Nếu xây dựng được những biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ theo hướng tạo cơ hội cho trẻ được sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với cô và với bạn trong quá trình khám phá MTXQ thì k
Trang 1MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DÂN TỘC Ê ĐÊ QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH Ở TRƯỜNG MẦM NON
Người hướng dẫn: TS: Đinh Văn Vang Học viên: Chương H' Viên Niê Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Mã số chuyên ngành: 60140101
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Trang 21 Lí do chọn đề tài
Giai đoạn từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
cả đời người, là giai đoạn quan trọng đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ Tâm lí học Mácxít chỉ ra rằng, cuộc sống của con người là một chuỗi các hoạt động đan xen và kế tiếp nhau Thông qua hoạt động và giao tiếp, con người tiếp thu, lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, phát triển nhân cách Vì vậy, muốn tồn tại và phát triển, con người phải tham gia vào hoạt động đa dạng trong thực tiễn cuộc sống
Trẻ em được xem là nhân vật trung tâm trong các hoạt động học ở trường mầm non Quan hệ giữa giáo viên và trẻ em là quan hệ hợp tác, chia sẻ cùng học, cùng chơi, cùng khám phá Cô tạo cơ hội, tạo điều kiện khích lệ trẻ tích cực, chủ động khám phá, phát hiện, giải quyết nhiệm vụ đặt ra và chỉ giúp đỡ trẻ khi thật cần thiết (hướng dẫn hành động, thao tác ban đầu hoặc khi trẻ còn lúng túng, vướng mắc ), nhờ vậy mà trẻ tích cực, độc lập, chủ động, tự tin và sáng tạo hơn trong quá trình hoạt động
Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, nhưng tiếng Việt (ngôn ngữ của dân tộc Kinh) là ngôn ngữ phổ thông - ngôn ngữ chính dùng để giao tiếp xã hội Khi vào trường phổ thông, trẻ em phải sử dụng tiếng Việt để học tập và sinh hoạt Vì vậy muốn học tập có kết quả ở trường phổ thông, các em cần phải có vốn từ tiếng Việt phong phú, kĩ năng giao tiếp tiếng Việt vững vàng Tiếng Việt ngoài chức năng là công cụ học tập và sinh hoạt ở trường phổ thông nó còn hỗ trợ đắc lực cho học sinh trong việc chiếm lĩnh những tri thức trong cuộc sống, thiết lập các mối quan hệ xã hội Do vậy, trẻ em các dân tộc thiểu số, ngoài thành thạo tiếng mẹ đẻ, các em cần phải biết tiếng Việt và biết giao tiếp tiếng Việt Những kiến thức sơ đẳng về tự nhiên,
xã hội và cuộc sống xung quanh, ngay từ khi học ở trường mầm non trẻ em dân tộc thiểu số cần phải được học tiếng Việt và rèn kĩ năng giao tiếp tiếng Việt thông qua nhiều hoạt động trong đó hoạt động khám phá MTXQ Khám phá MTXQ là một hoạt động có nhiều lợi thế trong việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
Trang 3và kĩ năng giao tiếp Khi khám phá MTXQ, dưới sự tổ chức - hướng dẫn của cô, trẻ cùng nhau tìm hiểu, trao đổi với nhau về đối tượng khám phá, do vậy không chỉ giúp trẻ có những hiểu biết nhất định về MTXQ mà vốn từ, kĩ năng giao tiếp của trẻ cũng được phát triển
Trong thực tế ở các vùng dân tộc thiểu số nước ta, trình độ tiếng Việt của trẻ nhiều hạn chế Điều này thể hiện rất rõ ở vốn từ tiếng Việt và kĩ năng giao
tiếp tiếng Việt của trẻ em dân tộc thiểu số: vốn từ tiếng Việt nghèo nàn, phát âm
còn ngọng, chưa có kĩ năng giao tiếp tiếng Việt Nguyên nhân của sự hạn chế này có thể là do trẻ không được thường xuyên giao tiếp tiếng Việt và người lớn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề giao tiếp tiếng Việt của trẻ Đây là rào cản lớn trong việc tiếp thu, lĩnh hội tri thức cũng như sự tự tin, mạnh dạn trong sinh hoạt của trẻ Như chúng ta đã biết, Đăk Lăk là một trong những tỉnh miền núi có 16 dân tộc anh em cùng sinh sống Sau dân tộc Kinh, dân tộc Ê-đê là dân tộc có nhiều người cư trú ở Đăk Lăk, ngay trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột cũng
có bốn buôn làng là người dân tộc Ê-đê Năm học 2016 - 2017, thành phố Buôn
Ma Thuột có khoảng 46 trường mẫu giáo Trong đó tỉ lệ trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc Ê-đê chiếm khoảng 10% Phần lớn trẻ đều gặp khó khăn trong việc giao tiếp tiếng Việt Do vậy việc dạy trẻ dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Ê-đê nói tiếng Việt, giao tiếp tiếng Việt là rất cần thiết, giúp các em tự tin bước vào
trường phổ thông
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn thực hiện đề tài: Phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê qua hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non Hi vọng kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần làm phong phú thêm
cơ sở lí luận và thực tiễn về việc phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số nói chung, trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc E-đê nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê ở trường mầm non tại thành phố Buôn Ma Thuột - tỉnh Đăk Lăk, đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động khám phá
Trang 4MTXQ nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc
Ê-đê ở trường mầm non, góp phần chuẩn bị cho trẻ vào Lớp 1
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động khám phá MTXQ cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc
Ê-đê ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng một số biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê ở trường mầm non
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non là một phương tiện cơ bản để phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê Nếu xây dựng được những biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ theo hướng tạo cơ hội cho trẻ được sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với cô và với bạn trong quá trình khám phá MTXQ thì kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê sẽ được phát triển
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng
Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê qua hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non
5.2 Khảo sát thực trạng biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của
trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê trong hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non
5.3 Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ nhằm
phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
5.4 Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định hiệu quả và tính khả thi của các
biện pháp đã đề xuất
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trang 5Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
6.2 Giới hạn về chọn mẫu nghiên cứu
- Mẫu khảo sát thực trạng: Khảo sát 30 giáo viên mầm non và 100 trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê (50 trẻ em trai, 50 trẻ em gái)
- Mẫu thực nghiệm: 4 giáo viên mầm non và 40 trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
6.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở 3 trường mầm non Tân Lập, Tân Lợi, Ea Tu - thành phố Buôn Ma Thuột – Đắk Lắk
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu, phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá các vấn đề lí luận có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết:
Điều tra bằng phiếu Ankét các giáo viên mầm non dạy các lớp mẫu giáo 5
- 6 tuổi dân tộc Ê-đê về nhận thức của họ về sự cần thiết phải phát triển kĩ năng
Trang 6giao tiếp tiếng Việt cho trẻ và thực trạng sử dụng biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê của giáo viên
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu các sản
phẩm hoạt động của cô và trẻ ở trường mầm non (Kế hoạch tổ chức hoạt động khám phá MTXQ nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê của giáo viên và mức kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ)
- Phương pháp chuyên gia:
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực tâm lí học, giáo dục học, dân tộc học và một số giáo viên có kinh nghiệm đang trực tiếp dạy các lớp có trẻ Ê-đê tại một số trường mầm non về những biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi dân
tộc Ê-đê
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Khái quát hóa lí luận từ các văn bản
tổng kết thực tiễn về các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Tổ chức thực nghiệm các biện pháp đã xây dựng trên trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê nhằm đánh giá hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất trong
đề tài nghiên cứu
7 3 Phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng một số công thức toán học thống kê (công thức tính tỉ lệ %, tính điểm trung bình cộng, xác định độ lệch chuẩn, kiểm định giá trị kết quả thống kê,… ) để lượng hoá kết quả nghiên cứu thực tiễn của đề tài
8 Đóng góp mới của đề tài
8.1 Về lí luận
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về vấn đề phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê qua hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non và làm phong phú cơ sở lí luận về giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
Trang 7- Xác định được những tác động của giáo viên trong quá trình tổ chức hoạt động khám phá MTXQ cho trẻ ở trường mầm non đến việc phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
- Xây dựng được một số biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
8.2 Về thực tiễn
- Trên cơ sở điều tra, khảo sát thực tiễn, luận văn đã đánh giá một cách toàn diện, khách quan về thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê, tìm ra những khó khăn khi trẻ giao tiếp tiếng Việt và các biện pháp giáo viên sử dụng để phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê khi tổ chức cho trẻ khám phá MTXQ ở trường mầm non
- Những biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt được đề xuất và kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm có giá trị trong việc phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê Đây có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên, phụ huynh dân tộc thiểu số trong việc phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ em lứa tuối mầm non
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1:Tổng quan về phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê qua hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non
Chương 2: Thực trạng biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ ở
trường mầm non nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
Chương 3: Một số biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ ở trường
mầm non nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê và thực nghiệm
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 8Chương 1
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DÂN TỘC Ê - ĐÊ QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giao tiếp là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người, nó là điều kiện tất yếu không thể thiếu trong cuộc sống, không có giao tiếp thì xã hội loài người không thể tồn tại với đúng nghĩa của nó Chính vì vậy mà vấn đề giao tiếp đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước
1.1.1 Những nghiên cứu về giao tiếp và kĩ năng giao tiếp
Trang 9Từ trước đến nay đề tài về giao tiếp luôn là đề tài hấp dẫn lôi cuốn nhiều nhà nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực khác nhau như: tâm lí học, giáo dục học, xã hội học, triết học.v.v…
1.1.1.1 Trên thế giới
Từ thời cổ Hy Lạp, vấn đề giao tiếp được con người chú ý nghiên cứu
như Xôcrat (470 - 399 TCN) và Platon (428 – 347 TCN) đã nói: “Đối thoại
như là sự giao tiếp trí tuệ phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người”.[29; tr7]
Tuy nhiên, trước thế kỉ XIX giao tiếp chưa được nghiên cứu như một môn chuyên ngành tâm lí học
Từ thế kỉ XIX, giao tiếp đã được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành và phát triển bản chất xã hội con người Với các công trình:
“Vấn đề giao tiếp, những đặc trưng của nó trong công việc của con người” của A.A.Bodalivo (1972)
“Tâm lí học giao tiếp” của A.A.Lêonchiev (1974)
“Giao tiếp là vấn đề của tâm lí học đại cương” (1978) của A.Ph.Lomov,
Ở giai đoạn này, vấn đề giao tiếp được nghiên cứu và phân tích khá chi tiết
dưới góc độ tâm lí học đại cương của A.Ph.Lomov trong chuyên thảo “Vấn đề
giao tiếp trong tâm lí học” (1981) Và tiếp sau đó có hàng loạt những công trình
nghiên cứu khác về giao tiếp
Và các công trình nghiên cứu đó chủ yếu đi theo hai hướng chủ đạo sau:
+ Hướng thứ nhất: Nhấn mạnh các khía cạnh thông tin trong giao tiếp:
Đại diện cho các hướng này là các nhà khoa học, các nhà tâm lí: M.A.Acgain, K.K.Platonov, I.A.L.Kolominxki, L.P.Bueva, Laswell (1948), G.Thines(1975), V.N.Panpherov, N.Wiener (1971), G.Perdonici (1963)
Chẳng hạn như: K.K.Platonov và G.G.Golubev đã liệt giao tiếp vào một
trong những “loại hình hoạt động” cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi thông tin
giữa con người với nhau” và “giao tiếp là sự tác động lẫn nhau trên cơ sở phản ánh tâm lí lẫn nhau” [29]
Trang 10I.A.L.Kolominxki lại mô tả: “Giao tiếp là sự tác động qua lại có đối
tượng và thông tin giữa con người với con người trong đó những quan hệ liên quan đến nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành” [Dẫn theo 3]
Còn nhà nghiên cứu L.P.Bueva lại cho rằng: “Giao tiếp không chỉ là một
quá trình tinh thần mà còn là quá trình vật chất, quá trình xã hội, trong đó diễn
ra sự trao đổi các hoạt động, kinh nghiệm, sản phẩm của hoạt động” [Dẫn theo
33]
B.D Pasughin: “Giao tiếp là quá trình tác dụng lẫn nhau, trao đổi thông
tin, ảnh hưởng lẫn nhau, hiểu biết và nhận thức lẫn nhau” [Dẫn theo 33]
Gần đây, G.M.Andreva trong cuốn “Tâm lí học xã hội” đã cho rằng giao tiếp có ba mặt quan hệ hữu cơ với nhau: mặt thông tin, mặt tri giác của con người với nhau, mặt tác động qua lại của con người với nhau [2]
Tuy nhiên các nhà nghiên cứu theo hướng này chưa chỉ ra đặc điểm của đối tượng giao tiếp của con người được biểu hiện trong truyền thông, làm cho truyền thông trở nên tích cực hơn, và trở thành nội dung cơ bản của giao tiếp
+ Hướng thứ 2: Nhìn nhận bản chất giao tiếp trong hệ thống các khái niệm, phạm trù tâm lí học
Đại diện cho hướng này là các nhà tâm lí, giáo dục học A.A.Lêonchiev và B.Ph.Lomov Hai nhà tâm lí học này đưa giao tiếp song song với hoạt động
Quan điểm xem giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động, hoặc có thể
là điều kiện, phương thức của hoạt động bao gồm đầy đủ các thành phần trong
sơ đồ cấu trúc của hoạt động: chủ thể- hoạt động- đối tượng Đại diện tiêu biểu cho quan điểm này là A.A.Lêonchiev, thuộc trường phái hoạt động trong tâm lí học Xô viết
Quan điểm thứ hai xem giao tiếp là một phạm trù đồng đẳng với phạm trù
hoạt động Đại diện cho quan điểm này là B.Ph.Lomov Ông định nghĩa: “Giao
tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan
Trang 11hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lí và sử dụng các phương tiện đặc thù
mà trước hết là ngôn ngữ.” [22]
Tuy nhiên, đa số các nhà tâm lý học như G.M Andreeva, D.B.Enconhin, K.K Platonov, A.A Bodalev… Cho rằng hai quan điểm nêu trên đều có mặt hợp lí và chưa hợp lí, chưa thỏa đáng Hoạt động và giao tiếp gắn chặt với nhau, không thể hiểu đúng bản chất của giao tiếp nếu tách rời hoạt động Đồng thời nếu tuyệt đối hóa bất cứ phạm trù nào đều dẫn đến sai lầm
1.1.1.2 Ở trong nước
Đến nay, giao tiếp đã trở thành nội dung nghiên cứu phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Khái quát các nghiên cứu về giao tiếp ở Việt nam có thể chia làm ba hướng như sau:
+ Hướng thứ nhất: Xem giao tiếp là một tiến trình truyền đạt thông tin:
Các tác giả đã đề cập như: Nguyễn Văn Lê (1992), Nguyễn Khắc Viện (1995), Nguyễn Thị Phượng và Dương Quang Huy (1997), Trần Thị Minh Đức
Theo “Từ điển tâm lí học” của Nguyễn Khắc Viện “Giao Tiếp là quá trình
truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm cho một người hay một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (Tương tác) Thông tin hay thông điệp được phát mà người nhận phải giải mã, cả hai bên đều vận dụng một mã chung” [41] Theo Trần Thị Minh Đức (chủ biên): “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại với nhau”[8]
+ Hướng thứ 2: Xem giao tiếp là sự tiếp xúc tác động ảnh hưởng lẫn nhau:
Theo hướng này có các tác giả: Phạm Minh Hạc (1988), Trần Trọng Thủy, Nguyễn Ngọc Bích (1995), Ngô Công Hoàn (1992), Nguyễn Thạc - Hoàng Anh
(1992), Nguyễn Quang Uẩn (1998)…
Tác giả Ngô Công Hoàn với vấn đề nghiên cứu: “Vấn đề giao tiếp” trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 92 - 96 cho GV tiểu học
Trang 12“Một số vấn đề tâm lí học về giao tiếp sư phạm” (1992) [14]; năm 1997
“Giao tiếp và ứng xử sư phạm” [13] đã đưa ra những đánh giá về vai trò của
hoạt động giao tiếp trong giáo dục, đặc biệt tác giả này đã đưa ra những nhận định, phương pháp nhằm hình thành kĩ năng giao tiếp sư phạm cơ bản giúp cho
giáo viên có thể tiếp cận và dạy học có hiệu quả hơn
1.1.2 Những nghiên cứu về giao tiếp của trẻ mầm non
1.1.2.1 Trên thế giới
Trước hết, trong tâm lí học Xô viết, L.X.Vugotxki đã đề cập từ những năm
30 trong chương trình: “ Sự phát triển của những chức năng tâm lí bậc cao”
Đặc biệt là từ những năm 70 đến nay, giao tiếp đã trở thành vấn đề quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu tâm lí học quan tâm như: A N Leonchiev, DB
Enconin, A V Daparogiet M Lisana với cuốn “ Nguồn gốc của sự hình thành
giao tiếp trẻ em” -1978, A.V Daparogiet và M Lisana “Sự phát triển giao tiếp
ở trẻ mẫu giáo” – 1974, A Uxova với “Vai trò của trò chơi trong giao dục trẻ
em” - 1976, E.I Chikiepva “Sự phát triển của trẻ trước tuổi học trò”- 1975…
Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu kể trên đều đi sâu vào những vấn đề cơ bản của giao tiếp đó là:
- Khẳng được vị thế, vai trò, ý nghĩa mang tính chất quyết định của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
- Tìm ra được các chức năng quan trọng đặc biệt của giao tiếp đó là: Thông báo và tiếp nhận thông tin, giúp trẻ tiếp thu và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch
sử, xã hội của loài người, giúp trẻ tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh mình, thể hiện cảm xúc của mình với người khác, và hỗ trợ trong quá trình phối hợp hoạt động cùng nhau…
- Kể ra được các dạng giao tiếp trẻ em
- Những con đường giao tiếp trẻ em
- Cách thức tổ chức hoạt động giao tiếp cho trẻ em
- Phương pháp nâng cao chất lượng hoạt động giao tiếp
1.1.2.2 Ở trong nước
Trang 13Vấn đề khái niệm giao tiếp, hình thành nhu cầu và kĩ năng giao tiếp của trẻ được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thạc, Ngô Công Hoàn, Lê Xuân Hồng Các tác giả đã cho thấy rằng giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ Đồng thời trong các tác phẩm đó, các tác giả cũng nêu lên được nhu cầu giao tiếp của trẻ em như thế nào, và đặc điểm về giao tiếp trẻ em qua từng độ tuổi khác nhau Bên cạnh đó các tác giả cũng chỉ ra được các đối tượng giao tiếp của trẻ và tầm ảnh hưởng của các đối tượng đối với sự hình thành nhân cách của một đứa trẻ như trẻ giao tiếp với người lớn, với bạn cùng tuổi, bạn khác giới và với thế giới đồ vật Mỗi đối tượng trẻ thể hiện một cách giao tiếp riêng biệt Đặc biệt các tác giả này đều đề cao vai trò sư phạm của người giáo viên mầm non, đây là một đối tượng có sự ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến quá trình giao tiếp của đứa trẻ Để từ đó các tác giả xây dựng nên các hình thức, phương pháp, môi trường… nhằm góp phần hình thành cho trẻ kĩ năng giao tiếp (KNGT) tốt nhất
có thể
Cùng chủ đề nghiên cứu về giao tiếp ở lứa tuổi trẻ em, năm 2003, tác giả Hoàng Thị Phương, nghiên cứu một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 đến 6 tuổi, giao tiếp được khai thác dưới góc độ hành vi văn hóa sơ đẳng nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo lớn Đó
là những kĩ năng mang tính nền tảng làm cơ sở để giáo dục và phát triển sau này cho trẻ thơ ở tuổi học tiểu học [27]
Nguyễn Ánh Tuyết cũng xuất bản cuốn “Giáo dục trẻ em trong nhóm bạn
bè”, (1987) [37] “Sự hình thành xã hội trẻ em trước tuổi học” (1988) [38] với
hai tác phẩm này thì tác giả đề cao vai trò của hoạt động nhóm, hoạt động tập thể trong đó hoạt động giao tiếp nắm vai trò chủ đạo có ý nghĩa quan trọng trong
sự hình thành và phát triển nhân cách xã hội cho trẻ em trong suốt cuộc đời
Trong luận án PTS của Lê Xuân Hồng “Một số đặc điểm giao tiếp của
trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi” (1996) [16] và Nguyễn Xuân
Thức: “Nghiên cứu tính tích cực về giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động
Trang 14vui chơi” (1997) đã nêu được những đặc điểm cơ bản của giao tiếp của trẻ 5 - 6
tuổi khi tham gia các hoạt động nhóm và tập thể ở trường mầm non
Đề tài “Tính chủ động giao tiếp của trẻ em 5 - 6 tuổi” (1995) của hai tác
giả Nguyễn Xuân Thức và Nguyễn Thạc cũng đã trình bày thực trạng mức độ tính chủ động giao tiếp của trẻ mẫu giáo và những biểu hiện cơ bản của tính chủ động giao tiếp Từ đó tác giả đã xây dựng nên hệ thống một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực chủ động giao tiếp cho trẻ mầm non [32]
1.1.3 Những nghiên cứu về giao tiếp tiếng Việt của trẻ em dân tộc thiểu số
Nhận thức rõ việc trang bị tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số (DTTS) có ảnh hưởng lớn tới kết quả học tập của trẻ ở lớp một và những năm học tiếp theo,
vì vậy các địa phương đang tìm những giải pháp cụ thể để tăng cường dạy tiếng Việt ngay từ bậc học mầm non Qua đó, chất lượng học tập của trẻ em DTTS ngày càng chuyển biến tích cực, học sinh mạnh dạn, tự tin và thích đến trường
Từ năm 2009, để góp phần khắc phục tình trạng bất đồng ngôn ngữ của học sinh khi đến trường, Tổ chức Tầm nhìn Thế giới Việt Nam đã thực hiện chương trình Bà mẹ trợ giảng (BMTG) tại hai huyện Tủa Chùa và Tuần Giáo của tỉnh Điện Biên Là mô hình dạy trẻ mẫu giáo DTTS học tiếng Việt thông qua cầu nối tiếng mẹ đẻ, dưới sự hỗ trợ của những “bà mẹ”, trẻ được giải thích kiến thức mới của bài học, có cơ hội trao đổi suy nghĩ, nhận thức về môi trường chung quanh bằng tiếng mẹ đẻ Từ đó, trẻ sẽ học được tiếng Việt một cách hiệu quả Ở trường, giáo viên người Kinh không nói chuyện được với các em, vì vậy, với vai trò vừa là người giúp giáo viên truyền tải bài học sang tiếng dân tộc để cho các
em hiểu, vừa hỗ trợ giáo viên khi gặp tình huống khó xử trong lớp và dạy trẻ tăng cường tiếng Việt
Theo Nguyễn Thị Hiếu, để nâng cao chất lượng dạy tiếng Việt cho trẻ em DTTS, đối với giáo dục mầm non, Bộ GD và ĐT đã xây dựng, ban hành một số tài liệu hỗ trợ giáo viên chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ Hiện tại, Bộ GD và ĐT đang phối hợp các chuyên gia, các trường sư phạm và địa phương xây dựng tài liệu hướng dẫn tăng cường tiếng Việt dành cho cán bộ quản lí, giáo viên mầm non
Trang 15cốt cán ở tất cả các tỉnh, thành phố có trẻ em người DTTS trên cả nước và nhân viên hỗ trợ ngôn ngữ, nhằm hỗ trợ về nội dung, phương pháp tăng cường giao tiếp tiếng Việt
1.2 Những vấn đề chung về giao tiếp và kĩ năng giao tiếp
1.2.1 Giao tiếp
1.2.1.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một hiện tượng tâm lí phức tạp và có nhiều mặt, nhiều cấp độ khác nhau Có nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp Mỗi định nghĩa đều được dựa trên một quan điểm riêng và có hạt nhân hợp lí của nó
Dưới góc độ thông tin học, có tác giả cho rằng: Giao tiếp là một quá trình trao đổi và truyền đạt thông tin
Người đầu tiên đề cập đến vấn đề này là Weiner - nhà tâm lí học người Anh
(1947), tiếp theo là nhà Xã hội học người Mỹ Laswell (1948), Georgen Thines
và các cộng sự (1975) đã nêu “Giao tiếp được coi là sự truyền đạt thông tin, qua
đó các trạng thái của hệ thống phát thông tin phát huy ảnh hưởng tới hệ thống nhận thông tin” Thậm chí J P Gruere (1982) đã đưa ra một định nghĩa mang
tính vật lí về giao tiếp như sau: “Sự giao tiếp là một quá trình chuẩn trong đó một
thông điệp được chuyển tải từ một bộ phát tới một bộ thu, thông qua một chuỗi các yếu tố được gọi là nguồn, kênh, địa chỉ” [Dẫn theo 34] “Là một tin nào đó
được truyền từ điểm này sang điểm khác” G.A.Miller (1956) [Dẫn theo 34]
Hạn chế của các định nghĩa trên là coi hoạt động giao tiếp như một chương trình được mã hóa, xem nhẹ yếu tố chủ thể, xem nhẹ mối liên hệ nhân cách của quá trình giao tiếp và hạn chế hoạt động sáng tạo của nhân cách
Dưới góc độ tâm lí học, giao tiếp được hiểu là hoạt động xác lập và vận
hành các mối quan hệ người và người, hiện thực hóa quan hệ giữa người với nhau Hiểu theo góc độ này có nhiều nhà tâm lí định nghĩa giao tiếp như sau:
- K.K Platonov định nghĩa: “Giao tiếp là những mối liên hệ có ý thức của
con người trong cộng đồng xã hội loài người” [29]
Trang 16- A.N Lêonchiev - nhà tâm lí học Liên Xô cũ cho rằng: “Giao tiếp là một
dạng đặc biệt của hoạt động nó có đầy đủ các đặc điểm cơ bản của hoạt động như tính mục đích, vận hành theo nguyên tắc gián tiếp” [21]
- B PH Lomov - nhà tâm lí học người Nga trong cuốn “Những vấn đề giao
tiếp trong tâm lí học đại cương” coi giao tiếp là một phạm trù cơ bản và định
nghĩa “Giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tư cách là
chủ thể” [22]
Ở Việt Nam, từ những năm 70 của thế kỉ XX trở lại đây, các nhà tâm lí học cũng rất quan tâm đến lĩnh vực giao tiếp, xem đó là một đối tượng quan trọng trong tâm lí học và lấy nó làm cơ sở hình thành nên chuyên ngành khoa học riêng về giao tiếp
- Phạm Minh Hạc định nghĩa: “Giao lưu là hoạt động xác lập và vận hành
các quan hệ người - người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau” Giao lưu ở đây được tác giả dùng đồng nghĩa với giao tiếp Đây
chính là điều kiện, là nguồn gốc nảy sinh và phát triển tâm lí người [10]
- Theo tác giả Ngô Công Hoàn “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa con người với
con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp” [13]
- Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người
với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau” [43]
- Nguyễn Thạc và Hoàng Anh định nghĩa về giao tiếp như sau: “giao tiếp là
hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lí, được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau” [30]
Từ điển tâm lí, do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chủ biên, Trung tâm Nghiên cứu
tâm lí trẻ em, Hà Nội – 1991: “Giao tiếp là sự trao đổi giữa người với người
thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ Ngày nay từ này hàm ngụ sự trao đổi thông
Trang 17qua một bộ mã (code) Người phát tin mã hóa một số tín hiệu, người nhận tin giải
mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định để bên kia hiểu được.” [41]
Như vậy, dưới góc độ tâm lí học, các tác giả tuy chưa có sự đồng nhất về
định nghĩa giao tiếp nhưng nhìn chung tất cả các khái niệm đều có nói lên được
một số đặc điểm chung như sau: “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa người với người
trong cộng đồng xã hội qua đó xác lập và hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội của họ nhằm giúp họ thỏa mãn nhu cầu nhất định”
Dưới góc độ ngôn ngữ học cũng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về
giao tiếp
- Theo từ điển tiếng Việt:“Giao tiếp là sự tiếp xúc trao đổi với nhau giữa con
người với con người bằng ngôn ngữ” (1992), “Từ điển tiếng Việt”, Trung tâm
từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội
- Trong Đại từ điển tiếng Việt, tác giả Nguyễn Như Ý giải thích giao tiếp là
“Sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” [44]
- Theo Berge (1994), giao tiếp được hiểu như một “quá trình thông tin diễn
ra giữa ít nhất là hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định” Như vậy giao tiếp cũng có thể định nghĩa như một
thuật ngữ chỉ loại, bao trùm tất cả các thông điệp được phát ra được hiểu là tin
đã được mã hóa thành lời nói hoặc lời viết, được truyện đi từ người phát đến người nhận [Dẫn theo 33]
- Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc (1991) cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp
xúc với nhau giữa cá thể này với các thể khác trong một cộng đồng xã hội Loài động vật không làm thành một xã hội vì chúng không có giao tiếp với nhau như loài ong, loài kiến” định nghĩa này cho thấy rằng giao tiếp chỉ xuất hiện trong
cộng đồng người làm cho cộng đồng đó mang tính xã hội còn những loài khác không có giao tiếp thì bản thân nó chỉ được xem như là một quần thể, không hề
có tính xã hội [Dẫn theo 31]
Hai tác giả Trần Trọng Thủy, Nguyễn Sinh Huy coi: Giao tiếp của con
người là một quá trình có chủ định hay không chủ định, có ý thức hay không có
Trang 18ý thức mà trong đó có các cảm xúc và tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.” Trong định nghĩa này tác giả không chỉ
đề cập đến đối tượng dùng để giao tiếp mà còn nêu lên cả phương tiện giao tiếp
để tiến hành giao tiếp Với định nghĩa này thì ngay cả khi trẻ không có ý thức (trẻ thiểu năng, bị hội chứng down) hay trẻ chưa có ý thức (trẻ dưới ba tuổi) vẫn
có thể tham gia vào quá trình giao tiếp [34]
Tóm lại, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy theo từng góc độ về
giao tiếp tuy nhiên các nhà nghiên cứu đều nêu bật lên được đặc điểm chung về giao tiếp như sau: Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa người với người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định
Từ những định nghĩa trên đây chúng tôi hiểu: “Giao tiếp là sự tương tác
giữa các cá nhân với nhau bằng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm mục đích xác lập các mối quan hệ giữa người với người, qua đó các cá nhân trao đổi thông tin, biểu đạt và tiếp nhận thông tin, cảm xúc, tình cảm, các trạng thái, nhu cầu cá nhân với nhau và ảnh hưởng đến nhau, góp phần cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách”
1.2.1.2 Các chức năng của giao tiếp
Có rất nhiều cách tiếp cận, phân tích chức năng của giao tiếp Theo các nhà tâm lí học cá nhân giao tiếp thực hiên các chức năng sau:
- Chức năng định hướng hoạt động
- Chức năng nhận thức (chức năng phản ánh)
- Chức năng đánh giá và điều chỉnh
Theo các nhà tâm lí học xã hội thì giao tiếp có hai chức năng cơ bản sau:
- Chức năng liên kết
- Chức năng hòa nhập
Theo các nhà tâm lí học Xô viết B F Lomov & A.A.Bodaliov thì giao tiếp
có ba chức năng cơ bản sau:
- Chức năng nhận thức: Thông tin, thông báo
- Chức năng đánh giá thái độ
Trang 19- Chức năng điều chỉnh, điều khiển
Nhưng các nhà ngôn ngữ học cấu trúc thì cho rằng giao tiếp thực hiện các chức năng sau:
- Chức năng nhận thức: Nhờ có chức năng này mà con người có thể truyền đạt, lĩnh hội các sự kiến, khái niệm, những giá trị trong quá trình giao tiếp
- Chức năng duy trì sự tiếp xúc: chức năng này giúp người giao tiếp có thể lấp chỗ trống khi tiến hành đối thoại
- Chức năng siêu ngôn ngữ: là chức năng rút gọn- nói ít, hiểu nhiều trong quá trình giao tiếp
- Chức năng quy chiếu: đòi hỏi chủ thể giao tiếp phải hiểu được đặc điểm, tâm lí của đối tượng giao tiếp để đảm bảo hiệu quả giao tiếp
- Chức năng thơ mộng: thể hiện trong các cuộc giao tiếp có tính chất văn hóa nghệ thuật
Theo Ngô Công Hoàn: nếu coi giao tiếp là một phạm trù của Tâm lí học hiện đại thì bản thân quá trình giao tiếp thực hiện các chức năng:
- Chức năng định hướng hoạt động của con người
- Chức năng điều chỉnh, điều khiển hành vi của con người
Các quan điểm trên xuất phát từ những quan điểm khác nhau, những hướng nghiên cứu khác nhau nên cũng có những điểm khác nhau Song các quan điểm trên đều đã nêu ra được các chức năng cơ bản của giao tiếp theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau
Trong đề tài này, chúng tôi có cùng quan điểm với Ngô Công Hoàn Đó là giao tiếp có hai chức năng cơ bản:
- Chức năng định hướng hoạt động của con người Đây chính là chức năng bao quát nhất, bất kì một sự tiếp xúc nào giữa con người với con người đều cần phải biết mục đích giao tiếp để làm gì? Như vậy cần chú ý đến những thay đổi nhỏ những biểu hiện của hành vi, cử chỉ, thái độ… của chủ thể và đối tượng giao tiếp, để có những hành vi đáp lại phù hợp
Trang 20- Chức năng điều chỉnh, điều khiển hành vi của con người Đây là chức năng hết sức quan trọng bởi lẽ nó hình thành ở trẻ những đức tính tốt, giúp trẻ biết cách điều khiển điều chỉnh hành vi của mình một cách phù hợp nhất
1.2.1.3 Phương tiện giao tiếp
Các phương tiện giao tiếp là cách thức để biến những mục đích giao tiếp thành hiện thực trong thực tế
* Phương tiện ngôn ngữ: Giao tiếp ngôn ngữ là sự giao tiếp được tiến hành
thông qua hệ thống tín hiệu thứ hai: lời nói và chữ viết Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cơ bản nhất trong hệ thống giao tiếp xã hội bởi nó có những chức năng: chức năng thông báo, chức năng diễn cảm và chức năng tác động Giao tiếp ngôn ngữ có thể được biểu hiện qua nhiều hình thức Trong giao tiếp, tuỳ vào đối tượng, mục đích, hoàn cảnh… mà người ta sử dụng các hình thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau Theo như cách chia của trường phái Palo Alto thì có giao tiếp chỉ định và giao tiếp loại suy, hay bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì lại gọi
là giao tiếp nói chỉ (chỉ định) và giao tiếp nói ví (loại suy) Trong tiếng Việt, tương ứng với các cách gọi như trên ta còn có thể gọi là hiển ngôn (nói chỉ) hay hàm ngôn (nói ví)
- Kiểu nói chỉ theo những quy ước rõ ràng ngôn ngữ nói hay viết với từ vựng,
ngữ nghĩa nhất định Ngôn ngữ toán học, vi tính, chữ người mù thuộc kiểu này
- Kiểu nói ví vận dụng giọng nói, tư thế, cử chỉ tức những kênh cận ngôn ngữ
hay phi ngôn ngữ diễn tả tình cảm, và những yếu tố chủ quan, quan hệ cảm xúc giữa hai bên đối thoại Ở đây không có những chỉ báo nói rõ mạch lạc, khung cảnh, bối cảnh Giữa hai kiểu này có thể ăn khớp hay không và mọi sự giao tiếp đều diễn ra trong một bối cảnh nhất định
- Ngôn ngữ tình thái (Ngôn ngữ biểu cảm về trạng thái tình cảm của người nói) nhằm phản ánh khía cạnh tâm lí, xã hội của chủ thể, giúp cho đối tượng hiểu được tốt hơn ý nghĩa của nội dung thông tin Ngôn ngữ tình thái phản ánh thái độ của người nói đối với thông tin mình nói ra, cách người đó đánh giá tính
Trang 21hiện thực hay không hiện thực, mức độ của tính xác thực, tính tất yếu, tính khả thi, tính chất mong muốn hay đáng tiếc của điều thông báo
* Phương tiện phi ngôn ngữ:
Giao tiếp phi ngôn ngữ được thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể như cử chỉ, tư thế, nét mặt; thông qua cách trang phục hoặc tạo ra khoảng không gian nhất định khi tiếp xúc Giao tiếp phi ngôn ngữ ra đời trước giao tiếp ngôn ngữ, có cội nguồn sinh học dựa trên cơ sở hành vi bản năng gắn liền với quá trình tiến hoá, di truyền từ thế giới động vật Trong giao tiếp phi ngôn ngữ, không phải lúc nào cũng có sự tham gia của ý thức, vì thế nên qua hình thức giao tiếp này người ta thường bộc lộ chân thật các cảm nghĩ, thái độ, ý kiến… của mình, tuy nhiên lại không dễ hiểu được chúng Đây là kiểu giao tiếp được thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể như cử chỉ, tư thế, nét mặt, giọng nói… Thông qua các trang phục hoặc tạo ra khoảng không gian nhất định khi tiếp xúc
Giao tiếp phi ngôn ngữ được phân thành hai loại: giao tiếp có chủ định và giao tiếp không chủ định
- Giao tiếp không chủ định: Là những biểu hiện mang tính bản năng của các hành vi, tư thế, nét mặt… xuất hiện theo phản xạ, tự động; diễn ra không có sự kiểm soát của ý thức Đó là những biểu hiện của hành vi vô thức Giao tiếp phi ngôn ngữ không chủ định thường xuất hiện ở trẻ em, những người văn hoá thấp…
- Giao tiếp phi ngôn ngữ có chủ định: Đó là những biểu hiện của các hành
vi, cử chỉ, các biểu cảm nét mặt có ý thức, có mục đích với sự cố gắng của ý chí Giao tiếp phi ngôn ngữ có chủ định thường diễn ra ở những người có trình độ văn hoá cao, những người cao tuổi giàu kinh nghiệm…
Các kênh của giao tiếp phi ngôn ngữ gồm có: tư thế, giọng nói, âm thanh…Tất cả các yếu tố này đều có ảnh hưởng lớn trong quá trình giao tiếp Như vậy, nếu chúng ta biết cách quan sát kĩ lưỡng, học được một số kĩ năng
sử dụng hiệu quả cử động cơ thể cũng như không gian… thì hiệu quả giao tiếp sẽ được nâng lên rất nhiều Qua giao tiếp phi ngôn ngữ, chúng ta hoàn toàn có thể
Trang 22nhận ra được tính cách, tâm trạng hay vị trí xã hội của một người dù ta mới tiếp xúc lần đầu Giao tiếp phi ngôn ngữ đã và đang được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học thuộc nhiều trường phái tâm lí học trên thế giới Ở lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt là trẻ 5 - 6 tuổi khả năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ được thể hiện trong việc sử dụng lời nói (Phương tiện ngôn ngữ) và sự biểu cảm lời nói (phương tiện phi ngôn ngữ)
1.2.1.4 Vai trò của giao tiếp trong cuộc sống con người
Giao tiếp là nhu cầu của con người muốn tiếp xúc với con người, đó là đặc thù của tâm lí người Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa người với người, là một nhân tố cơ bản của việc hình thành và phát triển tâm lí Quá trình giao tiếp ở người được diễn ra rất sớm Từ lúc đứa trẻ được 4 tuần tuổi đã bắt đầu giao tiếp, tuy sơ đẳng nhưng đó là một dạng hoạt động rất đặc thù của con người Nó tạo ra cái mà tâm lí học gọi là “cộng sinh cảm xúc” của trẻ với người nuôi dạy trẻ, đây là một nhân tố rất cần cho sự phát triển tâm lí
và sinh lí của trẻ
Đến tuổi thiếu niên, giao tiếp lại nổi lên một lần nữa với vai trò quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển tâm lí, nhân cách của cá nhân Có nhiều ý kiến cho rằng, trong nhiều trường hợp, ở lứa tuổi này, giao tiếp bạn bè có ảnh hưởng tới hứng thú, tinh thần, thái độ học tập hơn là học tập Thậm chí có nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, ở tuổi thiếu niên, các cơ chế xã hội, chuẩn mực xã hội và phần nào tri thức đi vào từng em qua con đường giao tiếp
Nhờ có giao tiếp, con người học được cách đánh giá hành vi và thái độ, lĩnh hội được các tiêu chuẩn đạo đức từ cuộc sống, kiểm tra và vận dụng các tiêu chuẩn đó vào thực tiễn Thiếu sự giao tiếp thì những phẩm chất nhân cách quan trọng nhất như tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ, tính nguyên tắc, lòng vị tha, sự trung thực, lòng thành trong giao tiếp… không thể có được
Trong quá trình giao tiếp, con người không chỉ nhận thức được người khác
mà còn nhận thức chính bản thân mình Bất kì người nào cũng đều đối chiếu cái
mà họ quan sát được ở mình với cái mà họ nhìn thấy ở những người xung
Trang 23quanh, từ đó họ thu nhận được thông tin cần thiết để hình thành một thái độ, giá trị Phạm vi giao tiếp càng rộng, hình thức giao tiếp càng đa dạng thì những thông tin càng muôn màu muôn vẻ, càng phong phú
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, không có giao tiếp với người khác con người cảm thấy cô đơn và đôi khi trở thành bệnh hoạn C.Mác đã chỉ ra rằng: “Sự phát triển của mỗi cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà họ giao lưu một cách trực tiếp” Con người có rất nhiều nhu cầu, nhưng quan trọng hơn hết đó là nhu cầu được tiếp xúc với người khác Nhu cầu về sự tiếp xúc tình cảm với người khác là mặt quan trọng của nhu cầu giao tiếp Trong quá trình tiếp xúc với nhau, con người không chỉ trao đổi thông tin, hiểu biết lẫn nhau mà còn đồng cảm với nhau, đó là tính chất “đối lưu” của sự tiếp xúc, nó biểu hiện trong bất kì hình thức quan hệ nào với bạn bè, cha mẹ…
Vì giao tiếp có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người nên nó trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người Theo C Mác thì “Nhu cầu vĩ đại nhất, phong phú nhất của con người là nhu cầu tiếp xúc với người khác, nhu cầu này không ngang hàng với nhu cầu khác, sự phát triển của nó trong mỗi con người chính là một điều kiện làm cho con người trở thành người”
Cùng với các hoạt động, thông qua giao tiếp con người tiếp thu nền văn hóa
xã hội, tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội, biến những kinh nghiệm đó thành vốn sống, kinh nghiệm của bản thân mình, hình thành và phát triển đời sống tâm lí, đồng thời góp phần vào sự phát triển nền văn hóa xã hội Nếu không
có sự giao tiếp với con người, với các quan hệ xã hội thì đứa trẻ sẽ không trở thành người, không có sự phát triển tâm lí, ý thức, nhân cách
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng, sự giao tiếp không đầy đủ
về số lượng, nghèo nàn về nội dung của trẻ nhỏ với người lớn và những người
xung quanh dễ dẫn đến những hậu quả nặng nề Trẻ dễ mắc bệnh hospitalision
(bệnh nằm viện lâu ngày), èo uột Mặc dù được chăm sóc chu đáo về mặt y tế và
vệ sinh song những đứa trẻ lớn lên trong điều kiện “đói giao tiếp” đều chậm phát
Trang 24triển trí tuệ Như B.F Lomov đã từng khẳng định “Khi con người rơi vào sự cô đơn kéo dài (không giao tiếp) có thể dẫn đến bệnh rối loạn tri giác, chú ý và lĩnh vực cảm xúc của con người, có thể dẫn đến quan niệm lệch lạc về bản thân và các hiện tượng của thế giới xung quanh” Khi xem xét, phân tích “Vấn đề giao tiếp trong tâm lí học” ông khẳng định “Nhu cầu giao tiếp có liên quan đến các nhu cầu cơ bản của con người Nó quy định hành vi của con người Điều đó là tự nhiên bởi vì giao tiếp là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người như là thành viên của xã hội, như là nhân cách” Thông qua giao tiếp,
cá nhân dễ dàng gia nhập vào các mối quan hệ xã hội với những cá nhân khác và với toàn xã hội
Giao tiếp có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Giao tiếp có mặt trong mọi hoạt động của con người Có thể khẳng định: nếu không có giao tiếp thì không có sự tồn tại xã hội, vì xã hội là một cộng đồng người có sự ràng buộc, liên kết với nhau Qua giao tiếp, con người biết được các giá trị xã hội của người khác
và bản thân, trên cơ sở đó, cá nhân tự điều khiển, điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực xã hội, do đó nhân cách của con người ngày càng hoàn thiện hơn Tóm lại, cuộc sống là một chuỗi hoạt động và giao tiếp của con người, nó chính là sự tạo lập và xử lí một loạt các mối quan hệ: con người - con người; con người - thế giới tự nhiên; con người - xã hội (quá khứ, hiện tại, tương lai)… xảy
ra xung quanh cuộc sống của mỗi cá thể Bằng hoạt động và giao tiếp của mình, mỗi người trở thành người, xã hội hóa bản thân, gia nhập vào các quan hệ xã hội, chuyển hóa các quan hệ này thành của chính mình, nhập tâm các quan hệ ấy thành tâm lí, ý thức, nhân cách… như C Mác đã khẳng định “Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Các quan hệ người - người được thể hiện trong sự giao tiếp, giao tiếp có mặt trong mọi hoạt động của con người Trong hoạt động, con người phải xác định được quan hệ giữa nhóm người này với nhóm người kia, thậm chí là cả thế hệ trước với thế hệ sau Do đó giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triên tâm lí người
Trang 251.2.2 Kĩ năng giao tiếp
1.2.2.1 Khái niệm kĩ năng và kĩ năng giao tiếp
* Khái niệm kĩ năng:
Theo Từ điển tiếng Việt, kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [26]
Từ điển Oxford định nghĩa “skill” - kĩ năng là khả năng tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện [Dẫn theo 17, tr.15]
Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kĩ thuật hành động, có kĩ năng [34 tr.49]
N.D Levitovxam xét kĩ năng gắn liền với kết quả hành động Theo ông, người có kĩ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh, muốn hình thành kĩ năng con người vừa phải nắm vững lí thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lí thuyết đó vào thực tế
Cùng quan điểm này, các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng cho rằng, kĩ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng, kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép [Dẫn theo 24, tr.6]
Như vậy, với những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, kĩ năng không chỉ
là thao tác mà còn là biểu hiện của năng lực Rõ ràng kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định Nói khác đi, một người có kĩ năng hành động là phải nắm bắt được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm hành động thực hiện có hiệu quả Mặt khác có thể hiểu kĩ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những
Trang 26khoảng thời gian tương ứng Việc hình thành kĩ năng bao hàm cả thông hiểu mối qua lại giữa mục đính hành động, điều kiện và cách thức hành động Kĩ năng là giai đoạn trung gian giữa việc nắm vững cách thức mới thực hiện hành động, dựa trên cơ sở của tri thức và sự vận dụng đúng những tri thức tương xứng trong quá trình hoàn thành các bài tập, nhưng chưa đạt tới mức độ kĩ xảo Như vậy, cách thức xem xét kĩ năng nghiêng về năng lực của con người để thực hiện các công việc có kết quả đã bao hàm cả quan niệm kĩ năng là kĩ thuật hành động trong đó, bởi chỉ khi sự vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách thuần thục thì mới có được kết quả công việc có chất lượng
Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng: “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết
quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kĩ năng không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người”
* Khái niệm kĩ năng giao tiếp:
KNGT được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất nào Tùy vào mục đích nghiên cứu khác nhau, mỗi tác giả đưa ra cho mình một định nghĩa khác nhau
Theo Hoàng Anh [3] kĩ năng giao tiếp là năng lực của con người biểu hiện trong quá trình giao tiếp Đó là các khả năng sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp để đạt được mục đích đã
dề ra
Theo Nguyễn Văn Đính: “Kĩ năng giao tiếp là khả năng nhận biết mau lẹ những biểu hiện bên ngoài và đoán biết diễn biến tâm lí bên trong của con người (đối tượng giao tiếp) Đồng thời biết sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách định hướng để điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp đạt tới mục đích nhất định” [7; tr 67]
Trong thực tế, kĩ năng giao tiếp của con người không chỉ phụ thuộc vào phương tiện mà nó phụ thuộc khá nhiều vào vốn sống, vốn kinh nghiệm, phụ
Trang 27thuộc vào những nét văn hóa đặc trưng vùng miền mà người đó sinh sống, có khi còn chịu ảnh hưởng của sự giáo dục, quản lí của gia đình Dưới góc độ nhìn nhận khả năng tri giác những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến bên trong của hiện tượng tác giả Ngô Công Hoàn [14] đã coi kĩ năng giao tiếp "là khả năng tri giác hiểu được những biểu hiện bên ngoài cũng như những diễn biến bên trong của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lí của đối tượng giao tiếp" Như vậy, ta thấy rằng: kĩ năng giao tiếp của mỗi người bao hàm cả khả năng vận dụng vốn tri thức, vốn kinh nghiệm của chủ thể giao tiếp, khả năng điều khiển đối tượng giao tiếp trong quá trình giao tiếp của chủ thể giao tiếp Mặc dù có những quan niệm khác nhau về kĩ năng giao tiếp, song các quan niệm trên đây đều có điểm chung sau đây về kĩ năng giao tiếp:
- Kĩ năng giao tiếp là sự thực hiện một cách có hiệu quả một hành động nào
đó trong hoạt động giao tiếp (mặt thao tác) Kĩ năng biểu hiện của năng lực (mặt kĩ thuật của năng lực), chúng thường gắn với kết quả của hành động
- Kĩ năng giao tiếp bao gồm cả những tri thức và logic các thao tác hành động và hướng tới thực hiện mục đích của hoạt động giao tiếp
- Khi thực hiện kĩ năng giao tiếp, con người phải sử dụng các phương tiện giao tiếp (ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ) phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp
Như vậy chúng ta có thể hiểu kĩ năng giao tiếp là khả năng sử dụng hợp lí
các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp nhằm điều khiển, điều chỉnh đối tượng giao tiếp theo mục đích giao tiếp đã đặt ra Kĩ năng giao tiếp được hình thành trong các mối quan hệ giữa con người với con người, được phát triển và hoàn thiện trong quá trình luyện tập của con người
Kĩ năng giao tiếp của cá nhân được thể hiện ở năng lực vận hành các thao tác, hành động, kể cả năng lực thể hiện xúc cảm, thái độ của chủ thể giao tiếp nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với đối tượng giao tiếp Nói một cách khác, người có kĩ năng giao tiếp là người biết sử dụng ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ một cách hài hoà, hợp lí nhằm điều khiển, điều chỉnh đối tượng giao tiếp để thực hiện mục đích giao tiếp của mình
Trang 28Trong thực tiễn, nhiều người biết một ngôn ngữ nào đó nhưng không có kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ đó Nghĩa là, anh ta có vốn từ vựng của một ngôn ngữ nào đó khá phong phú, nắm được cấu trúc ngữ pháp trong câu của ngôn ngữ
đó, nhưng không biết sử dụng nó nhằm điều khiển, điều chính đối tượng giao tiếp để thực hiện mục đích giao tiếp của mình Như vậy, phát âm đúng, có vốn từ vựng phong phú, nắm được cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ nào đó chỉ là điều kiện cần để có kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ đó Để có kĩ năng giao tiếp con người cần phải được thực hành, trải nghiệm sử dụng ngôn ngữ trong các mối quan hệ xã hội
1.2.2.2 Cấu trúc của kĩ năng giao tiếp
Khi phân tích cấu trúc của kĩ năng giao tiếp chúng ta cần chú ý tới cả hai cấp độ: cấp độ tri thức, nhận thức và cấp độ thao tác, hành động
- Cấp độ tri thức, nhận thức: yêu cầu chủ thể phải hành động trên cơ sở những hiểu biết nhất định; nói cách khác, chủ thể có ý thức vận dụng những tri thức, hiểu biết vào hoạt động thực tiễn Khác với kĩ xảo, thói quen hành động đã được tự động hóa, ý thức gần như bị triệt tiêu, trong kĩ năng giao tiếp ý thức của chủ thể vẫn tồn tại thường trực chỉ đạo hành động, nghĩa là chủ thể hành động
mà biết rõ mình đang làm gì, làm thế nào, do đâu…
- Cấp độ thao tác, hành động: Kĩ năng giao tiếp là một cấp độ trong quá trình lĩnh hội hoạt động giao tiếp của con người từ thấp đến cao Do vậy khi nói rằng người có kĩ năng giao tiếp nghĩa là người có khả năng thực hiện những hành động giao tiếp một cách có ý thức
Như vậy cấu trúc của kĩ năng giao tiếp bao gồm các thành phần cơ bản: tri thức, nhận thức về đối tượng giao tiếp, về phương thức, phương pháp giao tiếp… Những xúc cảm, hứng thú chi phối các hành vi giao tiếp Những thao tác, hành động của chủ thể phù hợp với điều kiện giao tiếp Trong cấu trúc vĩ mô của hoạt động (theo A.N Leonchiev), kĩ năng giao tiếp không phải là một thành tố độc lập, tồn tại bên cạnh các thành tố khác (mục đích, động cơ, hành động, thao tác) mà kĩ năng là một mức độ của hành động giao tiếp
Trang 291.3.1 Vài nét về ngôn ngữ dân tộc Ê-đê
Tiếng nói của người Ê-đê thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Polynesia (ngữ hệ Nam Ðảo) có quan hệ gần gũi với Tiếng Gia Rai, Chăm, Malaysia, Indonesia, Philippine Tiếng Ê-đê ngày nay phát triển một âm tiết đơn lập, đây là kết quả của sự ảnh hưởng của tiếng Môn-Khmer
So với các dân tộc ít người khác tại Việt Nam, người Ê-đê là sắc dân có chữ viết theo bảng chữ cái La tinh khá sớm, người Ê-đê có chữ viết từ thập niên
1920 Các nhà truyền giáo Tin Lành đã phối hợp với các chuyên viên ngôn ngữ học tại Viện Ngôn ngữ Summer đặt chữ viết cho người Ê-đê để dịch Kinh thánh cho dân tộc này Năm 1971, các chuyên viên này phối hợp với Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa phát hành sách dạy tiếng Ê-đê Năm 1979, sách dạy ngữ vựng Ê-
đê được xuất bản tại Hoa Kỳ Kinh thánh Tân Ước song ngữ Ê-đê - Việt phát hành năm 2001 Năm 2006, Nhà xuất bản Tôn giáo, với sự hỗ trợ của United Bible Societies đã phát hành 20 ngàn cuốn Kinh thánh Tân Ước song ngữ Ê-đê -Việt tại Việt Nam Đây là cuốn sách có số lượng phát hành nhiều nhất trong tiếng Ê-đê từ trước đến nay
Hiện nay, tiếng Ê-đê đã được đưa vào giảng dạy cho học sinh tại những
vùng có người Ê-đê sinh sống nhằm góp phần nâng cao năng lực song ngữ Ê-đê
- Việt cho họ Hơn thế nữa, nhu cầu học tập và sử dụng tiếng Ê-đê của người Kinh cũng như tiếng Kinh của người Ê-đê ở những vùng này đang trở nên hết sức cấp thiết
Việc so sánh đối chiếu các ngôn ngữ trong tiếp xúc sẽ chỉ ra sự tương tác cũng như những nét tương đồng và dị biệt giữa các ngôn ngữ tiếp xúc Cụ thể trong trường hợp này, sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Ê-đê trên phương diện
từ vựng - ngữ nghĩa sẽ làm giàu cho cả hai ngôn ngữ nhờ sự vay mượn vốn từ vựng của nhau Tiếng Ê-đê đã vay mượn một số lượng từ vựng tương đối lớn của tiếng Việt và tiếng Việt cũng đã mượn của tiếng Ê- đê một số lượng từ vựng nhất định Nghiên cứu và xác định rõ số lượng những từ ngữ mà hai ngôn ngữ Việt, Ê-đê đã vay mượn của nhau sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục
Trang 30ngôn ngữ nói chung, việc dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc Ê-đê và dạy tiếng Ê-đê cho người Kinh nói riêng
(Trích trong "Tiếp xúc ngôn ngữ Ê-đê – Việt ở Đắk Lắk trên bình diện từ vựng
- ngữ nghĩa” đăng trên http://text.xemtailieu.com/)
1.3.2 Đặc điểm văn hoá giao tiếp của dân tộc Ê-đê
Văn hóa giao tiếp của dân tộc Ê-đê có những điểm tương đồng với người Việt như: hiếu khách, trọng tình cảm, trọng danh dự, trọng sự tế nhị và hòa thuận nhưng cũng có những điểm khác biệt như: trọng hình thức, lối nói chuyện
dí dỏm, hài hước và đôi khi suồng sã, thô tục
Đặc điểm văn hóa giao tiếp của người Ê-đê:
- Chuộng hình thức: Người Ê-đê, cũng giống như người Việt, rất coi trọng
việc giữ gìn các mối quan hệ với các thành viên trong cộng đồng Do đó, họ rất thích giao tiếp bằng cách thỉnh thoảng hoặc lúc rảnh rỗi lại tranh thủ đi thăm nhau Tuy nhiên, nếu người Việt có sự phân biệt đối tượng giao tiếp để chuẩn bị hình thức bên ngoài (nếu khách quan trọng thì ăn mặc chỉn chu, khách quen thân thì xuề xòa, giản dị), người Ê-đê thì hoàn toàn khác: Người Ê-đê rất chú trọng đến hình thức bên ngoài Khi có khách, bất kể khách quen hay lạ, thân hay sơ; khi đi ra ngoài - bất kể đi xa hay đi gần, việc lớn hay việc nhỏ, người Ê-đê đều
ăn mặc rất chu đáo, tươm tất
- Hiếu khách: Người Ê-đê rất hiếu khách Khi khách đến nhà, dù quen hay
lạ, thân hay sơ họ cũng đón tiếp rất chu đáo và tiếp đãi một cách thịnh tình Họ luôn dành cho khách những gì tốt đẹp nhất mà mình có
- Trọng sự tế nhị và hòa thuận: Sự tế nhị thể hiện trong cách xưng hô Trong
giao tiếp, người Ê-đê cũng lấy nguyên tắc xưng khiêm hô tôn như người Việt (đối với mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính Cách xưng hô này luôn được bắt đầu khi khách vừa đến nhà Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực cũng có những hạn chế Nó tạo ra cho người Ê-đê một thói quen mặc cảm, tự ti khi giao tiếp, đặc biệt là tự ti về chính bản thân họ
Trang 31- Trọng tình cảm: Người Ê-đê rất coi trọng tình cảm, bản chất bộc trực, thẳng
thắn của người Ê-đê
- Dí dỏm: Người Êđê cũng rất dí dỏm, hài hước trong giao tiếp Sự bỡn cợt
trong giao tiếp mà không chú ý đến đối tượng giao tiếp đôi khi trở nên suồng sã Như vậy văn hóa giao tiếp của người Ê-đê có những điểm tương đồng với văn hóa giao tiếp của người Việt như: hiếu khách, trọng danh dự, trọng tình cảm… nhưng cũng có những điểm khác biệt như trọng hình thức, lối nói chuyện đôi khi suồng sã, thô tục Chính những đặc điểm khác biệt này đã tạo nên một
bản sắc văn hóa riêng của người Ê-đê trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ
1.4 Phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
1.4.1 Tiếng Việt - ngôn ngữ thứ hai của trẻ em dân tộc Ê-đê
1.4.1.1 Khái niệm ngôn ngữ thứ hai
Trang 32Ngôn ngữ thứ nhất (NN1) là ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ (TMĐ) NN1 là phương
tiện giao tiếp, là công cụ để tư duy, nhờ nó mà hoạt động nói năng và mối quan
hệ đầu tiên của trẻ với thế giới bên ngoài được hình thành sớm nhất Ngon ngữ TMĐ là ngôn ngữ được những người thân trong gia đình và làng bản sử dụng để
giao tiếp
Ngôn ngữ thứ hai (NN2) là ngôn ngữ đến sau tiếng mẹ đẻ Theo cách hiểu
này thì ngoại ngữ là NN2 Ngôn ngữ thứ hai thường được nắm vững sau NN1 và chủ yếu để làm phương tiện giao lưu, học hỏi, lĩnh hội tri thức trong chương trình học tập, tiếp nhận nền văn hóa của dân tộc khác
Nếu xét theo trình tự lĩnh hội thì tiếng Việt đến với trẻ em DTTS sau tiếng
mẹ đẻ, như vậy tiếng Việt là NN2 của trẻ em DTTS Tiếng Việt là tiếng rất gần với bà con DTTS hiện nay, bởi tiếng Việt được phổ biến rộng rãi ở khắp vùng đồng bào DTTS sinh sống bằng các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền mở rộng và ngày càng phát triển Từ đó tiếng Việt phát triển song song với TMĐ, trong những điều kiện, môi trường cơ bản gần gũi với TMĐ, không giống với việc học tiếng nước ngoài Như vậy đối với trẻ DTTS nói chung, trẻ
em dân tộc Ê-đê nói riêng, tiếng Việt là NN2, nhưng không hoàn toàn là một ngoại ngữ (như tiếng Anh, tiếng Pháp…)
1.4.1.2 Ý nghĩa của việc học tiếng Việt đối với trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
Tiếng Việt vừa là môn học cơ bản, vừa là môn học công cụ để học sinh tiếp thu tri thức và kĩ năng của các bộ môn khác trong chương trình giáo dục Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học, chất lượng học tiếng Việt của học sinh dân tộc chưa cao, kéo theo sự hạn chế về phát triển năng lực tư duy, ít nhiều tạo ra bất lợi cho việc đạt đến những chuẩn mực trong mục tiêu giáo dục của từng bậc học Ở vùng 100% là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), việc bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ, làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc giáo dục trẻ
1.4.2 Phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
1.4.2.1 Đặc điểm giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
Trang 33Phần lớn trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê còn nhút nhát, rụt rè, ngại giao tiếp Bên
cạnh đó vốn tiếng Việt của các em rất ít, hằng ngày các em giao tiếp với bố mẹ, cộng đồng bằng tiếng mẹ đẻ, môi trường giao tiếp hạn hẹp Các em chỉ nói tiếng Việt khi ở trường còn khi về với gia đình các em lại sống trong gia đình thuần tiếng dân tộc Môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt hạn chế và không thuần nhất,
đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành và phát triển kĩ năng sử dụng
tiếng Việt của các em gặp nhiều khó khăn
1.4.2.2 Phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng
tăng tiến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu
Theo đó, phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuối dân tộc
Ê-đê là việc làm thay đổi khả năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ theo chiều hướng tích cực - từ thấp đến cao, từ chỗ khả năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ còn hạn chế đến khả năng giao tiếp tiếng Việt thành thạo hơn
Vấn đề phát triển KN được nhiều nhà tâm lí học trong và ngoài nước quan tâm, mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác nhau song đều thống
nhất với nhau rằng, KN được hình thành, phát triển trong hoạt động KN được
hình thành và phát triển theo từng giai đoạn với các mức độ từ thấp tới cao Mức
độ thấp là những KN nguyên phát - dạng KN đơn giản, tương ứng với những thao tác của hành động nhất định Mức độ cao là các KN thứ phát - là tập hợp của nhiều yếu tố để tạo nên KN phức hợp, nâng cao
K.K.Platonov và G.G.Golubev chia quá trình hình thành - phát triển KN thành 5 giai đoạn, bao gồm:
- Giai đoạn 1: KN còn rất sơ đẳng khi chủ thể mới ý thức được mục đích và tìm kiếm cách thức hành động dưới dạng “thử và sai”
- Giai đoạn 2: KN đã có, nhưng chưa đầy đủ
- Giai đoạn 3: KN chung, song còn mang tính riêng lẻ
- Giai đoạn 4: KN ở trình độ cao, cá nhân sử dụng thành thạo các thao tác kĩ thuật, cách thức thực hiện để đạt được mục đích
Trang 34- Giai đoạn 5: KN tay nghề cao, khi cá nhân vừa thành thạo vừa sáng tạo trong sử dụng các KN ở những điều kiện khác nhau [29]
Một số tác giả V.A.Cruchetxki, Phạm Minh Hạc, N.Đ.Levitôv, A.V Petrovxki, Trần Quốc Thành … cho rằng, quá trình hình thành KN gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu
Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm
đạt được mục đích đặt ra
Theo các tác giả này, việc nhận thức mục đích, cách thức và điều kiện hành động cực kì quan trọng Vì mục đích là kết quả hành động mà người ta dự kiến trước khi bắt tay vào hành động Trên cơ sở xác định mục đích hành động, người ta sẽ lập kế hoạch và tìm các điều kiện, biện pháp phù hợp để đạt được mục đích Như vậy, đây chỉ là bước định hướng hành động Nếu dừng lại ở bước này thì chưa có KN, vì nó chỉ thể hiện mặt lí thuyết, tri thức về hành động, chứ chưa có mặt kĩ thuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra Giai đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng Ở giai đoạn này con người một mặt thực hiện thao tác theo mẫu để hình thành KN, một mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác, hành động nhằm đạt được kết quả giảm bớt những sai sót trong quá trình hành động Tùy theo khả năng của từng người mà độ sai sót nhiều hay ít, giai đoạn làm thử dài hay ngắn
Sau khi làm thử để nắm vững cách thức hành động, người ta phải tiến hành luyện tập để hoàn thiện KN Ở giai đoạn này các tri thức về hành động được củng cố nhiều lần, cách thức hành động cũng được ôn luyện có hệ thống làm cho người ta nắm chắc hành động hơn Đến đây có thể nói, KN đã được hình thành Tuy nhiên, KN vẫn chưa ổn định Nhiều khi, người ta có thể đạt được kết quả cần thiết song vẫn còn những sai sót, vấp váp trong hành động KN thực sự
ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau Việc luyện tập đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện luyện tập, tính hệ thống của quá trình luyện tập, đặc biệt là sự nỗ lực của cá nhân
Trang 35Quan điểm trên đây đã chỉ ra những yêu cầu cần thiết của việc hình thành, phát triển KN hành động: nhận thức và triển khai nó trong thực tiễn
Từ những quan niệm trên chúng tôi chia sự hình thành, phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê thành bốn mức độ:
- Mức độ 1 - Kĩ năng thành thục: Ở mức độ này trẻ sử dụng thành thạo, nhanh và linh hoạt ngôn ngữ tiếng Việt và các phương tiện phi ngôn ngữ trong những điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp khác nhau để đạt được mục đích giao tiếp
đã đặt ra
- Mức độ 2 - Kĩ năng đã có nhưng chưa thành thục: Ở mức độ này trẻ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt và các phương tiện phi ngôn ngữ đúng (nhưng còn chậm) trong điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp ổn định; đôi khi còn có những lời nói, hành vi cử chỉ thừa trong quá trình giao tiếp
- Mức độ 3 - Có biểu hiện của kĩ năng: Ở mức độ này trẻ đã sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt và các phương tiện phi ngôn ngữ tương đối đúng (nhưng còn rất chậm)
và còn nhiều lời nói, hành vi cử chỉ thừa trong quá trình giao tiếp
- Mức độ 4 - Chưa có kĩ năng: Trẻ sử dụng chưa đúng ngôn ngữ tiếng Việt
và các phương tiện phi ngôn ngữ trong điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp ổn định, ngay cả khi có sự hướng dẫn, trợ giúp của người khác
1.4.2.3 Những kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cơ bản cần phát triển cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
Như đã trình bày, trẻ em DTTS học ngôn ngữ tiếng Việt là học nói tiếng
Việt Do vậy, kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ là kĩ năng giao tiếp bằng lời nói tiếng Việt Để hoạt động giao tiếp lời nói tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê đạt hiệu quả, cần phải hình thành cho trẻ những kĩ năng cơ bản sau đây:
- Kĩ năng phát âm tiếng Việt Kĩ năng phát âm tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi
dân tộc Ê-đê được thể hiện ở sự phát âm tròn vành rõ tiếng các âm vị, âm tiết/ tiếng Việt trong các từ, câu nói; sự điều chỉnh giọng nói với tốc độ, cường độ, nhịp điệu phù hợp với tình huống, hoàn cảnh giao tiếp của trẻ trong quá trình giao tiếp
Trang 36- Kĩ năng nghe hiểu lời nói tiếng Việt Kĩ năng nghe hiểu lời nói tiếng Việt
của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê được thể hiện ở khả năng trẻ nghe chính xác, đầy
đủ âm thanh lời nói tiếng Việt và hiểu được nghĩa của các từ, các câu, nội dung thông tin lời nói và sắc thái biểu cảm của người nói trong quá trình giao tiếp tiếng Việt; thực hiện các yêu cầu, chỉ dẫn bằng lời nói tiếng Việt của người khác trong quá trình giao tiếp
giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê được thể hiện ở khả năng trẻ tạo lập các câu nói đúng cấu trúc ngữ pháp theo các mô hình câu tiếng Việt khi giao tiếp bằng tiếng Việt với người khác
- Kĩ năng sử dụng từ ngữ tiếng Việt và các phương tiện phi ngôn ngữ phù hợp với tình huống, hoàn cảnh giao tiếp Kĩ năng này của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc
Ê-đê được thể hiện ở khả năng trẻ sử dụng đúng từ loại (danh từ, động từ, tính từ, ) tiếng Việt và các phương tiện phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, ) phù hợp với tình huống, hoàn cảnh giao tiếp để trao đổi, bày tỏ suy nghĩ, nhu cầu, cảm xúc của mình khi giao tiếp với người khác
- Kĩ năng độc thoại bằng tiếng Việt Kĩ năng độc thoại bằng tiếng Việt của trẻ 5
- 6 tuổi dân tộc Ê-đê được thể hiện ở khả năng trẻ tự giới thiệu về bản thân, gia đình, ; tự mô tả, kể về một vấn đề mà trẻ biết, trẻ trải nghiệm hoặc kể lại chuyện
đã nghe, bằng tiếng Việt theo một trình tự phù hợp giúp người nghe hiểu được trẻ nói gì
trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê được thể hiện ở khả năng trẻ sử dụng tiếng Việt để chào hỏi, giới thiệu, trao đổi, trò chuyện với người khác về một vấn đề nào đó giúp cho hai bên hiểu biết thông tin của nhau trong quá trình giao tiếp
Các kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, hoà quyện vào nhau giúp cho quá trình giao tiếp đạt được hiệu quả Sự tiến bộ của kĩ năng này sẽ kéo theo sự tiến bộ của các kĩ năng khác trong quá trình luyện tập, thực hành giao tiếp tiếng Việt
Trang 371.4.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
1.4.3.1 Môi trường giao tiếp
Môi trường là nơi diễn ra quá trình giao tiếp Môi trường giao tiếp của trẻ diễn ra tại trường mầm non, trong gia đình và ngoài xã hội - nơi trẻ được trải nghiệm, áp dụng những KNGT mà trẻ có vào thực tiễn
Môi trường giao tiếp có ảnh hưởng gián tiếp đến KNGT của trẻ em DTTS Nếu trẻ được tổ chức rèn luyện KNGT trong một môi trường phong phú, đa dạng, giàu tình huống giao tiếp, có nhiều cơ hội tham gia vào quá trình giao tiếp… thì KNGT sẽ hình thành hiệu quả hơn Ngược lại, môi trường giao tiếp nghèo nàn thì trẻ sẽ khó hình thành ở trẻ KNGT cần thiết Do vậy để phát trển KNGT tiếng Việt cho trẻ em DTTS cần tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt và giúp cho trẻ có cảm giác thoải mái, có nhu cầu giao tiếp bằng tiếng Việt
1.4.3.2 Đặc điểm tâm lí trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
a Vốn sống, vốn kinh nghiệm của bản thân trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc thiểu số: là
những kiến thức có trong bản thân của mỗi cá nhân trẻ, được tích luỹ trong suốt quá trình sinh sống, học hỏi thông qua việc tự trau dồi kiến thức của bản thân từ những người xung quanh Ở đây, chúng tôi đề cập đến vốn sống, vốn kinh nghiệm của trẻ về các mặt: kiến thức, KNGT, khả năng hiểu biết về cách giải quyết các tình huống giao tiếp… tất cả những yếu tố trên được trẻ học hỏi, bắt chước và lĩnh hội trong quá trình trẻ giao tiếp với người lớn Vốn sống, vốn kinh nghiệm của bản thân trẻ có vai trò rất cần thiết đối với việc rèn luyện KNGT Bởi vì, để tiến hành một cuộc giao tiếp có hiệu quả, trẻ phải luôn là chủ thể hoạt động Nếu vốn sống, vốn kinh nghiệm tốt giúp trẻ có thể giải quyết các tình huống nhanh hơn, đúng hơn, khoa học hơn
b Tính tích cực giao tiếp của trẻ mầm non: Tính tích cực giao tiếp được thể
hiện ở tần suất giao tiếp và sự hứng thú tham gia giao tiếp của trẻ mầm non Trong giao tiếp, có trẻ tham gia hoạt động nhiều, có trẻ tham gia hoạt động ít –
Trang 38nó ảnh hưởng đến các KNGT trẻ rất nhiều Chính tính tích cực giao tiếp là điều kiện, là phương thức để nảy sinh giao tiếp và cũng là nơi giao tiếp vận hành Nếu trẻ tham gia vào quá trình giao tiếp một cách tích cực trẻ sẽ dần tích lũy được kinh nghiệm và tri thức cho bản thân mình, trẻ có thể học hỏi từ người lớn, bạn bè của mình, hình thành cho mình những kĩ năng cơ bản cần thiết cho quá trình giao tiếp thúc đẩy quá trình giao tiếp được tiến hành một cách thuận lợi hơn Ngược lại nếu trẻ không tích cực trẻ khó có được những KNGT thành thạo, và khả năng xử lí các tình huống giao tiếp kém
c Tính cách của đứa trẻ: Quá trình giao tiếp còn phụ thuộc rất nhiều đến
tính cách của mỗi cá nhân trẻ Đối với những trẻ sôi nổi hòa đồng, tích cực, mạnh dạn thì quá trình giao tiếp của trẻ được diễn ra một cách linh hoạt, sinh động và phong phú Trẻ có thể dễ dàng lôi cuốn những trẻ khác tham gia vào quá trình giao tiếp của mình, trẻ chủ động trong các mối quan hệ, dễ dàng xử lí các tình huống trong quá trình giao tiếp Ngược lại, đối với những trẻ sống thu mình, khép kín, rụt rè, thì quá trình giao tiếp sẽ diễn ra khó khăn hơn Trẻ thường bị các bạn bè xa lánh, không chơi cùng Vì vậy trẻ thường phải chơi một mình từ đó quá trình giao tiếp của trẻ càng bị trì trệ không hiệu quá, thường dễ rơi vào thế bị động, trẻ không tích lũy cho mình được về kiến thức lẫn KNGT
1.4.3.3 Năng lực sư phạm của giáo viên mầm non
Trẻ em như một tờ giấy trắng, tờ giấy đó có thành một tác phẩm nghệ thuật hay không phụ thuộc vào người cầm bút vẽ lên tờ giáy đấy như thế nào Và các
cô giáo mầm non chính là người cầm cây bút đó Về KNGT của trẻ cũng vậy Thời gian trẻ tiếp xúc với cô giáo nhiều hơn ở nhà Cô là người truyền đạt tri thức cho trẻ, hình thành cho trẻ những kĩ năng cần thiết Đối với trẻ mầm non, trẻ học theo khả năng bắt chước, bởi vậy người giáo viên cần rèn luyện cho mình về những tác phong, lối giao tiếp lành mạnh, ứng xử có văn hóa Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay trình độ nhận thức về vai trò của các giáo viên chưa cao, chưa hiểu rõ KNGT có tác động như thế nào đối với việc hình thành nhân cách của trẻ Điều đó làm ảnh hưởng đến việc xây dựng phương pháp nhằm rèn
Trang 39luyện về các KNGT cho trẻ thông qua các hoạt động, đặc biệt là hoạt động khám phá MTXQ
1.5 Hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non với việc phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê
1.5.1 Khái quát về hoạt động khám phá MTXQ của trẻ ở trường mầm non
1.5.1.1 Khái niệm môi trường xung quanh và khám phá MTXQ của trẻ ở trường mầm non
* Môi trường xung quanh
MTXQ là tất cả những gì bao quanh chúng ta như tự nhiên, con người, các
đồ vật… Khái niệm này có thể nhìn nhận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, MTXQ là tất cả các sự vật, hiện tượng, con người có trong hành tinh mà chúng ta đang sống
Theo nghĩa hẹp, MTXQ là những hoàn cảnh cụ thể (các sự vật, hiện tượng, con người…) bao quanh một đối tượng có liên quan mật thiết với nó
Môi trường xung quanh bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Các môi trường này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
Môi trường tự nhiên bao gồm toàn bộ các sự vật, hiện tượng của thế giới vô
sinh (không khí, ánh sáng, nước, đất, sỏi, đá…) và giới hữu sinh (động vật, thực vật…) Môi trường thiên nhiên là nguồn cung cấp những yếu tố cần thiết cho sự sống của trẻ nói riêng và sinh vật nói chung Thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận kích thích tính sáng tạo và phát triển óc thẩm mĩ cho trẻ Với những ý nghĩa giáo duc to lớn ấy, thiên nhiên cần được giữ gìn và bảo vệ Trẻ em cũng cần được coi là nguồn nhân lực tích cực trong việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường
Môi trường xã hội bao gồm con người và các mối quan hệ giữa con người
với con người (trong gia đình, nhà trường, xã hội), phương tiện lao động và sinh hoạt cuộc sống, thể chế văn hoá, chính trị - xã hội, Môi trường xã hội có tầm quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người nói chung và trẻ em nói riêng Đối với trẻ em lứa tuổi mầm non thì môi trường xã hội xung quanh trẻ là thế giới đồ vật, những sự kiện xã hội cụ thể, các mối quan hệ qua lại
Trang 40giữa người với người, đặc trưng cho một giai đoạn phát triển của xã hội loài người
* Khám phá môi trường xung quanh của trẻ ở trường mầm non
Theo quan điểm của các nhà khoa học, cách tốt nhất để lĩnh hội được tri thức khoa học là làm khoa học Đối với trẻ mầm non, làm khoa học cũng chính là quá trình trẻ khám phá - “tìm kiếm, phát hiện ra cái mới, cái ẩn dấu” trong MTXQ gần gũi với trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn (giáo viên và các bậc cha mẹ)
Từ đó ta có cách hiểu: Khám phá MTXQ của trẻ ở trường mầm non là hoạt
động “tìm kiếm, phát hiện ra cái mới, cái ẩn dấu”của trẻ trong MTXQ gần gũi với chúng dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Đây thực chất là quá trình giáo viên tạo ra môi trường, tạo ra các tình huống, tổ chức cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật, hiện tượng của MTXQ, qua đó trẻ hiểu biết về những đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ qua lại, sự thay đổi và sự phát triển của chúng Điều quan trọng hơn là, thông qua các hoạt động khám phá này trẻ học các kĩ năng quan sát, so sánh, phân loại, đo lường, phán đoán, giải quyết vấn đề, chuyển tải
ý kiến của mình và đưa ra kết luận
1.5.1.2 Nội dung hoạt động khám phá môi trường xung quanh của trẻ ở trường mầm non
Như đã trình bày, MTXQ của trẻ mầm non là hoàn cảnh cụ thể, gần gũi với trẻ (các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và cuộc sống con người) bao quanh trẻ, có liên quan trực tiếp với trẻ ngay từ khi chúng sinh ra, lớn lên và phát triển
Do vậy, nội dung khám phá MTXQ của trẻ mầm non khá phong phú, đa dạng,
- Các yếu tố tự nhiên vô sinh (nước, không khí, ánh sáng, sỏi đá, đất cát, )
- Các yếu tố tự nhiên hữu sinh (động vật, thực vật)