1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển kỹ năng tự học của sinh viên trường ĐHXD miền tây theo quan điểm học tập suốt đời

86 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phục vụ tốt cho việc học tập suốt đời thì người học cần phải trang bị cho mình kỹ năng tự học, tự nghiên cứu đặc biệt là lứa tuổi sinh viên, đặc biệt đối với sinh viên năm thứ nhất kh

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

3.1 Khách thể nghiên cứu 7

3.2 Đối tượng nghiên cứu 7

4 Giả thuyết nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

6 Phạm vi nghiên cứu 7

7 Phương pháp nghiên cứu 8

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 8

7.2 Phương pháp phỏng vấn 8

7.3 Phương pháp quan sát 8

7.4 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 8

7.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 8

7.6 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động 8

7.7 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học 9

8 Cấu trúc luận văn 9

9 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN 10

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 10

1.1.1 Vấn đề tự học trên thế giới 10

1.1.2 Vấn đề tự học ở Việt Nam 12 1.2 CÁC QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ TỰ HỌC, HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

14

Trang 2

1.2.1 Quan niệm tự học 14

1.2.2 Quan niệm học tập suốt đời 15

1.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 17

1.3.1 Định nghĩa tự học 17

1.3.2 Nguyên tắc tự học 18

1.3.3 Điều kiện và cách tự học 19

1.4 ĐẶC ĐIỂM TỰ HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 21

1.5 PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN 22

1.5.1 Khái niệm kĩ năng và kĩ năng tự học 22

1.5.2 Các kĩ năng tự học của sinh viên 24

1.5.3 Biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên 30

1.6 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 36

1.6.1 Ảnh hưởng của ý thức học tập và động cơ nhận thức của bản thân sinh viên 36

1.6.2 Ảnh hưởng của vốn tri thức hiện có của bản thân sinh viên 36

1.6.3 Ảnh hưởng của năng lực trí tuệ và tư duy 37

1.6.4 Ảnh hưởng của phương pháp học tập của trò 37

1.6.5 Ảnh hưởng của phương pháp dạy học của thầy 38

1.6.6 Nội dung, chương trình đào tạo 39

1.6.7 Ảnh hưởng của tài liệu học tập và các điều kiện khác về cơ sở vật chất, gia đình và xã hội 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KĨ NĂNG TỰ HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐHXD MIỀN TÂY 42

2.1 KHÁI QUÁT VỀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG 42

2.1.1 Mục đích khảo sát 42

2.1.2 Nội dung khảo sát 42

2.1.3 Đối tượng khảo sát 42

Trang 3

2.1.4 Công cụ khảo sát: 42

2.2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TÂY 42

2.2.1 Nhận thức của sinh viên về vấn đề tự học 42

2.2.2 Các hình thức tự học của sinh viên 44

2.2.3 Trình độ các kĩ năng tự học của sinh viên 47

2.3 THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TÂY 49

2.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TÂY 52

CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠ HỌC XÂY DỰNG MIỀN TÂY 57

3.1 CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 57

3.1.1 Phải trang bị cho sinh viên các kĩ năng sử dụng công nghệ hiện đại phục vụ tự học (ICT) 57

3.1.2 Phải rèn luyện cho sinh viên các kĩ năng làm việc độc lập và làm việc nhóm trong quá trình tự học 57

3.1.3 Sinh viên phải được hình thành các kĩ năng tự học hiện đại (thu thập, xử lí, lựa chọn, chia sẻ thông tin…) 58

3.1.4 Hình thành cho sinh viên các kĩ năng lập kế hoạch tự học, kĩ năng ghi chép, kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề 58

3.1.5 Rèn luyện khả năng tự học của sinh viên qua dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học 58

3.2 CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TÂY THEO QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI 59

3.2.1 Trang bị các kĩ năng sử dụng ICT (information and communication technology) trong việc khai thác và xử lí thông tin cho sinh viên 59

3.2.2 Hình thành các kĩ năng làm việc độc lập, làm việc nhóm, chia sẻ thông tin cho sinh viên 60

Trang 4

3.2.3 Sinh viên phải được hình thành các kĩ năng tự học hiện đại (thu thập, xử lí, lựa chọn, chia sẻ thông tin…) 62 3.2.4 Hình thành cho sinh viên các kĩ năng lập kế hoạch tự học, kĩ năng ghi chép, kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề 65 3.2.5 Rèn luyện khả năng tự học của sinh viên qua dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học 69 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72 Tài liệu tham khảo 76

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Theo quan điểm chỉ đạo trong Quyết định phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020” của Thủ tướng Chính phủ ngày 09/01/2013 thì trong xã hội học tập, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời

Để phục vụ tốt cho việc học tập suốt đời thì người học cần phải trang bị cho mình kỹ năng tự học, tự nghiên cứu đặc biệt là lứa tuổi sinh viên, đặc biệt đối với sinh viên năm thứ nhất khi còn chưa quen với môi trường sống cũng như cách giảng dạy ở trường Đại học - một môi trường khác hoàn toàn với môi trường ở phổ thông của các em thì việc làm quen với phương pháp giảng dạy mới lại càng khó khăn hơn Các em chưa có một phương pháp học hợp lý, trong khi yêu cầu về tính chủ động trong học tập là rất cao Để nắm bắt toàn diện những kiến thức chuyên môn ở trình độ Đại học đòi hỏi sinh viên phải có nhiều nỗ lực trong hoạt động học tập, đặc biệt phải dành nhiều thời gian cho việc tự học và tự nghiên cứu và cần có một phương pháp học đúng đắn, phù hợp và hiệu quả Trong đó phương pháp tự học đóng một vai trò vô cùng quan trọng

Tự học có vai trò rất quan trọng trong quá trình học đại học của sinh viên Tự học nhằm phát huy tính tự giác học và nghiên cứu Việc tự học đối với sinh viên có vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần giúp cho sinh viên rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo của cá nhân

Trang 6

Khi tự học sinh viên có thể chủ động được quỹ thời gian mà không bị ràng buộc, có thể học bất cứ lúc nào Từ đó giúp sinh viên nắm kiến thức vững chắc và có thể hiểu sâu và nhớ kỹ hơn các vấn đề (tự học nên nhớ lâu hơn) Ngoài ra, việc tự học còn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác làm việc theo nhóm, khi đó sinh viên có thể thể hiện tính sáng tạo trong tư duy và linh hoạt nhạy bén trong suy nghĩ, điều quan trọng hơn hết là sinh viên

có thể đi sâu hơn so với thực tế nhằm rèn luyện kỹ năng phân tích tình hình và đưa ra quyết định, đây là một yếu tố cần và đủ để sau này khi rời khỏi ghế nhà trường sinh viên sẽ không bỡ ngỡ khi làm việc ở môi trường thực tế Việc tự học giúp cho sinh viên có thể tiếp thu tốt bài giảng trên lớp hay củng cố lại các kiến thức đã học, mở mang thêm nhiều kiến thức mới qua sách vở và mạng Internet phục vụ cho chuyên ngành nghiên cứu, nâng cao kỹ năng làm việc nhóm, tạo môi trường học tập tiến bộ và tiên tiến,…

Trên thực tế hiện nay, hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Xây dựng miền Tây vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó nhiều sinh viên chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học, chưa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tự học cho bản thân, hình thức tự học chưa hợp lý… Chính vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề tự học của sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây hiện nay

và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hiệu quả của hoạt động tự học của sinh viên làm tiền đề cho việc học tập suốt đời và góp phần xây dựng xã hội

học tập Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển kỹ năng

tự học cho sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây theo quan điểm học tập suốt đời”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về vấn đề tự học và khảo sát thực trạng tự học của sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp

Trang 7

phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây theo quan điểm học tập suốt đời

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Xây dựng Miền Tây

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp phát triển kĩ năng tự học của sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây

4 Giả thuyết nghiên cứu

Sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây có nhận thức đúng đắn

về tầm quan trọng của việc tự học nhưng chưa có phương pháp tự học hiệu quả Nếu áp dụng các biện pháp pháp phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên thì kết quả học tập của sinh viên sinh viên được nâng cao đáp ứng được nhu cầu học tập suốt đời

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của kĩ năng tự học và biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên

5.2 Phân tích, đánh giá thực trạng kĩ năng tự học của sinh viên, biện pháp phát triển kĩ năng tự học của sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây 5.3 Đề xuất biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên trường ĐHXDMT đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời

6 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Xây dựng Miền Tây

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: năm học 2014-2015; 2015-2016

- Phạm vi đối tượng khảo sát: Giảng viên: 50; sinh viên: 300; Cố vấn học tập: 10

Trang 8

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, mô hình hóa…các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn; Tìm hiểu các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình tự học của sinh viên và biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên

7.2 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn một số cán bộ quản lí, giảng viên và cố vấn học tập, sinh viên

về tình hình tự học của sinh viên toàn trường hiện nay nói chung và sinh viên trong từng khoa nói riêng; Biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên

7.3 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động tự học của sinh viên để thu thập thêm các thông tin cần thiết

7.4 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Sử dụng phiếu hỏi để điều tra, tìm hiểu nhận thức của sinh viên về vấn

đề tự học theo học chế tín chỉ hiện nay, các hình thức tự học đang được dùng phổ biến cũng như những khó khăn gặp phải trong quá trình tự học Biện pháp phát tiển kĩ năng tự học cho sinh viên

7.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Nhằm đúc kết kinh nghiệm phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên trong các trường đại học để xây dựng các biện pháp

7.6 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Thông qua các sản phẩm tự học của sinh viên, sản phẩm hướng dẫn tự học cho sinh viên để đánh giá kĩ năng tự học của sinh viên và biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên

Trang 9

7.7 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng các công thức thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu nhằm rút

ra kết luận khách quan

8 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn gồm các phần mở đầu, 3 chương, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục

9 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài

Đề tài nghiên cứu thực trạng các biện pháp phát triển kỹ năng tự học

của sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây từ đó đề xuất các biện pháp

và đưa ra các kiến nghị phù hợp nhằm phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây

Điểm mới là tổng hợp và lựa chọn những biện pháp cần thiết nhất cho sự phát triển kỹ năng tự học của sinh viên trường Đại học Xây dựng Miền Tây

Những kiến nghị mới: Cần tập trung nâng cao vai trò của giảng viên, cố vấn học tập, đoàn hội

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC

CHO SINH VIÊN 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Vấn đề tự học trên thế giới

Tự học đã được con người thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi giáo dục chưa trở thành một ngành khoa học thực sự Ở thời kỳ đó, người ta đã biết quan tâm đến việc làm sao cho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những giáo huấn của thầy và hành động theo những điều ghi nhớ đó

Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò”

Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục như: J.A Comensky (1592-1670); G.Brousseau (1712-1778); J.H Pestalozzi (1746-1872); A.Disterweg (1790-1866) trong các công trình nghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích người đọc giành lấy trí thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của tâm lý học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều Phương pháp dạy học mới ra đời: “phương pháp lạc quan”, phương pháp trọng tâm tri thức”, “phương pháp montessori”…Các phương pháp dạy học này đã khẳng định vai trò quyết định của học sinh trong học tập nhưng quá coi trọng “con người cá thể” nên đã hạ thấp vai trò của người giáo viên đồng thời phức tạp hóa quá trình dạy học Mặt khác, những phương pháp này đòi hỏi các điều kiện rất cao kể cả từ phía người học lẫn các điều kiện giảng dạy nên khó có thể triển khai rộng rãi được

Từ giữa những năm 1970 đã có sách hay bài viết về vấn đề này (Benn, S I viết bài “Freedom, Autonomy and the Concept of the Person” năm 1976;

Trang 11

Holec H viết quyển “Autonomy in Foreign Language Learning” năm

1981, NXB Oxford)

Sau chiến tranh thế giới thứ II, bên cạnh sự tiến bộ rất nhanh của các ngành khoa học cơ bản, khoa học giáo dục cũng có nhiều tiến bộ đáng kể Một trong những tiến bộ đó là: sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống (Giáo viên là nơi phát động thông tin, học sinh là nơi tiếp nhận thông qua diễn giảng trên lớp) và các quan điểm dạy học hiện đại (học sinh là chủ thể tích cực, giáo viên là người tổ chức hướng dẫn)

Các nhà giáo dục học ở Mỹ và Tây Âu ở thời kỳ này đã đều thống nhất khẳng định vai trò của người học trong quá trình dạy học, song bên cạnh đó cũng khẳng định vai trò rất quan trọng của người thầy và các phương pháp, phương tiện dạy học

Khái niệm người học trong giai đoạn này cũng không còn được quan niệm cá thể hóa cực đoan như trước đây, tuy nó vẫn được chú ý Theo

J.Dewey: “ học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Tư tưởng “lấy học sinh làm trung tâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều

phương pháp cụ thể như: “Phương pháp hợp tác” (cooperative methods),

“phương pháp tích cực” (active methods), “Phương pháp cá thể hóa”,

“Phương pháp nêu vấn đề”, … trong đó “Phương pháp tích cực” được nghiên cứu triển khai rộng hơn cả Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi

sự chú ý kích thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động Vì thế, người học đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc học Nhìn chung tư tưởng “lấy học sinh là trung tâm trong quá trình dạy học nói riêng và giáo dục nói chung đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều phương pháp, trong đó “phương pháp tích cực” là chủ đạo mang tính nguyên tắc Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, sinh viên

Trang 12

Đồng tình với quan điểm trên, các nhà giáo dục Xô Viết đã khẳng định vai trò tiềm năng to lớn của hoạt động tự học trong giáo dục nhà trường Đặc biệt, nhiều tác giả còn nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của người học , trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học

1.1.2 Vấn đề tự học ở Việt Nam

Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy

dỗ, thì yếu tố quyết định đều là tự học của bản thân Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài Nhưng nhìn chung, lối giáo dục còn rất hạn chế “người học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người học học thuộc lòng …”

Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn đề tự học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội

Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp dạy học

Người từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh,

về phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục

Trang 13

học học, phương pháp dạy học bộ môn Một số công trình tiêu biểu là:

Nguyễn Cảnh Toàn (Nguyễn Cảnh Toàn (1995), luận bàn và kinh nghiệm về

tự học), Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị,…

Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta Từ một giáo viên trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng: “Học bao giờ cũng gắn với tự học, tự rèn luyện để biến đổi nhân cách của mình Người dạy giỏi là người dạy cho học sinh biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự giáo dục”

Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đã

khẳng định: Năng lực tự học của trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiên cứu cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình

xã hội hóa việc học

Bước vào thời kì đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung, và vấn đề tự học của sinh viên nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu vì vai trò quan trọng của tự học trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới lấy người học là trung tâm Chúng ta có thể tham khảo bài viết của Nguyễn Nghĩa Dán “Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh” (Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/1998); hay tác giả Cao Xuân Hạo đã có những phân tích thấu đáo và ý kiến sâu sắc trong bài “Bàn về chuyện tự học” (Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001) Và giáo viên ở các trường đại học cũng có những nghiên cứu để giúp dần đưa việc tự học thành một hoạt động không thể thiếu trong quá trình dạy và học hiện nay (Diệp Thị Thanh, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng với bài “Phương pháp Tự học – Cầu nối giữa

Trang 14

học tập và Nghiên cứu Khoa học”) Tự học là vấn đề quan trọng và cần thiết hiện nay đối với sinh viên

1.2 CÁC QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ TỰ HỌC, HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

1.2.1 Quan niệm tự học

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học Quan niệm về tự học,

Người cho rằng: “Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập” Theo Người: “tự động học tập” tức là tự học một cách hoàn toàn tự

giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình”

Trong quyển Học và dạy cách học, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng:

“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi

cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”

Theo Nguyễn Kỳ cho rằng:“Tự học là đặt mình vào tình huống học, vào

vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra: nhận biết vấn đề xử lý thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử lý tình huống…”.\

Tác giả Thái Duy Tuyên khẳng định:“Tự học là môt hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” (Chuyên đề Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học)

Trang 15

Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về tự học của các tác giả có thể đưa ra khái niệm về tự học như sau: “Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các khả năng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các công cụ thực hành), cùng các phẩm chất của cá nhân như: động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, không ngại khó,

có ý trí, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình”

1.2.2 Quan niệm học tập suốt đời

Khái niệm “học tập suốt đời” và “ xây dựng xã hội học tập “ thật ra đã

có mầm mống được sử dụng ở nước ta từ lâu Có thể nói những năm tháng sau cách mạng tháng Tám ở nước ta đã có mầm mống hình thành một xã hội học tập Song song với việc xoá mù chữ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành giáo dục nước ta đã mở ra hệ thống học tập không chính quy dành cho người lớn tuổi, cho người nghèo, cho con em tầng lớp lao động Khắp nơi trên đất nước hàng loạt các trường phổ thông lao động, các trường bổ túc công nông,

bổ túc văn hoá, vừa học vừa làm đã hình thành và đem lại quyền được học hành cho mọi người dân, mà trước đấy trong lịch sử phát triển giáo dục nước

ta chưa từng bao giờ có được… Nhờ những bước đi đúng đắn này mà ở nước

ta ngày hôm nay mới có được một đội ngũ trí thức công nông lớn mạnh, mà trong họ không ít người nhờ qua con đường học không chính quy đã trưởng thành và đạt tới đỉnh cao của các lĩnh vực khoa học, công nghệ và quản lý, trở thành những cán bộ đầu ngành của hầu hết tất cả các lĩnh vực

Khái niệm giáo dục suốt đời được Đảng ta đề ra trong văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX là: “Tạo điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, suốt đời” nghĩa là phải xây dựng một xã hội học tập để thực hiện giáo dục suốt đời Đây là phương hướng chung của giáo dục trong

Trang 16

tương lai, với ý nghĩa là đưa giáo dục vào cả đời người, biến việc học thành quá trình không ngừng tự nâng cao năng lực trí tuệ và khả năng thực hành, đáp ứng tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó, có sự đóng góp xứng đáng và hưởng thụ thỏa đáng của những thành viên có trí tuệ tham gia tích cực, có hiệu quả vào quá trình phát triển chung của xã hội

Xây dựng xã hội học tập suốt đời phải là một trong những chiến lược then chốt của giáo dục nước ta trên con đường đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo Học tập suốt đời trong xã hội học tập là tạo cơ hội bình đẳng trong giáo dục để từng thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả xã hội nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường làm cho nước ta sớm trở thành một nước dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

Thông qua xã hội học tập và học tập suốt đời là cơ hội giảm đi số người thất nghiệp và tạo cơ hội có thêm công ăn việc làm cho nhiều người khác Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, nâng cao nếp sống văn minh, giữ gìn bản sắc văn hoá, thuần phong, mỹ tục truyền thống của dân tộc Giáo dục suốt đời sẽ là cơ sở vững chắc đảm bảo cho dân chủ hoá Học tập suốt đời giúp định dạng đầy đủ từng thành viên trong xã hội Xã hội học tập đảm bảo quyền được học của mọi thành viên trong xã hội

Học tập suốt đời có thể coi như linh hồn cơ bản của một xã hội học tập

Xã hội học tập và học tập suốt đời được coi như giải pháp hữu hiệu nhất của việc tự hoàn thiện cá nhân mỗi người với quá trình phát triển kinh tế-xã hội

Vì không cần phải có một mô hình giáo dục riêng biệt, không cần trường lớp chính quy theo kiểu truyền thống, mà nó tận dụng tất cả các phương thức, hình thức học tập chính quy, không chính quy và phi chính quy Con đường học tập cho mọi ngươì hoàn toàn được rộng mở Con người, dù bất cứ là ai, ở

Trang 17

đâu, lúc nào, muốn học gì, muốn học bao nhiêu và học bằng cách nào đều được tạo điều kiện tốt nhất để học trong xã hội học tập Mọi người đều có thể được tiếp nhận sự giáo dục thích hợp về mọi mặt: chính trị, đạo đức, văn hoá, kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ, kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp

Trong môi trường hiện tại, bất kể cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức hay quốc gia, tất cả đều phải bắt đầu và kết thúc với việc học tập, bởi vì sự phát triển thông qua quá trình học tập liên tục chính là chìa khóa của mọi sự thành công Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để trở thành người công dân tốt

Hiện nay, khái niệm "học tập suốt đời" ngày càng được nhắc đến thường xuyên hơn và có mặt trong hầu hết các chiến lược, chính sách quốc gia về giáo dục của mỗi đất nước

Theo UNESCO, "học tập suốt đời" là quá trình học tập diễn ra trong suốt cả cuộc đời, dựa trên bốn trụ cột: học để biết, học để làm việc, học để cùng nhau chung sống và học để làm người; thông qua các phương thức giáo dục chính quy, giáo dục thường xuyên; đặc biệt coi trọng tự học

1.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC

1.3.1 Định nghĩa tự học

Tuy đã được nghiên cứu từ lâu và rất nhiều trên thế giới nhưng „tự học‟ lại là một thuật ngữ gây nhiều tranh luận, và đôi khi các nhà giáo dục học và ngôn ngữ học không thể thống nhất hoàn toàn với nhau về định nghĩa tự học

là thế nào Một số nhà nghiên cứu nổi tiếng định nghĩa về tự học như sau:

- Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình (Henri Holec)

- Tự học là vấn đề về mối tương quan tâm lý của người học với quá trình và nội dung học (David Little)

Trang 18

- Tự học là tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm

về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định

Trang 19

sự tự học cả Và chỉ có những kẻ cực kỳ hợm hĩnh và vô ân mới có thể nói khoác rằng mình là người tự học” Và theo ông “tự học ở đây chỉ cái phần tích cực, chủ động, quyết đoán của người học Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập là vai trò của người học, tuy vai trò của người dạy không phải không quan trọng”

Holmes và Ramos (1991) cũng khẳng định, “để giúp người học kiểm soát được việc học của chính mình rất quan trọng phải giúp họ trở nên có ý thức và xác định được chiến lược mà họ đã từng sử dụng hoặc có thể sẽ sử dụng” Và chính giáo viên sẽ là người thực hiện vai trò này Giáo viên trước hết phải giúp sinh viên ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc tự học, tiếp đến cung cấp cho sinh viên kiến thức về cách học và hướng dẫn họ tự học

có hiệu quả

Ngoài ra, chúng ta nên lưu ý rằng tự học là một quá trình không phải là một sản phẩm, và sẽ phải mất rất nhiều thời gian để phát triển khả năng này Như vậy, không thể trông đợi người học có thể trong một thời gian ngắn chuyển sang cách học tự học mà không cần thời gian hay không gặp một khó khăn nào

1.3.3 Điều kiện và cách tự học

Dimitrios Thanasoulas cho rằng việc tự học chỉ có thể đạt được khi có những điều kiện sau: chiến lược về nhận thức của người học; thái độ; động cơ; và kiến thức

Theo O‟Malley và Chamot (1990), chiến lược nhận thức tác động trực tiếp lên thông tin tiếp nhận, đồng thời điều khiển thông tin theo cách thức hỗ trợ việc học Một số chiến lược nhận thức trong việc học ngôn ngữ được đề cập là: lập lại, biên dịch, ghi chú, suy luận, và đặt câu hỏi để hiểu rõ vấn đề Hai thái độ quan trọng trong tự học là thái độ của người học về vai trò của họ trong quá trình học và thái độ về khả năng học của mình Nếu người học cho

Trang 20

là việc học chỉ thành công theo cách học truyền thống và giáo viên mới là người nắm vai t chủ đạo, hay tin rằng họ thuộc nhóm người không có khả năng tự học thì người học sẽ có khuynh hướng không thay đổi theo cách học lấy người học là trung tâm trong khi cách học mới này giúp hướng đến việc tự học, và như vậy sự thành công trong tự học là không có cơ sở Động cơ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ và sự thành công khi học Thái độ và động cơ của người học có liên quan mật thiết với nhau Thái

độ tích cực sẽ dẫn đến động cơ học tập được nâng cao và ngược lại Về cách

tự học, Quang Huy trong bài viết “Tự học ở bậc Đại học” (theo Dạy và Học Ngày Nay, số 10, 2008) phân tích: “Có nhiều cách tự học như: tự mình mò mẫm (người học không có điều kiện đi học, các tri thức họ tìm được là do sự tìm tòi trải nghiệm của chính bản thân họ trong cuộc sống), tự học không cần thầy hướng dẫn (người học đã có một trình độ học vấn nhất định, đã có một thời gian dài học với thầy), tự học với sự hướng dẫn của thầy (hoạt động tự học này gắn với quá trình dạy học) Đối với sinh viên, hoạt động tự học gắn liền với sự hướng dẫn của thầy Hoạt động này sẽ diễn ra ở hai phạm vi: tự học trên lớp và tự học ngoài giờ trên lớp”

Tự học nhấn mạnh về tính cá nhân và tính độc lập, nhưng tự học không

có nghĩa là học riêng biệt một mình Tính độc lập trong tự học vẫn nằm trong

sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau Tiến sĩ Chu Hảo, thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, khi được hỏi về kinh nghiệm của riêng ông trong việc tự học, đã trả lời như sau: “Cần nói rõ về tự học, người ta thường nghĩ rằng tự học là học riêng một mình Không, cách tự học tốt nhất là học với nhóm”

Như vậy, giáo viên khi hướng dẫn sinh viên tự học cần phải xét đến các điều kiện tự học nêu trên và chọn những hoạt động phù hợp để sinh viên có thể tự học trên lớp và tự học ngoài giờ một cách có hiệu quả

Trang 21

1.4 ĐẶC ĐIỂM TỰ HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu đào tạo của các trường đại học là: "Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nghiệp vụ, có trình độ, có lý tưởng cách mạng, có quyết tâm vươn tới những đỉnh cao của văn hoá, khoa học hoặc chỉ đạo việc thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn

do mình phụ trách, có tiềm lực để từng bước tiến hành giải quyết các vấn đề thực tiễn do cuộc sống đặt ra trong phạm vi "nghề nghiệp" của mình và với phương châm "biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo" Trên ý nghĩa đó, việc tự học của sinh viên không còn giống tự học của học sinh phổ thông Học đại học là đi sâu vào một chuyên ngành để chuẩn bị cho một nghề trong tương lai Do đó, người sinh viên phải tự trang bị cho mình những hiểu biết cơ bản, vững vàng về nghề đó, đồng thời phải có nhiều hiểu biết khác nữa theo yêu cầu của cuộc sống

Giờ đây, công việc tự học của sinh viên trở nên rất quan trọng, rất nặng

nề, nó trở thành một bộ phận cấu thành của giáo dục đại học Do phương pháp học tập ở trường đại học khác cơ bản so với phương pháp học ở phổ thông, ở đại học không có sự kiểm tra hàng ngày của giáo viên nên việc học tập của sinh viên phần lớn là tự học Sinh viên tự đề ra kế hoạch và tự thực hiện kế hoạch Các bài kiểm tra chính là kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên

Có nhiều sinh viên cho biết rằng 50% kiến thức là do tự học

Việc tự học của sinh viên đại học còn có một đặc điểm; đó là hoạt động tự học diễn ra liên tục, trong một phạm vi lớn nhằm lĩnh hội rất nhiều tri thức Nếu như học sinh phổ thông được cô giáo ra những bài tập nhất định

về nhà thì sinh viên đại học phải tự tìm tòi tài liệu, chọn đọc tài liệu sao cho thích hợp với môn học và phải tỏ ra thật sự khoa học trong công tác tự học mới có kết quả tốt

Thêm vào đó, việc tự học của sinh viên đại học là sự nỗ lực cao, tính tự giác cao hơn học sinh phổ thông; sinh viên thực sự làm chủ thời gian, phương

Trang 22

pháp phải quan tâm đến chất lượng tự học của bản thân để từ đó có phương hướng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho mình, chuẩn bị cho ngày mai lập nghiệp bằng sự tự tin tuyệt đối

Tự học ở nhà - một nhân tố quan trọng đối với quá trình lĩnh hội tri thức Tự học ở nhà chính là lần thứ hai lĩnh hội tri thức, đó là lĩnh hội bằng

sự tái tạo lại của bản thân sinh viên Bước tái tạo này giúp sinh viên nắm chắc hơn điều đã được học, hoàn thành những chỗ khó, hệ thống hoá lại bài học trên lớp, nhờ đó tránh được "học vẹt", học mà không hiểu Trong thực

tế, việc học ở nhà còn giúp sinh viên mở mang tri thức, lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức vào cuộc sống để tự rút ra kinh nghiệm cho mình nhất là theo hình thức tín chỉ Điều quan trọng là việc tự học còn phát triển ở sinh viên khả năng độc lập, sáng tạo trong lĩnh hội tri thức

và trong hoạt động Khi tự học, sinh viên làm quen với nhiều thuật ngữ, nhiều cách đề cập đến một vấn đề, vì vậy họ sẽ trở nên năng động hơn, tự chủ hơn trong việc tiếp thu tri thức Qua đó có thể nói rằng tự học của sinh viên không chỉ là một nhân tố quan trọng trong lĩnh hội tri thức mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách sinh viên

1.5 PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN

1.5.1 Khái niệm kĩ năng và kĩ năng tự học

* Khái niệm kĩ năng

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn

có chủ đích và định hướng rõ ràng

Trang 23

Vậy kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi

* Khái niệm kỹ năng tự học

Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả một hay một nhóm hành động tự học bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã

có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép

Kỹ năng tự học không chỉ quan trọng trong quãng thời gian ngồi trên ghế nhà trường, mà nó cần thiết cho suốt thời gian làm việc sau này của cả đời người Nhất là ngày nay, khi mà thế giới biến đổi quá nhanh đến nỗi mỗi ngày, mỗi tờ báo đều đăng tải những phát minh mới, sản phẩm mới, phương pháp mới, công cụ mới khiến ta lạc hậu nếu như không chịu tự học Nếu bạn không có kỹ năng tự học để tiếp thu liên tục những đổi mới này, bạn sẽ mãi là người đứng sau và đứng sau mãi mãi

Bản thân mỗi cá nhân đều tiềm ẩn một khả năng tự học, khả năng đó được tăng cường hay không là nhờ vào cách thức học tập của họ Lối học nhồi nhét sẽ làm người học thui chột khả năng tự học; trái lại, lối học tự tìm tòi, nghiên cứu, chú trọng sự phát triển óc tư duy, vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống sẽ tăng cường khả năng tự học Như vậy, cách học

có tác dụng rõ ràng đến việc phát triển năng lực tự học Với lối dạy - tự học, mức độ, đặc điểm hành động của người học quyết đến hiệu quả học tập Hiệu quả của các hành động học tập tự học cao hay thấp tùy thuộc vào kỹ năng thực hiện các hành động đó Vì vậy việc hình thành kỹ năng trong học tập có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy - tự học

Tóm lại: Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một công việc nào

đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động với những điều kiện cho phép Kỹ năng biểu hiện trình độ các thao tác

tư duy, năng lực hành động và mặt kỹ thuật của hành động Đối với người

Trang 24

học, hoạt động tự học bao gồm nhiều hành động kế tiếp nhau như quan sát, ghi chép, đọc, hệ thống hoá, giải bài tập… Để có thể tự học, người học phải nắm được những tri thức về hành động, phải vận dụng những tri thức đó để tiến hành các hành động nhằm thu được những kết quả hành động phù hợp với mục đích Nói một cách khác, người học phải có những kỹ năng tự học

phù hợp với môn học Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả một

hay một nhóm hành động tự học bằng cách vận dụng những tri thức, những

kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép

1.5.2 Các kĩ năng tự học của sinh viên

 Kỹ năng ghi chép bài giảng hợp lý

Ghi chép cần phải nhanh hơn, Ghi chép bài giảng theo ý hiểu của mình, dùng nhiều ký tự viết tắt hơn để tiết kiệm thời gian ghi chép dành thời gian cho việc nghe giảng Không cần phải ghi tất cả những gì thầy cô nói Cần ghi một cách có chọn lọc, sử dụng kí hiệu riêng, ghi cả chính đề lẫn phản đề, ghi thắc mắc của chính mình… Hãy dành thời gian để nghe các thầy cô giải thích

kĩ hơn về định nghĩa, khái niệm, cách chứng minh… Chỉ ghi chép những gì

mà chúng ta chưa biết, những điều quan trọng mà sách không có Ngoài ra, vở của người bạn học sẽ là tài liệu hữu ích vì có thể lúc đãng trí bạn bỏ sót một chi tiết quan trọng trong bài giảng

 Kỹ năng học ở nhà

Cần tìm một chỗ yên tĩnh, tránh tiếng ồn Bạn nên chọn một thời gian học cố định và tạo cho mình thói quen học thời gian đó Ngoài ra, cần có lịch học thật hợp lý, kết hợp giữa học tập và giải trí như có thể một bản nhạc nhẹ nhàng, hoặc một bài tập thể dục

Nếu bạn học phải phần khó hiểu thì để lại, học những phần khác dễ hiểu hơn, sau khi thư giãn, thoải mái thì học tiếp

 Kỹ năng đặt câu hỏi trong tự học

Trang 25

Trong học tập thì hỏi là thao tác thường xuyên diễn ra Khi dạy học, giáo viên phải giúp sinh viên biết cách tự hình thành câu hỏi trong óc, yêu cầu sinh viên phải tự mình suy nghĩ, động não để tự tìm câu trả lời cho câu hỏi đó Trong quá trình suy nghĩ để tìm câu trả lời, có thể vấn đề cần hỏi đó được giải quyết ngay, nhưng cũng có thể chưa giải quyết ngay được, lúc này sinh viên cần tiếp tục suy nghĩ, đến khi bản thân cảm thấy không trả lời được thì có thể trao đổi ngay với giáo viên hoặc với các bạn khác Trong lúc nghe giáo viên hoặc các bạn sinh viên khác trình bày, người học vẫn phải giữ vai trò chủ thể tích cực, chủ động để có thể tìm ra cho mình câu trả lời thỏa đáng nhất

 Kỹ năng ghi nhớ

Ghi nhớ là thành phần cơ bản và quan trọng trong quá trình học tập Vì nếu không có ghi nhớ thì người học cũng chẳng thể tư duy Để hướng dẫn sinh viên cách ghi nhớ kiến thức, giáo viên cần:

+ Để có thể ghi nhớ tốt thì điều trước hết phải hiểu Nếu ghi nhớ mà không hiểu thì ghi nhớ đó sẽ không bền vững Thậm chí có bền vững thì cũng chỉ là những tri thức “khô cứng” khó vận dụng được

+ Hướng dẫn sinh viên biết cách ghi nhớ bằng cách hệ thống hóa, khái quát hóa những tri thức cũ Tìm cách so sánh, xem xét tương tự kiến thức mới với kiến thức đã học

+ Thường xuyên ôn tập củng cố cũng như lập các sơ đồ khái niệm, các nguyên lý… theo cách hiểu của riêng mình

 Kỹ năng làm việc với sách

Đọc sách là kỹ năng không thể thiếu bởi học đại học sẽ phải học rất nhiều Do đó, sinh viên cần:

+ Phải xác định rõ mục đích đọc sách, chọn cách đọc phù hợp như tìm hiểu nội dung tổng quát của quyển sách, đọc thử một vài đoạn, đọc lướt qua

Trang 26

nhưng có trọng điểm, đọc kĩ có phân tích, nhận xét, đánh giá Khi đọc sách cần phải tập trung chú ý, tích cực suy nghĩ và ghi chép…

+ Giáo viên cần hướng dẫn sinh viên một số quy trình đơn giản về kỹ năng đọc sách: Bắt đầu từ việc làm quen với tên tác giả cuốn sách, tên sách, sau đó đọc mục lục, đọc lời nói đầu, đọc lướt qua cuốn sách, rồi đọc kỹ, tóm tắt nội dung, ghi lại những điều lý thú, nêu câu hỏi và đề xuất những ý mới trong quá trình đọc,…

+ Khi đọc sách cần rút ra được những tư tưởng chính của mỗi đoạn, so sánh, phân loại, hệ thống hóa,… đề xuất cái mới và nêu câu hỏi Điều này rất quan trọng vì sự sáng tạo thường nảy sinh trong quá trình đọc sách Cần giáo dục sinh viên tái hiện và cảm thụ Đặc biệt, giáo viên cần giáo dục lòng tôn trọng của sinh viên đối với sách, nhất là SGK vì đây là nguồn thông tin tập trung và có chọn lọc các giá trị cơ bản và quan trọng của kinh nghiệm lịch sử loài người

Có thể tham khảo thêm phương pháp đọc nhanh SQR3 Các từ SQ3R là viết tắt của 5 kĩ thuật liên tiếp nhau mà bạn sẽ dùng để đọc 1 cuốn sách:

Nhìn tổng quát: Nhìn tổng quát qua tài liệu: đọc lướt qua nội dung,

phần giới thiệu, giới thiệu các chương và tóm tắt các chương để nắm được thông tin cơ bản của cả tài liệu Cho đánh giá dù nó có giúp gì cho bạn hay không Nếu nó không cung cấp cho bạn thông tin mà bạn muốn thì hãy bỏ qua

Đặt câu hỏi: Ghi chú lại bất kì câu hỏi nào mà bạn nghĩ đến hoặc bạn

quan tâm đặc biệt đến nó sau khi đọc tổng quát Có thể đọc lướt lại nếu bạn thấy có chỗ nào đáng lưu ý Những câu hỏi này gần như được xem là những mục tiêu nghiên cứu của bạn – việc trả lời các câu hỏi đó sẽ giúp bạn sắp xếp được cấu trúc thông tin trong đầu mình

Đọc: Đọc một cách chi tiết những phần mà bạn thấy nó hữu ích Hãy

hiểu cặn kẽ tất cả các vấn đề có liên quan Bạn nên đọc thật chậm, nếu thông

Trang 27

tin quá nhiều và phức tạp Trong khi đọc, nó có thể giúp bạn vẽ ra bản đồ tư duy trong đầu mình

Nhớ lại: Một khi bạn đã đọc các phần mà bạn thấy thích hợp trong tài

liệu, hãy nghĩ đi nghĩ lại nhiều lần về chúng Lọc ra những dữ liệu cốt lõi hay các tiến trình cần thiết đằng sau chủ đề, và sau đó xem các thông tin khác liên quan đến chúng như thế nào

Duyệt lại: Một khi bạn đã nhớ đi nhớ lại, trăn trở với những thông tin

đó, bạn có thể chuyển sang giai đoạn tiếp theo là duyệt lại nó Bạn có thể duyệt lại bằng cách đọc lại tài liệu, mở rộng thêm các ghi chú của mình hay thảo luận với các bạn khác Việc duyệt lại thông tin thực sự đã hiệu quả khi bạn có thể truyền đạt các thông tin đó lại cho người khác

 Kỹ năng tổ chức các hoạt động tự học

Kỹ năng này bao gồm: lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, theo dõi, giám sát, đánh giá và điều chỉnh việc tự học Các yếu tố này tạo nên chu trình của

việc tự học, sinh viên tự quản quá trình tự học của bản thân

Lập kế hoạch bao gồm: Xác định mục tiêu, xác định kế hoạch; lựa chọn thực hiện, đánh giá và điều chỉnh các phương pháp…sau khi có kế hoạch tự học điều quan trọng là làm cho học sinh tuân thủ trình tự đã ghi trong kế hoạch cho đến khi hoàn thành, không đi chệch hướng với kế hoạch

đề ra

Đánh giá thường xuyên của giáo viên và bản thân sinh viên về quá trình tự học và hoàn thành kế hoạch tự học là phương tiện mạnh mẽ, để kích thích, nâng cao quá trình tự học của người học Từ sự đánh giá này, sinh viên rút ra được những bài học kinh nghiệm cho mình, dẫn tới sự điều chỉnh để lần sau thực hiện kế hoạch tự học tốt hơn

 Kỹ năng giao tiếp với thầy với bạn trong quá trình tự học

Trang 28

Trong nhà trường làm việc theo nhóm là cách tiếp cận được sử dụng rộng rãi, trong đó các thành viên kết hợp với nhau để thực hiện nhiệm vụ của mình với những phương pháp ý tưởng khác nhau Qua hoạt động nhóm, học sinh rèn luyện được sự tập trung chú ý Học được cách đặt câu hỏi, học được

kỹ năng giao tiếp với thầy với bạn,…Để có thể giao tiếp với bạn với thấy được hiệu quả giáo viên cần hướng dẫn học sinh:

Tham gia tích cực các hoạt động nhóm do thầy tổ chức Cần tham gia các hoạt động một cách bình đẳng, tự chủ và sáng tạo Tuyệt đối không lệ thuộc, ỷ lại vào suy nghĩ và kế t quả làm việc của bạn

Tự giải quyết các vấn đề theo sự hướng dẫn của thầy và tham gia của bạn Biết đưa các câu hỏi, thắc mắc của mình với thầy và bạn một cách hợp lý

để được giải đáp một cách thỏa đáng

 Kỹ năng kế hoạch hóa việc tự học

Kỹ năng này cần tuân thủ các nguyên tắt sau: Đảm bảo thời gian tự học tương xứng với lượng thông tin của môn học; xen kẽ hợp lý giữa các hình thức tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi; thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học như biết cách làm việc độc lập, biết tự kiểm tra, đánh giá

 Kỹ năng ôn tập (gồm kỹ năng ôn bài và kỹ năng tập luyện)

Kỹ năng ôn bài là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh kiến thức bài giảng của thầy Đó là hoạt động tái nhận bài giảng như xem lại bài ghi, mối quan hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ sung bài ghi bằng những thông tin nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc từng phần và toàn bài Việc tái hiện bài giảng dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của thầy, từ hoạt động tái nhận bài giảng, dựng lại bài giảng của thầy bằng ngôn ngữ của chính mình, đó là những mối liên hệ lôgic có thể có cả kiến thức cũ và mới

Trang 29

Kỹ năng tập luyện có tác dụng trong việc hình thành kỹ năng tương ứng với những tri thức đã học Từ việc giải bài tập của thầy đến việc người học tự thiết kế những loại bài tập cho mình giải; từ bài tập củng cố đơn vị kiến thức đến bài tập hệ thống hóa bài học, chương học, cũng như những bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống

 Kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra

Phương pháp ghi bài và tiếp thu được 70 - 80% bài giảng của thầy cô nghĩa là bạn đã thành công một nửa Bước vào kỳ thi, đầu tiên bạn phải xác định các tài liệu liên quan để ôn tập; sắp xếp những gì ghi chép được, hệ thống hóa kiến thức, ước lượng xem cần bao lâu để ôn tập Chia nhỏ những gì bạn học thành từng phần

Học 3 tiếng buổi sáng, 3 tiếng buổi chiều sẽ hiệu quả hơn ngồi học cả ngày Hoặc có thể ôn theo nhóm, điều này giúp sinh viên có điều kiện để hoàn thiện cả những phần quan trọng mà nếu học một mình thì rất dễ bỏ qua Nên thu xếp một buổi tổng ôn tập trước khi thi Đặc biệt, sinh viên nên chú ý từ những thông tin được các thầy, cô chỉnh sửa đến mọi hướng dẫn về học tập

Đôi khi sinh viên quá bận vào một công việc nào đó mà sao lãng việc học Khi còn ít thời gian để ôn tập thì học nhồi nhét Đầu tiên hãy xem trước tất cả những tài liệu mà bạn cần phải học, lướt qua các chương để nắm được ý chính, bỏ qua những phần mà bạn không có thời gian xem lại

 Kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá

Để rèn luyện kỹ năng tự kiểm tra đánh giá cho bản thân, sinh viên cần bồi dưỡng them về:

+ Khả năng đối chiếu kết luận của giáo viên và các ý kiến của các bạn với kết quả của bản thân để tự điều chỉnh sửa chữa hoặc hoàn thiện kết quả của mình đã tìm được

Trang 30

+ Khả năng đánh giá cách giải quyết vấn đề của giáo viên, của bạn bè

và của mình từ đó chọn được cách giải quyết tốt nhất

+ Khả năng tự rút kinh nghiệm về phương pháp học tập của mình, từ đó luôn luôn tự điều chỉnh, hoàn thiện để ngày càng tiến bộ

+ Khả năng phát hiện ra những chỗ thiếu hụt về kiến thức, những sai lầm trong nhận thức… để từ đó tìm cách bổ sung, khắc phục

1.5.3 Biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên

Để có thể thích ứng với phương thức đào tạo và phương pháp dạy - học mới, trước tiên đòi hỏi cả thầy và trò phải thực sự bứt phá, có ý thức thay đổi

để thoát khỏi những thói quen cũ Hình thức dạy học theo tín chỉ, bản thân nó

đã mang tính chất là một sự “cởi mở” và dân chủ, giữa thầy với trò, giữa trò với trò Người thầy do vậy không những phải đáp ứng cho học trò về mặt kiến thức mà còn về phương pháp: xử lí tài liệu, cập nhật thông tin, tổ chức các nhóm học, các chương trình seminar, các buổi thuyết trình hay trình chiếu Bản thân người học phải cố gắng không ngừng trong việc tiếp cận phương pháp học tập mới và các kĩ năng mới

Đã có rất nhiều ý kiến, các kinh nghiệm từ các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các nhà chuyên môn về lĩnh vực giáo dục… nhằm giúp sinh viên tìm cách vươn lên và có định hướng học tập đúng đắn

Tiến sĩ Chu Hảo, thứ trưởng Bộ KHCNMT trả lời thẳng vào câu hỏi về kinh nghiệm của riêng ông trong việc tự học: “Cần nói rõ về tự học, người ta thường nghĩ rằng tự học là học riêng một mình Không, cách tự học tốt nhất là học với nhóm (team work) Riêng tôi, tôi vẫn đọc mỗi ngày và không bao giờ mang công việc từ cơ quan về nhà làm mà dành thời gian để chỉ xem và đọc Mỗi khi muốn hiểu sâu đề tài nào, tôi tự yêu cầu mình phải viết một bài về vấn đề đó Vậy là tôi phải tìm tài liệu đọc, hỏi han, lắng nghe và phải đào sâu, nắm vững mới viết ra mạch lạc được Đó là chưa kể còn phải chuẩn bị các

Trang 31

phụ lục tài liệu cho những chỗ khúc mắc, phức tạp phòng khi cần trình bày có thể bị chất vấn”

Tiến sĩ Lê Ngọc Trà, dạy Đại học Sư phạm tp HCM, một nghiên cứu sinh được bạn bè Liên Xô cũ ở đại học Tổng hợp Lômônôxốp nể phục về trình độ cả về khoa học lẫn ngoại ngữ, cũng là một người tự học xuất sắc, cho biết kinh nghiệm của anh: "Muốn học, muốn hiểu sâu một chủ đề nào, điều quan trọng nhất là phải tự mình chạm tới nó trước, phải tự mình khơi mở trước trong đầu, như gieo mầm cho việc tiếp thu, thẩm thấu của mình Khi người học đã tự tiếp nhận kiến thức thì vai trò người thầy (hướng dẫn, tác động ) là không thể thiếu Bản chất của tự học là tự làm việc với chính mình trước, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với bạn bè theo cách học với nhóm và được thầy khơi gợi, hướng dẫn" Anh nói: "Tôi lưu ý tới một sơ đồ rất hay khi tham dự một hội thảo về giáo dục của Liên Hiệp Quốc tổ chức ở Anh quốc Ở các nấc thang của hình tháp có ghi các mức độ tiếp thu và nhớ được trong học tập:

- Nghe giảng (Lecture) 5%

- Đọc (Reading) 10%

- Nghe nhìn (Audio Visual) 20%

- Làm thí nghiệm trước mẳt s/v (Demostration) 30%

- Thảo luận nhóm (Dícussion group) 50%

- Làm bài ở nhà, ghi lại, viết lại (Practice by doing) 75%

- Dạy người khác (Teach others/immediate use of learning) 90%

Qua hình tháp này ta thấy: học mà chỉ nghe giảng, chỉ nhớ 5% những gì đã nghe Đọc bài: nhớ được 10% Nghe và nhìn cùng lúc: nhớ được 20% Được xem làm thí nghiệm trước mắt sinh viên: nhớ được 30% Thảo luận nhóm: nhớ được 50% Thực hành bằng cách làm bài, ghi lại, viết lại: nhớ được tới 75% Và nhớ được, nắm vững nhất là giảng giải lại cho người khác, ứng dụng những gì được học ngay sau khi học là 90% (Tài liệu do Trung tâm thực

Trang 32

nghiệm về đào tạo quốc gia, địa học Maine - Mỹ công bố)”Viết lại là cách tiếp thu tốt và truyền đạt lại cho người khác là một cách hiểu nắm vấn đề tốt nhất Điều này đúng, vì mỗi ngày đi dạy học, tôi thấy khó nhất là nói cho sinh viên hiểu điều mình muốn truyền đạt Và với người thầy, học bằng cách dạy cho người khác học là cách học cao nhất”

Tiến sĩ Ngô Vĩnh Long, giáo sư kinh tế Đại học Maine (Mỹ) đang là giảng viên chương trình Fulbright (hợp tác giữa Đại học Harvard và Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội) cho rằng: Sinh viên không biết cách học là do thầy giáo không biết cách dạy hay dạy không đúng cách Người thầy cần hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu sau giờ nghe giảng Ông có vài so sánh:

"Sinh viên Việt Nam qua Mỹ hầu hết rất thông minh nhưng thường thua sinh viên Mỹ về khả năng phân tích và trình bày ý kiến mình (viết và nói) Sinh viên Nhật hơi khác, họ học lười hơn (có lẽ vì bị học “nhồi” quá nhiều hồi trung học) và không giỏi về phân tích so với sinh viên Mỹ, châu Âu nhưng lại đọc, viết giỏi hơn sinh viên Việt Nam."

Tiến sĩ Ngô Vĩnh Long có 1 chương trình giúp sinh viên ở trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội trau dồi kỹ năng đọc và viết, qua việc hướng dẫn họ đọc mau, nắm vững các ý chính và viết gãy gọn, có phân tích, có chứng minh Một sinh viên cao học đã giới thiệu một chương trình tự học do Tiến sĩ Ngô Vĩnh Long hướng dẫn Mỗi học viên đọc một số trang hay một số chương trong danh sách các cuốn sách và các bài báo nghiên cứu (30 tựa) để rồi trình bay những gì đã đọc cho cả lớp, sau đó viết 2 bài từ 10 trang đánh máy trở lên, so sánh kinh nghiệm phát triển các nước châu Á và phân tích một

số cuốn sách được lựa chọn tuỳ ý trong danh sách trên Anh cho biết, ở các trường đại học Mỹ, mỗi tuần sinh viên đọc ít nhất một cuốn sách hay một số bài trong các tập san nghiên cứu, rồi trình bày trên lớp có thầy hýớng dẫn

Về phía giảng viên

Trang 33

Giảng viên đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc định hướng và kích thích ý thức tự học cho sinh viên Không phải giảng viên chỉ có nhiệm vụ quan trọng trong những giờ lên lớp còn những giờ tự học, tự nghiên cứu của sinh viên thì không cần can thiệp Ngược lại, đối với hoạt động tự học của sinh viên, giảng viên phải quan tâm hơn Đối với hoạt động tự học, giảng viên cần kịp thời tư vấn khi sinh viên cần

Đa số các giảng viên đều thực hiện khá tốt việc giảng dạy cũng như cố vấn học tập cho sinh viên trong quá trình tự học của họ Tuy nhiên, vẫn còn một số giảng viên coi nhẹ việc nâng cao ý thức tự học của sinh viên, chưa quan tâm sát sao tới hoạt động tự học của sinh viên Vì vậy, trong đề tài này, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp về phía giảng viên, để giúp sinh viên có ý thức tự học và có thể nâng cao chất lượng học tập, cũng như chất lượng giáo dục

Đối với hoạt động tự học của sinh viên giảng viên cần:

- Giúp sinh viên nắm được đề cương môn học:

- Khi bắt đầu một môn học, giảng viên cần giới thiệu và cung cấp cho sinh viên đề cương của môn học đó Nội dung của đề cương bao gồm: Mục đích môn học, Mục tiêu môn học, Nội dung chi tiết của môn học, Điều kiện tiên quyết, Hình thức tổ chức và phương pháp dạy - học cho từng nội dung của môn học, Hình thức kiểm tra - đánh giá của từng hoạt động học tập…Qua

đó, sinh viên chủ động lên kế hoạch tự học, tự nghiên cứu để thực hiện được các mục tiêu của môn học Giảng viên cần phải tuân thủ theo đúng kế hoạch trong đề cương và yêu cầu sinh viên nghiêm túc thực hiện đề cương này

- Xác định rõ nội dung tự học và phương tiện để thực hiện nội dung đó

- Trong đào tạo theo tín chỉ, giảng viên cần thiết kế các nhiệm vụ tự học cụ thể cho sinh viên để họ có thể tự chiếm lĩnh được các nội dung này, đáp ứng mục tiêu và yêu cầu của từng bài học trong một khoảng thời gian định trước

Để giúp sinh viên thực hiện được nhiệm vụ tự học của mình, giảng viên cần

Trang 34

giới thiệu đầy đủ các tài liệu bắt buộc, tài liệu tham khảo, cách thu thập, tra cứu và xử lý thông tin trong tài liệu với những hướng dẫn chi tiết, cụ thể Bên cạnh đó, giảng viên cần tăng cường hướng dẫn, giúp đỡ sinh viên xây dựng kế hoạch tự học khoa học, hợp lý, phù hợp với điều kiện của mình để đạt tới đích một cách hiệu quả nhất

- Kiểm tra - đánh giá hoạt động tự học của sinh viên

- Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, khi hoạt động tự học là một thành phần bắt buộc trong cơ cấu thời khóa biểu thì cần phải có các hình thức kiểm tra - đánh giá hoạt động này Nếu giảng viên chỉ giao nhiệm vụ tự học

mà không tổ chức kiểm tra, đánh giá thì hoạt động học tập này chỉ mang tính hình thức, đối phó mà không đem lại kết quả như mong muốn Giảng viên thường xuyên đánh giá sinh viên trong suốt quá trình của môn học thông qua các hình thức kiểm tra đa dạng như bài tập cá nhân (tuần); bài tập nhóm (tháng); bài tập lớn (học kỳ thông thường là một bài tổng luận về môn học), các bài tiểu luận, các đề tài nghiên cứu nhỏ… và các bài thi giữa kỳ, cuối kỳ Đối với những môn học cần liên hệ thực tế, giảng viên nên đưa thêm nhiều tình huống, nhiều ví dụ thực tế…Qua đó hình thành cho sinh viên cách làm việc nghiêm túc, tính tích cực và ý chí phấn đấu vươn lên để đạt kết quả cao trong học tập

Về phía sinh viên

Bên cạnh sự hướng dẫn của giảng viên, sự quản lý của nhà trường thì hoạt động tự học chỉ có thể thực sự đem lại hiệu quả khi có sự nỗ lực của bản thân chủ thể tham gia, đó chính là sinh viên Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải thay đổi nhận thức, xóa bỏ sức ỳ để có những phương pháp học tập tích cực, thái độ tự chủ - tự chịu trách nhiệm nhằm thích ứng với những yêu cầu học tập mới

Để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động tự học, sinh viên cần:

Trang 35

- Chuẩn bị tốt về động cơ, thái độ học tập, tinh thần trách nhiệm, tự lực cánh sinh để “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” trong học tập một cách chủ động

và hiệu quả

- Nắm vững mục tiêu của môn học và mục tiêu của từng bài học (mà thông thường được mô tả khá kỹ trong đề cương môn học được cung cấp khi bắt đầu học môn học) để làm cơ sở xây dựng kế hoạch tự học phù hợp và nghiêm túc thực hiện kế hoạch đó

- Đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trước giờ lên lớp: đọc tài liệu, làm các bài tập, bài kiểm tra, thảo luận nhóm theo yêu cầu của giảng viên

- Trong quá trình tự học, sinh viên cần suy nghĩ, sáng tạo và mạnh dạn đưa ra những ý kiến, nhận xét, thắc mắc của mình mà không quá phụ thuộc vào tài liệu và những bài giảng của giảng viên

- Tăng cường hoạt động làm việc theo nhóm, trao đổi với bạn bè theo chủ đề

- Sau giờ lên lớp cần ôn tập kiến thức đã học và vận dụng vào thực tế

- Lập kế hoạch học tập hợp lí trong đó cần nêu rõ các công việc phải làm với thời gian và dự kiến kết quả cụ thể

- Đảm bảo một khoảng thời gian thư giãn ngắn nhất định mỗi ngày, có thể là những khoảng thời gian để vận động như đi bộ, tập thể dục, nghe nhạc; ngủ đủ giờ, giữ tinh thần luôn thoải mái cũng là một cách quan trọng để nâng cao hiệu quả cho mỗi giờ học

Điểm khác biệt lớn nhất của tín chỉ so với cách học truyền thống là ở chỗ thời lượng sẽ dành nhiều hơn cho thảo luận, làm việc nhóm và tự đọc sách Tuy nhiên, sinh viên phải xác định được mình ngồi trong lớp học để làm gì, mình là chủ thể chứ không phải “người ngoài cuộc” Học theo chương trình tín chỉ, muốn được điểm cao và hiệu quả học tập tốt, sinh viên không đơn giản chỉ là phải lên thư viện đọc sách từ sáng đến tối, đến kì thi học thuộc bài

Trang 36

mà quan trọng hơn là kĩ năng và sự sáng tạo của mình trong những công việc quen thuộc ấy Tất nhiên ý thức tự giác và nỗ lực của bản thân sinh viên đóng vai trò quyết định

1.6 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ

HỌC CỦA SINH VIÊN

Qua tổng hợp các nghiên cứu của các nhà khoa học, tôi cho rằng sự hình thành và phát triển năng lực của sinh viên chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau đây:

1.6.1 Ảnh hưởng của ý thức học tập và động cơ nhận thức của bản thân sinh viên

Ý thức học tập và động cơ nhận thức có ý nghĩa quyết định trong quá trình hình thành và phát triển năng lực tự học của sinh viên Vì xét cho cùng chất lượng học tập phải là kết quả trực tiếp của sự nỗ lực của chính bản thân người học Nếu người học không xác định được vai trò quyết định của mình trong sự thành bại của sự học, thì không bao giờ tự học thành công.Chỉ khi đã xác định được mục đích và động cơ học tập đúng đắn Sinh viên mới có thể phát huy được “nội lực” trong học tập, từ đó kết hợp các yếu tố “ngoại lực” khác để tổ chức các hoạt động học tập diễn ra một cách hợp lý và thu được kết quả cao

1.6.2 Ảnh hưởng của vốn tri thức hiện có của bản thân sinh viên

Hầu hết các môn học đều được sắp xếp theo dạng phát triển, những tri thức sau được xây dựng trên những cơ sở của tri thức đã có trước Để chiếm lĩnh các tri thức khoa học nói chung, người học cũng như người trèo thang không qua nấc thang thấp thì không thể tiến lên nấc cao hơn Để tự học có hiệu quả thì người học phải tự trang bị cho mình vốn kiến thức tối thiểu để tự nghiên cứu vấn đề mình quan tâm

Trang 37

1.6.3 Ảnh hưởng của năng lực trí tuệ và tư duy

Năng lực trí tuệ: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nắm

bắt tri thức khoa học nhanh hay chậm của mỗi sinh viên Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn, đôi khi là quyết định đến khả năng học tập nói chung và năng lực tự học nói riêng Những người có năng lực trí tuệ tốt thường có khả năng

tự học rất cao, khi có đủ vốn tri thức tối thiểu nhiều khi họ có thể độc lập làm

việc một mình mà không cần tới sự hướng dẫn của thầy

Phương pháp tư duy: Khả năng vận dụng các thao tác tư duy cũng là

một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng tự học của sinh viên

Ngoài ra, trong quá trình học tập để tiếp thu tri thức, kết quả học tập của sinh viên tùy thuộc phần lớn vào tính chất và cơ cấu của tư duy tích cực của sinh viên Tri thức là kết quả của tư duy, đồng thời lại là những điều kiện, phương tiện của tư duy Vì vậy, tăng cường khả năng tư duy là một yêu cầu

để nâng cao chất lượng học tập và tự học

1.6.4 Ảnh hưởng của phương pháp học tập của trò

Nhà sinh lý học người Pháp Penna từng nói: “phương pháp học tốt giúp ta phát huy được tài năng vốn có; phương pháp học dở sẽ cản trở tài năng phát triển” Như vậy phương pháp học tập có vai trò rất quan trọng để

người đó có thể thành công trong học tập

Mỗi người có một phương pháp làm việc riêng, thói quen hoạt động trí

óc riêng không ai giống ai Theo A.D.LaGarandrie thì mỗi người có thể có những thói quen sau:

 Thói quen gợi lại những cái cụ thể đã gặp trong cuộc sống hàng ngày

 Thói quen ghi nhớ máy móc

 Thói quen suy luận logic

 Thói quen tưởng tượng sáng tạo

Trang 38

Trong quá trình dạy học người giáo viên không nên ép buộc sinh viên phải suy nghĩ theo thói quen suy nghĩ của mình Mặt khác cần chú ý bồi dưỡng phát triển các thói quen chưa có cũng như còn yếu của sinh viên, từ đó cũng ghóp phần hình thành phương pháp học tập, phương pháp tự học cho họ

Phương pháp tự học là cách thức hoạt động của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, tìm tòi tri thức mới Theo Rubakin

“Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm câu trả lời Đó chính là phương pháp tự học”

Trong tự học, yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công là phương pháp

tự học Nếu người học rèn luyện được thói quen, phương pháp, kỹ năng tự học thì sẽ tạo cho họ long ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người, làm cho kết quả học tập được tăng lên, thích ứng quá trình học tập của trò và phương pháp dạy học của thầy

1.6.5 Ảnh hưởng của phương pháp dạy học của thầy

Phương pháp dạy học là con đường mà chủ thể dùng để tác động nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích đã định

Theo Từ điển Giáo dục học: “Phương pháp dạy học, cách thầy (cô) tiến hành dạy nội dung đi đôi với việc dạy cách học cho học trò nhằm giúp cho trò trau dồi phương pháp tự học để nắm vững nội dung đang học, đồng thời để rèn luyện cách tự học suốt đời”

Theo tác giả Nguyễn Bá Kim (Trong cuốn “Phương pháp dạy học môn toán”): “Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học” Như vậy, có thể thấy rằng: Phương pháp dạy học của thầy cũng có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến sự hình thành và phát triển năng lực tự học của sinh viên Cụ thể:

Trang 39

Trong dạy học người giáo viên không chỉ là người nêu rõ mục đích mà quan trọng hơn là gợi động cơ học tập cho sinh viên Điều này làm cho sinh viên ý thức được những mục đích đặt ra và tạo được động lực bên trong giúp sinh viên học tập tự giác, tích cực chủ động sáng tạo

Thông qua việc dạy học của thầy, sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, hình thành năng lực và thế giới quan Từ đó mà phương pháp tự học của sinh viên được hình thành kéo theo đó là sự hình thành và phát triển năng lực tự học của sinh viên

Hoạt động kiểm tra đánh giá của thầy ảnh hưởng đến hoạt động tự kiểm tra đánh giá của trò Thật vậy, trong quá trình tự tìm ra kiến thức, người học

tự tạo ra một sản phẩm ban đầu, có thể chưa chính xác, chưa khoa học Nhưng thông qua trao đổi với bạn bè và kiểm tra kết luận của thầy , người học tự kiểm tra để sửa sai hoặc hoàn thiện sản phẩm của mình Nếu quá trình này diễn ra thường xuyên sẽ hình thành năng lực tự kiểm tra đánh giá của sinh viên, làm cho năng lực tự học ngày càng phát triển

Qua hoạt động dạy học, người giáo viên còn hướng dẫn sinh viên đọc giáo trình và các tài liệu tham khảo làm cho năng lực tự đọc, tự nghiên cứu của học sinh ngày càng được hình thành và phát triển Đây cũng là con đường quan trọng để người học tiếp thu tri thức, để người học có thể tự học suốt đời

1.6.6 Nội dung, chương trình đào tạo

Trong thời đại mà sự tồn tại và phát triển của các quốc gia dựa trên sự thông minh, tài trí của cộng đồng nhiều hơn là của cải và tài nguyên sẵn có, phương châm giáo dục không còn là cung cấp, nhồi nhét kiến thức, mà là rèn luyện khả năng tư duy, khả năng thích ứng, rèn luyện nhân cách để hình thành nên những con người, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng vươn lên và đứng vững Điều đó được thể hiện trong chương trình đào tạo của từng ngành học Ngay từ khi xây dựng chương trình đào tạo đại học, cán bộ lãnh đạo khoa và

Trang 40

giảng viên cũng đã tiếp cận xu hướng thời đại, đổi mới giáo trình một cách cơ bản, toàn diện theo những chuẩn mực quốc tế; chú trọng tính thiết thực của nội dung chương trình và năng lực của sinh viên; phát huy tối đa khả năng cá nhân của mỗi sinh viên, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học và nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao của xã hội

Và do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, khối lượng tri thức ngày càng lớn, trong khi đó, thời gian đào tạo không tăng, chương trình đào tạo còn đang thay đổi và hoàn thiện nên đòi hỏi người học phải tăng cường tự học

1.6.7 Ảnh hưởng của tài liệu học tập và các điều kiện khác về cơ sở vật chất, gia đình và xã hội

Hoạt động tự học của sinh viên không thể thực hiện tốt nếu không đảm bảo các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất: phòng học, trang thiết bị học tập, nguồn học liệu… Trong đó hệ thống nguồn học liệu đầy đủ về số lượng, phong phú về nội dung và chuẩn mực về chất lượng là một yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động tự học của sinh viên

Trong quá trình dạy học, học sinh còn chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh Đó là các yếu tố về điều kiện dạy học, điều kiện văn hóa xã hội… các yếu tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn, vì nó tác động không những đến người học, mà cả người dạy học

Bên cạnh đó gia đình đóng vai trò rất quan trọng đối với việc học tập và rèn luyện cũng như vấn đề tự học của sinh viên Ngày nay các gia đình đã có

sự quan tâm đúng mức đến việc học và tạo điều kiện cho con em học tập thật tốt; thường xuyên theo dõi động viên, khích lệ con em học tập, vui chơi cũng như tâm tình, chia sẽ tâm tư tình cảm Sự đầu tư và quan tâm đúng mức đó đã tác động tích cực đến việc tự học có hiệu quả của các em

TỔNG KẾT CHƯƠNG 1

Ngày đăng: 30/05/2017, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Khánh Bằng (2001), “Học cách tự học trong thời đại ngày nay”, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học cách tự học trong thời đại ngày nay”
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
2. Nguyễn Thanh Bình (2005), “Lí luận giáo dục Việt Nam”, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận giáo dục Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2005
3. Dương Huy Cẩn ( 3 – 2006 ), “Tự học có hướng dẫn – biện pháp nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm”, Tạp chí khoa học ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học có hướng dẫn – biện pháp nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm
4. Dương Huy Cẩn (Tháng 10 – 2006), “ Tự học, tự nghiên cứu của sinh viên trong quá trình đào tạo giáo viên hóa học ở trường ĐHSP Đồng Tháp”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học, tự nghiên cứu của sinh viên trong quá trình đào tạo giáo viên hóa học ở trường ĐHSP Đồng Tháp
5. Nguyễn Hữu Châu (2005), “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học”, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy họ"c
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
6. Vũ Quốc Chung, Lê Hải Yến, (2004), “Để tự học có hiệu quả, NXB ĐHSP”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để tự học có hiệu quả, NXB ĐHSP
Tác giả: Vũ Quốc Chung, Lê Hải Yến
Nhà XB: NXB ĐHSP"”
Năm: 2004
7. Nguyễn Nghĩa Dán (1998), “Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh”, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh”, "Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dán
Năm: 1998
8. Vũ Cao Đàm (1999), “Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”, Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1999
9. Đặng Xuân Hải (2013), “Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ”, Nxb Bách Khoa, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Đặng Xuân Hải
Nhà XB: Nxb Bách Khoa
Năm: 2013
10. Trần Bá Hoành (Tháng 7/1998), “Vị trí của tự học tự đào tạo trong quá trình dạy học giáo dục và đào tạo”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của tự học tự đào tạo trong quá trình dạy học giáo dục và đào tạo
11. Trần Bá Hoành (2003), “Lý luận cơ bản về dạy học tích cực, Tài liệu Dự án đào tạo giáo viên THCS”, Bộ giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận cơ bản về dạy học tích cực, Tài liệu Dự án đào tạo giáo viên THCS
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2003
12. Đặng Vũ Hoạt (Chủ biên), Hà Thị Đức (2003), “Lí luận dạy học đại học”, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt (Chủ biên), Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2003
13. Lưu Xuân Mới (2001), “Phương pháp dạy học đại học”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học đại học”
Tác giả: Lưu Xuân Mới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
14. Lê Đức Ngọc (Tháng 8/2004), “Dạy cách học một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học”, Tạp chí Dạy và học ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy cách học một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học
15. Đinh Trung Quỳnh (2001), “Nghiên cứu các kỹ năng và biện pháp tự học của sinh viên ĐH Sư phạm Thái Nguyên” (Đề tài NCKH cấp Bộ quản lý) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các kỹ năng và biện pháp tự học của sinh viên ĐH Sư phạm Thái Nguyên
Tác giả: Đinh Trung Quỳnh
Năm: 2001
16. Vũ Trọng Rỹ (1994), “Một số vấn đề lý luận về rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh”, Viện KHGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận về rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh
Tác giả: Vũ Trọng Rỹ
Năm: 1994
17. Trương Văn Tài (chủ biên) ( 2012), “Bàn về giáo dục” – Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về giáo dục
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
18. GS. TS. Vũ Văn Tảo (2003), “Dạy cách học”, (Dự án đào tạo GV THCS) Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy cách học
Tác giả: GS. TS. Vũ Văn Tảo
Năm: 2003
19. Vũ văn Tảo (Tháng 4/2001), “Học và dạy cách học”, Tạp chí Tự học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và dạy cách học”
20. Nguyễn Thị Xuân Thuỷ (2012), “Rèn luyện kỹ năng tự học tập cho sinh viên đạp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tin chỉ” ,Tạp chí Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng tự học tập cho sinh viên đạp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tin chỉ
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Thuỷ
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w