trung nhiều ở phía Bắc, Phương Thiện dọc theo Quốc lộ 2, khu vực giáp ranh phường Ngọc Hà và xã Ngọc Đường Đây là vùng đất đai phì nhiêu thích ứng với nhiều loại cây trồng, trên địa bàn thành phố Hà Giang có sông Lô, sông Miện chảy qua Nhìn chung, địa hình của Thành phố là địa hình thuận lợi nhất cho việc phát triển kinh tế xã hội và sinh hoạt của người dân trong tỉnh Hà Giang
b Khí hậu
- Khu vực thành phố Hà Giang thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa
miền núi và á nhiệt đới, mỗi năm chia ra làm 2 mùa rõ rệt
- Nhiệt độ bình quân cả năm 22,70C, nền nhiệt độ được phân hoá theo mùa
khá rõ rệt, trong năm có 5 tháng nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 200C (tháng 12 đến tháng 4 năm sau); tổng tích ôn đạt trên 8.2000C
- Lượng mưa bình quân hằng năm 2.430 mm nhưng phân bố không đồng
đều Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, lượng mưa chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa cả năm, đặc biệt tập trung vào các tháng 7, 8, 9 nên thường gây úng ngập cục bộ ở các vùng thấp trũng
- Lượng bốc hơi bình quân của thành phố bằng 63,8% lượng mưa trung bình hàng năm Đặc biệt trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng bốc hơi hàng tháng cao hơn lượng mưa từ 2 - 4 lần, gây khô hạn cho cây trồng
vụ đông xuân
- Độ ẩm không khí bình quân cả năm khoảng 84%, trong đó tháng lớn nhất là 87% (tháng 7 và tháng 8) mùa khô, độ ẩm trung bình chỉ còn khoảng 79% (tháng 3) Độ ẩm cao không diễn ra vào các tháng cuối mùa đông mà diễn
ra vào các tháng cuối mùa hạ (tháng 7 và 8)
- Sương muối và mưa đá chỉ xuất hiện đột xuất, ít ảnh hưởng đến sản xuất
và sinh hoạt
Trang 40nước
LUC 426,87 426,87 426,56 426,56
1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 322,05 322,05 321,21 320,83 1.3 Đất rừng phòng hộ RPH 3.196,71 3.196,71 3.313,79 3.052,00 1.4 Đất rừng đặc dụng RDD 1.751,53 1.751,53 1.680.30 3.052,00 1.5 Đất rừng sản xuất RSX 4.597,83 4.597,83 4.597,51 5.218,80 1.6 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS 82,82 82,82 82,73 82,71
2 Đất phi nông nghiệp PNN 1.282,80 1.282,80 1.286,13 1.287,58
2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ
quan, công trình sự
CTS 20,82 20,82 20,82 20,82
2.2 Đất quốc phòng CQP 175,78 175,78 175,78 175,78 2.3 Đất an ninh CAN 18,52 18,52 18,52 18,52 2.4 Đất cơ sở SXKD SKD 23,31 23,31 23,31 23,31 2.5 Đất sản xuất vật liệu xây
dùng SMN 282,30 280,30 280,30 280,30 2.10 Đất phát triển hạ tầng DHT 338,74 340,03 340,03 340,03 2.11 Đất ở ODT 332,01 343.26 346.56 347,93
3 Đất chưa sử dụng CSD 672,81 672,81 626,96 124,04
Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch sử dụng đất (2012)