cơ quan chức năng thực hiện tốt công tác tuyên truyền qua đó tạo được sự chuyển biến tích cực trong sự nhận thức của các cấp ủy đảng, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và người lao
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LẠI HỒNG QUÂN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
HUYỆN QUỲNH PHỤ - TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Lại Hồng Quân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Bộ môn phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng LĐ&TBXH huyện Quỳnh Phụ, Trường TCNN Thái Bình, hội nông dân huyện Quỳnh Phụ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, tư liệu bản đồ trong quá trình nghiên cứu luận văn này
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cám ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Lại Hồng Quân
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hộp viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis Abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Khách thể nghiên cứu 3
1.3.3 Đối tượng khảo sát 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Phạm vi về nội dung 4
1.4.2 Phạm vi về không gian 4
1.4.3 Phạm vi về thời gian 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm 5
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 8
2.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 10
2.2 Cơ sở thực tiễn 11
2.2.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn ở một số quốc gia trên thế giới và trong khu vực 11
2.2.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn ở một số địa phương của Việt Nam 15
2.3 Tổng quan nghiên cứu liên quan 19
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 21
Trang 53.1.1 Đặc điểm tự nhiên 21
3.1.2 Dân số, lao động 22
3.1.3 Kinh tế, xã hội 24
3.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 25
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu 25
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
3.2.4 Phương pháp phân tích 26
3.2.5 Khung lý thuyết 27
3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 27
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 29
4.1 Khái quát công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân trên địa bàn huyện 29
4.2 Thực trạng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện 30
4.2.1 Các chủ trương chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ 30
4.2.2 Nguồn lực phục vụ cho công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 33
4.2.3 Công tác tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân 35
4.2.4 Quy mô đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân 41
4.2.5 Nội dung đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân 42
4.2.6 Kết quả đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân trên địa bàn Huyện 43
4.2.7 Đánh giá về chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân ở huyện Quỳnh Phụ 50
4.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ 55
4.3.1 Nhóm yếu tố bên trong 55
4.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài 59
4.4 Định hướng và giải pháp đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân ở huyện Quỳnh Phụ 62
4.4.1 Các căn cứ xác định giải pháp 62
4.4.2 Định hướng đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân huyện Quỳnh Phụ 64
4.5 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình 66
4.5.1 Giải pháp về nâng cao chất lượng cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên 66
4.5.2 Giải pháp về tăng cường công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề 67
Trang 64.5.3 Giải pháp về tổ chức quá trình đào tạo, nội dung, hình thức và phương
pháp đào tạo 68
4.5.4 Giải pháp về công tác truyền thông và thu thập thu thông tin cung cầu lao động, việc làm và đào tạo nghề 70
4.5.5 Giải pháp về công tác lựa chọn đầu vào đối tượng đào tạo nghề và định hướng tìm việc sau đào tạo nghề 71
4.5.6 Giải pháp về vốn, đất đai và cơ chế chính sách của địa phương đối với công tác dạy và học nghề 72
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị 78
5.2.1 Đối với Nhà nước 78
5.2.2 Đối với UBND tỉnh và Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Thái Bình 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 83
Trang 7LB&TBXH : Lao động và thương binh xã hội
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Dân số, lao động huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2013 – 2015 23 Bảng 3.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế huyện Quỳnh Phụ từ năm 2013
đến năm 2015 24 Bảng 4.1 Chủ trương chính sách về đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân trên
địa bàn Huyện 31 Bảng 4.2 Cán bộ, giáo viên, nhân viên của Trường Trung cấp nông nghiệp
Thái Bình trong 3 năm 33 Bảng 4.3 Tình hình cơ sở vật chất của Trường TCNN qua các năm 34 Bảng 4.4 Tổ điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của Lao động nông thôn của
huyện từ năm 2013 - 2015 36 Bảng 4.5 Kết quả hoạt động tuyên truyền của huyện Quỳnh Phụ từ năm 2013 - 2015 36 Bảng 4.6 Ý kiến của các học viên về hoạt động tuyên truyền 37 Bảng 4.7 Hình thức đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân trên địa bàn huyện
Quỳnh Phụ 40 Bảng 4.8 Kết quả thực hiện mô hình dạy nghề cho nông dân trên địa bàn huyện
Quỳnh Phụ 41 Bảng 4.9 Các nghề và số lượng nông dân được đào tạo nghề trên địa bàn huyện
Quỳnh Phụ 42 Bảng 4.10 Tổng hợp kết quả đào tạo nghề nông nghiệp của huyện Quỳnh Phụ từ
năm 2013 đến năm 2015 43 Bảng 4.11 Kết quả đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân huyện Quỳnh Phụ qua
các năm 46 Bảng 4.12 Đánh giá của người lao động về học nghề ngắn hạn tại huyện Quỳnh Phụ 51 Bảng 4.13 Chương trình khung đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân trên địa
bàn huyện Quỳnh Phụ 56 Bảng 4.14 Cơ sở vật chất của địa phương phục vụ đào tạo nghề nông nghiệp cho
nông dân trên địa bàn huyện 58 Bảng 4.15 Kinh phí đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân trên địa bàn huyện
Quỳnh Phụ 59 Bảng 4.16 Nhu cầu đào tạo nghề nông nghiệp của lao động nông thôn 60 Bảng 4.17 Nhu cầu đào tạo nghề nông nghiệp của lao động nông thôn 64
Trang 9DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1 Khó khăn khi mở lớp đào tạo nghề cho nông dân 39
Hộp 4.2 Cần thường xuyên được trợ giúp về vốn, kỹ thuật và kiến thức 52
Hộp 4.3 Học viên tại xã Quỳnh Hoàng tích cực học tập 54
Hộp 4.4 Độ tuổi quy định đào tạo nghề nông nghiệp 61
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Dạy nghề cho lao động nông thôn nói chung và dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nói riêng là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và toàn xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu ngành nông nghiệp và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn của nước ta hiện đang thực hiện theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và Quyết định 971/QĐ-TTg ngày 01/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
Tại Thái Bình, việc tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề đã được triển khai khá đồng bộ Giai đoạn từ năm 2010 - 2015 việc dạy nghề cho lao động nông thôn thực hiện theo Thông tư liên tịch số 112/TTLT-BTC-BLĐTB&XH ngày 30/07/2010 của liên bộ về Hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 và Quyết định số 265/QĐ-UBND ngày 29/01/2013 của UBND tỉnh Thái Bình quy định mức hỗ trơ chi phí đào tạo nghề thuộc đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Quỳnh Phụ là một huyện thuần nông của tỉnh Thái Bình, những năm qua tiến trình CNH - HĐH trên địa bàn huyện diễn ra mạnh mẽ, nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp được đầu tư xây dựng Hiện nay, công tác đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề nông nghiệp nói riêng ở huyện Quỳnh Phụ đã đạt được những kết quả nhất định kể cả về quy mô và chất lượng đào tạo Tổng số lao động đã được ĐTN theo Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ là 10.889 người, tăng 9.599 học viên = 844% so với giai đoạn từ 2005 đến 2009 Ngoài số học viên được tham gia học nghề từ nguồn kinh phí thực hiện theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của các cơ sở dạy nghề triển khai thực hiện dạy nghề trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, mỗi năm có hàng nghìn lao động được đào tạo nghề tại các trường chuyên nghiệp, cơ sở ĐTN tại các tỉnh, huyện trên toàn quốc
Để có được những kết quả trên, UBND huyện Quỳnh Phụ đã chỉ đạo các
Trang 11cơ quan chức năng thực hiện tốt công tác tuyên truyền qua đó tạo được sự chuyển biến tích cực trong sự nhận thức của các cấp ủy đảng, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và người lao động về vai trò quan trọng của dạy nghề cho nông dân đối với phát triển nguồn nhân lực nông thôn, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống, phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới Đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân đáp ứng nhu cầu của học như: đào tạo tại chỗ, đào tạo ngắn hạn miễn phí, tập huấn, tọa đàm trao đổi kiến thức Công tác tổ chức triển khai thực hiện các chính sách đào tạo nghề cho nông dân trên địa bàn Huyện được định kỳ
tổ chức giao ban để triển khai nhiệm vụ một cách kịp thời và kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ
Bên cạnh những ưu điểm trên thì công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân trên địa bàn Huyện trong thời gian qua còn có những hạn chế cần khắc phục Văn bản hướng dẫn của các Bộ, Sở, ngành đôi khi chưa kịp thời ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện ở địa phương Việc phê duyệt định mức chi phí đào tạo nghề cho từng nghề cụ thể của tỉnh còn chậm ảnh hưởng đến việc tổ chức các lớp Nguồn kinh phí đào tạo nghề cho nông dân thấp dẫn đến nhiều khó khăn khi
tổ chức các lớp đào tạo nghề nguồn kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề thấp, phân bổ không đủ đáp ứng yêu cầu, thủ tục chưa rõ ràng và việc thanh quyết toán kinh phí dạy nghề từ tỉnh xuống huyện, xã còn chậm Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục
vụ đào tạo còn thiếu nhiều Thiếu giáo viên đào tạo về chuyên ngành nông nghiệp, chương trình giáo trình phục vụ đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân còn thiếu, chủ yếu vẫn là do cơ sở đào tạo nghề tự biên soạn Vẫn còn tình trạng nghề đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người học, chưa gắn chặt với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp
Công tác ĐTN nông nghiệp cho nông dân trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ trong thời gian tới cần tập trung làm tốt 7 nhóm giải pháp chủ yếu: 1) Giải pháp
về nâng cao chất lượng cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên; 2) Giải pháp về tăng cường công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề; 3) Giải pháp về tổ chức quá trình đào tạo, nội dung, hình thức và phương pháp đào tạo; 4) Giải pháp về công tác truyền thông và thu thập thu thông tin cung cầu lao động, việc làm và đào tạo nghề; 5) Giải pháp về công tác lựa chọn đầu vào đối tượng đào tạo nghề và định
Trang 12hướng tìm việc sau đào tạo nghề; 6) Giải pháp về vốn, đất đai và cơ chế chính sách của địa phương đối với công tác dạy và học nghề; 7) Giải pháp về hoàn thiện hệ thống dạy nghề;
Từ khóa: Đào tạo nghề; Đào tạo nghề cho lao động nông thôn; Quyết định 1956; Quyết định 971; Huyện Quỳnh Phụ
Trang 13THESIS ABSTRACT
Vocational training for rural workers in general and agricultural vocational training for rural workers in particular is the cause of the Party, the State, the various levels, sectors and civil society This aims to improve the quality of rural labor, meet the requirements of the new rural construction, restructuring the agricultural sector, and serving the cause of industrialization and modernization of agriculture and rural areas Vocational training for rural labors in Vietnam is currently implemented under the Decision No.1956/QD-TTg dated 27/11/2009 of the Prime Minister on approving the project
"Vocational training for rural workers up to 2020 and Decision 971/QD-TTg dated 01/07/2015 of the Prime Minister on the amendments to Decision No.1956/QD-TTg dated 27/11/2009 of the Prime Minister for approval project
"vocational training for rural workers up to 2020"
In Thai Binh province, implementing of vocational training policy has been deployed comprehensively In the period of 2010 – 2015, the vocational training for rural workers comply with Joint Circular No.112/TTLT-BTC-BLDTBXH dated 30/07/2010 of inter-departments about guiding management and use of vocational training funds for rural workers until 2020, and Decision No.265/QD-UBND dated 01/29/2013 of Committee of the provincial People's Committee prescribed level of support costs of vocational training schemes for rural workers until 2020
Quynh Phu is an agricultural district of Thai Binh province The process
of industrialization and modernization has been strongly taken place in the district in recent years As the results, many industrial parks as well as industrial clusters were invested constructing Currently, vocational training and agricultural vocational training in Quynh Phu district has achieved certain results in terms of both size and quality of training Total employment was trained under the scheme 1956 of the Prime Minister is 10,889 people, increasing 9599 students (equal to 844%) over the period from 2005 to 2009 Besides the trainees, those are beneficiaries of the budget in accordance with
Trang 14Decision 1956/QD-TTg of the vocational training institutions in Quynh Phu district, there are thousands of workers have been trained at professional schools and vocational training institutes in other provinces and districts across the country
To get these results, Quynh Phu District People's Committee has directed the authorities implement propaganda well Therefore, there is a positive change in the perception of the party committees, social and political organizations and employees about the important role of vocational training for farmers for development of rural human resources; contributing to job creation, poverty reduction, improving living standards, socio-economic development in rural areas, and new rural construction Diversifying the forms of agricultural vocational training for farmers to meet the needs of the learner, such as job training, free short-term training, training, and knowledge sharing seminars The implementation of policies for vocational training for farmers in the districts be periodically organized briefings for deployment tasks in a timely manner
Besides these advantages, there are still limitations in the agricultural vocational training for farmers in the districts Particularly, the written instructions from the ministries, departments, agencies sometimes are untimely, affecting the implementation of the local The approval of the training costs for each specific profession remains slow, affecting the organization of the class Sources of funding for vocational training for farmers are generally low, leading many difficulties for organization of the class In addition to this, low supportive funds and insufficient allocation, unclear procedure are the existing limitation in financial support issues Other constraints of agricultural vocational training are lacking of facilities and equipment for training, lack of agricultural lecturers as well as agricultural lectures Furthermore, vocational training situation is not consistent with the needs and conditions of the learner, not tied to socio-economic development plans of the district and employment needs of the enterprises
Trang 15The agricultural vocational training for farmers in Quynh Phu district in near future should focus on doing well 7 group of major solutions: 1) Solutions
to improve the quality of management staff and teachers; 2) Solutions to enhance the state management of vocational training; 3) Solutions for organizing the training process, content, forms and methods of training; 4) Solution of the communication and information collection bout labor supply and demand, employment, and vocational training; 5) The solution for the the trainee selection and job finding after vocational training; 6) Solution of capital, land, and mechanisms of local policies for teaching and vocational training; 7) Solutions to improve the system of vocational training;
Trang 16PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Dạy nghề cho lao động nông thôn nói chung và dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nói riêng là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và toàn xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu ngành nông nghiệp và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển dạy nghề cho lao động nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn Học nghề là quyền lợi và nghĩa vụ của lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, nâng cao tay nghề, chuyển nghề, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống Chuyển mạnh dạy nghề cho lao động nông thôn từ dạy theo năng lực sẵn có của cơ sở dạy nghề sang dạy theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn và yêu cầu của thị trường lao động; gắn dạy nghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương Đổi mới và phát triển công tác dạy nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế
và nhu cầu học nghề của mình
Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn của nước ta hiện đang thực hiện theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và Quyết định 971/QĐ-TTg ngày 01/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Từ Trung ương đến các địa phương đều đã thành lập và kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện Đề án, ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn; hầu hết các địa phương đưa nội dung dạy nghề cho lao động nông thôn vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh/Thành phố nhiệm kỳ 2016 - 2020 Nhiều địa phương đã phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Đề án hàng năm, ban hành văn bản hướng dẫn của liên ngành Lao động - Thương binh và xã hội, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về triển khai Đề án trên địa bàn
Trang 17Tại Thái Bình, việc tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề đã được triển khai khá đồng bộ Giai đoạn từ năm 2010 - 2015 việc dạy nghề cho lao động nông thôn thực hiện theo Thông tư liên tịch số 112/TTLT-BTC-BLĐTB&XH ngày 30/07/2010 của liên bộ về Hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 và Quyết định số 265/QĐ-UBND ngày 29/01/2013 của UBND tỉnh Thái Bình quy định mức hỗ trơ chi phí đào tạo nghề thuộc đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Tất cả 8/8 huyện, thị xã trong toàn tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo, 267/267 xã đã thành lập Ban chỉ đạo hoặc Tổ công tác Tỉnh đã mở Hội nghị quán triệt chính sách từ tỉnh đến cơ
sở Các ngành, các cấp chủ động, tích cực triển khai để đưa chính sách vào cuộc sống Thái Bình là một tỉnh thuần nông, Đề án 1956 là cơ hội lớn để Thái Bình triển khai dạy nghề nói chung và dạy nghề nông nghiệp nói riêng Theo đề án 1956, giai đoạn 2011- 2015 trong khoảng 4.700.000 lao động nông thôn được đào tạo nghề thì
có khoảng 1.600.000 người được học nghề nông nghiệp (chiếm tỷ lệ 34%), giai đoạn 2016 - 2020 trong khoảng 5.500.000 lao động nông thôn được học nghề thì có khoảng 1.400.000 người học nghề nông nghiệp (chiếm khoảng 25,4%) Trong khi
đó các cơ sở tham gia dạy nghề nông nghiệp lại rất ít, hiện toàn tỉnh chỉ có khoảng 5/40 (bằng 12,5%) cơ sở có đủ điều kiện dạy nghề nông nghiệp, còn lại khoảng 35
cơ sở khác tham gia dạy nghề phi nông nghiệp Sở Nông nghiệp&PTNT Thái Bình được UBND tỉnh giao nhiệm vụ quản lý lĩnh vực dạy nghề nông nghiệp
Quỳnh Phụ là một huyện thuần nông của tỉnh Thái Bình, những năm qua tiến trình CNH - HĐH trên địa bàn huyện diễn ra mạnh mẽ, nhiều khu công nghiệp - cụm công nghiệp được đầu tư xây dựng Đến nay, công tác đào tạo nghề nói chung
và đào tạo nghề nông nghiệp nói riêng ở huyện Quỳnh Phụ đã đạt được những kết quả nhất định kể cả về quy mô và chất lượng đào tạo Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện cũng gặp phải không ít khó khăn như năng lực của một số cơ
sở dạy nghề còn thấp, chất lượng đào tạo chưa cao, đội ngũ giáo viên còn thiếu,
cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và thực hành chưa đảm bảo, hình thức, nội dung đào tạo còn chưa được phong phú, đa dạng, chưa tạo ra sức hút lớn cho người lao động Thực tế đòi hỏi phải có giải pháp phát triển, nâng cao được chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, là điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện, coi đây là nhân tố cơ bản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn của huyện Quỳnh Phụ nói riêng, tỉnh Thái Bình nói chung
Trang 18Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho LĐNT, tạo việc làm ổn định lâu dài là rất cần thiết và
quan trọng Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải
pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình ”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động đào tạo nghề nông nghiệp
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo nghề nông nghiệp
- Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình
1.3.2 Khách thể nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu hoạt động đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động theo Đề
án 1956 của Trường Trung cấp Nông nghiệp Thái Bình
1.3.3 Đối tượng khảo sát
- Học viên đã tham gia học nghề tại điểm nghiên cứu trên địa bàn huyện;
- Giáo viên tham gia ĐTN nông nghiệp;
- Cán bộ huyện, xã (phòng LĐTB & XH, cán bộ hội nông dân, trạm khuyến nông, cán bộ Hội phụ nữ) và các đối tượng liên quan đến công tác đào tạo, quản lý dạy nghề trên địa bàn huyện
Trang 191.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về nội dung
- Thực trạng chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
- Kết quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
- Nhu cầu học nghề của lao động nông thôn
- Phân tích chỉ rõ yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn trong những năm qua
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện
Trang 20PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm
- Lao động nông thôn
Lao động nông thôn là những người trong độ tuổi lao động không phân biệt giới tính và những người trên độ tuổi, dưới độ tuổi có thể tham gia lao động ở khu vực nông thôn, bao gồm cả lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp Hiện nay ở Việt Nam quy định độ tuổi lao động từ 15 - 60 tuổi đối với nam và từ 15 - 55 tuổi đối với nữ
Đặc điểm của nguồn lao động nông thôn: Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp khác với đặc điểm của các ngành khác, vì vậy ngành nghề chủ yếu của lao động nông thôn là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, là lĩnh vực tự tạo việc làm truyền thống và thu hút nhiều lao động của cư dân nông thôn Ngoài các hoạt động sản xuất nông nghiệp, ở nông thôn ngày nay lao động cũng đang chuyển dịch dần sang các ngành nghề phi nông nghiệp (tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) như một số nghề thủ công mỹ nghệ, sản xuất công cụ lao động động hoặc sản phẩm hàng hoá bằng máy móc công nghiệp, thường là cung cấp cho thị trường tại chỗ ở nông thôn Hoạt động dịch vụ nông thôn bao gồm những hoạt động cung ứng đầu vào cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và các mặt hàng nhu yếu phẩm cho đời sống dân cư nông thôn; Lao động nông thôn mang tính thời vụ do đối tượng sản xuất nông nghiệp thường là cây trồng, vật nuôi có quá trình sinh trưởng và phát triển theo một chu kỳ, thời vụ nhất định Vì vậy, lao động nông thôn cũng phụ thuộc vào quy luật tự nhiên đó để sản xuất Nguồn lao động nông thôn luôn tăng về
số lượng do tập quán, nhận thức nên việc tăng dân số tự nhiên ở khu vực nông thôn luôn cao hơn thành thị; Chất lượng nguồn lao động nông thôn chưa cao được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe Lao động nông thôn chiếm trên 80% lao động cả nước, tuy nhiên điều kiện học hành nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và bồi dưỡng tái tạo sức lao động kém do tập quán,
do điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn; Lao động nông thôn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông - sản xuất nhỏ Vì vậy, thời gian sử dụng lao động chưa cao, sản phẩm làm ra thường chất lượng thấp, mẫu mã thường đơn điệu, năng suất lao động thấp, nên thu nhập bình quân của lao động nông thôn nói chung không cao (Đinh Trọng Vân, 2013)
Trang 21- Đào tạo: Theo GS.TSKH Nguyễn Minh Đường (2010) - Viện khoa học
giáo dục Việt Nam: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân để tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả”
- Đào tạo nghề: Luật Dạy nghề ban hành ngày 29/11/2006 định nghĩa:
“Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng
và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”
Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước
Như vậy, nội dung của ĐTN bao gồm: trang bị các kiến thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm một nghề nhất định
Đào tạo nghề bao gồm: đào tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện
tử, xây dựng, sửa chữa …); đào tạo nhân viên nghiệp vụ (nhân viên đánh máy, nhân viên lễ tân, nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp thị …) và phổ cập nghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông nghiệp)
Đào tạo nghề bao gồm ĐTN mới, ĐTN bổ sung và đào tạo lại nghề
+ Đào tạo nghề mới: là đào tạo cho những người chưa có nghề hoặc chưa học qua nghề đó
+ Đào tạo nghề bổ sung: Là quá trình truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành của giảng viên để người lao động nâng cao hoặc mở rộng trình độ, ĐTN bổ sung tương ứng với ĐTN ban đầu ĐTN bổ sung được chú trọng vì sự tiến
bộ về khoa học công nghệ, sự tích hợp của nhiều lĩnh vực kỹ thuật trong một quy trình công nghệ, diện nghề theo công nghệ được mở rộng, kỹ năng nghề, kỹ năng lao động đòi hỏi cao hơn
Trang 22+ Đào tạo lại nghề: là đào tạo cho những người có nghề nhưng do yêu cầu của sản xuất và tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN)… mà nghề đang làm không đáp ứng được yêu cầu công việc và do thị trường không chấp nhận Đào tạo lại nghề
là quá trình truyền thụ những kiến thức về lý thuyết và thực hành để người lao động
có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo thuần thục về một nghề mới, có nhiều hình thức đào tạo lại nghề tương ứng với ĐTN ban đầu
- Đào tạo nghề nông nghiệp: Theo tác giả Đào Xuân Học (2009), ĐTN
nông nghiệp là dạy cho nông dân những kiến thức và kỹ năng hiểu biết các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh cho gia súc, gia cầm, thủy sản…
ĐTN nông nghiệp là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay
kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao hiểu biết về kiến thức, thông tin thị trường, giá cả của mỗi cá nhân đối với ngành nông nghiệp đáp ứng công việc hiện tại và trong tương lai
ĐTN nông nghiệp cho nông dân là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng về sản xuất nông nghiệp, chế biến, tiêu thụ nông sản cho nông dân
- Nông dân: Theo từ điển Tiếng Việt, nông dân là “những người sống bằng
nghề làm ruộng”
Theo GS.TS Đỗ Kim Chung (2010), nông dân là những người dân sống ở nông thôn làm các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ khác nhau tùy theo khả năng và lợi thế so sánh của họ
Như vậy, nông dân là những người dân sống ở khu vực nông thôn, tham
gia vào sản xuất nông nghiệp đồng thời cũng tham gia vào các hoạt động khác như sản xuất tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn và dịch vụ Nông dân
sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai
Người nông dân là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn
Để có được nền nông nghiệp hiện đại, phải có lực lượng lao động tại nông thôn có kiến thức, kỹ năng phù hợp với yêu cầu phát triển NTM Người nông dân nước ta cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho hoạt động nông nghiệp của mình Tuy nhiên, một trong những nhược điểm của nông dân trong giai đoạn hiện nay là sản xuất manh mún Bên cạnh đó, do tập quán
Trang 23làm việc theo cảm tính dẫn đến người nông dân không có định hướng phát triển hoạt động nông nghiệp rõ ràng nếu như không có sự tư vấn chi tiết của các cơ quan chuyên môn, của những người có kinh nghiệm
Với đặc điểm của nông dân như hiện nay đòi hỏi người nông dân phải thay đổi hoạt động sản xuất của mình theo 3 hướng: Tiếp tục làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp với việc áp dụng công nghệ kỹ thuật mới để nâng cao năng suất lao động; chuyển dịch sang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp tại chỗ ở (ly nông bất ly hương); chuyển dịch sang làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ tại địa phương khác
Chính đặc điểm của người nông dân đã làm cho vai trò của ĐTN càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và thành công của xây dựng NTM nói riêng
- Khái niệm nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có Như vậy chất lượng dạy nghề là mức độ đáp ứng của tập hợp các tiêu chí về lĩnh vực dạy nghề và chất lượng dạy nghề nông nghiệp là mức độ đáp ứng các yêu cầu về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp mà tùy theo từng chuyên môn của mỗi nghề sẽ có các yêu cầu cụ thể khác nhau
Nâng cao chất lượng dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, là bao gồm tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên hoạt động dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nhằm thúc đẩy toàn diện công tác dạy nghề và học nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn để nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
Quá trình tổ chức nâng cao chất lượng dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của chính sách dạy nghề nói chung, bởi nó có ảnh hưởng trực tiếp tới hàng triệu người được hưởng lợi từ chính sách Do vậy, để việc nâng cao chất lượng nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn đạt kết quả cao cần chủ động tạo ra các điều kiện sau đây:
Trang 242.1.2.1 Chính sách dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn phải được hoạch định một cách tối ưu
Đây là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để thực thi chính sách dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn thành công, điều kiện này đã được xác định ngay từ quá trình hoạch định chính sách Làm tốt công tác hoạch định chính sách sẽ tạo ra được một chính sách hợp lý để chuẩn bị thực thi Ngược lại, hoạch định chính sách sai dẫn đến chính sách sai thì dù công tác tổ chức thực thi tốt đến mấy thì chính sách đó vẫn thất bại, thậm chí có thể gây thất thoát ngân sách của Nhà nước
2.1.2.2 Những quy định pháp lý liên quan đến nâng cao chất lượng dạy nghề nông nghiệp phải đầy đủ và hợp lý
Tổ chức thực hiện chính sách dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn của chính các quyền địa phương luôn chịu ảnh hưởng của quy định tổ chức thực hiện chính sách của Trung ương, những quy định này được thể hiện trong văn bản chính sách của Trung ương Văn bản chính sách luôn dành một phần quy định về trách nhiệm tổ chức thực hiện sau khi làm rõ các giải pháp, hành động chính sách
Vì vậy, những quy định pháp lý của Trung ương liên quan đến tổ chức thực thi chính sách nghề nông nghiệp phải đầy đủ, chặt chẽ, hợp lý và kịp thời Tạo ra một hành lang pháp lý luôn đảm bảo cho việc thực thi chính sách dạy nghề nông nghiệp được thực hiện thông suốt, hạn chế những kẽ hở pháp luật để các thế lực chống đối lợi dụng, hoặc tạo sự hiểu lầm gây chia rẽ của xã hội, mất đi tính nhân văn của chính sách
2.1.2.3 Sự ủng hộ của người dân
Nâng cao công tác dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn chỉ có thể được tổ chức thành công khi nó được nhân dân tin tưởng và ủng hộ, bởi trong 10 năm chính sách này sẽ liên quan trực tiếp tới 3 triệu lao động làm nông nghiệp Chính sách này được nhân dân ủng hộ vì nó đáp ứng và phục vụ lợi ích chính đáng của đa số nhân dân, đặc biệt là lao động nông thôn Để tạo sự ủng hộ của nhân dân, cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến, hướng dẫn chính sách đầy đủ, kịp thời bằng nhiều hình thức phù hợp; qua việc vận động của các đoàn thể làm cho mọi người hiểu một cách đầy đủ, kịp thời; thực hiện cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; thực hiện các biện pháp khuyến khích bằng vật chất và tinh thần đối với công dân có đóng góp tích cực trong việc thực hiện chính sách
Trang 252.1.2.4 Sự quan tâm và hỗ trợ của chính quyền địa phương
Một chính sách chung của Nhà nước sẽ được áp dụng phổ biến đến tất cả các địa phương trên toàn quốc Thông thường, chính sách chung của Nhà nước chủ yếu mang tính chất khung chính sách, có thể có những nội dung chưa phù hợp với từng địa phương, vùng miền cụ thể Vì vậy, để nhân dân được thụ hưởng chính sách cần
sự quan tâm và hỗ trợ của chính quyền địa phương Trước hết, chính quyền địa phương cần quan tâm thể chế hoá chính sách chung thành chính sách đặc thù của địa phương để áp dụng Sau đó, quan tâm bố trí các nguồn lực (nhân lực, tài chính, lồng ghép các nguồn vốn) để thực hiện chính sách Sự hỗ trợ của chính quyền địa phương còn thể hiện ở chỗ tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, học liệu, học
cụ, giáo viên cho cơ sở dạy nghề và hỗ trợ thêm chính sách cho người học để họ yên tâm học nghề
2.1.2.5 Năng lực của cán bộ, giáo viên các cơ sở dạy nghề nông nghiệp
Cán bộ, giáo viên các cơ sở dạy nghề nông nghiệp phải có năng lực quản lý tốt phải có chuyên môn sâu về nông nghiệp, phải có bề dày kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, kiến thức lý thuyết vững vàng và cập nhật, tay nghề chuyên môn giỏi…khả năng thích nghi cao với mọi điều kiện, hoàn cảnh; phải nhiệt tình, tâm huyết và có tư tưởng “trọng dân” Đây là những điều kiện quyết định sự thành bại của công tác dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn ở các cơ sở đào tạo, đây cũng là điều kiện khó khăn nhất, không thể thực hiện ngay mà đòi hỏi phải có lộ trình, hội tụ nhiều yếu tố khách quan, chủ quan
Từ những điều kiện nêu trên có thể nhận thấy việc nâng cao chất lượng dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn có liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều chủ thể khác nhau Để tổ chức thành công việc nâng cao chất lượng dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, các chủ thể và phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và đồng thuận, nhất trí của người dân nói chung, của lao động nông nghiêp nói riêng thì mới đạt được các mục tiêu đề ra
2.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
Căn cứ Quyết định số 1582/QĐ-BLĐTBXH ngày 02/12/2011 của Bộ Lao động TB&XH về việc ban hành một số tiêu chí giám sát, đánh giá thực hiện đề án
Trang 26Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ
Theo dự thảo báo cáo xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả đào tạo nghề nông nghiệp của Trung tâm đào tạo nghề Nông nghiệp và Tư vấn PTNT, việc nâng cao chất lượng dạy nghề nông cho lao động nông thôn có thể đánh giá thông qua một
số tiêu chí như: công tác chỉ đạo điều hành; kết quả thực hiện; hiệu quả hoạt động… trong đó 2 tiêu chí quan trọng là đánh giá quá trình tổ chức đào tạo và đánh giá hiệu quả, việc làm, thu nhập sau khi học nghề nông nghiệp là rất cần thiết Đối tượng đánh giá là cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp và nông dân học nghề; phương thức đánh giá đánh giá chất lượng dạy và học tại từng lớp, học viên đánh giá qua việc trả lời phiếu, cán bộ phụ trách lớp tại các địa phương đánh giá qua phỏng vấn; cơ sở đào tạo tự đánh giá theo kết quả đào tạo; cơ quan đặt hàng đánh giá theo chất lượng; thời gian đánh giá được tiến hành theo từng lớp, từng quý, từng tháng…
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn ở một số quốc gia trên thế giới và trong khu vực
2.2.1.1 Thực trạng và kinh nghiệm của Trung Quốc
Theo tác giả Tố Như, (2012), Trung Quốc là nước có 122 triệu ha đất nông nghiệp Quốc gia này đang có nhiều chính sách ĐTN cho nông dân mà Việt Nam chưa
có, cụ thể là Luật về nông nghiệp, Luật về khuyến khích áp dụng công nghệ trong nông nghiệp (từ năm 1993), Luật giáo dục nghề nghiệp… Ngoài ra cũng có nhiều Nghị định, quyết định nhằm khuyến khích đổi mới giáo dục nghề nghiệp, định hướng cho khu vực nông thôn Với lực lượng đông đảo lao động cư trú và làm việc ở nông thôn, Trung Quốc dành khá nhiều chính sách ưu đãi Sau khi gia nhập WTO ngày 11/12/2001, Trung Quốc đưa tiêu chí hàng đầu là lĩnh vực phát triển nông nghiệp với đội ngũ nông dân hùng hậu, lành nghề Họ áp dụng ĐTN theo 4 nguyên tắc:
- Đưa giáo dục việc làm đến tận làng, xã
- Giáo dục nghề nghiệp dạy theo nhu cầu
- Các hoạt động giáo dục phải được chuẩn hóa
- Quản lý chặt chẽ công tác ĐTN
Các nguyên tắc đó đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nông dân Không chỉ giúp họ có thời gian để học, mà còn tạo nhiều cơ hội để thực hành Chương trình
Trang 27ĐTN của Trung Quốc được thiết kế để phục vụ nông nghiệp theo mùa vụ, theo lĩnh vực nuôi trồng… và nhu cầu của nông dân nhằm tạo động lực và kích thích sự sáng tạo của người học Học viên được quản lý theo các tiêu chí cực kỳ nghiêm khắc, chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả dạy học Trung Quốc cũng thực hiện chương trình
“Một triệu học sinh tốt nghiệp trung cấp nghề về làm việc ở nông thôn” Chương trình này tiến hành trong 2 năm
Với những kết quả trên đã giúp Trung Quốc trở thành nước có nền kinh tế phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao, đặc biệt các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường thế giới ngày càng phong phú, đa dạng có giá trị kinh tế và năng lực cạnh tranh cao
2.2.1.2 Nhật Bản - một cường quốc nông nghiệp
Theo tác giả Việt Tùng (2013), Nhật Bản là nước có dân số già, nông dân đa
số là những người luống tuổi Những năm gần đây, việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ
kế cận và phát triển công nghệ lai tạo giống, cải tạo đất đang được nước này đẩy mạnh Đây được xem là “giải pháp” để phát triển nông nghiệp ở Nhật Bản trong tương lai
- Lý thuyết đi đôi thực hành: Theo số liệu của Bộ Nông - Lâm - Thủy sản (Nhật
Bản), diện tích đất nông nghiệp của Nhật Bản là 4,61 triệu ha (riêng Hokkaido là 1,16 triệu ha), trong đó đất cấy lúa là 2,51 triệu ha và đất trồng cây lâu năm là 320.000ha Trung bình mỗi hộ dân ở Nhật Bản canh tác 2,1ha và Hokkaido là 22,3ha (số liệu năm 2012)
Chỉ tính riêng Hokkaido từ năm 2000 đến năm 2010, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp đã giảm từ 2,862 triệu xuống còn 1,994 triệu người và dự báo năm
2015 chỉ còn khoảng 1,572 triệu người Bên cạnh đó, độ tuổi của lao động trong nông nghiệp tăng từ 30 - 50 tuổi lên 60 - 65 tuổi Đây là một bài toán đặt ra trong tương lai của nền nông nghiệp Nhật Bản
Về vấn đề này, ông Omichi Masayuki - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Hokkaido cho biết, những năm gần đây Chính phủ Nhật Bản đã có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ những sinh viên tham gia học các chuyên ngành về nông nghiệp Bên cạnh đó hệ thống các trường đào tạo chuyên ngành về nông nghiệp cũng nới rộng chi nhánh về địa phương nhằm giúp sinh viên có điều kiện học tập hơn Cùng với đó là tạo việc làm sau khi ra trường
Trang 28Đến thăm Trường Cao đẳng Hokkaido, chúng tôi choáng ngợp với hệ thống
cơ sở vật chất của trường Trường có đầy đủ các phòng thí nghiệm, các khu cải tạo đất, khu trồng thử nghiệm các loại cây trồng, vật nuôi… Trong hơn 2 giờ, chúng tôi chứng kiến, với các thiết bị hiện đại, sinh viên được các giảng viên hướng dẫn nhiệt tình và lần lượt thực hành thuần thục với các ống nghiệm
Mô hình thử nghiệm trồng rau thủy canh của Trường Cao đẳng Hokkaido
Dương Minh Cường - Đông Anh (Hà Nội) - học sinh Việt Nam duy nhất
đang theo học năm thứ 3 tại trường chia sẻ: “Ở Nhật Bản bao giờ học lý thuyết cũng
đi đôi với thực hành Em được học từ cách chọn lựa, phân tích đất, khí hậu, thời tiết
và những đặc điểm sinh trưởng của từng loại cây, cây nào phù hợp với đất, khí hậu nào Ngoài ra, chúng em còn được học về cách chăm sóc, chữa bệnh cho một số loại gia súc, gia cầm”
Theo phỏng vấn của tác giả Việt Tùng
Sakuya Tamamura - Sinh viên - tỉnh Chiba cho biết: “Nông nghiệp không
phải là nghề “sang” ở Nhật Bản, nhưng cũng không phải là nghề “nghèo” Em lựa chọn học ngành nông nghiệp vì muốn góp phần đưa các sản phẩm nông nghiệp của Nhật Bản đến với tất cả mọi người trên thế giới”
Theo phỏng vấn của tác giả Việt Tùng
Trang 29- Chú trọng chất lượng:
Ông Kumai Noriaki - Phó Giám đốc Tổ chức NPO Ủy ban Quốc tế Hokkaido cho biết thêm, ở Nhật Bản, ngoài những trường đại học, cao đẳng đào tạo chuyên ngành về nông nghiệp, để hỗ trợ người dân trong việc sản xuất nông nghiệp còn có hàng nghìn trung tâm cải tạo đất, trung tâm phổ cập và cải tiến nông nghiệp
và hàng chục viện nghiên cứu thí điểm nông nghiệp
Chúng tôi có dịp tham quan Viện Nghiên cứu thí điểm nông nghiệp và gieo cấy lúa nước ở Kamikawa (Hokkaido) Viện có diện tích 28,4ha, được phân ra từng khu trồng lúa nước, khu trồng các cây lương thực khác như mì, kê, yến mạch, bí ngô, khoai tây…
Ông Sato Takeshi - cán bộ của viện cho hay: “Ở đây thí nghiệm rất nhiều cây trồng khác nhau, với nhiều loại đất khác nhau Ngoài ra, chúng tôi còn thí nghiệm những loại cây có khả năng chống chịu lại giá rét, băng tuyết vào mùa đông Để thành công một loại cây trồng, chúng tôi phải mất 8 - 12 năm”
Một cán bộ khác là ông Shimada Naonori cho biết thêm, mục tiêu của viện là nghiên cứu ra các giống lúa có khả năng chịu lạnh, có chất lượng cao và lai tạo một
số giống lúa nếp, các giống lúa có khả năng gieo sạ trong điều kiện nhiệt độ thấp
2.2.1.3 Thực trạng và kinh nghiệm của Đức
Theo tác giả Nguyễn Công, (2011), Đức là một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp phát triển, sản xuất nông nghiệp của nước Đức lại thu hút được rất nhiều lao động trẻ Tại đây, tất cả chủ trang trại, HTX nông nghiệp bắt buộc phải có chứng chỉ, bằng cấp chuyên môn về nông nghiệp Do đó việc học nghề của nông dân Đức là tự nguyện
Việc ĐTN nông nghiệp cho nông dân ở Đức được tiến hành liên tục để thích ứng với sự thay đổi trong phương thức sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, môi trường và yêu cầu của thị trường Chi phí ĐTN cho nông dân ở Đức phần lớn đều do Nhà nước đài thọ
Hệ thống dạy nghề cho nông dân ở Đức chia ra làm nhiều bậc, sơ cấp, trung cấp và giáo viên Lao động tốt nghiệp phổ thông trung học đào tạo 3 năm thành thợ, học thêm 2 năm nữa thành thợ cả (bậc này mới được làm chủ trang trại), thợ cả học tiếp thì đạt bậc giáo viên dạy nghề nông nghiệp
Trong khoá học, nông dân còn được đào tạo các nội dung như tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, môi trường, các dịch vụ liên quan, kiến thức thị trường Một tuần, học viên chỉ học lý thuyết 2 buổi, còn lại là thực hành tại nông trại Học viên học nghề nông nghiệp được trả tiền trong thời gian thực hành
Trang 302.2.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn ở một số địa phương của Việt Nam
2.2.2.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề nông nghiệp tỉnh Hòa Bình
Theo tác giả Hoa Hùng, (2014), thời gian qua, công tác đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đã và đang đạt được những kết quả khả quan mang lại quyền lợi và việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn Từ việc đào tạo nghề nông nghiệp, nhiều hộ dân trên địa bàn đã có cơ hội phát triển sản xuất; áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi Qua đó từng bước ổn định cuộc sống, xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập trong sản xuất nông nghiệp
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Anh Quân cho biết, thời gian qua việc đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp, ngành, tổ chức chính trị xã hội và người lao động về vai trò quan trọng của dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn đối với phát triển nguồn nhân lực nông thôn; góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống, phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới Để thực hiện tốt công tác này, Sở đã ban hành một số văn bản hướng dẫn, tạo điều kiện để triển khai hoạt động đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn; đội ngũ cán bộ tham gia công tác dạy nghề của Sở có trình độ, kỹ năng tốt, đáp ứng cho công tác đào tạo nghề cho nông dân
Theo kế hoạch vốn thực hiện dạy nghề cho lao động năm 2014 là 4.500 triệu đồng, trong đó kinh phí dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn là 1.800 triệu đồng Trên cơ sở đó, ban chỉ đạo 1956 tỉnh phân bổ cho các huyện kinh phí thực hiện công tác đào tạo nghề nông nghiệp là 1.100 triệu đồng và phân bổ cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kinh phí thực hiện là 700 triệu đồng Qua đó,
Sở đã xây dựng kế hoạch và dự toán chi tiết thực hiện tổ chức đào tạo 10 lớp học nghề nông nghiệp cho hơn 300 lao động nông thôn, mỗi lớp có 30 học viên Các nghề được dạy đó là nghề trồng cây có múi, nghề ủ phân vi sinh, nghề trồng ngô, nghề bảo vệ thực vật, nghề nuôi và phòng trị bệnh cho trâu bò, nuôi và phòng trị bệnh cho gà, nuôi và phòng trị bệnh cho lợn, nuôi cá lồng, nuôi thủy sản nước ngọt
và sản xuất cây lâm nghiệp quy mô nhỏ
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt làm được thì công tác đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng gặp những khó khăn do ngân sách Nhà nước bố trí
Trang 31cho dạy nghề nói chung và dạy nghề cho lao động nông thôn nói riêng chưa tương xứng với yêu cầu tăng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề; nhiều lao động nông thôn, nhất là lao động người dân tộc thiểu số, lao động vùng sâu, vùng xa có trình độ văn hóa thấp, chưa nhận thức đúng về lợi ích của học nghề nên chưa nhiệt tình tham gia học nghề; hình thức đào tạo lưu động tại xã, chi phí cho việc đi lại của giáo viên rất đáng kể Đặc biệt việc đi lại, ăn nghỉ cho giảng viên lớp dạy nghề tổ chức tại các xã vùng xa, vùng 135 của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn Trong khi đó, Trung tâm dạy nghề các huyện thường có ít giáo viên và giáo viên không chuyên sâu về dạy nghề nông nghiệp Trong khi đó, các đơn vị dạy nghề như Trung tâm KNKN, Trung tâm giống cây trồng đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chuyên sâu về các nghề nông nghiệp thì lại không được bổ sung kinh phí để đào tạo nghề Bên cạnh đó, do không có kinh phí nên chưa thực hiện được phần đánh giá các nhu cầu đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh giai đoạn 2012-2015
Vì vậy sẽ gây khó khăn trong quá trình xây dựng kế hoạch thực hiện đề án trong những năm tiếp theo
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do việc tổ chức học nghề chưa thực sự gắn với kế hoạch phát triển sản xuất của địa phương nên hiệu quả đào tạo chưa cao; tỷ lệ người được áp dụng kiến thức học vào công việc ngay trong thời gian và sau khi tốt nghiệp còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan chưa thực sự nhuần nhuyễn và kịp thời, trách nhiệm của các cơ quan được phân công thực hiện chưa rõ ràng; công tác tuyên truyền, tư vấn chưa thật tốt nên người lao động chưa nắm vững các quy định của Đề án; còn một số bộ phận người lao động do nhiều nguyên nhân chưa tha thiết với học nghề; một số địa phương do trình độ phát triển sản xuất còn thấp, khó tổ chức lớp học có hiệu quả
Kế hoạch năm 2015, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức 66 lớp học về kỹ thuật chăn nuôi, kỹ thuật trồng trọt và kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cho 1.980 lao động với nhu cầu kinh phí là 5,2 tỷ đồng tại các huyện, thành phố Để làm được điều đó, Sở sẽ chỉ đạo dạy nghề nông nghiệp gắn với đặc thù của sản xuất nông nghiệp, quy hoạch, kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp của địa phương, quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở cấp xã; ưu tiên dạy các ngành nghề chính, thiết thực theo quy hoạch của xã, lựa chọn đúng đối tượng học nghề, đủ điều kiện
áp dụng kiến thức nghề sau khi học, là nông dân nòng cốt tại địa phương, đảm bảo chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo; chú trọng đào tạo nghề nông nghiệp cho
Trang 32lao động nông thôn tại làng, xã, thôn, bản hoặc tại cơ sở sản xuất (trang trại, trạm ), gắn với mô hình sản xuất tiến bộ; lấy thực hành là chính; giáo viên dạy nghề nông nghiệp phải có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp và có khả năng thực hành tốt; chỉ đạo các cơ sở đủ điều kiện tham gia dạy nghề nông nghiệp sử dụng các chương trình, giáo trình đào tạo nghề đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình, đảm bảo chất lượng đào tạo; lựa chọn, giao nhiệm vụ cho các cơ sở đào tạo có năng lực thực sự trực tiếp dạy nghề nông nghiệp, không lựa chọn các cơ sở thiếu năng lực, tổ chức trung gian
2.2.2.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề nông nghiệp huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam
Theo tác giả Thanh Huyền, (2013), trong năm hệ thống khuyến nông đã trực tiếp triển khai 312 lớp đào tạo nghề nông nghiệp hơn 9.000 lao động nông thôn, phối hợp với các đơn vị, đoàn thể tham gia giảng dạy 138 lớp đào tạo nghề cho hơn 4.000 lao động nông thôn
Năm 2014, hệ thống khuyến nông tiếp tục triển khai công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn bám sát chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, hướng tới đối tượng nghèo và cận nghèo nhằm tạo cơ hội cho lao động nông thôn được học nghề nông nghiệp phù hợp với trình độ, năng lực, điều kiện sản xuất ngay tại địa phương; đồng thời có thêm kiến thức và kỹ năng trong sản xuất nông nghiệp, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, biết cách làm nghề, hạ giá thành sản, tăng năng suất lao động và giải quyết việc làm tại chỗ
Các ngành nghề được đào tạo đều gắn với chủ trương tái cơ cấu ngành: Chăn nuôi gia súc, gia cầm an toàn sinh học; Kỹ thuật trồng nấm, hoa, cây lương thực, cây thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp theo VietGAP; Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú theo VietGAP, Kỹ thuật sản xuất giống thủy sản Kết thúc khóa học, các học viên đã biết vận dụng kiến thức để tự tổ chức sản xuất và mở rộng quy
mô, liên hệ việc làm hoặc hợp tác với doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm, thành lập trang trại, tổ sản xuất, hợp tác xã
Thực hiện nhiệm vụ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao cho Trung tâm khuyến nông các tỉnh trực tiếp triển khai công tác đào nghề cho lao động nông thôn tại địa phương Nhiều đơn vị đã triển khai hoạt động này đạt kết quả cao như: Trung tâm Khuyến nông Đồng Tháp, Trung tâm Khuyến nông Kon Tum, Trung tâm
Trang 33Khuyến nông Tiền Giang, Trung tâm Khuyến nông Long An Đào tạo nghề do hệ thống khuyến nông thực hiện có ưu thế gắn với mô hình khuyến nông tạo điều kiện thực hành tốt cho học viên
Hình thức và phương pháp đào tạo nghề cũng có nhiều đổi mới: Các lớp dạy nghề được tổ chức ngay tại địa phương, ưu tiên triển khai tại các xã xây dựng nông thôn mới; Tăng thời gian thực hành tại hiện trường; Tài liệu được biên soạn phù hợp với từng nội dung đào tạo và đối tượng học viên, tăng cường sử dụng các giáo
cụ trực quan sinh động như mẫu vật, băng đĩa hình, tranh ảnh để học viên dễ tiếp thu và áp dụng vào thực tế sản xuất
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác đào tạo nghề cũng gặp không ít khó khăn, đến nay mới có 30/63 đơn vị được cấp phép cơ sở đào tạo nghề do các địa phương đã có nhiều cơ sở dạy nghề cho nông dân hoặc quy trình thẩm định hồ sơ chậm dẫn đến một số đơn vị không thể triển khai kế hoạch được giao, như Trung tâm Khuyến nông Hà Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ngãi, Ngoài ra, Trung tâm Khuyến nông Quảng Nam mặc dù được cấp giấy chứng nhận cơ sở dạy nghề nhưng 2 năm 2013 - 2014 cũng không được giao nhiệm vụ
Cơ chế chính sách còn bất cập như hạn chế độ tuổi lao động tham gia đào tạo, thời gian đào tạo quá dài, mỗi người chỉ được học một nghề, hồ sơ thủ tục quá nhiều, kinh phí hỗ trợ thấp nên không có điều kiện tham gia đầy đủ chương trình Đối tượng học viên lại chủ yếu là đồng bào dân tộc, người nghèo, trình độ học vấn chưa đồng đều nên không thể tham dự đủ thời lượng của lớp học Một số
hộ cận nghèo và nghèo sau khi học xong do thiếu vốn nên cũng không thể mở rộng được sản xuất Việc gắn kết đào tạo với giải quyết việc làm vẫn chưa đồng
bộ nên một số lao động sau khi được đào tạo nghề đã không duy trì được sản xuất; Hoặc một số lao động nông thôn học nghề chưa gắn với việc làm hoặc chưa
Trang 34+ Thực hiện tốt công tác phân lớp, phân loại đối tượng, lựa chọn nội dung và xác định địa điểm đào tạo hợp lý Nâng cao chất lượng tài liệu, chuẩn bị đầy đủ cơ
sở vật chất, trang thiết bị dạy và học Chú trọng nội dung thực hành để rèn luyện kỹ năng cho học viên
+ Tăng kinh phí hỗ trợ cho công tác dạy nghề, tạo điều kiện thuận lợi cho các
cơ sở dạy nghề và học viên tham gia tốt hơn Có chính sách cho người học nghề vay vốn phát triển sản xuất để giải quyết việc làm tại chỗ sau khi được đào tạo
+ Đồng hành với các địa phương, năm 2015, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tiếp tục triển khai công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đồng thời đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách để công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ngày càng đạt hiệu quả và bền vững
2.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói chung và đào tạo nghề nông nghiệp nói riêng đang là vấn đề được nhiều ngành, nhiều địa phương và nhiều nhà khoa học nói đến tại nhiều diễn đàn khác nhau Trong những năm qua nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã đề cập đến đào tạo và dạy nghề cho lao động nông thôn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Đó là những đề tài về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đánh giá nhu cầu đào tạo nghề, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Tác giả Trần Mạnh Hùng đã nghiên cứu đề tài: Đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo nghề trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội (năm 2010) Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng và nhu cầu đào tạo nghề cho lao động trên địa bàn Huyện
Tác giả Nguyễn Mạnh Sang, nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu hướng dạy nghề cho lao động nông thôn tại các cơ sở đào tạo nghề tỉnh Thái Bình (Năm 2010) Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng hướng dạy nghề cho lao động nông thôn tại các
cơ sở đào tạo nghề ở tỉnh Thái Bình, từ đó xác định hướng dạy nghề phù hợp với lao động nông thôn hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng dạy nghề cho lao động nông thôn theo hướng đã xác định tại các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh Thái Bình
Tác giả Nguyễn Viết Bình, nghiên cứu đề tài: Đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (Năm 2010) Nghiên cứu đã
Trang 35phân tích rõ được thực trạng công tác đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Nam Định trong những năm gần đây, đồng thời phát hiện những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng tới công tác đào tạo nghề của địa phương Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng năng lực đào tạo nghề cho lao động ở thành phố Nam Định trong những năm tới
Đây là những công trình khoa học đã được công nhận và đánh giá cao, tuy nhiên tại một huyện thuần nông như Quỳnh Phụ, thì vấn đề này còn khá mới mẻ, chưa được tiến hành nghiên cứu
Trang 36PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Phía Nam giáp huyện Đông Hưng và huyện Thái Thụy - tỉnh Thái Bình;
Phía Bắc giáp huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương với ranh giới là sông Luộc Tổng số đơn vị hành chính của huyện gồm 36 xã và 02 thị trấn, trong đó Thị trấn Quỳnh Côi là trung tâm Chính trị - Văn hóa của huyện; Quỳnh Phụ là một huyện nông nghiệp, đất chật, người đông, nguồn lao động khá dồi dào
Phía Tây Bắc, dọc theo đường ĐT.396B, qua Cầu Hiệp là tỉnh Hải Dương Phía Đông Bắc, theo Quốc lộ 10, qua cầu Nghìn là huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng Riêng thị trấn Quỳnh Côi là nơi giao nhau của 3 trục tỉnh lộ, đó là ĐT.455, ĐT.396B, ĐT.452 tạo thuận lợi cho việc luân chuyển hàng hóa, phát triển kinh tế -
xã hội của huyện
Huyện có Quốc lộ 10 đi qua, là cửa ngõ phía Đông Bắc của tỉnh, tiếp giáp với thành phố Hải Phòng, thuận lợi cho giao lưu kinh tế với đô thị lớn trong vùng và ra
hệ thống cảng biển khu vực phía Bắc Đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ những mặt hàng truyền thống của các làng nghề trong huyện Từ đó, là cơ sở cho các đơn vị ĐTN xác định mục tiêu đào tạo cho lao động trong các làng nghề
Quỳnh Phụ có đất đai phì nhiêu, nằm trong vùng có truyền thống và trình độ thâm canh trong sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng Sông Hồng, với điều kiện tự nhiên sinh thái thuận lợi cho sự phát triển đa dạng về cây trồng vật nuôi cho năng suất, sản lượng cao Sản xuất phát triển, sản phẩm đầu ra từ trồng trọt và chăn nuôi tăng cao đã tác động đến ngành nghề chế biến nông sản, thực phẩm và nhu cầu học nghề chế biến gia tăng
Trang 37Các nguồn tài nguyên nhân văn phong phú, tiềm năng lớn để phát triển du lịch văn hóa, tâm linh Nhân dân có truyền thống kinh doanh buôn bán, xếp thứ hai toàn tỉnh về phát triển chợ nông thôn, là điều kiện để phát triển nghề và tiêu thụ sản phẩm từ các làng nghề cũng đã gián tiếp tác động đến nhu cầu học nghề và việc tổ chức dạy nghề cho người lao động
3.1.2 Dân số, lao động
Tổng dân số của huyện hiện nay là 264.053 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 159.113 người = 60,3 %/ tổng dân số toàn huyện; số lao động nữ là 85.428 người = 53.69% tổng số lao động trong độ tuổi
Dân số tập trung không đều, đông nhất là xã Quỳnh Hồng với 11.381 người; đơn vị có số dân số thấp nhất là xã Quỳnh Châu với 3.093 người Tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên năm 2014 là 0,87%
Cơ cấu lao động được phân theo các lĩnh vực sau:
- Lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản: 89.580 người = 56,3%;
- Lao động hoạt động trong lĩnh vực Công nghiệp và xây dựng: 37.551 người
Dân cư chủ yếu sống ở khu vực nông thôn; tỷ lệ người dân có trình độ học vấn hết THCS và THPT tương đối cao Đây là những điều kiện giúp cho chất lượng đầu vào của các lớp ĐTN được nâng lên, góp phần nâng cao khả năng tiếp thu nghề của người học
* Những hạn chế:
Lao động đã qua ĐTN, đặc biệt là là những người có tay nghề thợ bậc cao đạt
tỷ lệ thấp Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trên địa bàn ở thời điểm cuối năm 2014 đạt 44,85%/ tổng số lao động trong độ tuổi Lao động chưa qua đào tạo chủ yếu tập
Trang 38trung trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làm các ngành nghề không ổn định, không thường xuyên liên tục
Người lao động còn mang nặng tính tiểu nông, sản xuất manh mún, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp; số lao động đã qua đào tạo nhưng tay nghề chưa đáp ứng được một số khâu, một số lĩnh vực sản xuất yêu cầu kỹ thuật cao Do đó lao động phổ thông trên địa bàn huyện nhiều nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu các doanh nghiệp cần tuyển dụng
Huyện Quỳnh Phụ có mật độ dân số lớn, lao động dư thừa, việc bố trí sản xuất, tạo công ăn việc làm chưa cao Với đặc thù lao động nông nghiệp và gia công
là chủ yếu, không yêu cầu cao về trình độ kỹ thuật do đó ngày công lao động còn thấp, đời sống người lao động còn gặp nhiều khó khăn
Từ những hạn chế trên đây, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về dạy nghề và các cơ sở ĐTN căn cứ vào tình hình thực tế để xác định nhu cầu học nghề, xác định phương pháp ĐTN cho phù hợp với từng đối tượng người tham gia học nghề
Bảng 3.1 Dân số, lao động huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Nguồn: Phòng lao động - TBXH huyện Quỳnh Phụ
Số liệu điều tra lao động việc làm của Phòng Lao động – TBXH huyện qua các năm cho thấy khu vực nông thôn là nơi cung cấp nguồn lao động chủ yếu với khoảng
55 – 58% tổng LLLĐ của toàn huyện Năm 2013, LLLĐ nông thôn có gần 90 nghìn người, đến năm 2015, lực lượng này có xu hướng giảm, chỉ còn hơn 87 nghìn người, mặc dù dân số toàn huyện tăng bình quân 2.000 người mỗi năm Nguyên nhân chính là
do luồng lao động di cư từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm, hoặc lực lượng
Trang 39học sinh sau khi tốt nghiệp THPT đi học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp tại các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước
3.1.3 Kinh tế, xã hội
Trong những năm qua, thực hiện kế hoạch phát triển KTXH, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện có những chuyển biến tích cực, đáp ứng những mục tiêu KTXH đề ra, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và phát triển ổn định Tổng giá trị sản xuất tăng bình quân 7,85%; thu nhập bình quân đạt 28,6 triệu đồng/người/năm; sản lượng lương thực đạt 172,9 nghìn tấn; lương thực bình quân
Giá trị sản xuất
Cơ cấu (%)
Giá trị sản xuất
Cơ cấu (%)
Giá trị sản xuất
Cơ cấu (%) Tổng giá trị SX 4.090.460 100,0 4.350.589 100,0 4.714.052 100,0 107,85
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Quỳnh Phụ
Trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ hiện tại có 161 công ty, doanh nghiệp các loại; trong đó có 50 Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và gia công hàng công nghiệp,
40 công ty chuyên về lĩnh vực xây dựng, 25 công ty và cơ sở chuyên làm về lĩnh vực thương mại và dịch vụ, ngoài ra còn có gần 50 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp Huyện có 3 xã nghề và 35 làng nghề chuyên làm các nghề như: sản xuất chiếu cói, khâu nón, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, uốn lưỡi câu, may xuất khẩu, chế biến lương thực, xây dựng, xe đay, cơ khí đảm bảo giải quyết cho một
Trang 40bộ phận người lao động trong huyện luôn có việc làm và thu nhập ổn định Huyện
có một số ngành nghề truyền thống đang trên đà phát triển Đứng thứ tư toàn tỉnh phát triển nghề và làng nghề
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Do thời gian hạn chế đề tài giới hạn nội dung nghiên cứu tập trung vào công tác ĐTN nông nghiệp cho lao động theo Đề án 1956 Tôi lựa chọn 1 cơ sở đào tạo được giao chỉ tiêu lớn nhất trong công tác ĐTN nông nghiệp cho lao động nông thôn và 3 xã (3 xã mới được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới) có học viên tham gia học nghề đại diện cho nghiên cứu
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu
3.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp: tổng hợp qua sách, báo, tạp chí, niên giám thống kê, báo cáo của các bộ, ngành có liên quan
3.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Các số liệu liên quan đến thực trạng hoạt động đào tạo nghề nông nghiệp, việc triển khai chính sách phát triển ĐTN cho nông dân được thu thập bằng cách khảo sát thực địa các nhóm đối tượng lao động hiện đang sinh sống ở nông thôn, học viên học nghề đang làm việc tại cơ sở sản xuất, phỏng vấn trao đổi với các cán
bộ làm công tác quản lý đào tạo nghề, chính quyền địa phương, giáo viên tại cơ sở đào tạo nghề, lãnh đạo cơ sở ĐTN cho nông dân trên địa bàn huyện để làm rõ chất lượng đào tạo nghề
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu chúng tôi tiến hành điều tra, thu thập số liệu ở 3 nhóm đối tượng sau:
- Giáo viên tham gia ĐTN nông nghiệp: 20 giáo viên
- Nông dân của 3 xã: 90 người
- Cán bộ huyện, xã: 12 người (phòng LĐTB & XH, cán bộ hội nông dân, trạm khuyến nông, cán bộ Hội phụ nữ)
Bên cạnh việc điều tra chuyên sâu 3 nhóm đối tượng trên, đề tài còn tham khảo tình hình chung về các đối tượng đó qua các số liệu được tổng hợp từ các nguồn, nghiên cứu khác, cũng như tiến hành phỏng vấn cán bộ quản lý cơ sở ĐTN cho nông dân trên địa bàn huyện, các tổ chức xã hội liên quan