Lâu nay, vấn đề XHHGD luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp lãnh đạo địa phương quan tâm tổ chức triển khai thực hiện, ngày 30 tháng 5 năm 2008 Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xã hội hoá giáo dục là giải pháp quan trọng thực hiện chiến lược phát triển giáo dục nước ta
Xã hội hoá giáo dục là chủ trương lớn của Đảng và chính sách của Nhà nước nhằm huy động, khuyến khích mọi nguồn lực trong xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục và xây dựng xã hội học tập Nghị quyết TW6 khóa IX của Đảng đã nêu
định hướng: “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn
dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục Nhà nước khuyến
khích mọi đóng góp, mọi sáng kiến của xã hội cho giáo dục” Năm 1990, Bộ
GDĐT và Công đoàn giáo dục Việt Nam đã chỉ đạo, tổ chức thực hiện XHHCTGD
bằng mô hình mới: “Tổ chức Đại hội giáo dục cấp cơ sở” Đại hội giáo dục có nêu
vấn đề thực hiện XHHCTGD, huy động các lực lượng xã hội tham gia phát triển giáo dục tạo ra các nguồn lực thúc đẩy sự nghiệp giáo dục Xã hội hóa giáo dục góp
phần thực hiện dân chủ hóa giáo dục nhằm mục tiêu “giáo dục cho mọi người”, thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, huy động sức mạnh toàn dân,
mang lại cho mọi người cơ hội học tập và đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục
Thực tiễn những năm qua cho thấy, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành giáo dục và đào tạo đã đạt được những thành tựu nhất định về việc thực hiện XHHGD, chẳng hạn: mở thêm nhiều loại hình đào tạo, từ đào tạo chính quy tập trung, đào tạo tại chức, liên thông, đào tạo từ xa; đào tạo cán bộ giáo viên có trình độ cao học, đại học, cao đẳng, trung cấp và các hệ đào tạo khác Cơ sở vật chất của nhiều trường ngày càng được đầu tư có hiệu quả hơn Những ngôi trường kiên cố, khang trang đang thay thế dần các ngôi trường
“tranh tre, vách lá” Nhiều nguồn lực của xã hội đã và đang được huy động để
đầu tư cho giáo dục tại địa phương
Trang 2Tuy nhiên vẫn còn tình trạng các cấp, các ngành và trong nhân dân vẫn còn nhận thức chưa đúng về XHHGD, vẫn còn sự phân biệt giữa trường công lập và ngoài công lập Các tổ chức kinh tế, xã hội tham gia vào công tác XHHGD còn hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng, trí tuệ trong xã hội và vẫn còn tư tưởng trông chờ vào Nhà nước
Xã hội hóa giáo dục là con đường nhanh nhất thúc đẩy giáo dục nước ta phát triển Xã hội hóa giáo dục là chủ trương đúng đắn mang tính chiến lược của Đảng ta nhằm định hướng chiến lược phát triển GDĐT trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước Nghị quyết TW 2 khóa VIII của Đảng có nêu: “Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học như: mầm non, phổ thông trung học (cấp III), trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại học Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hóa hình thức giáo dục”
Tại điều 12, Luật Giáo dục năm 2005 cũng quy định: “Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục để thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển
sự nghiệp giáo dục”
Lâu nay, vấn đề XHHGD luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp lãnh đạo địa phương quan tâm tổ chức triển khai thực hiện, ngày 30 tháng 5 năm 2008 Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về Chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường
Chính phủ cũng đã có Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020" và công văn chỉ đạo hướng dẫn các cấp quản lý giáo dục tích cực lập qui hoạch, kế hoạch triển khai Chiến lược này đến năm 2020
Quyết định 239/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 – 2015”; với giải pháp lồng ghép các chương trình dự án khác nhau trên cùng một
Trang 3địa bàn và huy động nguồn lực hợp lý của nhân dân để thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi; cha mẹ có trách nhiệm phối hợp với nhà
trường để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo có nêu: “Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo”
Thực hiện các Nghị quyết của TW Đảng, chỉ thị của Bộ GDĐT, cuộc vận động XHHGD đã được triển khai và phát triển rộng khắp trên địa bàn huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Được các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương cũng như Phòng GDĐT huyện đã quan tâm chỉ đạo bước đầu công tác XHHGD đã đạt được những kết quả khả quan về quy mô, chất lượng cũng như hiệu quả
Bên cạnh những thành quả đạt được từ công tác xã hội hoá giáo dục ở huyện Mang Thít, vấn đề huy động nguồn lực xã hội thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non huyện Mang Thít chưa đồng bộ, vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi phải
có những giải pháp hiệu quả để phát triển xã hội hóa giáo dục ở huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
Từ những lý do trên, việc thực hiện đề tài: “Huy động nguồn lực xã hội thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long” có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn cấp bách, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội hóa giáo dục trên địa huyện Mang Thít nói riêng và tỉnh Vĩnh Long nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục trên địa bàn huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, luận văn đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả XHHGDMN huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Xã hội hoá giáo dục mầm non huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
Trang 4Biện pháp huy động nguồn lực xã hội thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
4 Giả thuyết khoa học
Công tác XHHGD các trường mầm non huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long trong thời gian qua đã có sự phát triển và đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên hiện nay vấn đề huy động nguồn lực xã hội thực hiện XHHGDMN huyện Mang Thít chưa đồng bộ, vẫn còn gặp không ít khó khăn bất cập Nếu đề xuất các biện pháp có tính khoa học và tính khả thi phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương thì sẽ đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục mầm non của huyện trong giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Phân tích, tổng hợp những vấn đề lý luận về xã hội hóa giáo dục
5.2 Khảo sát, đánh giá việc thực hiện vấn đề xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội; đánh giá những kết quả đạt được và phát hiện những hạn chế, khó khăn mà xã hội hoá giáo dục mầm non đang gặp phải
5.3 Đề xuất một số biện pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục mầm non huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề
xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non đóng trên địa bàn huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long từ năm học 2011-2012 đến năm học 2015-2016
6.2 Giới hạn khách thể khảo sát: Cán bộ, lãnh đạo các cấp trong huyện;
chuyện viên phòng GDĐT; hiệu trưởng, chi bộ, công đoàn, tổ trưởng chuyên môn các trường mầm non- mẫu giáo, ban đại diện cha mẹ học sinh các trường trên địa bàn huyện Mang Thít
6.3 Giới hạn địa bàn và thời gian khảo sát: Các xã -thị trấn, các trường
mầm non - mẫu giáo trên địa bàn huyện Mang Thít Thời gian khảo sát từ tháng 9/2016 đến tháng 11/2016
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 57.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Văn bản luật của Nhà nước;
Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng; các tài liệu khoa học có liên quan đến công tác xã hội hóa giáo dục
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát việc huy động nguồn lực thực hiện XHHGDMN của Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường mầm non thuộc địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo, chuyên viên phòng GDĐT; điều tra bằng phiếu hỏi đối với cán bộ, lãnh đạo các cấp trong huyện; chuyên viên phòng GDĐT; hiệu trưởng, chi bộ, công đoàn, tổ trưởng chuyên môn các trường mầm non- mẫu giáo, ban đại diện cha mẹ học sinh trên địa bàn huyện Mang thít, tỉnh Vĩnh Long
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia về huy động nguồn lực thực hiện XHHGDMN trên địa bàn huyện Mang thít, tỉnh Vĩnh Long
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ: Phương pháp thống kê toán học, so sánh
để xử lý số liệu thu thập được
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa, khái quát hóa thực hiện XHHGDMN 8.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục; đặc biệt huy động nguồn lực trên địa bàn huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long và chỉ ra những ưu điểm cũng như những tồn tại cần khắc phục
- Đề xuất một số biện pháp khoa học, phù hợp với thực tế địa phương, qua
đó góp phần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non trên địa bàn huyện Mang Thít
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo
và phụ lục, Luận văn có 3 chương với nội dung như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc huy động nguồn lực thực hiện xã hội hoá
giáo dục mầm non
Trang 6Chương 2: Thực trạng xã hội hóa giáo dục và huy động nguồn lực xã hội
thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
Chương 3: Các biện pháp huy động nguồn lực xã hội thực hiện xã hội hóa
giáo dục mầm non huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC THỰC HIỆN XÃ
HỘI HOÁ GIÁO DỤC MẦM NON
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục là một phạm trù vĩnh cửu: Giáo dục sinh ra cùng với loài người, tồn tại và phát triển cùng với loài người Chức năng đầu tiên, chức năng nguyên thủy của giáo dục là xã hội hoá Trong giáo dục tất cả mọi việc đều mang tính xã hội rất cao, bất kỳ xã hội nào muốn phát triển giáo dục thì cần phải huy động toàn
xã hội làm giáo dục, động viên mọi tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục
Ở Việt Nam, thế kỷ XI (1070) thời Nhà Lý – vua Lý Thánh Tông rất quan tâm đến GDĐT, ông cho xây dựng Quốc Tử Giám để đào tạo hiền tài Thế kỷ XVIII – vua Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng đã nói: “Dựng nước, trước tiên phải lo việc học” Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Giáo dục phải cung cấp cho cán bộ kinh tế, kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được Nếu kinh tế không phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được Giáo dục không phát triển thì không có đủ cán bộ kinh tế phát triển Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau.[35, 225]
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: "Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo Rà soát, sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng các trường công lập; bổ sung chính sách ưu đãi để phát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm học tập cộng đồng"[26, 208]
Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 về Chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường
Bên cạnh chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước nêu trên, các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục ở nước ta đã nêu lên một số luận điểm quan
Trang 8trọng Tác giả Phạm Minh Hạc, khẳng định:“Xã hội hóa công tác giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta”[32, 16] Tác giả Đặng Quốc Bảo đã viết:
“Không có xã hội nào có thể tồn tại nếu không có sự giáo dục và mọi sự giáo dục đều hướng tới sự tiến bộ của xã hội Như vậy là luôn luôn tồn tại nền giáo dục xã hội”[17, 6] Vậy huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước không phải là một ý tưởng mới lạ
Xã hội hóa giáo dục không phải là chủ trương ở các nước kém phát triển mà ngay
cả những nước giàu, phát triển cũng đã từng thực hiện nhiều giải pháp đẩy mạnh XHHGD để phát triển sự nghiệp giáo dục, bởi vì XHHGD là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng xã hội để tiến tới xây dựng một xã hội học tập Tổ chức văn hóa giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã từng khuyến nghị: Giáo dục không chỉ bó hẹp trong nhà trường, phải cải tổ toàn diện nền giáo dục Giáo dục phải trở thành phong trào quần chúng thực sự
Vấn đề XHHGD đã được nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn khá sâu rộng
và lâu dài trong lịch sử nước ta và các nước trên thế giới Bên cạnh các công trình nghiên cứu khoa học về công tác XHHGD trong những năm gần đây được nhiều người trong ngành giáo dục nước ta quan tâm, có những luận văn Thạc sĩ đã đề cập đến và nêu nhiều giải pháp tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục Tuy nhiên đó là những vấn đề cụ thể có tính chuyên sâu nảy sinh ở từng địa phương
và phạm vi công tác, các hoạt động của XHHGD là vấn đề rộng lớn, do vậy việc nghiên cứu huy động nguồn lực xã hội thực hiện XHHGDMN huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long có ý nghĩa thực tiễn lớn lao góp phần thực hiện thành công PCGDMNT5T, tạo nền tảng tốt nhất để giáo dục toàn diện cho học sinh ở các bậc học sau này
Kinh nghiệm xã hội hóa giáo dục ở các nước: Các nước công nghiệp phát
triển trong khu vực và trên thế giới đều đặc biệt coi trọng chính sách XHHGD Các nước này đều thực hiện chính sách mở cửa cho giáo dục, tạo nhiều cơ hội cho
Trang 9giáo dục phát triển và đem lại cho người học những điều kiện học tập tốt nhất và
hiệu quả cao nhất
Indonesia, quốc gia có dân số đứng thứ 5 trên thế giới (212,2 triệu người vào năm 2000), nhờ hệ thống trường tư thục ra đời đã góp phần đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người dân và chia sẻ những khó khăn trong vấn đề tài chính của Nhà nước
Ở Trung Quốc, theo chủ trương của Đảng Cộng sản Trung Quốc (Đại hội VIII năm 1987): “Kế hoạch lớn trăm năm, giáo dục là gốc mở đường cho việc huy động toàn xã hội tham gia công tác giáo dục” Nhân dân trở nên tự giác, “Xã hội tham gia công tác giáo dục đã trở thành nếp sống” (Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh
số ra ngày 04/01/1994) Trung Quốc động viên các lực lượng xã hội chung vốn, làm giáo dục không thu thuế, hoan nghênh và khen thưởng cho kiều bào, cho các
tổ chức nước ngoài tham gia giúp đỡ hoạt động giáo dục Trung Quốc
Nhật Bản một đất nước phát triển với nhiều ngành công nghệ cao, Chính phủ Nhật đang tích cực tiến hành cải tổ hệ thống giáo dục Thượng Nghị viện Nhật đã thông qua 3 dự luật về cải cách giáo dục sửa đổi là: Luật Giáo dục trường học, Luật giáo dục địa phương và Luật Giáo dục xã hội Nhật Bản đã tạo ra một hệ thống giáo dục mở nhằm giúp cho học sinh thể hiện lòng ham muốn, tự chủ suy nghĩ và năng lực sinh động; giáo dục đạo đức xã hội, công bằng và thân ái, phát triển năng lực khác nhau tạo cơ hội lựa chọn thích hợp với nhu cầu học tập và nghề nghiệp của học sinh
Như vậy, giáo dục Nhật Bản đã phá vỡ thế quản lý theo kiểu tập quyền Nhà nước đối với giáo dục, giành cho địa phương và nhà trường quyền tự chủ lớn hơn
Ở Hoa Kỳ, đang thực hiện một cuộc cách mạng chuẩn hóa giáo dục (Standards revolution) Để làm được điều này, một trong những giải pháp quan trọng là Nhà nước thực hiện chủ trương đa dạng hóa Hình thức trường học công – tư phát triển mạnh ở Mỹ Đây là loại trường do nhóm giáo viên, phụ huynh, nhóm cộng đồng, doanh nghiệp, trường đại học, viện bảo tàng… thành lập và loại hình này ngày
Trang 10nay phát triển rất mạnh ở Mỹ với hơn 3.000 trường Cơ chế hoạt động của các trường học loại này tự do hơn, linh hoạt hơn và đạt hiệu quả cao hơn
Nhìn lại kinh nghiệm XHHGD ở hầu hết các quốc gia điển hình trên thế giới là đều thực hiện chính sách huy động mọi nguồn lực cho giáo dục, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đa dạng hóa các lực lượng tham gia giáo dục, phát triển nguồn nhân lực tiên tiến cho đất nước và đây đang là xu thế chung được áp dụng rộng rãi trong giáo dục của các nước, trong đó có nước ta
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt trong lịch sử nhân loại, là một trong những lĩnh vực hoạt động xã hội nhằm kế thừa, duy trì và phát triển nền văn hóa
xã hội, văn minh nhân loại
Giáo dục có tính phổ biến và vĩnh hằng trong đời sống, là nhân tố cốt lõi và tồn tại khách quan trong mọi giai đoạn phát triển xã hội
Giáo dục là điều kiện để con người gắn bó với nhau một cách có hiệu quả theo mục tiêu đổi mới điều kiện sinh tồn, bởi vì hành động của bất kỳ cá nhân nào cũng bị hạn chế do khả năng và kinh nghiệm của người đó Chính nhờ giáo dục, kết quả những cố gắng của mọi thế hệ được truyền lại cho thế hệ sau rồi cứ thế tích lũy lại và ngày càng phong phú, phát triển
Giáo dục chuẩn bị cho mỗi cá nhân hòa nhập được vào cộng đồng và khẳng định được vị thế vai trò cộng đồng Giáo dục là con đường đặc trưng cơ bản để loài người tồn tại và phát triển
Là một hiện tượng xã hội đặc biệt, XHHGD được hình thành, tồn tại và phát triển trong môi trường xã hội cụ thể, nên mọi hoạt động giáo dục đều vì sự tiến bộ
xã hội Không có xã hội nào có thể tồn tại mà không có giáo dục và mọi sự giáo dục đều nhằm mục đích phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội và vì vậy cần huy động mọi lực lượng tham gia vào giáo dục dù là trực tiếp hay gián tiếp
Trang 11Mỗi quốc gia đều quan tâm đến việc đổi mới nền giáo dục của mình để phù hợp với thay đổi của xã hội và sự tiến bộ chung Thế giới ngày nay coi giáo dục là con đường cơ bản để khỏi tụt hậu, để tiến lên "Giáo dục là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình từ khoa học đến sản xuất, nhất là trong thời đại công nghiệp hóa"[32, 79].
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản để xã hội phát triển nhanh và bền vững, giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội, văn hóa, kinh
tế, chính trị
Giáo dục được coi là “then chốt” của mọi vấn đề “then chốt” Chiến lược giáo
dục là tiêu điểm của chiến lược kinh tế - xã hội - văn hóa - chính trị Mọi chiến lược về con người, về nguồn nhân lực, về khoa học kỹ thuật, về chấn hưng văn hóa, về xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, quốc phòng an ninh… đều xuất phát
từ chiến lược giáo dục Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về GDĐT là: “Ai cũng được học hành”, Người nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và kêu gọi
“Phải biến dân tộc ta thành một dân tộc thông thái”, “Công nông trí thức hóa” Học sinh phải cố gắng siêng năng học tập “Để làm cho non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp” Điều này chứng minh vai trò của giáo dục là hết sức quan trọng Một lần nữa khẳng định “Giáo dục là cầu nối từ chỗ không có gì đến chỗ cái gì cũng có” (Triết học giáo dục Australia)
1.2.2 Nguồn lực:Nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực Nhân lực
là nguồn lực từ con người như sức mạnh, trí óc Vật lực là nguồn lực từ của cải vật chất Tài lực là nguồn lực từ tiền bạc Con người làm nên tất cả và quyết định tất cả nên gọi là nguồn lực của mọi nguồn lực
1.2.3 Huy động nguồn lực: là các giải pháp, cơ chế, chính sách nhằm tìm
kiếm, khai thác các nguồn lực một cách có lợi nhất
1.2.4 Xã hội hoá
Thuật ngữ “Xã hội hóa” dùng để chỉ chức năng nguyên thủy của giáo dục (Socialization), được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phương cách,
Trang 12các giá trị, các vai trò mà xã hội đã quy ước, tạo cơ sở cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người
Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim (1858 – 1917) là một trong số rất ít người sử dụng thuật ngữ “Xã hội hóa” Ông nêu: “giáo dục vừa có chức năng phân hóa vừa có chức năng xã hội hóa”
Nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách hiểu và định nghĩa XHH khác nhau:
- Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội
- Xã hội hóa là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội
- Đại từ điển Tiếng Việt nêu lên khái niệm: “Xã hội hóa được hiểu là làm cho một việc gì, một cái gì đó thành của chung xã hội”[50, 1848]
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chủ trương cải cách tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì thuật ngữ XHH được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện, hội nghị, hội thảo
Tác giả Lê Quốc Hùng cho rằng: "Xã hội hóa là việc Nhà nước huy động mọi
cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện một số dịch vụ công cộng trên cơ sở có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước"[31, 17]
Bản chất của xã hội hóa là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự là của dân, do dân và vì dân
Công tác XHH còn tương đối mới mẻ, trong mỗi chúng ta và hơn nữa là những người trong ngành giáo dục cần phải nhận thức đầy đủ
Trang 13Xã hội hóa không phải là buông lỏng sự quản lý hoặc từ bỏ chức năng quản lý thống nhất của Nhà nước mà thực chất là tăng cường sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật
Xã hội hóa gắn liền với mở rộng dân chủ, khắc phục dần tính thụ động, thờ ơ, phó mặc cho Nhà nước
Xã hội hóa là làm sao phải thu hút mọi tổ chức trong xã hội, mọi thành phần kinh tế tham gia thực hiện các dự án phát triển của Nhà nước
Quá trình thực hiện chủ trương XHH được Nhà nước Việt Nam tiến hành theo các bước sau:
- Xoá bỏ dần chế độ bao cấp, cơ chế xin cho
- Tách dần hoạt động quản lý kinh doanh khỏi hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan chức năng Nhà nước
- Không ngừng củng cố dịch vụ công và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
Tất cả những đặc điểm trên thể hiện khá đầy đủ về nội dung, vai trò cũng như ý nghĩa của hoạt động xã hội hóa
Như vậy, xã hội hóa là việc Nhà nước huy động mọi cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện một số dịch vụ công cộng, trên cơ sở đó có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước
1.2.5 Xã hội hóa giáo dục
1.2.5.1 Khái niệm xã hội hóa giáo dục
Qua nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn hoạt động giáo dục, cho thấy có
sự khác biệt rõ ràng về ý nghĩa tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hóa công tác giáo dục Thực tế nếu tự thân vận động, giáo dục dù không có định hướng cụ thể rõ ràng vẫn thể hiện tính chất xã hội nhưng không đạt đến trình độ XHH đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó Cần phân biệt XHHGD và xã hội hóa công tác giáo dục
Trang 14Xã hội hóa giáo dục là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội Xã hội hóa công tác giáo dục là duy trì sự cân bằng giữa hoạt động giáo dục và xã hội, XHHCTGD còn là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước
Xã hội hóa giáo dục là cách nói gọn của XHHCTGD với nội hàm là phương thức, cách thức, phương châm, cách làm giáo dục, tổ chức và quản lý giáo dục Đảng ta chủ trương XHHGD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận không thể thiếu trong đường lối giáo dục của Đảng
Đặc điểm của XHHGD là mở rộng quy mô, mở rộng trách nhiệm giáo dục, chuyển hướng từ giáo dục tinh hoa thành giáo dục đại chúng – giáo dục cho mọi người – xây dựng xã hội học tập Hoạt động giáo dục từ chỗ là trách nhiệm của ngành giáo dục, do Nhà nước đảm trách, đến mọi cá nhân, tập thể, cộng đồng cùng chăm lo Điều đó tạo nên động lực mới và sức mạnh tổng hợp, tính công bằng xã hội của GDĐT
Như vậy, XHHGD là quá trình tăng cường tính xã hội của giáo dục lên tầm cao mới, đa phương hóa nguồn lực, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, cộng đồng hóa trách nhiệm dưới sự quản lý của Nhà nước
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng XHHGD là "Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm đối với giáo dục, giáo dục phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để giáo dục kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; xã hội hóa giáo dục có quan hệ hữu cơ với dân chủ hóa giáo dục"[33,17-18]
Xã hội hóa giáo dục đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và thực hiện
từ nhiều thập kỷ qua, hoạt động XHHGD luôn vận động và phát triển
Ở nước ta, XHHGD là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển GDĐT, XHHGD là chủ trương đúng đắn, mang tính chiến lược của Đảng "Xã hội hóa giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức
Trang 15kinh tế - xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm xây dựng
xã hội học tập"[31, 17]
Văn kiện Đại hội IX của Đảng có nêu: "Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích phát triển tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục"[25, 73-74]
Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời”[26, 34- 35]
Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp quy và tổ chức thực hiện rộng rãi chủ trương XHHGD và XHHGD phải được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội tham gia vào giáo dục, làm cho hoạt động giáo dục trở thành hoạt động chung của toàn xã hội
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nêu: "Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng khó khăn, vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên Thực hiện tốt bình đẳng về
cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục"[27, 132]
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: "Đẩy mạnh
xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Tiếp tục
Trang 16mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; từng bước hiện đại hóa cơ sở vất chất kỹ thuật" [28, 117]
Như vậy, xã hội hóa giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế - xã hội (của mọi thành phần, lực lượng xã hội) tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục nhằm xây dựng
từ cấp Trung ương đến địa phương trên cơ sở một chiến lược phát triển giáo dục lâu dài cho cả nước cũng như cho mỗi địa phương, địa bàn dân cư nhất định Chính phủ đã ra Quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 1998 thành lập Hội đồng quốc gia về giáo dục do Thủ tướng làm Chủ tịch với sự tham gia của các Ban, Bộ như: Trưởng ban Khoa giáo Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Kế hoạch và đầu
tư, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ trưởng Trưởng ban Tổ chức Chính phủ, đại diện các nhà giáo và các nhà khoa học Đó là một trong những biểu hiện cụ thể của đặc điểm trên về xã hội hoá công tác giáo dục
+ Đó là việc huy động các lực lượng của cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục Các lực lượng xã hội đó có thể tham gia rộng rãi vào nhiều lĩnh vực hoạt động giáo dục với nhiều hình thức phong phú đa dạng Các lực lượng xã hội
đó là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức, cá nhân của Mặt trận, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Ban đại diện cha mẹ học sinh, Hội khuyến học, Hội chữ thập đỏ, … mọi tổ chức xã hội và cá nhân quan tâm đến sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt gia đình và tộc họ đang ngày càng đóng vai trò trực tiếp quan trọng trong công tác giáo dục Sự tham gia
Trang 17của các lực lượng này sẽ làm cho giáo dục gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích của cộng đồng
+ Đó là việc đa dạng hoá các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường Việc mở rộng các hình thức giáo dục phi chính quy bên cạnh các hình thức giáo dục chính quy, phát triển các loại hình bán công, dân lập, tư thục bên cạnh trường công lập vốn là hình thức độc tôn trước đây, đã mở ra khả năng huy động nhiều lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo dục, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn, thực hiện có hiệu quả hơn nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”
+ Xã hội hoá công tác giáo dục còn là việc mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển Đây không những là chính sách lâu dài trong việc thực hiện các chính sách xã hội của Đảng ta mà còn là biện pháp cần thiết trong giai đoạn mà Nhà nước chưa có đủ kinh phí cần thiết các loại hoạt động giáo dục
+ Xã hội hoá công tác giáo dục không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và vai trò của Nhà nước Trái lại xã hội hoá công tác giáo dục chỉ có thể thực hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và vai trò chủ động, nồng cốt của ngành giáo dục Các địa phương thực hiện tốt công cuộc xã hội hoá công tác giáo dục đều khẳng định điều kiện tiên quyết trên Đây cũng là đặc điểm riêng của xã hội hoá công tác giáo dục ở nước ta hiện nay và sau này
Ở đây cũng cần nói thêm là xã hội hoá công tác giáo dục không phải là cách làm giáo dục chỉ có ở riêng nước ta mà là cách làm giáo dục phổ biến của các nước trên thế giới kể cả những nước công nghiệp hiện đại, có nền kinh tế phát triển cao Tuy nhiên, thuật ngữ họ dùng không phải là “Xã hội hoá công tác giáo dục” mà là “sự tham gia của cộng đồng và giáo dục” Rõ ràng là thuật ngữ
Trang 18được sử dụng rộng rãi trên thế giới này về mặt ngữ nghĩa đã thể hiện được rõ ràng nội dung cơ bản của xã hội hoá công tác giáo dục
- Bản chất của XHHGD là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của
nhân dân, của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân và các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp địa phương và của từng người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế xã hội lành mạnh thuận lợi cho hoạt động giáo dục Là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn lực này
- Nội dung của XHHGD
+ Huy động toàn xã hội, toàn dân tham gia vào các hoạt động phát triển giáo dục về qui mô, số lượng, chất lượng,…, của các cơ sở giáo dục, cộng đồng dân cư, vùng miền, đặc biệt xây dựng XHHT, động viên mọi người học tập thường xuyên, suốt đời
+ Đa dạng hóa các hình thức học tập, loại hình nhà trường
+ Đa dạng hóa các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực)
+ Huy động toàn xã hội xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục
+ Huy động toàn xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào QTGD
Xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân
Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá ở mỗi địa phương, đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân
Trang 19Xã hội hoá và đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, cần phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành trong khuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Đa dạng hoá chính là mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động trên
Xã hội hoá là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hoá, bởi vì giáo dục, y tế, văn hoá là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng với nguồn lực to lớn của toàn dân
Xã hội hoá không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước; trái lại, Nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các hoạt động này, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó
Thực hiện xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước Công bằng xã hội không chỉ biểu hiện về mặt hưởng thụ, tức là người dân được xã hội và nhà nước chăm lo, mà còn biểu hiện cả về mặt người dân đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người, từng địa phương
1.3 Vị trí vai trò của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 20Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục Quốc dân Tầm quan trọng của giáo dục mầm non là ở chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục lâu dài nhằm hình thành và phát triển nhân cách trẻ em Niềm tin
và hy vọng của từng gia đình và cả xã hội về tương lai của trẻ và của đất nước trông chờ ở sự phát triển hàng ngày ở lứa tuổi măng non này Chính vì vậy, hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2 khoá VIII đặt ra mục tiêu đến năm
2020 phải “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình”
Điều 21,22, Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục mầm non “Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến sáu tuổi”, “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một”
GDMN có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là chuẩn bị tiền đề về thể chất, về trí tuệ và về tâm lý, cho trẻ em đến trường phổ thông và cũng tạo ra tiền đề vững chắc cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến GDMN và đã cho ra đời những chủ trương chính sách hợp lý kịp thời nhằm phát triển GDMN trong thời kỳ mới, thời kỳ CNH - HĐH đất nước
Phát triển GDMN là nền tảng chiến lược phổ cập tiểu học của đất nước Nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh lợi ích lâu dài của việc can thiệp giáo dục vào các năm ở tuổi mầm non Trí tuệ, tính cách và hành vi đứa trẻ đã được hình thành ở chính những năm đầu cuộc đời con người Những can thiệp khi trẻ còn nhỏ có thể thúc đẩy các em đi học và giảm tỷ lệ bỏ học, tỷ lệ lưu ban tức là chất lượng học tập của các em sẽ vững chắc hơn
Chăm sóc sức khoẻ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non là công việc vô cùng quan trọng vì ở lứa tuổi mầm non mà bị suy dinh dưỡng thường xuyên và sức khoẻ kém hơn ở lớp tiểu học thì trẻ sẽ không đi học đều dẫn đến tình trạng lưu ban, bỏ học
Trang 21Khoa học đã chứng minh rằng: "Trẻ em lứa tuổi mầm non (từ 0 đến 6 tuổi) có sự tăng trưởng rất lớn lao về cơ thể, trí tuệ và tình cảm Chẳng hạn có tới 50% sự phát triển trí tuệ của con người được diễn ra trong lứa tuổi từ bào thai đến 4 tuổi,
từ 4 tuổi đến 8 tuổi đạt được 30% nữa và tiếp tục hoàn thiện đến tuổi trưởng thành nhưng tốc độ chậm dần sau 18 tuổi"
1.4 Lý luận về xã hội hóa giáo dục và huy động nguồn lực thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non ở Việt Nam
1.4.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa giáo dục
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành
“sắc lệnh 146/SL ngày 10 tháng 8 năm 1946”, trong đó khẳng định “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Người kêu gọi “Toàn dân tham gia diệt giặc dốt theo phương châm: Người biết dạy cho người chưa biết …ai cũng phải học” Người xác định ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục nước nhà là: “Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ” Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII)
về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá có nêu: "Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời Phê phán thói lười học Mọi người chǎm lo cho giáo dục Các cấp ủy và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm trách nhiệm góp phần phát triển
sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục - đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể"[24, 32]
Với phương châm này, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, mọi gia đình và mọi cá nhân cùng với ngành GDĐT chăm lo xây dựng sự nghiệp giáo dục theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “Xây dựng môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội”
Trang 22Đại hội X của Đảng (4/2006) khẳng định: "Thực hiện XHHGD, huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp … để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội"[26, 97]
Văn kiện Đại hội XI đã chỉ rõ: "Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hoá giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong
xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời"[27, 218]
Văn kiện Đại hội XII đã đề ra: "Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo" [28, 117]
Quan điểm của Đảng được thể hiện bằng pháp luật của Nhà nước, cơ sở pháp
lý thực hiện XHHGD đó chính là Luật Giáo dục Điều 12 của Luật Giáo dục (năm 2005) quy định: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục
Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn”
Hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về XHHGD nhằm khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình phát triển GDĐT, mang tính chất lâu dài, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển giáo dục, làm cho giáo dục phục vụ tốt mục tiêu KT-XH của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng
1.4.2 Mục tiêu của xã hội hóa giáo dục
Trang 23Mục tiêu cơ bản của XHHGD đã được khẳng định tại Hội nghị Ban chấp hành
TW Đảng lần thứ IV – khóa VIII, ngày 14 tháng 01 năm 1993: “Huy động toàn
xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước” Mục tiêu được thể hiện những vấn
đề cơ bản sau:
- Trước hết làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của GDĐT trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước nói chung, cũng như trong phát triển KT-XH của mỗi địa phương, mỗi gia đình và toàn cộng đồng Trên cơ sở đó hình thành hệ tư tưởng xã hội về GDĐT theo quan điểm, đường lối của Đảng, coi
“Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”
- XHHGD là tạo nhiều nguồn lực cùng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, trước hết là nguồn lực con người Giáo dục không còn bó hẹp trong thế đơn độc của nhà trường mà có sự cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt trong giáo dục đạo đức và rèn luyện ý thức công dân cho học sinh
- XHHGD là nhằm thực hiện phương châm giáo dục cho mọi người Trên cơ sở khai thác và phát huy tối đa các điều kiện và khả năng đáp ứng của xã hội cho giáo dục, vận động mọi thành viên trong cộng đồng, không phân biệt thành phần, lứa tuổi, vùng miền … tham gia học tập; học ở nhà trường, học ở gia đình, học ở ngoài xã hội thông qua các hình thức chính quy, không chính quy nhằm đáp ứng yêu cầu: học để biết, học để làm, học để chung sống, để xây dựng sự phồn vinh của đất nước, dân tộc
- XHHGD đồng thời là chủ trương và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả cuộc vận động dân chủ hóa trong GDĐT Khi mà giáo dục không còn bó hẹp trong giới hạn trách nhiệm của nhà trường, vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và các tổ chức quần chúng khác có ảnh hưởng nhất định đối với giáo dục Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể quần chúng, các lực lượng xã hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh không khí dân chủ trong giáo dục, từ đó tạo thêm động lực để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, giáo dục trong nhà trường nói riêng
Trang 24Có thể nói: Mục tiêu của xã hội hóa giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc
dân dưới sự quản lý của Nhà nước
1.4.3 Nội dung của công tác xã hội hóa giáo dục mầm non
Xã hội hóa GDMN thực chất là một quá trình hình thành nhân cách trẻ nhỏ từ 0-6 tuổi Nó diễn ra theo con đường xã hội hóa cá nhân, trong đó trẻ tiếp thu các chuẩn mực, các giá trị xã hội và có sự luyện tập, học hỏi dưới sự hướng dẫn của giáo viên và những người lớn khác Qua đó trẻ tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống quan hệ xã hội với người khác
Như vậy mối quan hệ xã hội hóa cá nhân, phát triển nhân cách và giáo dục trong bậc MN có nhiều nét tương đồng Bản thân quá trình chăm sóc giáo dục trẻ
em MN là một quá trình mà trong đó mục đích, nội dung phương pháp và điều kiện như những nhân tố cấu thành mang tính tích hợp Trẻ MN với tư cách là đối tượng chăm sóc – giáo dục được sự chăm lo của giáo dục nhà trẻ, lớp mẫu giáo và của giáo dục gia đình một cách tự giác lẫn tự phát Do đặc điểm của lứa tuổi mà ở bậc học MN chưa cần có sự đánh giá bằng bằng cấp Nói khác đi, đó là bậc học không có sự công nhận bằng cấp mà là sự phát triển tự do và tích cực của mỗi đứa trẻ
Xã hội hóa GDMN được thực hiện qua các môi trường, trong các quan hệ,
ở đó có sự hỗ trợ đắc lực và đầy sự ưu tiên của người lớn về điều kiện phương tiện và với những tri thức, kinh nghiệm chăm sóc – giáo dục đối với trẻ MN
Những biểu hiện trên cho thấy, chất lượng và hiệu quả của quá trình xã hội hóa GDMN phụ thuộc vào việc lựa chọn phương thức hoạt động chăm sóc – giáo dục đối với trẻ nhỏ sao cho vừa khai thác tối ưu các nguồn lực đảm bảo mục tiêu phát triển GDMN về cả quy mô và chất lượng, đồng thời vừa tạo ra những cơ hội nhiều mặt để phát triển các tiềm năng của trẻ
Vận dụng phương thức XHH trong nuôi dạy trẻ: Đây là hoạt động chủ yếu trong các nhà trường MN và ở các nhóm trẻ, lớp mãu giáo dân lập và tư thục Ở các cơ sở nuôi dạy trẻ này mặc dù đã đặt ra việc nuôi dạy trẻ có mục đích, có kế
Trang 25hoạch, có trang thiết bị và phương tiện, song không tránh khỏi việc thiếu vận dụng, liên hệ thực tiễn hoặc đưa trẻ xâm nhập vào môi trường, tiếp cận với vật thật, người thật và ít chú trọng đến vai trò chủ thể của trẻ em, phần lớn các giờ dạy trẻ, cô giáo thường thiên về giải thích, truyền đạt bằng lời, hoặc chỉ truyền thụ lý thuyết mà ít gắn với thực tiễn thực hành Đồng thời ít đề cặp đến vai trò của mỗi đứa trẻ trong nhóm, lớp học vì thế trẻ nhỏ ít tự nhận ra chính mình và không phát huy tính chủ động sáng tạo
Khắc phục những thiếu khuyết nói trên cần tổ chức hoạt dộng GDMN theo phương thức XHH mà trọng tâm của nó là đưa trẻ thâm nhập vào thực tiễn, vào các hoạt động Trong đó hàm chứa các nội dung thể hiện qua những việc thật, người thật Chẳng hạn tổ chức các hoạt động vui chơi, trong đó trẻ được đóng vai nào đó để trẻ cảm nhận được các giá trị nhân vật tạo cơ hội cho trẻ cảm nhận bản thân mình
Trong những năm gần đây công tác nuôi dạy trẻ chủ yếu diễn ra ở các cơ
sở GDMN đã cố gắng vận dụng, tổ chức triển khai các hoạt động nuôi dạy một cách phù hợp, phong phú, có sự đổi mới về nội dung và hình thức tổ chức
Theo các công trình nghiên cứu và kết luận của công tác chỉ đạo ngành MN thì các hình thức nuôi dạy nói trên được thực hiện thông qua hệ thống chương trình chăm sóc nuôi dạy trẻ mầm non là:
- Chương trình chăm sóc sưc khỏe ban đầu, trẻ được khám bệnh định kỳ hàng tháng, hàng quý ở các CSGDMN địa phương
- Chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống 6 bệnh theo quy định của
Bộ y tế đã từng được triển khai một cách đầy đủ và thường xuyên
- Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và chương trình dinh dưỡng bổ sung, được quán triệt đên mọi trẻ em, đặc biệt được chú trọng hơn ở những vùng khó khăn, kinh tế xã hội kém phát triển
- Chương trình chống nhiễm khuẩn đường hô hấp trẻ em, phòng chống khô mắt do thiếu vitamin A, phòng chống bệnh bướu cổ…
- Chương trình lồng ghép kích thích trẻ em phát triển
Trang 26- Chương trình giáo dục các bậc cha mẹ về kiến thức, phương pháp nuôi dạy trẻ khoa học
Những chương trình nói trên đã từng được triển khai và đem lại những hiệu quả, làm chuyển biến về GDMN trong những năm qua Kết quả đạt được trong quá trình thực hiện các chương trình nói trên phụ thuộc một phần vào việc vận dụng phương thức XHHGD ở bậc mầm non
Chất lượng chăm sóc nuôi dạy trong các nhóm trẻ gia đình ngày càng có nhiều tiến bộ hơn, đạt được những kết quả nhất định, góp phần tạo nên GDMN nói chung Kết quả điều tra cho thấy nguyên nhân đàu tiên là những người chăm
lo giáo dục trẻ ở phạm vi gia đình đã từng bước nhận thức rõ hơn về vai trò vị trí của GDMN, có những tri thức nuôi dạy mang tính khoa học, có màu sắc sư phạm nuôi dạy trẻ hơn, đặc biệt họ thấm nhuần hơn các quyền cơ bản của trẻ, trong đó
có quyền được chăm sóc giáo dục Song trong quá trình tiến hành nuôi dạy trẻ mới quan tâm đến việc cho trẻ ăn đủ, ăn no là chủ yếu chứ chưa tính đến một cách cụ thể về đủ chất dinh dưỡng cho trẻ về bữa ăn hàng ngày và chưa vận dụng cách chế biến thức ăn để dảm bảo dinh dưỡng cho trẻ Cách xử lý các bệnh thông thường của trẻ còn yếu kém
Các gia đình và cộng đồng đã nhận thức được rằng, cần phải: “dạy con từ thuở cò thơ”, dạy từ cách ăn, cách ở thông qua việc hướng dẫn, tập rèn cho trẻ cách ứng xử lễ phép, cách sinh hoạt gọn gàng, nề nếp, ngăn nắp, mạnh dạn và quan tâm tới mọi người, rèn luyện trí thông minh trong việc ứng xử với các tình huống khác nhau sao cho có hiệu quả nhất Song, còn có một bộ phận cha mẹ có những khiếm khuyết, do quan niệm sai lệc rằng, cần dạy trước cho trẻ biết dọc, biết viết, học các chữ cái và biết làm các phép tính trừ cộng, nhân chia ở dạng đơn giản nhất Như vậy là đốt cháy gia đoạn phát triển của trẻ, một vấn đề cần khắc phục kịp thời Đó là trách nhiệm của những nhà chỉ đạo và nghiên cứu khoa học GDMN hiện nay
Trong giáo dục gia đình, đối với trẻ mầm non còn một số vấn đề cần đặt ra là phải hoàn thiện, thậm chí phải cải thiện triệt để môi trường văn hóa gia đình Giờ đây đời sống của các gia đình đã được cải thiện về mức sống vật chất, song trong
Trang 27đời sống tinh thần thì chưa có những đổi mới tương ứng Có không ít gia đình do quá tôn vinh hoặc quá “say đắm” với những giá trị vật chất mà quên đi những giá trị tinh thần trong sáng có lợi cho việc giáo dục trẻ em, nhất là tuổi mầm non Nhiều ông bố bà mẹ thường vô tình hay cố ý cho rằng “trẻ nhỏ biết gì” Sự không tôn trọng thiếu quan tâm và không nắm vững đặc điểm tâm lý, nhận thức của trẻ thường dẫn đến những hậu quả xấu trong việc giáo dục con cái và sự trưởng
thành của bản thân đứa trẻ
1.4.4 Huy động nguồn lực thực hiện XHHGDMN
Đây cũng là một hoạt động trọng tâm của xã hội cho GDMN nhằm giải quyết mâu thuẩn, sự bất cập giữa việc tăng số lượng trẻ đến trường và những thiếu thốn về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên Mặt khác, thực hiện chủ trương
đa dạng hóa - phát triển nhóm trẻ, lớp mẫu giáo gia đình dạng dân lập, tư thục nhưng trang thiết bị, cơ sở vật chất cho việc nuôi dạy còn quá nghèo nàn, thiếu thốn, không đạt chuẩn qui định về điều kiện nuôi dạy
Huy động khai thác nguồn lực vật chất ở đây không đơn giản chỉ là sự đóng góp tài chính của các gia đình, của địa phương cho GDMN mà phải coi đó là đầu
tư cho phát triển Vì thế, cần phải có một qui hoạch khai thác, tính toán giữa khả năng nguồn lực và mức độ cần đầu tư cho GDMN trong một tổng thể chung của
sự phát triển kinh tế xã hội và phát triển giáo dục ở phạm vi từng địa phương và
cả nước, đồng thời phải có một cơ chế, chính sách cụ thể về huy động và sử dụng nguồn lực do kết quả của việc thực hiện XHHGDMN đem lại
Trong thực tiễn, những năm gần đây việc đầu tư ngân sách Nhà nước cho GDMN chưa tương xứng với sự phát triển của nó, đồng thời đang tồn tại những bất hợp lý trong việc đầu tư nói trên Việc phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dục trong những năm gần đây cho thấy, GDMN chỉ được phân bổ hàng năm khoảng từ 5% đến 6% tổng kinh phí Nhà nước dành cho GDĐT, với nguồn đầu tư nói trên chỉ đủ chi phí đảm bảo được 50% nhu cầu cần thiết, tối thiểu cho GDMN hiện tại, trong đó đáng lưu ý ngân sách nhà nước không dành phần trăm nào cho GDMN ngoài công lập, kể cả những nơi khó khăn, vùng xa, vùng sâu Vì thế, để
Trang 28đảm bảo cho các hoạt động chăm sóc của các cơ sở GDMN cần thiết phải có sự tham gia đóng góp các nguồn lực từ việc XHHGD trong phạm vi GDMN
Một thực tế cho thấy phải dành phần lớn các nguồn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học Tuy nhiên, nước ta còn ở diện nước nghèo, kinh phí nhà nước dành cho lĩnh vực này còn hạn chế Tài liệu,
đồ dùng dạy học, đồ chơi, các phương tiện nuôi – dạy khác hầu như còn rất nghèo nàn và lạc hậu
Những bất cập nói trên đòi hỏi nguồn đầu tư rất lớn mới có thể đáp ứng yêu cầu phát triển GDMN trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì thế, sự cần thiết XHH trong việc huy động nguồn lực cho GDMN là một tất yếu hiện nay
Việc huy động nguồn lực cho GDMN trong những năm qua nhờ sự hỗ trợ phần lớn từ phía ngoài ngân sách nhà nước, đó là sự đóng góp của gia đình và địa phương lấy từ nguồn tài chính địa phương, của một số cơ quan, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh
Nhiều địa phương đã huy động đóng góp tài chính để chi trả lương cho cô nuôi dạy trẻ ngoài biên chế và xây dựng trường sở lớp học
Thực hiện XHHGD trong GDMN trong những năm gần đây đã đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng đội ngũ giáo viên mầm non cả về mặt chất lượng lẫn số lượng Ngoài việc động viên thường xuyên về mặt tinh thần thì sự hỗ trợ vật chất là đáng kể trong đó tạo nguồn kinh phí chi trả lương, phụ cấp hàng tháng cho giáo viên trường mầm non công lập ở diện ngoài biên chế với số tiền không nhỏ Nhiều xã –thị trấn do thiếu giáo viên đã “tự tạo” cho đi bồi dưỡng ngắn hạn
để trở thành cô nuôi dạy trẻ
XHH là phương thức hữu hiệu để phát triển giáo dục, đặc biệt là đối với giáo dục mầm non do đặc trưng của ngành học này Nó là điều kiện phương tiện
có thể đi sâu vào quá trình giáo dục, quá trình nuôi - dạy trẻ Kết quả đó sẽ là một
sự chuẩn bị về chất lượng cho trẻ tiếp tục vào học ở trường phổ thông, đúng với vai trò chức năng của GDMN
Trang 29Để thấy rõ vai trò của việc huy động nguồn lực chúng ta phải xác định được chủ thể các trường mầm non là HT; chủ thể của các lớp là cô nuôi dạy trẻ, PGDĐT chỉ hỗ trợ về CSVC, tài chính, chỉ đạo chuyên môn; cha mẹ học sinh hỗ trợ về tài lực, vật lực, cùng nhà trường giáo dục thêm cho các cháu ở gia đình về nhân cách, kỹ năng sống để các cháu đủ điều kiện vào lớp một
1.5 Con đường thực hiện xã hội hóa giáo dục
1.5.1 Dân chủ hóa quá trình tổ chức thực hiện XHHGD
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng mối quan hệ thật tốt, đoàn kết chặt chẽ giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường với nhân dân”, “Thầy trò phải thật thà đoàn kết và dùng cách dân chủ, thật thà phê bình và tự phê bình … dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò”
Dân chủ phải đảm bảo và tạo điều kiện để mọi người nắm bắt thông tin về giáo dục, được tham gia đóng góp ý kiến, công sức và tiền của vào sự nghiệp xây dựng
và phát triển giáo dục
Dân chủ hóa còn được thể hiện trong việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển giáo dục Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội cũng như các cấp lãnh đạo từ TW đến địa phương phải phát huy tính dân chủ, đem trí tuệ, tài năng của dân để phục vụ và phát triển sự nghiệp GDĐT
Dân chủ hóa trong nhà trường thể hiện qua việc công khai hóa các mục tiêu, chương trình, nhiệm vụ nhà trường, thực hiện những nội dung công tác của ngành, tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, Ban đại diện cha mẹ học sinh
Dân chủ hóa trong nhà trường còn phải đảm bảo quyền và nghĩa vụ của học sinh Học sinh cũng được tham gia vào các hoạt động của nhà trường, được đóng góp ý kiến đối với người dạy bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng phải đảm bảo nguyên tắc
Bác Hồ kính yêu của chúng ta có dạy: “Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò”, hay như câu nói của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò”
Trang 301.5.2 Đa dạng hóa giáo dục và đào tạo
Đa dạng hóa GDĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, cung cấp nguồn nhân lực phong phú nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Mô hình trường lớp hiện nay không chỉ dừng lại ở dạng công lập mà còn có thêm nhiều mô hình giáo dục mới như: Dân lập, tư thục, bán công, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - GDTX Trong những năm gần đây có thêm mô hình học tập mới là các trung tâm học tập cộng đồng được hình thành và phát triển rộng khắp trên cả nước tạo điều kiện để mỗi người dân học tập và kịp thời nắm bắt thông tin Bên cạnh đó còn có nhiều dạng đào tạo, liên kết mang tầm vóc quốc tế đã xuất hiện ở nước ta phần nào đáp ứng được nhu cầu học tập và chọn lựa của mọi người dân
1.5.3 Xây dựng và phát triển các tổ chức khuyến học
Thông qua các tổ chức khuyến học đã động viên và khích lệ rất lớn đối với người học và là động cơ giúp người học có thêm ý chí để nghiên cứu và học tập
Khuyến học là cách huy động sự đóng góp của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển giáo dục Quỹ giáo dục, quỹ hỗ trợ giáo dục, quỹ bảo trợ học đường, quỹ tài năng trẻ, quỹ học bổng … là kết quả của phong trào khuyến học ở nhiều địa phương trong cả nước trong đó phải kể đến vai trò của hội khuyến học, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước đóng góp và đóng vai trò rất quan trọng góp phần không nhỏ làm cho giáo dục nước nhà phát triển
1.5.4 Xây dựng và đẩy mạnh hoạt động ba môi trường giáo dục
Giáo dục phát triển bền vững không thể thiếu và tách rời 3 môi trường giáo dục: Gia đình – nhà trường – xã hội
Môi trường giáo dục nhà trường là trung tâm, thông qua giáo dục trong nhà trường sẽ góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người Nhà trường không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức về văn hóa, mà còn rèn luyện
Trang 31và phát triển nhân cách, tư duy sáng tạo, hành vi ứng xử giúp các em trở thành một con người phát triển toàn diện Tạo được môi trường giáo dục trong nhà trường tốt, học sinh sẽ hưởng thụ được những giá trị văn hóa tốt đẹp, giàu tính nhân văn
Môi trường gia đình là nhân tố rất quan trọng có ảnh hưởng và góp phần không nhỏ đến vấn đề hình thành và phát triển nhân cách học sinh Môi trường gia đình được giáo dục tốt sẽ là cơ sở giúp cho học sinh dễ hòa nhập với cộng đồng, tiếp thu và nắm bắt tri thức một cách hiệu quả nhất và đồng thời hình thành hành vi ứng xử cho các em sau này
Môi trường giáo dục xã hội là hết sức phức tạp, trong đó đan xen những cái tốt, cái xấu, cái tích cực và cái tiêu cực… làm ảnh hưởng không nhỏ tới hành vi ứng
xử, đạo đức học sinh Xây dựng môi trường giáo dục xã hội đòi hỏi phải thông qua các tổ chức đoàn thể nhằm giúp học sinh xa lánh và loại trừ những cám dỗ, những tiêu cực của xã hội và phải được tổ chức thường xuyên nhằm hướng các
em đến cái thiện, cái tốt
Ba môi trường giáo dục là ba nhân tố cơ bản góp phần hoàn thiện nhân cách,
tư duy sáng tạo, cũng như quá trình lĩnh hội và tiếp thu tri thức của học sinh Giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần làm cho giáo dục phát triển một cách nhanh chóng và bền vững
1.5.5 Tổ chức Đại hội giáo dục các cấp
Tổ chức Đại hội giáo dục các cấp do Bộ GDĐT, Công đoàn giáo dục Việt Nam chỉ đạo từ tháng 10 năm 1990 bằng Thông tư liên tịch số 35/TTLT, thông tư đề cập:
“Đại hội giáo dục tổ chức theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân và được tổ chức vào năm học đầu tiên của nhiệm kỳ đó Đại hội giáo dục ở mỗi địa phương do cấp
Ủy và Chính quyền ở đó chủ trì, tổ chức, nhưng các đồng chí thủ trưởng cơ quan quản lý giáo dục và Chủ tịch công đoàn giáo dục cùng cấp phải tích cực chủ động tham mưu để Đại hội giáo dục đạt kết quả cao”
Đại hội giáo dục đặt ra 3 yêu cầu cơ bản:
Trang 32Một là, cụ thể hóa mục tiêu đào tạo, nguyên lý giáo dục của Đảng và kế hoạch
phát triển giáo dục của Nhà nước và mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trong kế hoạch phát triển KT- XH của địa phương
Hai là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng kế
hoạch của các nhà trường trên địa bàn; động viên được sức mạnh tổng hợp của nhà trường - gia đình - xã hội để chăm lo việc học tập, giáo dục đạo đức, lao động, hướng nghiệp cho học sinh, xây dựng CSVC, tôn tạo cảnh quan môi trường
sư phạm, chăm lo đời sống cán bộ, giáo viên…
Ba là, tạo ra động lực kích thích tinh thần lao động của đội ngũ trí thức ngành
GDĐT, động viên học sinh chăm ngoan học giỏi, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nền kinh tế địa phương
Thông qua Đại hội giáo dục nhiều địa phương đã xây dựng được những cơ chế chính sách mới như: vay vốn ngân hàng để xây dựng CSVC trường học, các chính sách ưu đãi đối với giáo viên vùng sâu, vùng xa… Đại hội giáo dục là kết quả của quá trình thực hiện phương châm “Dân biết – dân bàn – dân làm – dân kiểm tra” trong giáo dục, đảm bảo tính dân chủ
1.5.6 Củng cố hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh
Ban đại diện cha mẹ học sinh là một tổ chức không thể thiếu trong nhà trường Ban đại diện cha mẹ học sinh tham gia vào các công tác của nhà trường, cùng chia sẻ gánh nặng với nhà trường trong việc thi đua khen thưởng, trang bị thêm trang thiết bị phục vụ dạy học, giáo dục đạo đức học sinh, xây dựng và hoàn thiện nhân cách học sinh
Xã hội hóa giáo dục thông qua con đường Đại hội để bầu ra Ban đại diện cha
mẹ học sinh bước đầu được triển khai trong nhà trường và đã mang lại kết quả đáng kể Thông qua Ban đại diện cha mẹ học sinh giúp cho cha mẹ học sinh nhận thức được mục tiêu của GDĐT đồng thời góp tay cùng với nhà trường bàn các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm, phòng chống các tệ nạn xã hội xâm nhập học đường
Trang 331.6 Yếu tố ảnh hưởng việc huy động nguồn lực xã hội thực hiện XHHGDMN
1.6.1 Yếu tố khách quan: Bao gồm chủ chương, chính sách của Đảng và
nhà nước về GD ĐT, điều kiện kinh tế địa phương Yếu tố về tài chính, cơ sở vật chất Yếu tố hệ thống thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin Yếu tố nhận thức của cộng đồng xã hội, của cha mẹ học sinh
1.6.2 Yếu tố chủ quan: Bao gồm năng lực và phẩm chất của người CBQL
chưa nhận thức đúng về XHHGDMN, chưa hiểu đúng mục tiêu XHHGDMN, chưa có phương pháp phối hợp trong huy động nguồn lực; chưa thực hiện đánh
giá, tổng kết XHHGDMN Yếu tố chất lượng GV, yếu tố chất lượng học sinh
- Huy động toàn xã hội, toàn dân tham gia vào các hoạt động phát triển giáo dục về qui mô, số lượng, chất lượng ,… của các cơ sở giáo dục, cộng đồng dân cư, vùng miền
- Xây dựng XHHT, động viên mọi người học tập thường xuyên, suốt đời
- Đa dạng hóa các hình thức học tập, loại hình nhà trường Đa dạng hóa các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực)
- Huy động toàn xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục, xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục
- Xác định rõ trong khi triển khai thực hiện huy động nguồn lực thực hiện XHHGDMN, luôn chịu ảnh hưởng tác động của các yếu tố khách quan (điều kiện kinh tế, nhận thức của cộng đồng… ) và yếu tố chủ quan (vai trò của CBQL, trình
độ và năng lực của giáo viên… )
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC
XÃ HỘI THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC MẦM NON HUYỆN
2.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện Mang Thít nằm phía Đông Bắc của tỉnh Vĩnh Long, ven sông Cổ Chiên với chiều dài qua huyện khoảng 30km, trung tâm huyện cách Thành phố Vĩnh Long 22km theo đường tỉnh lộ 903 và Quốc lộ 53 về hướng Tây Bắc Phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Bến Tre; phía Nam giáp huyện Tam Bình, huyện
Vũng Liêm; phía Tây giáp huyện Long Hồ
Huyện có di tích Thánh Tịnh Ngọc Sơn Quang ở xã Tân An Hội, được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào ngày 31 tháng 8 năm 1998
Toàn huyện có 54 trường gồm: 13 trường MN-MG công lập, 01 trường
MN Tư thục, 26 trường tiểu học, 11 trường THCS, 03 trường THPT phân bố đều
ở 13 xã, thị trấn đã tạo điều kiện thuận lợi thu hút học sinh trong độ tuổi đến trường
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi tạo điều kiện cho kinh tế huyện phát triển nhất là trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ…
2.1.1.2 Diện tích, dân số
Toàn huyện có diện tích tự nhiên 159,85 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 113,02 ha; dân số 100.285 người; mật độ dân số 627 người/km2
Trang 35Huyện có 01 Thị trấn Cái Nhum và 12 đơn vị hành chính cấp xã là: An Phước, Bình Phước, Chánh An, Chánh Hội, Hòa Tịnh, Long Mỹ, Mỹ An, Mỹ Phước, Nhơn Phú, Tân An Hội, Tân Long, Tân Long Hội trong đó có 04 xã đạt chuẩn Nông thôn mới là Long Mỹ, Tân Long, Chánh Hội, An Phước Đường giao thông trong huyện khá thuận lợi, xe bốn bánh đều đến được trung tâm các xã, nhiều tuyến lộ liên ấp đi lại bằng xe hai bánh cả hai mùa mưa nắng tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh và phụ huynh đến trường
2.1.1.3 Tình hình kinh tế – xã hội
Năm 2016, nhìn chung tình hình kinh tế của huyện tiếp tục tăng trưởng so cùng
kỳ Gía trị sản xuất ngành nông nghiệp – thủy sản tăng 0,3%, ngành CN-TTCN tăng 160,96% Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 9,2% và doanh thu dịch vụ tăng 11,4%, thu ngân sách đạt khá Các chính sách an sinh xã hội được các ngành các cấp triển khai thực hiện kịp thời, đúng đối tượng; công tác đào tạo nghề giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn được quan tâm thực hiện khá tốt Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng các ngày lễ lớn Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng chống dịch bệnh thường xuyên thực hiện có hiệu quả Tình hình an ninh trật tự ổn định không phát sinh các vụ việc khiếu nại, khiếu kiện đông người và vượt cấp Kinh tế chủ yếu của huyện là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - Nông nghiệp - Thương mại và dịch vụ Năm
2016 tốc độ tăng trưởng GDP của huyện là 12%, thu nhập bình quân đầu người đạt 29,05 triệu đồng – đạt mức khá của tỉnh
Về công nghiệp: Tình hình sản xuất CN-TTCN trong năm có nhiều thuận lợi,
ngành công nghiệp đóng – sửa chữa tàu thủy, may mặc tiếp tục phát triển đặc biệt
là ngành nghề sản xuất gạch – gốm từng bước được phục hồi; hiện có 538 cơ sở sản xuất gạch với 576 lò và 11 cơ sở gốm hoạt động Bên cạnh đó còn phát sinh thêm 03 Doanh nghiệp mới đi vào hoạt động năm 2016 được tỉnh giao về cho huyện tính toán giá trị sản xuất, từ đó đẩy cao giá trị sản xuất của ngành trong năm
Trang 36Hiện nay toàn huyện có 1.598 cơ sở sản xuất CN-TTCN vừa và nhỏ (02 công ty cổ phần, 25 công ty TNHH, 02 hợp tác xã, 25 DNTN, 927 cơ sở sản xuất gạch ngói và 653 cơ sở hoạt động ngành nghề khác) Tổng giá trị sản xuất cả năm
là 2.003 tỷ đồng đạt 172,59% KH, tăng 160,96% so năm 2015
Về thương mại, dịch vụ: Hoạt động kinh doanh thương mại trên địa bàn huyện
tiếp tục phát triển ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân Tổng mức bán lẻ hàng hóa cả năm là 2.026 tỷ đồng, đạt 89,9% KH, tăng 9,2% so cùng kỳ và Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 495,400 tỷ đồng, đạt 99,5% KH, tăng 11,4% so cùng kỳ
Về tài chính: Tổng thu ngân sách huyện năm 2016 là 397,455 tỷ đồng, đạt
113,73% KH, trong đó thu theo chỉ tiêu tỉnh giao 63,950 tỷ đồng, đạt 116,27%
KH
Tổng chi ngân sách huyện năm 2016 là 300,138 tỷ đồng đạt 111,34%KH Chi ngân sách xã – tt 10 tháng đạt 55,592 tỷ đồng, ước chi cả năm đạt 64,518 tỷ đồng, đạt 100% KH
Về nông nghiệp – thủy sản: Tổng giá trị sản xuất ngành NN&TS năm 2016 đạt
2.201 tỷ đồng, đạt 96,9% KH, tăng 0,3% so năm 2015, trong đó: giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp 1.885 tỷ đồng, đạt 96,3% KH, giảm 0,5% so cùng kỳ; giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 315,5 tỷ đồng đạt 100% KH, tăng 5,4% so cùng kỳ
Xây dựng cơ bản: Tổng nguồn vốn đầu tư XDCB năm 2016 trên địa bàn
huyện là 68,780 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách huyện 31,932 tỷ đồng, vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách tỉnh 36,848 tỷ đồng Lũy kế từ đầu năm đến nay đã giải ngân 66,356 tỷ đồng, đạt 94,48% KH (giải ngân vốn huyện 33,431 tỷ đồng, đạt 104,69% và vốn tỉnh 32,925 tỷ đồng đạt 91,86%)
Tiếp tục thực hiện phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, các địa phương thực hiện được 01 công trình đường nhựa chiều dài 635m, 06 công trình đường đá tổng chiều dài 3.213m, 19 công trình đường đan tổng chiều dài 10.445m và 01 cầu bê tông chiều dài 34m tổng kinh phí thực hiện 6,602 tỷ đồng
Trang 37trong đó nhân dân đóng góp 3,002 tỷ đồng và hiến 16.000m2 đất, nguồn vốn còn lại do ngân sách huyện đối ứng
Điện: Từ đầu năm đến cuối năm 2016 gắn mới điện kế cho 50 hộ, chuyển
từ câu đuôi sang điện kế chính cho 278 hộ Tính đến nay toàn huyện có 26.617 hộ dân có điện sử dụng chiếm tỷ lệ 99,9% tổng số hộ toàn huyện, trong đó tỷ lệ hộ
có điện kế chính chiếm 98,34% (26.201 hộ)
Bên cạnh đó tình hình chính trị quốc phòng an ninh ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, dân chủ cơ sở tiếp tục được phát huy cùng với phong trào toàn dân xây dựng cuộc sống mới không ngừng phát triển Công tác cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần giải quyết nhanh thủ tục hành chính cho các tổ chức và nhân dân
Tất cả những điều kiện về tự nhiên, sự phát triển KT- XH, sự ổn định chính trị về quốc phòng, an ninh và cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với sự nghiệp giáo dục, sẽ là bước đột phá để ngành GDĐT huyện Mang Thít thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, … Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo
2.1.2 Khái quát về tình hình ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Mang Thít
2.1.2.1 Điều kiện và thành tựu về quy mô phát triển Giáo dục và Đào tạo
Huyện Mang Thít là nơi có truyền thống hiếu học rất lâu đời của tỉnh Vĩnh Long Là địa phương đi đầu của ngành giáo dục tỉnh nhà nên ngành giáo dục của huyện Mang Thít đạt rất nhiều thành công Chủ trương “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” theo Nghị quyết TW 4 khóa VII về công tác GDĐT
là phù hợp với yêu cầu mới và hợp lòng dân, đáp ứng với công cuộc đổi mới đất nước và đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Vĩnh Long nói chung và của
Trang 38huyện Mang Thít nói riêng Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định về phát triển GDĐT: “Là một trong những động cơ quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Với sự quan tâm hỗ trợ của Sở GDĐT Vĩnh Long, nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của GDĐT, Đảng bộ, chính quyền, ngành giáo dục và nhân dân huyện Mang Thít đã không ngừng phấn đấu đưa giáo dục huyện lên tầm cao mới và góp phần thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế của địa phương
Trước hết là thành tựu về quy mô phát triển chung của ngành từ năm 2011 đến nay, hệ thống giáo dục tiếp tục được điều chỉnh nhất là sau Đại hội Đảng lần thứ
XI, Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần 8 khóa XI đã ban hành nghị quyết số
29 về đổi mới căn bản và toàn diện GDĐT, quy mô phát triển giáo dục đào tạo cơ bản khắc phục được những yếu kém trong công tác quản lý, phát triển học sinh,
sự bất hợp lý giữa cung và cầu trong công tác GDĐT, từng bước đã đi vào ổn định và phát triển
Phòng GDĐT huyện Mang Thít đã quan tâm và chỉ đạo kịp thời, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển GDĐT cụ thể như sau:
- Mạng lưới các trường mầm non, phổ thông, các cơ sở đào tạo đã và đang
được sắp xếp lại phù hợp với quy mô phát triển KT-XH địa phương, đến nay 100% xã -tt đều có trường tiểu học; 11/13 xã thị trấn có trường THCS; 100% xã -
tt có trường mầm non - mẫu giáo, 01 trường MN tư thục, 05 nhóm trẻ tư thục; hiện nay toàn huyện có 3 trường THPT, một Trung tâm GD nghề nghiệp - GDTX, tất cả các trường đều được bố trí hợp lý trên toàn huyện
Bảng 2.1: Thống kê số liệu phát triển trường học từ năm học 2011 - 2012 đến năm học 2015 – 2016
Trang 39(Nguồn: Phòng GD&ĐT huyện Mang Thít )
Mạng lưới trường lớp từ các bậc học, giáo dục thường xuyên tất cả được đầu tư khá hoàn chỉnh, đáp ứng được nhu cầu học tập trong nhân dân
Hệ thống các trường chuẩn quốc gia: Hiện tại huyện đã có 02 trường bậc mầm non, 14 trường tiểu học, 04 trường THCS, 01 trường THPT đạt chuẩn quốc gia Phấn đấu đến năm 2020 tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia bậc mầm non: 7/13 trường, TL: 53,85%; bậc tiểu học: 19/25 trường, TL: 76%; bậc THCS: 8/11 trường, TL: 72.73%; bậc THPT: 2/3 trường, TL: 66,67% Trường tiểu học và THCS học 02 buổi/ngày đạt 70%
- Quy mô học sinh các ngành học cấp học ngày một phát triển
Trang 40Bảng 2.2: Thống kê số lượng phát triển học sinh từ năm học 2011 - 2012 đến năm học 2015 – 2016
(Nguồn: Phòng GD&ĐT huyện Mang Thít )
Từ năm 2015 UBND huyện đã sáp nhập Trung tâm GDTX và Trung tâm dạy nghề thành TTGDNN - GDTX theo đúng chỉ đạo của Chính phủ
Tỉ lệ huy động học sinh đến lớp hiện nay theo thống kê của Phòng GDĐT huyện Mang Thít
- Trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo đạt: 100%
- Trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt: 100%
- Tuyển mới vào lớp 6 đạt: 100% so với học sinh tốt nghiệp tiểu học
- Tuyển mới vào lớp 10 đạt: 95% so với học sinh tốt nghiệp THCS
Đối với giáo dục phổ thông, tỉ lệ học sinh đi học trên dân số trong độ tuổi các cấp học ngày một tăng lên huyện Mang Thít là một trong những địa phương đi đầu trong tỉnh và đã góp phần cùng với ngành giáo dục tỉnh nhà đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi vào tháng 8 năm 2000 và đạt chuẩn phổ cập THCS vào tháng 12 năm 2005, đạt chuẩn PCGDMNT5T vào tháng 8/2016 Huyện Mang Thít phấn đấu đến năm 2020 duy trì đạt chuẩn PCGDMNT5T, đạt chuẩn PCGDTH mức độ 3, đạt chuẩn PCGDTHCS mức độ 2 và xóa mù chữ mức độ 2