Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60 34 04 10 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến qu
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN ĐỨC HÙNG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở TỈNH HẢI DƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Hồ Ngọc Ninh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Hùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ đạo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến TS Hồ Ngọc Ninh, thầy giáo đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn- Học viên Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh, Cục Thống kê tỉnh, Cục Thuế tỉnh và các doanh nghiệp có vốn FDI đang đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Hùng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình và sơ đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Lý luận về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
2.1.2 Lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 15
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 20
2.2 Cơ sơ thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 22
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới 22
2.2.2 Các văn bản, chính sách liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 25
Trang 52.2.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Việt Nam 26
2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Hải Dương trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 33
2.2.5 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 34
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 36
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Hải Dương 36
3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội của tỉnh Hải Dương 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 40
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 40
3.2.2 Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu 42
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 42
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 43
Phần 4 Kết quả và thảo luận 44
4.1 Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Hải Dương 44
4.1.1 Tổng quan về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương 44
4.1.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương 49
4.1.3 Đánh giá chung kết quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương 77
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương 8080
4.2.1 Ảnh hưởng của cơ chế, chính sách 8080
4.2.2 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước 8282
4.2.3 Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 8484
4.2.4 Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 8686
4.3 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương 8686
4.3.1 Căn cứ và định hướng 8686
4.3.2 Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương 9090
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 9898
5.1 Kết luận 9898
5.2 Kiến nghị 9999
Tài liệu tham khảo 101101
Trang 6(Hợp đồng xây dựng-chuyển giao-kinh doanh)
BT Build-Transfer (Hợp đồng xây dựng-chuyển giao)
CCN Cụm công nghiệp CNH-HĐH Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa FDI Foreign Direct Investment-
(Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
GCNĐT Giấy chứng nhận đầu tư KCN Khu công nghiệp PPP Hình thức hợp tác công tư
QLNN Quản lý nhà nước UBND Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng mẫu điều tra các doanh nghiệp có vốn FDI 41
Bảng 3.2 Ma trận phân tích SWOT 43
Bảng 4.1 Số lượng doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương 45
Bảng 4.2 Phân loại doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương 47
Bảng 4.3 Phân loại doanh nghiệp có vốn FDI theo đối tác đầu tư trên địa bàn tỉnh Hải Dương 48
Bảng 4.4 Phân loại doanh nghiệp có vốn FDI theo khu vực đầu tư trên địa bàn tỉnh Hải Dương 49
Bảng 4.5 Hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài
được ban hành trên địa bàn tỉnh Hải Dương 64
Bảng 4.6 Số lượng doanh nghiệp có vốn FDI được cấp GCNĐT giai đoạn 2013-2015 trên địa bàn tỉnh Hải Dương 68
Bảng 4.7 Số lượng doanh nghiệp có vốn FDI được điều chỉnh tăng vốn đầu tư giai đoạn 2013-2015 trên địa bàn tỉnh Hải Dương 68
Bảng 4.8 Tình hình giám sát việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các doanh nghiệp có vốn FDI điều tra trên địa bàn tỉnh Hải Dương 71
Bảng 4.9 Tình hình giám sát việc ký kết hợp đồng của các doanh nghiệp có vốn FDI điều tra trên địa bàn tỉnh Hải Dương 72
Bảng 4.10 Tình hình theo dõi, kiểm tra tiến độ thực hiện dự án của các doanh nghiệp có vốn FDI điều tra trên địa bàn tỉnh Hải Dương 75
Bảng 4.11 Tình hình theo dõi việc sử dụng vốn đầu tư của các doanh nghiệp có vốn FDI điều tra trên địa bàn tỉnh Hải Dương 74
Bảng 4.12 Tình hình theo dõi thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của các doanh nghiệp có vốn FDI điều tra trên địa bàn tỉnh Hải Dương 75
Bảng 4.13 Tình hình sử dụng đất, nộp ngân sách nhà nước, sử dụng lao động của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương 7979
Bảng 4.14 Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại bộ phận đầu tư tại cơ quan đăng ký đầu tư qua 3 năm (2013-2015) 8383
Bảng 4.15 Ma trận phân tích SWOT trong QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương 8787
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương 36
Sơ đồ 4.1 Hệ thống tổ chức QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn
tỉnh Hải Dương 50
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Đức Hùng
Tên luận văn: “Tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Hải Dương”
Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60 34 04 10
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước (QLNN) đối với doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường QLNN đối với loại hình doanh nghiệp này nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Hải Dương đến năm 2020 và các năm tiếp theo
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp, phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích SWOT để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra
Kết quả chính và kết luận:
Một số kết quả nghiên cứu chính của luận văn như sau:
(1) Tỉnh Hải Dương đã chỉ đạo, tổ chức thực hiện tương đối tốt một số nội dung QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI, như: Quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan QLNN về lĩnh vực quản lý và cấp GCNĐT tại địa phương; Lập quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch tổng thể tại địa phương, lập quy hoạch phát triển các KCN, CCN định hướng đến năm 2020; Ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh như: Quy định chức năng, quyền hạn của Ban Quản lý các KCN tỉnh, Quy chế phối hợp QLNN đối với các KCN, CCN, Quy định phân cấp quản lý trong lĩnh vực xây dựng và Danh mục dự án kêu gọi đầu tư và dừng thu hút đầu tư; Công tác thanh tra đã được tỉnh phê duyệt theo kế hoạch hàng năm Các sở, ngành đã chủ động xây dựng, phê duyệt và triển khai kế hoạch kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp có vốn FDI trong việc chấp hành quy định pháp luật Tuy đạt được những kết quả tích cực, thực trạng cho thấy tỉnh Hải Dương bộc lộ những bất cập trong công tác QLNN đối với loại hình doanh nghiệp có vốn FDI như: Chưa chú trọng đến việc xây dựng quy hoạch tổng thể gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của địa phương theo từng thời kỳ hoặc thiếu quy hoạch chi tiết theo vùng, ngành nghề; Các
Trang 10chính sách, văn bản pháp luật do UBND tỉnh ban hành chưa được chỉ đạo rà soát, xem xét sửa đổi cho phù hợp với thực tế hoặc bãi bỏ đối với nội dung trái pháp luật hiện hành trong thời gian qua còn chậm, không kịp thời, làm giảm hiệu lực pháp lý của văn bản pháp luật khi ban hành; Chưa chỉ đạo cơ quan chuyên môn nghiên cứu xây dựng Quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác QLNN đối với các dự án, doanh nghiệp có vốn FDI ở ngoài khu công nghiệp; Công tác quản lý các dự án, doanh nghiệp có vốn FDI sau khi được cấp GCNĐT còn lỏng lẻo, các sở, ngành và chính quyền địa phương chưa thực hiện tốt, đầy đủ trách nhiệm được giao Chưa xây dựng được chế độ tiếp xúc, đối thoại thường xuyên giữa chính quyền, cơ quan nhà nước với doanh nghiệp có vốn FDI Việc giải quyết, xử lý những vướng mắc, đề xuất của các doanh nghiệp có vốn FDI được các sở, ngành, cơ quan của tỉnh thực hiện còn chậm, chưa kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư, doanh nghiệp có vốn FDI Công tác trao đổi thông tin, phối hợp giữa các sở, ngành địa phương trong công tác QLNN đối với dự án, doanh nghiệp có vốn FDI còn bất cập; Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng còn chồng chéo, dẫn đến doanh nghiệp có vốn FDI phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra, giám sát trong cùng một thời điểm hoặc trong năm, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và môi trường đầu tư của tỉnh
(2) Thực trạng yếu kém trong công tác QLNN đối với các doanh nghiệp FDI còn gặp một số khó khăn và thách thức như: Khung pháp lý về chuyển giá chưa hoàn thiện; Thiếu thông tin, chất lượng thông tin còn nhiều hạn chế; Sự phối kết hợp giữa các cơ quan trong việc chia sẻ thông tin còn yếu; Thiếu nguồn nhân lực đủ trình độ phục vụ cho công tác kiểm soát chuyển giá và các hoạt động của doanh nghiệp FDI Đây là những yếu tố quan trọng cần được quan tâm và tháo gỡ nhằm củng cố và tăng cường quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và tăng thu ngân sách cho tỉnh
(3) Để tăng cường QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn FDI tại tỉnh Hải Dương nhằm thu hút đầu tư nước ngoài có hiệu quả cần thực hiện một số giải pháp như: hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ cho công tác quản lý, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng liên quan, và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp FDI
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Duc Hung
Thesis title: “Strengthening state management for foreign direct investment
enterprises in Hai Duong Province”
Major: Economic Management Code: 60 34 04 10
Tên cơ sở đào tạo: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Materials and Methods:
Data collection method (secondary and primary data); processing and aggregating data; descriptive statistics, and statistic comparison methods, SWOT
analysis method to carry out the objectives and research tasks posed
Main findings and conclusions:
Some key findings of the thesis are as follows:
(1) Has directed Hai Duong Province, held relatively well done some stuff for state management of FDI enterprises, such as regulations on the functions, duties and powers of the State management agencies in the field management and investment certificates at local level; Planning for economic development and social and overall planning in local development planning IPs, ICs orientation to 2020; Promulgate policies and legal documents on foreign direct investment in the province, such as: Defining the functions and powers of the Management Board of Industrial Zones, Regulation and coordinate state management for IPs, ICs, decentralized regulation in the field of construction and the list of projects calling for investment and stop attracting investment; The inspection has been approved by the province under the annual plan The departments have actively built, approval and implementation of test plans, monitoring of FDI enterprises in the observance of law
However, the current situation shows that Hai Duong province revealed the shortcomings in the work of state management for the type of FDI enterprises such as: Never focus on the construction of the overall planning associated with war economic development in local society in each period or lack of detailed planning by regions and
Trang 12industries; Policies, legal documents issued by the PPC is not only directed to review, consider amendments to suit the actual or annulled for unlawful content prevailing in recent years has been slow, not in time, reduce the legal effect of legislation when enacted; Never direct the research expertise built Regulation coordination between authorities in the work of state management for projects, FDI enterprises outside industrial parks; The management of the project, now the FDI after being granted investment certificate loose, departments and local governments have not done well, complete assigned responsibilities Not developed exposure mode, regular dialogue between the government, state agencies now have FDI The settlement, handling inquiries and proposals of FDI enterprises are the departments and agencies of the province to slow, not in time, failing to meet the requirements of investors, business FDI now Business information exchange, coordination between departments in the work of local state management for projects, FDI enterprises have some shortcomings; Inspection, examination and supervision of agencies overlapping functions, leading to the FDI enterprises have multiple inspection teams to supervise the same time or in years, affecting operations production and trading of the business and investment environment
of the province
(2) Poor performance in the work of state management of FDI enterprises are facing some difficulties and challenges such as transfer pricing legal framework is not complete; Lack of information, quality information is limited; Coordination between agencies in sharing information is weak; Lack of qualified human resources to serve the control of transfer pricing and the activities of FDI enterprises These are important factors to be considered and removed in order to consolidate and strengthen the management of state enterprises contributed to attracting FDI foreign investment and increase revenue for the province
(3) To strengthen the state management of FDI enterprises in Hai Duong province to attract foreign investment needed to effectively implement a number of measures such as improving the system of legal documents, improve management of staff, increase investment in infrastructure and technologies for the management, strengthen the coordination between the relevant authorities, and to raise awareness of law observance FDI enterprises
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tỉnh Hải Dương là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, thuộc khu vực trung tâm tam giác kinh tế phát triển năng động giữa Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh Trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, tỉnh Hải Dương đã vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời tận dụng lợi thế, tiềm năng,
cơ hội sẵn có để thu hút mọi nguồn lực đầu tư ở trong nước và nước ngoài, thực hiện chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, phấn đấu đến năm 2020 thực hiện hoàn thành mục tiêu nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra trở thành tỉnh công nghiệp
Sau khi Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư được ban hành năm 2005 và sửa đổi năm 2014, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thu hút, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển Bên cạnh đó, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành Trung ương và địa phương tăng cường đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp
để đơn giản hóa các thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, doanh nghiệp Nét nổi bật của tỉnh Hải Dương sau khi được tái lập, tỉnh Hải Dương đã huy động, thu hút được các nguồn lực cho đầu tư để phát triển kinh tế-xã hội Tỉnh Hải Dương đã quy hoạch
và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung với kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng đồng bộ, có thể đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của các nhà đầu
tư, doanh nghiệp đến để đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bên cạnh
đó, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh đã chỉ đạo sâu sát, tích cực các sở, ngành, địa phương đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách hành chính trong lĩnh vực đầu tư Qua đó, tỉnh Hải Dương từng bước xây dựng được môi trường đầu tư ngày càng minh bạch, giảm thiểu rào cản cho doanh nghiệp nói chung khi gia nhập thị trường, tạo sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế, tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp có vốn FDI nói riêng khi đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Chính bởi những sự đổi mới có tính đột phá nêu trên, tỉnh Hải Dương đã thu hút được nhiều nhà đầu tư, doanh
Trang 14nghiệp có vốn FDI thuộc các công ty đa quốc gia hoặc tập đoàn kinh tế lớn trên thế đến đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Việc các doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua được đánh giá tương đối hiệu quả, góp phần gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp không nhỏ cho nguồn thu ngân sách địa phương, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân địa phương Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực
mà các doanh nghiệp có vốn FDI đem lại, trong công tác QLNN đối với loại hình doanh nghiệp này còn bộc lộ những mặt còn hạn chế như: Việc chuyển giao thiết
bị, công nghệ còn lạc hậu, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, làm tổn hại cho quá trình phát triển kinh tế bền vững trong tương lai; Thủ tục hành chính có liên quan đến lĩnh vực đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
có vốn FDI đã được các sở, ngành của tỉnh cải thiện, đơn giản hóa theo chỉ đạo của UBND tỉnh song ở một số lĩnh vực còn phiền hà, ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư của tỉnh, làm nản lòng nhà đầu tư và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có vốn FDI Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi đã nghiên cứu và chọn đề tài
“Tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Hải Dương” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế Với mong muốn
kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp một phần nhất định vào việc giải quyết những vấn đề cấp bách và lâu dài trong công tác QLNN đối với loại hình doanh nghiệp có vốn FDI, để doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn, đóng góp tích cực hơn cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Hải Dương trong thời gian tới
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước (QLNN) các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở tỉnh Hải Dương Từ đó đề xuất giải pháp tăng cường QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương đến năm 2020 và các năm tiếp theo
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI
Trang 15- Đánh giá thực trạng QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI
ở tỉnh Hải Dương
- Đề xuất một số giải pháp để tăng cường QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương thời gian tới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn FDI bao gồm những nội dung nào? Sử dụng công cụ và phương pháp quản lý nào?
- Các doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương đã và đang hoạt động như thế nào?
- Thực trạng QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương đang diễn ra như thế nào? Những thuận lợi, khó khăn trong QLNN đối với loại hình doanh nghiệp này?
- Đâu là những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương?
- Để tăng cường QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI hiệu quả hơn trong thời gian tới, tỉnh Hải Dương cần chủ trương, giải pháp như thế nào?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động và nội dung QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương Cụ thể:
- Các nội dung QLNN
- Các cơ quan QLNN có liên quan
- Các doanh nghiệp có vốn FDI thuộc các ngành nghề khác nhau, thuộc loại hình sở hữu khác nhau; thuộc quy mô khác nhau
- Các văn bản pháp quy liên quan QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI
Trang 16+ Phân tích tình hình thu hút vốn FDI Hoạt động và thực trạng QLNN đối với các lĩnh vực: Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch; Ban hành quy định, chính sách và pháp luật; Công tác QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI; Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp có vốn FDI
+ Đánh giá một cách khách quan, chính xác về kết quả đạt được; Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong công tác QLNN đối với thu hút và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương
+ Đề xuất giải pháp và kiến nghị cho các cơ quan QLNN để thực hiện hiệu quả công tác QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương trong những năm tiếp theo
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu QLNN các doanh nghiệp có vốn FDI,
bao gồm: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ở tỉnh Hải Dương
- Về thời gian:
+ Dữ liệu thứ cấp phục vụ cho đánh giá thực trạng được thu thập, khảo sát trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015 Dữ liệu sơ cấp khảo sát tại các doanh nghiệp có vốn FDI, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh… vào năm 2015
+ Các giải pháp đề xuất áp dụng cho đến năm 2020 và năm tiếp theo
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Luận văn có những đóng góp mới như sau:
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề về lý luận doanh nghiệp có vốn FDI và lý luận về QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI Rút
ra được những bài học có thể vận dụng vào thực tiễn ở tỉnh Hải Dương từ kinh nghiệm QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI ở một số địa phương trong nước và trên thế giới;
- Đánh giá đúng thực trạng QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương Phân tích chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Hải Dương Đề xuất được phương hướng và giải pháp tăng cường QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương đến năm 2020 và các năm tiếp theo Đây là những thông tin quan trọng giúp cho các nhà quản lý ở địa phương có các phương án và chính sách quản lý hiệu quả hơn các doanh nghiệp FDI trên địa bàn và góp phần làm tăng thu ngân sách
Trang 17PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Lý luận về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1.1.1 Các khái niệm
a) Khái niệm đầu tư
Người ta thường có quan niệm về đầu tư là việc bỏ vốn hôm nay để mong thu được lợi nhuận trong tương lai Ở mỗi góc độ khác nhau, người ta có thể đưa
ra quan niệm khác nhau về đầu tư, nhưng một quan niệm hoàn chỉnh về đầu tư phải bao gồm các đặc trưng cơ bản như: công việc đầu tư là phải bỏ vốn ban đầu; đầu tư luôn gắn liền với rủi ro, mạo hiểm và nhà đầu tư cần nhìn nhận trước những khó khăn này để có biện pháp phòng ngừa; mục tiêu của đầu tư là hiệu quả song đứng ở những vị trí khác nhau, người ta nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau Với các doanh nghiệp thường thiên về hiệu quả kinh tế, mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận Còn đối với nhà nước, mục tiêu mong muốn hiệu quả kinh tế phải gắn liền với lợi ích xã hội, một số trường hợp lợi ích xã hội được đặt
lên hàng đầu Từ đó, chúng ta hiểu khái quát, đưa ra khái niệm đầu tư: “Đầu tư
là hoạt động sử dụng vốn, tài nguyên trong một thời gian tương đối dài nhằm thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế-xã hội” (Trần Xuân Tùng, 2005) Ở đây, chúng ta
cần lưu ý hoạt động sử dụng vốn, tài nguyên là hình thức sử dụng nguồn lực đầu
tư này không chỉ đơn thuần là tài sản hữu hình như: tiền vốn, đất đai, máy móc, thiết bị, hàng hóa mà nó còn oại tài sản vô hình như: bằng sáng chế, phát minh nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thương mại
b) Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường được hiểu là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, của người dân hoặc từ các nguồn lực khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội Trong hoạt động đầu
tư, đích thân các nhà đầu tư phải bỏ vốn, tài sản của mình để thực hiện hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh theo chiến lược và mục tiêu của mình đề ra Vì vậy,
vốn đầu tư được hiểu như sau: “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác
Trang 18để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp” (Quốc hội, Luật Doanh nghiệp, 2005)
Ở các nước đang phát triển, do thu nhập thấp, khả năng tiết kiệm và đầu tư nội bộ thường thấp hơn so với nhu cầu đầu tư phát triển rất nhiều Do vậy để đạt được tốc độ tăng trưởng phát triển cao cần phải thu hút một lượng đáng kể vốn đầu tư nước ngoài nhằm đảm bảo tỷ lệ đầu tư tương xứng Nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông thường gồm: Vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp Đầu
tư nước ngoài là hình thức di chuyển vốn quốc tế từ nước này sang nước khác, nhằm thực hiện những mục đích nhất định Vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện dưới dạng tiền mặt, vật thể hữu hình, các giá trị vô hình hoặc các phương tiện đầu tư khác như: trái phiếu, cổ phiếu, các chứng khoán cổ phần khác Người bỏ vốn gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư, có thể là cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia (Đỗ Đức Bình và cs., 2010)
Ở Việt Nam, chưa có một khái niệm chính thức về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ khái niệm về vốn đầu tư và đặc điểm đã phân tích nêu trên,
chúng ta có thể hiểu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là tiền và các tài sản hợp pháp khác do tổ chức, cá nhân ở một quốc gia khác trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, điều hành hoạt động, sử dụng vốn đầu tư để thực hiện hoạt động đầu tư sang quốc gia khác trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thực hiện mục tiêu của mình
c) Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xét trong một quốc gia đầu tư gồm: Đầu tư trong nước và đầu tư ra nước ngoài Đầu tư ra nước ngoài là một cách hiểu của đầu tư quốc tế, là một trong những hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế quốc tế và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Đầu tư nước ngoài là hoạt động di chuyển vốn từ nước này sang nước khác nhằm thực hiện những mục đích nhất định Nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ vốn đầu tư tại Việt Nam thông thường sẽ thành lập doanh nghiệp thông qua 2 hình thức gồm: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, trong đó hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là
Trang 19hình thức phổ biến và quan trọng Đầu tư nước ngoài là việc các công ty đa quốc gia tiến hành đầu tư ở nước sở tại thông qua việc thiết lập liên doanh với các công ty của nước sở tại, mua các công ty của nước sở tại và có thể thông qua việc thiết lập chi nhánh của mình tại nước sở tại Đầu tư nước ngoài được hiểu như
sau: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” (Quốc
hội, Luật Đầu tư, 2005)
Có rất nhiều định nghĩa và khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như:
Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu
tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này” Theo quan điểm của các nhà kinh tế học định nghĩa “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là người
sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác Đó
là một khoản tiền mà nhà đầu tư phải trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy” (Nguyễn Bạch Nguyệt và cs., 2010)
Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu khái quát về đầu tư trực tiếp nước
ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước ngoài đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư
để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi” Tài sản theo thông lệ quốc tế bao gồm: tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị …) và tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý… ) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ….) Đầu tư trực tiếp
nước ngoài bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài Đặc điểm cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài là: có sự dịch chuyển tư bản trong
phạm vi quốc tế; Chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia hoạt động
sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư (Nguyễn Bạch Nguyệt và cs., 2010)
d) Doanh nghiệp
Doanh nghiệp được hiểu như sau: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Quốc hội, Luật Doanh nghiệp, 2005) Như vậy,
theo quy định của pháp luật hiện hành, doanh nghiệp được thành lập, tổ chức
Trang 20quản lý và hoạt động theo những loại hình kinh doanh sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế; nhóm công ty
đ) Doanh nghiệp có vốn FDI
Doanh nghiệp có vốn FDI do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư hoặc góp vốn thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Doanh nghiệp có vốn FDI
có nhiều loại hình, cách thức tổ chức hoạt động khác nhau Chúng ta có thể cơ bản
khái quát và đưa ra khái niệm về doanh nghiệp có vốn FDI như sau: “Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập
để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sát nhập, mua lại” (Quốc hội, Luật Đầu tư, 2005)
2.1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều hình thức tham gia đầu tư trực tiếp vào nước sở tại thông qua các quan hệ kinh tế khác nhau Trong quá trình thu hút vốn FDI, Việt Nam đã cấp GCNĐT cho nhiều loại hình đầu tư nước ngoài Một
số hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam như sau:
a) Doanh nghiệp liên doanh
Là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó pháp nhận mới được thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh Liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên
về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài chính, luật pháp và bản sắc văn hoá; Hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên về vốn, quản lý lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra; Hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai (Trần Xuân Tùng, 2005)
b) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh có tư cách pháp nhân, được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần là pháp nhân Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các luật chuyên ngành khác của Việt Nam Doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài, tự quản lý, điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh (Trần Xuân Tùng, 2005)
Trang 21c) Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa hai bên hay nhiều bên để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh tại nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới Pháp lý hợp doanh là một thực thể kinh doanh hoạt động theo luật pháp nước sở tại chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên hợp doanh được ghi trong hợp đồng hợp tác kinh doanh (Trần Xuân Tùng, 2005)
d) Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT)
Là một phương thức đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước chủ nhà Hình thức BOT thường được thực hiện bằng 100% vốn nước ngoài, cũng có thể được thực hiện bằng vốn nước ngoài và phần vốn góp của chính phủ hoặc các tổ chức, cá nhân của nước chủ nhà Nhà đầu tư nước ngoài có toàn quyền tổ chức xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian đủ thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, sau đó có nghĩa vụ chuyển giao cho nước chủ nhà mà không được bồi hoàn bất kỳ khoản tiền nào (Trần Xuân Tùng, 2005)
đ) Hợp đồng xây dựng-chuyển giao-kinh doanh (BTO)
Là hình thức đầu tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà Nước chủ nhà có thể sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu
tư và lợi nhuận hợp lý (Trần Xuân Tùng, 2005)
e) Hợp đồng xây dựng-chuyển giao (BT)
Là một phương thức đầu tư nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Trang 22Qua nghiên cứu cho thấy, Việt Nam đang có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, mỗi hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đều có ưu điểm, nhược điểm khác nhau Do đó, mỗi địa phương cần phải kết hợp hài hòa lợi ích của các bên tham gia đầu tư và phải phù hợp mục tiêu của mình sẽ có hình thức đầu tư vốn FDI ưu việt nhất, phát huy được tiềm năng của từng địa phương cũng như đem lại lợi ích cho nhà đầu tư nước ngoài (Trần Xuân Tùng, 2005)
2.1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn FDI có nhiều loại hình, cách thức tổ chức hoạt động khác nhau, thường thể hiện chủ yếu dưới hai hình thức là: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp có vốn FDI có đặc điểm cơ bản như sau:
- Là một tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Là tổ chức kinh doanh có yếu tố quốc tế, chủ yếu được thành lập theo hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn
- Có sự quản lý trực tiếp của người nước ngoài, quyền quản lý phụ thuộc mức vốn góp của chủ đầu tư Nếu đầu tư 100% vốn thì toàn bộ quyền điều hành thuộc về nhà đầu tư nước ngoài và có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý doanh nghiệp Nhà đầu tư vừa là người sở hữu, vừa là người sử dụng vốn đầu tư
- Hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, tuân thủ theo khuôn khổ và quy định của luật pháp Nhà nước Việt Nam Chịu sự quản lý vĩ mô và chịu sự ảnh hưởng, tác động bởi tình hình chính trị, kinh tế xã hội, văn hóa của Nhà nước Việt Nam
- Chế độ sở hữu doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài bị giới hạn trong thời gian hoạt động của doanh nghiệp Pháp luật Việt Nam quy định thời hạn của doanh nghiệp, dự án có vốn nhà đầu tư nước ngoài thường không quá 50 năm, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài hơn nhưng tối đa không quá 70 năm
2.1.2 Lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1.2.1 Các khái niệm
a) Khái niệm quản lý
Có rất nhiều học giả trong nước và ngoài nước đưa ra giải thích không
giống nhau về thuật ngữ “quản lý” bởi tính đa nghĩa và sự khác biệt giữa nghĩa
rộng, nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, chế độ, xã hội, nghề
Trang 23nghiệp nên thuật ngữ “quản lý” cũng có nhiều giải thích và lý giải khác nhau Tuy nhiên, luận văn sử dụng khái niệm về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” (Hồ Văn Vĩnh và cs., 2003)
b) Quản lý nhà nước
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, gồm các cơ quan hành chính nhà nước có trong hệ thống chính trị theo thể chế của từng quốc gia Trong cơ chế tổng hợp quản lý đất nước, Nhà nước là chủ thể duy nhất thực hiện chức năng quản lý nhà nước QLNN là quản lý xã hội mang tính quyền lực của nhà nước, được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng là con người Sự khác nhau cơ bản giữa QLNN với các hình thức quản lý khác bởi tính quyền lực của nhà nước được thể hiện thông qua bộ máy chuyên trách để cưỡng chế và quản lý xã hội, nhằm thực hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, quyền lợi của xã hội QLNN được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước để thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước trên cơ sở pháp luật Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa,
hiểu khái quát về QLNN như sau: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội
do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” (Nguyễn Hữu Hải và cs., 2010)
c) Quản lý nhà nước các doanh nghiệp có vốn FDI
Hiện nay, ở mỗi quốc gia với thể chế, chế độ chính trị khác nhau đều có điểm chung là coi trọng vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước, trong đó có QLNN đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ngày càng được quan tâm QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI
là một bộ phận và là một nội dung cơ bản của QLNN về kinh tế Nó được thể hiện qua mối quan hệ tương tác, liên quan mật thiết giữa chủ thể quản lý là cơ quan QLNN và đối tượng quản lý là doanh nghiệp có vốn FDI Ở Việt Nam, chưa có một khái niệm chính thức về QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI
Từ khái niệm và phân tích về quản lý, quản lý nhà nước nêu trên, chúng ta có thể
hiểu QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI: Quản lý nhà nước đối với doanh
Trang 24nghiệp có vốn FDI là sự tác động có chủ đích, có tổ chức và bằng pháp quyền nhà nước lên các doanh nghiệp này và vì mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Nếu xét khía cạnh chủ thể quản lý, nhà nước thực hiện chức năng,
nhiệm vụ quản lý đối với tất cả doanh nghiệp theo quy định pháp luật, nhưng không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu xét khía cạnh đối tượng quản lý, doanh nghiệp có vốn FDI có quyền tự chủ hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh theo lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm
2.1.2.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có đầu tư trực tiếp nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn FDI có tính đặc thù, mang đặc điểm của kinh tế đối ngoại Vì vậy, ngoài yếu tố khách quan của QLNN đối với doanh nghiệp nói chung thì cần phải đề cập đến sự cần thiết mang tính khách quan của QLNN đối với kinh tế đối ngoại Nhà nước và doanh nghiệp có vốn FDI có mối qua lại, tác động lẫn nhau bởi vì những yếu tố như sau:
a) Nhà nước quan tâm đến doanh nghiệp có vốn FDI bởi các yếu tố
- Thứ nhất, Tính chất giai cấp, tính chất dân tộc trong các doanh nghiệp có vốn FDI do có sử dụng lao động làm thuê và có tư bản nước ngoài:
Doanh nghiệp được đề cập đến nội dung này thường là doanh nghiệp tư bản dân doanh và doanh nghiệp tư bản nước ngoài Loại hình doanh nghiệp này thì mối quan hệ giữa chủ-thợ hoặc quan hệ giữa chủ nước ngoài-thợ tại nước sở tại là vấn đề mang tính chính trị Việc đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn FDI thường hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu chi phí… nên có thể dẫn đến việc bóc lột sức lao động của người làm thuê hoặc bất bình đẳng dân tộc ngay tại doanh nghiệp Với bản chất giai cấp, tính dân tộc, đại diện quyền và lợi ích cho nhân dân mình, Nhà nước không thể đứng ngoài mà phải ban hành chính sách, quy định pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế để điều chỉnh các quan hệ trên trong doanh nghiệp có vấn đề nêu trên nhằm đảm bảo cho mục tiêu ổn định cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
- Thứ hai, Sự mâu thuẫn quyết liệt về lợi ích của các doanh nhân, doanh
nghiệp trên thị trường:
Trong hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh thì các doanh nhân, doanh nghiệp có nhiều mối liên hệ, quan hệ khác nhau Mỗi một mối quan hệ có thể đem lại lợi ích cho doanh nhân, doanh nghiệp hoặc có thể nảy sinh, dẫn đến các
Trang 25xung đột mà chỉ có nhà nước với chế định thống nhất, được thực thi bởi các cơ quan QLNN mới có đủ khả năng giải quyết, xử lý các vấn đề, xung đột đó, đảm bảo tính công bằng cho doanh nhân, doanh nghiệp trên thị trường Doanh nhân, doanh nghiệp trên thị trường với bản chất, mục tiêu hàng đầu là tạo ra nhiều lợi nhuận Do vậy, mâu thuẫn giữa doanh nhân, doanh nghiệp với nhau trên mối quan hệ là đối tác hoặc đối thủ cạnh tranh là điều không tránh khỏi Nó được thể hiện thông qua ba mối quan hệ cơ bản sau:
+ Quan hệ giữa các doanh nhân, doanh nghiệp với nhau: Các doanh nhân, doanh nghiệp có nhiều nội dung quan hệ liên quan với nhau như: Quan hệ cổ phần, cổ phiếu khi thành lập chung doanh nghiệp hoặc phân chia quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ về lợi nhuận thu được; Quan hệ giao dịch về hàng hóa-tiền bạc với rất nhiều nội dung liên quan đến hàng hóa, nguồn đầu vào sản xuất tại doanh nghiệp; Quan hệ tranh chấp khai thác tài nguyên hoặc vấn đề môi trường khi doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành nghề hoặc hoạt động trên cùng một địa bàn liền kề nhau
+ Quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp: Đây là mối quan hệ rất quan trọng liên quan trực tiếp đến quá trình hoạt động, phát triển ổn định tại mỗi doanh nghiệp Mối quan hệ này tựu trung là quan hệ lao động-tiền công-tiền lương-điều kiện làm việc-thái độ ứng xử giữa chủ doanh nghiệp với người lao động, đó là sự tuân thủ quy định pháp luật và theo hợp đồng, thỏa ước lao động đã ký giữa hai bên
+ Quan hệ giữa doanh nhân, doanh nghiệp với xã hội: Mỗi doanh nhân, doanh nghiệp đều có mối quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế-xã hội tại chính địa bàn nước sở tại nơi mình đầu tư thông qua nhiều hình thức khác nhau Mối quan hệ đó thông qua hành vi của họ trong việc sử dụng nguồn tài nguyên, môi trường, bảo vệ bí mật quốc gia, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo chất lượng sản phẩm, công tác phúc lợi xã hội tại địa phương
- Thứ ba, Sự hạn chế của các doanh nhân, doanh nghiệp trong việc xử lý
các vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh:
Để triển khai dự án đầu tư hoặc tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nhân, doanh nghiệp phải nghiên cứu, phân tích và giải quyết hàng loạt vấn
đề liên quan đến kế hoạch của mình Một số vấn đề, doanh nhân, doanh nghiệp không đủ khả năng giải quyết Nội dung cụ thể của vấn đề mà doanh nhân, doanh
Trang 26nghiệp không giải quyết được còn tùy thuộc trình độ của mỗi doanh nhân, doanh nghiệp mỗi nước, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong hoàn cảnh quốc tế và ở mỗi nước Ở mỗi quốc gia, Nhà nước cũng phải bằng hoạt động của mình để đưa ra
dự đoán, tìm ra những nhu cầu, nhận định những khó khăn của doanh nhân, doanh nghiệp gặp phải thực thi các quy định của pháp luật để có thể sửa đổi hoặc ban hành kịp thời chính sách, giải pháp giải quyết những vấn đề mà họ không đủ khả năng giải quyết Trước bối cảnh toàn cầu hóa, xu hướng hội nhập về chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia trong khu vực, thế giới đang diễn ra với tốc
độ nhanh, có tầm ảnh hưởng lớn đến từng quốc gia về phát triển kinh tế-xã hội Tính chất, đặc điểm của doanh nghiệp có vốn FDI mang yếu tố của kinh tế đối ngoại nên mỗi quốc gia luôn quan tâm đến mối quan hệ kinh tế đối ngoại Vì vậy, cần phải có sự QLNN đối với kinh tế đối ngoại bởi lý do sau:
Một là, Kinh tế đối ngoại có tầm quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc đối với
mỗi quốc gia Kinh tế đối ngoại có ý nghĩa toàn diện, ảnh hưởng và liên quan đến thể chế, định hướng, chiến lược của mỗi quốc gia trong việc phát triển tổng thể kinh tế-xã hội, chính trị, quốc phòng-an ninh, ngoại giao của đất nước
Về kinh tế, kinh tế đối ngoại giải quyết những vấn đề then chốt của nền kinh tế như: vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động quốc tế theo lợi thế so sánh… Đây là vấn đề tác động lớn đến tăng năng suất lao động, cái quyết định sự thắng lợi của mọi chế độ kinh tế
Về chính trị, quốc phòng-an ninh, ngoại giao, kinh tế đối ngoại liên quan đến việc mở rộng quan hệ cho mỗi quốc gia Việc xây dựng, củng cố mối quan
hệ đa phương, hợp tác chiến lược để phát triển, loại trừ và cô lập kẻ thù, bảo vệ
bí mật ở mỗi quốc gia hoặc bảo vệ kinh tế của đất nước trên trường quốc tế, đây
là cơ sở để giữ vững độc lập chính trị, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia
Hai là, Nhà nước đặc biệt quan tâm đến quản lý kinh tế đối ngoại vì nhu
cầu đặc biệt của doanh nhân, doanh nghiệp trong kinh tế đối ngoại
b) Doanh nhân, doanh nghiệp có vốn FDI cần Nhà nước bởi các yếu tố
- Thứ nhất, Doanh nhân, doanh nghiệp có vốn FDI không chỉ đầu tư, sản
xuất kinh doanh ở nước mình mà còn chuyển hướng sang một quốc gia khác Khi
đó sẽ làm nảy sinh mối quan hệ xã hội mới liên quan đến một nhà nước mới với thể chế chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa mới Vì vậy, doanh nhân, doanh nghiệp
có vốn FDI cần được nhà nước mới đảm bảo giúp mình hoạt động tốt tại thị trường nước sở tại mà còn vận động tốt trên thị trường quốc tế
Trang 27- Thứ hai, Kinh tế đối ngoại là hoạt động kinh tế lớn đòi hỏi quy mô, phức
tạp về khoa học, công nghệ và phương thức quản lý mới Vì vậy, doanh nhân, doanh nghiệp thuộc loại hình này cần hơn các loại hình kinh tế khác trong việc
hỗ trợ về tri thức, vốn, chính sách của nhà nước
- Thứ ba, Kinh tế đối ngoại là một địa bàn rộng, có nhiều yếu tố phức tạp,
bất trắc, tiền ẩn rủi ro, có thể ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của doanh nhân, doanh nghiệp Do vậy, doanh nhân, doanh nghiệp có vốn FDI chỉ có thể dựa vào nhà nước mới có thể yên tâm hoạt động
2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn FDI là việc nhà nước sử dụng hệ thống luật pháp, bộ máy hành chính để quản lý hoạt động của doanh nghiệp Xây dựng, ban hành chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh
ổn định để đảm bảo cho sự hình thành, hoạt động doanh nghiệp phát triển Do vậy, QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI có những nội dung cơ bản sau:
2.1.3.1 Xây dựng kế hoạch, chiến lược và quy hoạch
Ở Việt Nam, các thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, có
sự QLNN theo định hướng xã hội chủ nghĩa Doanh nghiệp có vốn FDI có quyền
tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh theo ngành nghề mà pháp luật không cấm Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam chỉ muốn đầu tư
ở khu vực, lĩnh vực có thể khai thác được nhiều lợi thế so sánh nhất, bỏ vốn đầu
tư vào ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, khả năng thu hồi vốn nhanh, ở nơi có cơ
sở hạ tầng đồng bộ, thuận lợi Khi đó, nước sở tại tiếp nhận đầu tư sẽ xảy ra tình trạng mất cân đối trong cơ cấu đầu tư, ảnh hưởng, thiệt hại chung cho toàn bộ nền kinh tế Nhiệm vụ của QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI là phải định hướng, điều tiết vốn FDI trên cơ sở có quy hoạch một cách minh bạch, rõ ràng, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia, từng địa phương
Khi xây dựng và ban hành kế hoạch, chiến lược và quy hoạch phải đáp ứng các yếu tố về chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng do Nhà nước Việt Nam đề ra Chiến lược phải đề ra được mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, thời kỳ bao gồm: mục tiêu về tăng số lượng vốn đăng ký, vốn thực hiện; mục tiêu về chất lượng, hiệu quả trong thu hút vốn FDI, mục tiêu về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn FDI Kế hoạch, chiến lược và quy hoạch
Trang 28phải có tính động, có sự liên kết giữa các vùng, địa phương với nhau, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội Quy hoạch không thể chạy theo dự án
mà phải theo quy luật cung-cầu thị trường Nhà nước cần quan tâm, chú trọng đến công tác dự báo, tăng tính mở và linh hoạt trong các phương án nhằm thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường và xu hướng vận động của FDI trong dài hạn Danh mục các dự án đầu tư, ngành nghề và vùng được phép đầu tư hoặc không được phép đầu tư hoặc dự án đầu tư mà ngành, lĩnh vực, địa phương đang cần thu hút vốn FDI, doanh nghiệp có vốn FDI Chiến lược thu hút FDI phải thể hiện quyết tâm chính trị cao, mục tiêu tương xứng với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải phát huy lợi thế so sánh của đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, đảm bảo lợi ích theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi Chiến lược thu hút FDI phải thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của nhà đầu
tư, không buộc doanh nghiệp có vốn FDI hoàn toàn theo ý muốn của quốc gia mình, mà phải quan tâm đến lợi ích của họ khi ban hành chính sách, khéo léo hài hòa lợi ích các bên Như vậy, mới có thể thu hút được nhà đầu tư lớn từ các tập đoàn, công ty hàng đầu trên thế đầu tư vào Việt Nam
2.1.3.2 Ban hành quy định, chính sách và pháp luật
Nhà nước Việt Nam ban hành các chính sách, pháp luật về đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động hiệu quả trong khuôn khổ của pháp luật Bởi nhà nước chủ yếu quản lý doanh nghiệp có vốn FDI thông qua hình thức gián tiếp hơn là tác động trực tiếp mang tính hành chính Việc xây dựng, hoàn thiện về chính sách và pháp luật đối với doanh nghiệp có vốn FDI được coi là công cụ hữu hiệu nhất của Nhà nước để khai thác, phát huy mặt tích cực và hạn chế tác động tiêu cực trong việc quản lý loại hình doanh nghiệp này Hệ thống chính sách và pháp luật đối với hoạt động FDI được ban hành phải phù hợp với nguyên tắc thông lệ chủ yếu của thế giới, nhất là các quốc gia phát triển, tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật
Chính sách và pháp luật có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, có vai trò đặc biệt quan trọng trong QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI Bởi, chính sách mang tính định hướng, là nền tảng để xây dựng pháp luật, còn pháp luật là phương tiện để cụ thể hóa và thực thi chính sách Nếu giải quyết đúng đắn mối quan hệ này sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với doanh
Trang 29nghiệp có vốn FDI Việc xây dựng, hoàn thiện chính sách và pháp luật đối với doanh nghiệp có vốn FDI được xem là công cụ hữu hiệu của nhà nước trong việc quản lý loại hình doanh nghiệp này Việt Nam đã có nhiều giải pháp tạo chuyển biến trong công tác thu hút vốn FDI, quản lý hoạt động doanh nghiệp có vốn FDI, nhất là việc ban hành Luật, nghị định, văn bản pháp lý hoặc sửa đổi, bổ sung các điểm chưa phù hợp, để Việt Nam có môi trường đầu tư thực sự hấp dẫn, thu hút nhà đầu tư nước ngoài Đặc biệt năm 2005, Việt Nam ban hành Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư chung liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp có vốn FDI và được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Các luật trên đã có tính thống nhất, đảm bảo môi trường bình đẳng hơn giữa các loại hình doanh nghiệp trong nước và nước ngoài
2.1.3.3 Cấp và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư
Để các doanh nghiệp có vốn FDI triển khai dự án hiệu quả, góp phần cho
sự phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam, một trong những khâu quan trọng trong hoạt động QLNN là việc thẩm định dự án FDI Qua thẩm định, Nhà nước đánh giá mức độ phù hợp của dự án so với quy hoạch phát triển chung của ngành, địa phương; Các mặt lợi ích, hạn chế của FDI; Thực hiện tốt hơn vai trò điều tiết vĩ
mô đối với doanh nghiệp có vốn FDI trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Kết quả việc thẩm định dự án có vốn FDI là cơ sở để Nhà nước quyết định chấp thuận cho doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động theo mục tiêu, ngành nghề kinh doanh đăng ký Vì vậy, chất lượng công tác thẩm định dự án FDI sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả QLNN đối với doanh nghiệp có vốn FDI Nếu thẩm định dự án FDI không tốt thì trong tương lai sẽ có doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động kém hiệu quả, nguy cơ doanh nghiệp giải thể trước thời hạn rất cao
Việc xem xét, thẩm định cấp GCNĐT cho doanh nghiệp có vốn FDI là việc nghiên cứu, phản biện một cách tổ chức, khách quan, nhằm đánh giá dự
án FDI về tính hợp lý, mức độ hiệu quả, tính khả thi của dự án trước khi quyết định cấp GCNĐT Doanh nghiệp có vốn FDI được cấp GCNĐT phải đáp ứng được yêu cầu của nước tiếp nhận đầu tư, mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội, phù hợp với quy hoạch của ngành, lĩnh vực hoặc vùng, địa phương gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia Doanh nghiệp này ngoài lợi ích của mình song không thể tách rời lợi ích của xã hội, cộng đồng nơi thực hiện
dự án đầu tư
Trang 30Vì vậy, công tác thẩm định cấp GCNĐT đối với doanh nghiệp có vốn FDI cần phải xuất phát từ lợi ích chung của toàn xã hội, chú trọng đến phương châm cả hai bên cùng có lợi Nhà nước cần tôn trọng, đảm bảo lợi ích chính đáng của doanh nghiệp có vốn FDI trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích chung của xã hội, phải đưa ra kết luận rõ ràng đối với mỗi nội dung hoặc toàn
bộ dự án FDI sau khi đã thẩm định xong Cơ quan cấp GCNĐT đánh giá, thẩm định dự án đầu tư ở các nội dung: Tư cách pháp lý; năng lực tài chính; mức độ phù hợp của mục tiêu dự án FDI so với quy hoạch chung; trình độ công nghệ phù hợp địa bàn đầu tư; hiệu quả kinh tế-xã hội của doanh nghiệp có vốn FDI khi đi vào hoạt động, đem lại cho địa bàn tiếp nhận đầu tư Ở Việt Nam ngoài nội dung trên, các doanh nghiệp có vốn FDI trước khi được cấp phép còn phải xem xét mức độ hợp lý của việc sử dụng đất, phương án đền bù giải phóng mặt bằng và vấn đề định giá tài sản
2.1.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện quy định của nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
a) Xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất
Cơ quan QLNN ở Trung ương, địa phương luôn quan tâm hoạt động đầu
tư, sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp
có vốn FDI Hằng năm sau khi rà soát, phân loại dự án, doanh nghiệp có vốn FDI, cơ quan QLNN xây dựng và phê duyệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra Việc tiến hành và tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất đối với loại hình này thông qua hình thức, phương pháp khác nhau Qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát giúp cho cơ quan QLNN tăng cường vai trò QLNN theo thẩm quyền được phân cấp theo quy định của pháp luật, đồng thời có thể hướng dẫn cho doanh nghiệp có vốn FDI hiểu, thực hiện đầy đủ, đúng quy định pháp luật Việt Nam trong hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh Ngoài ra, khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát, cơ quan QLNN có thể phát hiện sai sót nảy sinh tại doanh nghiệp trong thực thi các quy định của pháp luật
để kịp thời có biện pháp uốn nắn, ngăn ngừa hành vi sai phạm xảy ra tại doanh nghiệp Về cơ bản, cơ quan QLNN thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp có vốn FDI không chỉ đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật mà nhằm giúp đỡ, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương
Trang 31b) Nội dung thanh tra, kiểm tra, giám sát doanh nghiệp có vốn FDI
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tập trung vào nội dung sau:
1) Việc thực hiện các nội dung quy định tại GCNĐT; Thực hiện các nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định tại GCNĐT hoặc Giấy chứng nhận đăng
4) Tiến độ triển khai, tình hình thực hiện dự án; Việc thực hiện chuyển giao công nghệ, phương thức và kỹ năng quản lý theo cam kết của dự án
5) Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước; Việc đáp ứng điều kiện và hưởng ưu đãi về đầu tư
6) Việc thực hiện các quy định pháp luật về lao động
7) Việc tuân thủ quy định pháp luật về quản lý ngoại hối; Việc chấp hành quy định pháp luật về bảo vệ môi trường
8) Tình hình tài chính của doanh nghiệp có vốn FDI: Trị giá tài sản góp vốn của mỗi bên tham gia theo cam kết; Sử dụng máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định được miễn thuế có đúng mục đích theo quy định pháp luật Giá trị doanh nghiệp, giá trị cổ phiếu tại thời điểm trước khi lên sàn chứng khoán
có dấu hiệu nâng khống giá trị doanh nghiệp không; Các hợp đồng, giao dịch kinh tế với Tập đoàn, công ty mẹ ở nước ngoài hoặc các công ty có quan hệ liên kết; Tình hình thực hiện các khoản nợ, khoản vay ngân hàng Việc trích lập, sử dụng quỹ dự phòng, kinh phí công đoàn, khấu hao tài sản cố định, hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái; Tỷ lệ góp vốn tối đa, tối thiểu của các bên tham gia dự
án chính, dự án phụ đối với dự án BT; Vốn hóa chi phí phát triển trong dự án BOT; Phân chia lợi nhuận phần góp vốn nhà nước trong liên doanh; Việc bảo toàn vốn góp liên doanh của doanh nghiệp có vốn nhà nước
9) Các nội dung khác liên quan đến triển khai dự án có vốn FDI: Việc thực hiện quy định pháp luật về quy hoạch, xây dựng, quản lý chất lượng công trình; Công tác phòng cháy, chữa cháy; Việc chấp hành chế độ báo cáo, thống kê; Việc thực hiện quy định về xuất nhập cảnh và tạm trú, tạm vắng
Trang 322.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1.4.1 Cơ chế, chính sách và pháp luật
Sau thời gian dài đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng, kinh tế bị cấm vận sau chiến tranh, Đảng, Nhà nước đã có sự đổi mới về tư duy, nhận thức và xác định phải huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội Năm 1987, Việt Nam ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, mở đường cho việc hợp tác kinh tế với nước ngoài, phát triển nền kinh tế trên cơ sở khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực của đất nước Năm 2005, Việt Nam ban hành Luật Đầu tư thống nhất
và sửa đổi năm 2014 áp dụng chung cho đầu tư trong nước và nước ngoài Với Luật này, Việt Nam hướng tới môi trường đầu tư bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh theo cơ chế thị trường cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Ở từng giai đoạn phát triển khác nhau với xu thế hội nhập kinh tế khu vực, thế giới, Việt Nam kiên trì thực hiện lộ trình cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế, trong đó Việt Nam coi trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài và xác định là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế đa thành phần theo cơ chế thị trường
Luật Đầu tư, quy định của Chính phủ có cam kết không quốc hữu hóa,
trưng thu tài sản của nhà đầu tư (trừ trường hợp vì lợi ích công cộng thì nhà nước
có trách nhiệm bồi thường công bằng, thỏa đáng), đảm bảo nguyên tắc mở cửa
thị trường phù hợp với lộ trình quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam
đã tham gia và cam kết Nhà đầu tư thường có tầm nhìn chiến lược dài hạn để có định hướng đầu tư, phát triển lâu dài tại quốc gia có nền thể chế chính trị ổn định Việc cam kết có lộ trình của nhà nước Việt Nam sẽ tạo cho nhà đầu tư yên tâm, tin tưởng và đầu tư kinh doanh lâu dài tại Việt Nam
Luật Doanh nghiệp được Việt Nam ban hành năm 2005, sửa đổi năm 2014 được áp dụng thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn loại hình doanh nghiệp để thành lập dưới sự bảo trợ của luật này, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp, bình đẳng trước pháp luật, tiếp cận vốn, đất đai, lao động, hưởng ưu đãi đầu tư như nhau
Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện thể chế, xây dựng nhà nước pháp quyền, Nhà nước ban hành và thực thi quy định của luật pháp là lẽ tất yếu, phù hợp với cam kết quốc tế Việt Nam xác định đối với nhà đầu tư, yếu tố rủi ro
Trang 33trong sản xuất kinh doanh là quan trọng và có liên quan đến chính sách ban hành
Vì vậy, Việt Nam luôn đảm bảo tính ổn định quy định pháp luật, chính sách cho nhà đầu tư, nếu những quy định sau ưu đãi hơn trước thì nhà đầu tư được hưởng quy định ưu đãi hơn không tùy thuộc vào văn bản đã ký trước đó
2.1.4.2 Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước
Vai trò của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ tại cơ quan QLNN là khâu trọng tâm trong hoạt động quản lý, nhất là trong quản lý đầu tư có liên quan đến đầu tư nước ngoài Chủ trương, chính sách, mục tiêu của Đảng, Nhà nước đề
ra có được thực hiện hiệu quả hay không phụ thuộc vào khả năng tổ chức, năng lực điều hành, trình độ hiểu biết về luật pháp, khả năng sáng tạo, ý thức trách nhiệm, sự tâm huyết của đội ngũ cán bộ, công chức QLNN trong công tác quản
lý liên quan đến doanh nghiệp có vốn FDI Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức QLNN về đầu tư cần được tuyển chọn phù hợp với yêu cầu, thường xuyên đào tạo nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn, phẩm chất đạo đức, tinh thần tự hào dân tộc, dám hi sinh lợi ích cá nhân vì sự phát triển của đất nước
2.1.4.3.Yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn FDI được thành lập, hoạt động tại Việt Nam phải chịu sự điều tiết bởi quy định của pháp luật Việt Nam, loại hình doanh nghiệp này tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước hoặc xuất khẩu sang các quốc gia khác Doanh nghiệp có vốn FDI có đóng góp tích cực như: giải quyết việc làm, đóng góp cho ngân sách, chuyển giao công nghệ, phương thức quản lý hiện đại Ngoài mặt tích cực trên, vẫn còn có doanh nghiệp
có vốn FDI có hành vi chuyển giá Bởi doanh nghiệp này thuộc tập đoàn đa quốc gia, sản xuất chủ yếu ở khâu trung gian trong chuỗi sản xuất, lắp ráp sản phẩm nên loại hình doanh nghiệp này thường có dấu hiệu chuyển giá trong giao dịch liên kết thông qua hình thức: góp vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ, cho vay vốn sản xuất kinh doanh nhằm tối thiểu hóa về mặt thực hiện nghĩa vụ thuế tại Việt Nam
2.1.4.4 Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng
Sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN, trong đó có cơ quan thuế, hải quan còn có sự lỏng lẻo trong việc xác định về trị giá tính thuế khi doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá Việc thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp có vốn FDI theo loại của cơ quan thuế, hải quan còn ít, chưa được thường xuyên, liên tục Việc thất
Trang 34thu thuế ở doanh nghiệp chế xuất, hạn chế trong phát hiện chuyển giá của doanh nghiệp có vốn FDI có nguyên nhân từ chính văn bản pháp lý được ban hành Một
số quy định pháp luật đối với doanh nghiệp chế xuất còn thiếu sự thống nhất với quy định của pháp luật thương mại như: việc thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu hoặc xử lý phế liệu, phế phẩm, tài sản thuộc diện cấm nhập khẩu; việc tái xuất tại chỗ nguyên liệu nhập khẩu theo loại hình xuất khẩu…Vì vậy, cơ quan chức năng QLNN cần phối hợp với cơ quan có liên quan để nghiên cứu, sửa đổi,
bổ sung cơ chế, chính sách thương mại đảm bảo tính đồng bộ, giảm thiểu bất cập, phát hiện và xử lý kịp thời dấu hiệu, hành vi chuyển gia của loại hình doanh nghiệp chế xuất nói riêng và doanh nghiệp có vốn FDI nói chung
2.2 CƠ SƠ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới
Nguồn vốn FDI có vai trò then chốt để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với quốc gia đang phát triển Việc nghiên cứu thu hút vốn FDI nếu chỉ dựa trên chính sách ưu đãi đầu tư sẽ không đầy đủ nếu không xem xét đến việc quản lý nguồn vốn FDI, doanh nghiệp có vốn FDI của quốc gia phát triển nhằm rút ra kinh nghiệm, đưa ra chính sách phù hợp hơn, nâng cao lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI và quản lý hiệu quả chúng Một số quốc gia khu vực Châu Á có điểm tương đồng với Việt Nam đã thành công trong việc thu hút vốn FDI, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực này như:
a) Singapore
Singapore có diện tích 647,8 km2, dân số 4,02 triệu người (năm 2000), không có nhiều thế mạnh về tài nguyên, con người…như các nước trong ASEAN song là quốc gia có nền kinh tế phát triển với mức thu nhập bình quân đầu người, trình độ dân trí hàng đầu trên thế giới Có được điều này, Singapore nhờ vào nguồn vốn FDI quy mô lớn, liên tục chảy vào quốc đảo Tận dụng ưu thế sẵn có, Singapore có chiến lược trở thành một cảng quan trọng, nơi trung chuyển hàng hoá từ Tây sang Đông, là trung tâm sơ chế sản phẩm trước khi xuất khẩu Nguồn vốn FDI vào Singapore năm 2009 là 24.006,1 triệu USD, năm 2011 tăng lên là 63.997,2 triệu USD, năm 2012 là 56.700 triệu USD là nước khá cao, đứng đầu trong ASEAN Thành công này do Singapore đã thực thi các chính sách sau:
Trang 35- Hoạch định chiến lược thu hút nguồn vốn FDI vào các ngành thích hợp, phù hợp điều kiện ở mỗi thời kỳ Singapore ban hành chính sách, tạo ra môi trường thuận lợi, hấp dẫn, kích thích nhà tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư trực tiếp Ở thời kỳ đầu, Singapore chủ trương thu hút FDI vào ngành tạo ra sản phẩm xuất khẩu như: dệt may, lắp ráp thiết bị điện, phương tiện giao thông… Sau đó, Singapore chuyển hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư tập trung vào ngành như: sản xuất máy vi tính, điện tử, hàng bán dân dụng, công nghệ lọc hóa dầu và kỹ thuật khai thác mỏ… Hiện nay, Singapore có chiến lược thu hút nguồn vốn FDI vào lĩnh vực ưu tiên là: ngành sản xuất mới, xây dựng và xuất khẩu, hướng tới một hệ thống các ngành dịch vụ thúc đẩy đầu tư quốc tế
- Xây dựng, ban hành hệ thống pháp luật nghiêm minh, công bằng, hiệu
quả Singapore ban hành chính sách: Quy chế "Những công nghiệp tiên phong"
dành cho những xí nghiệp hoạt động trong các khu vực mũi nhọn, được miễn thuế từ 5-10 năm, chủ yếu là lĩnh vực luyện kim, chế tạo máy, hàng không vũ trụ, đóng tàu, thiết bị vận tải, thiết bị quang học, điện-điện tử; Không quản lý ngoại hối mà để hoạt động tự do theo cơ chế thị trường; Mở cửa hầu hết các lĩnh vực kinh tế trừ lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc phòng; Nhà đầu tư có thể huy động vốn bằng cổ phiếu, trái phiếu, vay tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài; Kinh doanh có lợi nhuận, nhà đầu tư được tự do chuyển lợi nhuận về
nước; Nhà đầu tư có quyền cư trú nhập cảnh (đặc quyền về nhập cảnh, nhập quốc tịch); Nhà đầu tư có số vốn ký thác từ 250.000 đô la Singapore trở lên, có
dự án đầu tư thì giai đình họ hưởng quyền công dân Singapore
- Xây dựng môi trường kinh doanh ổn định Singapore công khai khẳng định không quốc hữu hóa các doanh nghiệp nước ngoài; Chú trọng đầu tư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh phục vụ cho sản xuất; Công tác quản
lý nhà nước được Singapore chỉ đạo, giải quyết kịp thời theo đúng pháp luật, tạo thuận lợi nhất cho nhà đầu, doanh nghiệp có vốn FDI, thúc đẩy sản xuất kinh doanh tại quốc gia mình; Thủ tục cấp giấy phép đầu tư được thực hiện theo chế
độ “Một cửa” nhanh gọn cho nhà đầu tư, có dự án xin cấp giấy phép rồi đi vào
hoạt động chỉ trong vòng vài tháng, có dự án trong vòng 49 ngày đã có thể đi vào
sản xuất Hiện tượng này được gọi là “Kỳ tích 49 ngày” Singapore
- Cải cách thể chế nền hành chính, nâng cao chất lượng cán bộ công chức trong cơ quan nhà nước gắn quyền lợi, trách nhiệm trong thực thi công vụ Pháp luật được thực hiện nghiêm minh, hiệu quả, nhất là tệ nạn tham nhũng được xét
Trang 36xử rất nghiêm Các doanh nghiệp được đối xử như nhau, mọi người đều làm việc tuân thủ theo pháp luật Singapore trả lương cao cho đội ngũ cán bộ công chức và trích lại một phần lương hàng tháng “quỹ dưỡng liêm cho quan chức”, là một khoản tiết kiệm khi về hưu Nếu quá trình công tác mà phạm tội tham ô thì sẽ cắt khoản tích lũy này và còn chịu phạt tù (Nguyễn Ngọc Mai, 2013)
b) Thái Lan
Thái Lan xác định nguồn vốn FDI là nhân tố kích thích quan trọng của nền kinh tế Thái Lan khuyến khích nhà đầu tư hợp tác với cơ quan nhà nước trong khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, xuất khẩu sản phẩm, sử dụng nguyên liệu thô hoặc thay thế hàng nhập khẩu được nhà nước ưu tiên Thái Lan được đánh giá có thị trường thu hút đầu tư khá cạnh tranh, hấp dẫn trong khu vực Châu Á Các quốc gia, lãnh thổ đầu tư vào Thái Lan thì Nhật Bản có lượng vốn đầu tư lớn nhất với khoảng 7.000 doanh nghiệp, Hàn Quốc và Trung Quốc ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn FDI vào Thái Lan Lượng vốn FDI từ các nhà đầu tư của Singapore chiếm khoảng 80-90% tổng số vốn đầu tư các nước ASEAN vào Thái Lan Để đạt được kết quả như vậy, Thái lan đã có chính sách, giải pháp sau:
- Thành lập Ủy ban đầu tư Thái Lan chuyên trách đầu tư xem xét ưu đãi cho từng dự án, phân loại dự án theo tác động của nó đến nền kinh tế cả nước
- Hoạch định chiến lược thu hút nguồn vốn FDI tập trung ưu tiên vào lĩnh vực như: nông nghiệp, chế biến và phân phối hàng nông sản, khai khoáng, công nghiệp nhẹ, chế tạo máy và thiết bị vận tải, thiết bị điện và điện tử, hóa chất, dịch
vụ và cơ sở hạ tầng… Áp dụng thống nhất loại hình doanh nghiệp đầu tư nước ngoài như: doanh nghiệp tư nhân đơn nhất, công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, trong đó hình thức phổ biến nhất đối với đầu tư nước ngoài là công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân
- Ban hành chính sách về đầu tư áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư tại Thái Lan như: miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc thiết bị; giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp; khấu trừ hai lần chi phí vận chuyển, điện, nước; bổ sung 25% khấu trừ chi phí xây dựng và lắp đặt cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp; miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, nhiên liệu thiết yếu sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu Chính sách khuyến khích khác như: cho phép công dân
Trang 37nước ngoài vào Thái Lan để nghiên cứu cơ hội đầu tư; cho những lao động kỹ năng cao, chuyên gia để thực hiện việc xúc tiến đầu tư; được sở hữu đất đai; được mang lợi nhuận ra nước ngoài bằng ngoại tệ (Võ Quốc Huy, 2015)
2.2.2 Các văn bản, chính sách liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Để quản lý hiệu quả hoạt động các dự án, doanh nghiệp có vốn FDI, Nhà nước Việt Nam ban hành các Luật, nghị định, thông tư và các chính sách liên quan đến đầu tư FDI tại Việt Nam như sau:
a) Quốc hội ban hành các văn bản pháp lý
- Luật Doanh nghiệp năm 2005; Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2014
- Luật Đầu tư năm 2005; Luật Đầu tư sửa đổi năm 2014
b) Chính phủ ban hành nghị định, nghị quyết, quyết định, chỉ thị
- Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 quy định về đăng ký kinh doanh; Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư; Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định về việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi giấy chứng nhận đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư; Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
- Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP; Nghị định số 114/2015/NĐ-CP ngày 09/11/2015 sửa đổi, bổ sung Điều 21 của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008
- Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp; Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp; Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về đăng
Trang 38- Chỉ thị số 1617/CT-TTg ngày 19/9/2011 về việc tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới
c) Các Bộ, ngành ban hành quyết định, thông tư, văn bản
- Quyết định số 1088/2006/QĐ-BKHĐT ngày 19/10/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành mẫu văn bản thực hiện thủ tục đầu tư tại Việt Nam
- Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH ngày 26/3/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành định mức chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch các sản phẩm chủ yếu
- Thông tư số 14/2010/TT-BKH ngày 04/6/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ
về đăng ký doanh nghiệp; Thông tư số số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp
- Công văn số 2879/BKH-ĐTNN ngày 04/5/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư về việc tăng cường giám sát, kiểm tra đối với các dự án đầu tư nước ngoài
2.2.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
số vốn đầu tư; xây dựng, kinh doanh bất động sản chiếm 14% số dự án và số vốn đầu tư; thương mại, dịch vụ còn rất hạn chế (Nguyễn Hòa, 2015)
Doanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Bắc Ninh chính là động lực duy trì, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh: Năm 2005, tăng trưởng kinh tế là 14%,
Trang 39trong đó khu vực FDI chiếm 5,9%; Năm 2010, tăng trưởng kinh tế là 21%, trong
đó khu vực FDI chiếm 30%; Năm 2013, tăng trưởng kinh tế là 38,7%, trong đó khu vực FDI chiếm 64,3%; Năm 2014 là năm rất khó khăn nhưng tăng trưởng kinh tế được giữ vững và tăng nhẹ 0,2% so với năm 2013 Là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Ninh sang công nghiệp, phát triển kinh tế theo CNH-HĐH Năm 1997, cơ cấu kinh tế mang nặng đặc thù về nông nghiệp, tỷ lệ cơ cấu kinh tế theo ngành nông lâm nghiệp, thủy sản là 44,9%, công nghiệp, xây dựng là 23,7%, dịch vụ là 31,18%; Năm 2005 tỷ lệ tương ứng
là (26,2%-459%-27,8%); Năm 2010 tỷ lệ tương ứng là (10,6%-68,4%-21%); Năm 2014 tỷ lệ tương ứng là (5,4%-76%-18,6%) Kim ngạch xuất khẩu chủ yếu
do khu vực FDI đóng góp, đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh có giá trị xuất siêu lớn
nhất cả nước: Năm 2005 đạt 36,7 triệu USD (chiếm 38,3 tổng kim ngạch trên địa bàn); Năm 2010 đạt 2.442 triệu USD (chiếm 97%); Năm 2014 đạt 23.047 triệu USD (chiếm 99,4%) Nộp ngân sách của khu vực FDI ngày càng tăng: Năm 2005
đóng góp cho ngân sách 81,22 tỷ đồng; Năm 2010 là 519,1 tỷ đồng; Năm 2014 khoảng 4.609 tỷ đồng Khu vực FDI đã thu hút, tạo việc làm ổn định, cải thiện đời sống cho người lao động: Năm 2010 thu hút khoảng 41.674 người, với mức thu nhập bình quân 32,68 triệu đồng/người/năm; Năm 2013 là 121.243 người, với mức thu nhập bình quân 78,91 triệu đồng/người/năm (Lê Minh Thẩm, 2015) Những kết quả mà tỉnh Bắc Ninh đạt được trước hết là nhờ sự đồng thuận cao của chính quyền, nhân dân trong toàn tỉnh Việc tập trung chỉ đạo giải quyết vướng mắc, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho doanh nghiệp có vốn FDI, nâng cao lợi thế cạnh tranh của tỉnh về thu hút vốn FDI đã có tác động lan tỏa, tích cực đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Thành công tỉnh Bắc Ninh đạt được trong thu hút vốn FDI và quản lý hoạt động của doanh nghiệp có vốn FDI bởi yếu tố sau:
- Thành lập các tổ chức có chức năng thuộc tỉnh để hỗ trợ cho nhà đầu tư, doanh nghiệp có vốn FDI trong việc triển khai dự án như: Trung tâm thông tin tư vấn và xúc tiến đầu tư, Trung tâm xúc tiến việc làm… Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp có vốn FDI, tỉnh Bắc Ninh ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật như: Quy định về trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng của doanh nghiệp ngoài KCN tại tỉnh Bắc Ninh; Quy định ký quỹ đảm bảo thực hiện dự án đầu tư
có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh; Quy định hỗ trợ đào tạo nghề trong các doanh nghiệp và xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Ninh; Chính sách ưu tiên thu hút các dự
Trang 40án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, đất đai Nhiều chính sách, cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư với phương châm
thực hiện không “xé rào” hoặc cạnh tranh thiếu lành mạnh, tỉnh Bắc Ninh tập
trung xây dựng, cải thiện môi trường của tỉnh, hỗ trợ các doanh nghiệp như: Hỗ trợ về kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN đối với doanh nghiệp có số thu hằng năm trên 80 tỷ đồng giai đoạn 2003-2015; Hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và xây dựng các mô hình công nghệ chất lượng cao; Hỗ trợ tiền đền bù giải phóng mặt bằng giao đất sạch cho doanh nghiệp đầu tư vào một số lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn liên quan đến việc bao tiêu, chế biến nông sản, xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghiệp cao, chất lượng cao
- Chỉ đạo sâu sát các cấp, ngành của tỉnh trong công tác lập quy hoạch, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, tạo thuận lợi cho quá trình phát triển thu hút đầu tư và quản lý doanh nghiệp có vốn FDI Tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo việc lập, xây dựng và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch như: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành quan trọng như: Giao thông, Công nghiệp, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Thương mại và Du lịch; Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị; Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp; Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và phê duyệt đề án đào tạo lao động chất lượng cao
- Chú trọng công tác quản lý nhà nước đối với dự án, doanh nghiệp có vốn FDI trong hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Chỉ đạo các sở, ngành, địa phương duy trì, đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính; Nâng cao chỉ số chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh; Áp dụng và triển khai
rộng rãi mô hình “Một cửa”, “Một cửa liên thông” và “Một cửa hiện đại” tại
nhiều sở, ban, ngành liên quan lĩnh vực: xây dựng, đất đai, đầu tư, đăng ký doanh nghiệp Hằng năm, chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh, Thanh tra tỉnh phối hợp với sở, ngành, đơn vị trên địa bàn xây dựng và thực hiện chương trình kế hoạch thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp về các nội dung như: việc triển khai và tiến độ thực hiện dự án, tiến
độ thực hiện vốn đầu tư, việc chấp hành pháp luật lao động, bảo vệ môi trường…; Tổ chức đối thoại hoặc gặp mặt các doanh nghiệp có vốn FDI định kỳ hằng năm trên địa bàn tỉnh để trao đổi, nắm bắt tâm tư, kịp thời đưa ra biện pháp giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp