Thực trạng thực hiện công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long .... Nhận thức về công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS NGUYỄN ĐỨC SƠN
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đức Sơn là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất
cứ một nghiên cứu nào khác
Tác giả
Đặng Văn Thông
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Đức Sơn,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong Khoa Tâm lý – Giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội, các đồng chí cùng công tác tại đơn vị, gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu
Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng do khả năng của bản thân còn những hạn chế nhất định, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em cũng còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy, cô góp ý và chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học
Vĩnh Long, ngày … tháng … năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Văn Thông
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY CHO THANH NIÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 7
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 11
1.2.1 Giáo dục 11
1.2.2 Cộng đồng 13
1.2.3 Ma túy 14
1.2.3.1 Ma túy là gì? 14
1.2.4.2 Đặc điểm của ma túy 16
1.2.3.3 Nguồn gốc của ma túy 16
1.2.3.4 Phân loại ma túy 20
1.2.3.5 Các hình thức sử dụng chất ma túy: 21
1.2.3.6 Biểu hiện của người nghiện ma túy 21
1.2.3.7 Nguyên nhân nghiện ma túy 22
1.2.3.8 Ảnh hưởng của ma túy đối với con người – xã hội 23
1.2.4 Phòng, chống ma túy 25
1.2.5 Giáo dục phòng, chống ma túy 26
1.2.6 Giáo dục phòng, chống ma túy dựa vào cộng đồng 26
1.3 Một số đặc điểm của thanh niên ngày nay 26
Trang 71.4 Công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào
cộng đồng 28
1.4.1 Các quan điểm, chủ trương về phòng chống ma túy ở nước ta hiện nay 28
1.4.1.1 Những chủ chương về phòng chống ma túy của Đảng, Nhà Nước 28
1.4.1.2 Những chủ chương về phòng, chống ma túy của Bộ GD&ĐT 33
1.4.2 Mục đích giáo dục phòng, chống ma túy cho TN 34
1.4.3 Nội dung giáo dục phòng, chống ma túy cho TN 34
1.4.4 Các lực lượng tham gia giáo dục phòng, chống ma túy cho TN 34
1.4.4.1 Công an thành phố Vĩnh Long 35
1.4.4.2 Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Vĩnh Long 35
1.4.4.3 Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Vĩnh Long 36
1.4.4.4 Phòng Giáo dục và đào tạo thành phố Vĩnh Long 36
1.4.4.5 Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Vĩnh Long 36
1.4.5 Thanh niên trong quá trình giáo dục phòng, chống ma túy 37
1.4.6 Phương pháp giáo dục phòng, chống ma túy cho TN 37
1.4.7 Phương tiện giáo dục phòng, chống ma túy cho TN 37
1.4.8 Hình thức tổ chức giáo dục phòng, chống ma túy cho TN 38
1.4.9 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục phòng, chống ma túy cho TN 38
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả việc thực hiện giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng 39
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY CHO THANH NIÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG 42
2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 42
2.2 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 43
Trang 82.3 Thực trạng nhận thức của thanh niên, cộng đồng dân cư và cán bộ các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn thành phố Vĩnh Long về ma túy
và tệ nạn ma túy 48
2.3.1 Nhận thức của thanh niên về khái niệm ma túy 48 2.3.2 Nhận thức của thanh niên về nguồn gốc của ma túy 49 2.3.3 Nhận thức của thanh niên về các con đường ma túy xâm nhập vào cơ thể 49 2.3.4 Nhận thức của thanh niên, người dân trong cộng đồng và cán bộ các ban, ngành, đoàn thể về các biểu hiện nghiện ma túy 50 2.3.5 Nhận thức của thanh niên về nguyên nhân nghiện ma túy 51 2.3.6 Nhận thức của thanh niên, người dân trong cộng đồng và cán bộ các ban, ngành, đoàn thể về tác hại của ma túy 52
2.4 Thực trạng thực hiện công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 53
2.4.1 Nhận thức về công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 54
2.4.1.1 Nhận thức của cộng đồng dân cư và cán bộ các ban, ngành, đoàn thể về tầm quan trọng của công tác giáo dục phòng chống ma túy cho thanh niên 54 2.4.1.2 Mức độ quan tâm của cộng đồng dân cư và cán bộ các ban, ngành, đoàn thể về công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên 55
2.4.2 Mức độ tổ chức các hoạt động giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 56 2.4.3 Mục tiêu của công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 57 2.4.4 Mức độ thực hiện các nội dung giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 58 2.4.5 Thực trạng tham gia các hoạt động giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên của các lực lượng cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 59
2.4.5.1 Các lực lượng cộng đồng tham gia công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên 59
Trang 92.4.5.2 Mức độ tham gia của các lực lượng cộng đồng trong công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên 59 2.4.5.3 Thực trạng các hoạt động phối hợp giữa các lực lượng cộng đồng trong công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên 60
2.4.6 Mức độ tham gia của thanh niên trong công tác giáo dục phòng, chống ma túy 63 2.4.7 Thực trạng các biện pháp giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 64 2.4.8 Thực trạng sử dụng các hình thức giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 67 2.4.9 Thực trạng kết quả giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 69 2.4.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 70
2.5 Đánh giá chung về thực trạng 72 Tiểu kết chương 2 76
Chương 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY CHO THANH NIÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG 77 3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 77 3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 81
3.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên 81 3.2.2 Tăng cường công tác giữ gìn an ninh, trật tự, truy quét các đối tượng tàng trữ, mua bán, sử dụng ma túy 84 3.2.3 Hoàn thiện cơ chế phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên 86
Trang 103.2.4 Tăng cường sự phối hợp giữa lực lượng Công an và các lực lượng cộng đồng trong công tác giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục phòng,
chống ma túy cho thanh niên nói riêng 87
3.2.5 Đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất, nguồn kinh phí cho công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên 90
3.2.6 Bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên 93
3.2.7 Phát huy tính chủ động, tích cực của thanh niên trong công tác giáo dục phòng, chống ma túy 95
3.2.8 Thực hiện một cách thường xuyên và hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục phòng chống ma túy cho thanh niên 96
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 98
3.4 Khảo nghiệm các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 99
3.4.1 Khái quát chung về quá trình khảo nghiệm 99
3.4.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm 100
3.4.2.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp giáo dục PCMT cho TN dựa vào CĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 100
3.4.2.2 Tính khả thi của các biện pháp giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 103
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
1 Kết luận 109
2 Khuyến nghị 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Thống kê số liệu về TNMT trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 46
Bảng 2.2: Nhận thức của TN về khái niệm MT 48
Bảng 2.3: Nhận thức của TN về nguồn gốc của MT 49
Bảng 2.4 Nhận thức của TN về các con đường MT xâm nhập vào cơ thể 49
Bảng 2.5 Nhận thức của TN về nguyên nhân nghiện MT 51
Bảng 2.6 Nhận thức của TN, cộng đồng dân cư và cán bộ các ban, ngành, đoàn thể về tác hại của MT 52
Bảng 2.7 Nhận thức của TN, cộng đồng dân cư và cán bộ các ban, ngành, đoàn thể về tầm quan trọng của công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho TN 54
Bảng 2.8 Mức độ quan tâm của thanh niên, người dân trong cộng đồng và CB các ban, ngành, đoàn thể về công tác giáo dục PCMT cho TN 55
Bảng 2.9 Mức độ tổ chức các hoạt động giáo dục PCMT cho TN 56
Bảng 2.10 Mục tiêu của công tác giáo dục PCMT cho TN 57
Bảng 2.11 Mức độ thực hiện các nội dung giáo dục PCMT cho TN 58
Bảng 2.12 Đánh giá về mức độ tham gia của các lực lượng cộng đồng trong công tác giáo dục PCMT cho TN 60
Bảng 2.13 Đánh giá về thực trạng các hoạt động phối hợp giữa các lực lượng cộng đồng trong công tác giáo dục PCMT cho TN 61
Bảng 2.14 Đánh giá về mức độ tham gia của TN trong giáo dục PCMT 63
Bảng 2.15 Đánh giá của TN, người dân trong cộng đồng và CB các ban, ngành, đoàn thể về thực trạng sử dụng các biện pháp giáo dục PCMT cho TN 64
Bảng 2.16 Đánh giá của TN, người dân trong cộng đồng và CB các ban, ngành, đoàn thể về thực trạng sử dụng các hình thức giáo dục PCMT cho TN 67 Bảng 2.17 Đánh giá của thanh niên, người dân trong cộng đồng và CB các ban, ngành, đoàn thể về tầm quan trọng của công tác giáo dục PCMT 69
Trang 12Bảng 2.18 Đánh giá của thanh niên, người dân trong cộng đồng và CB các ban, ngành, đoàn thể về các yếu tố ảnh hưởng đên công tác giáo dục PCMT cho
TN trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 70 Bảng 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp giáo dục PCMT cho TN dựa vào CĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 100 Bảng 3.2 Tính khả thi của các biện pháp giáo dục PCMT cho TN dựa vào CĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 103
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia
Tệ nạn ma túy đã lan rộng ra tất cả các tỉnh, thành phố, đến mọi thành phần, lứa tuổi, đặc biệt là trong thanh niên Đối với bản thân người sử dụng ma túy sẽ gây tổn hại về sức khỏe, suy giảm sức lao động, gây tổn hại đến thần kinh người sử dụng, sinh ra bệnh tâm thần, có thể gây ra những hành vi nguy hiểm cho bản thân và mọi người xung quanh Trường hợp sử dụng ma túy quá liều có thể bị chết đột ngột Mặt khác, ma túy còn gây tổn hại nghiêm trọng về mặt kinh tế của bản thân và gia đình người sử dụng Sử dụng ma túy tốn nhiều tiền bạc, khi đã nghiện ma túy, người nghiện luôn có xu hướng tăng liều lượng dùng, chi phí về tiền của ngày càng lớn, dẫn đến họ bị khánh kiệt về kinh tế
Đối với xã hội, hàng năm, Nhà nước phải chi phí hàng ngàn tỷ đồng cho việc xóa bỏ cây thuốc phiện, cho công tác cai nghiện ma túy, công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy Ma túy cũng làm suy giảm lực lượng lao động của gia đình và xã hội, làm cho thu nhập quốc dân giảm, chi phí cho dự phòng và chăm sóc y tế lại tăng, ảnh hưởng đến đến đầu tư nước ngoài, khách đến du lịch;
ma túy cũng làm nảy sinh, gia tăng tội phạm trong nước gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, là nguyên nhân nảy sinh các tệ nạn xã hội (TNXH) khác
Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác phòng, chống ma túy, đã ban hành luật Phòng, Chống ma túy (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/ 2001), làm cơ sở pháp lý cho các ngành, các cấp đẩy mạnh công tác phòng, chống ma túy Các ngành, các cấp cũng đã có nhiều chủ trương, biệp pháp phòng, chống ma túy, nhưng giáo dục phòng, chống ma túy đóng vai trò rất quan trọng, nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng, từ đó từng cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội có hành động kiên quyết hơn trong công tác phòng,
Trang 14tiêu xây dựng hình mẫu người thanh niên là: “Xây dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị, ý thức chấp hành pháp luật, có đạo đức cách mạng và lối sống đẹp, có ước mơ, hoài bão, khát vọng đưa đất nước vươn lên, có tri thức, sức khỏe, kỹ năng xã hội, năng lực chuyên môn, làm chủ khoa học công nghệ hiện đại” Do đó để xây dựng lực
lượng thanh niên đáp ứng các yêu cầu trong thời đại mới, cần phải nghiên cứu các biệp pháp giáo dục phòng, chống tệ nạn xã hội nói chung, đặc biệt là giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên là thực sự cần thiết
Thành phố Vĩnh Long là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của tỉnh Vĩnh Long, thành phố nằm cặp sông Cổ Chiên (chi lưu của Sông Tiền); ba phía Bắc, Đông, Nam đều giáp với huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáp với tỉnh Đồng Tháp Thành phố Vĩnh Long có diện tích tự nhiên 48,08 ha, gồm 07 phường, 04 xã với số dân 140.872 người (năm 2013) Trên địa bàn thành phố Vĩnh Long tình hình buôn bán, sử dụng ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng đáng lo ngại, nhất là trong độ tuổi thanh niên, làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của cộng đồng Tính đến tháng 6/2015 thành phố có 304 người nghiện ma túy, trong đó có 150 thanh niên (dưới 30 tuổi) nghiện ma túy, 100% số xã, phường có người nghiện ma túy Cấp ủy và chính quyền các cấp trong thành phố Vĩnh Long đã có nhiều chương trình, kế hoạch và đề ra nhiều biện pháp để phòng, chống ma túy trong thanh niên, đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên trên địa bản thành phố vẫn còn những hạn chế, chưa đi vào
Trang 153
chiều sâu, nếu như đề ra được những biện pháp giáo dục thiết thực hơn, phù hợp hơn cho thanh niên thì công tác phòng, chống ma túy trong thanh niên sẽ hiệu quả hơn
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long” được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, đề xuất các biện pháp giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này, góp phần làm lành mạnh hóa xã hội
và phát triển cộng đồng bền vững
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đã được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau, các biện pháp giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế trong việc giáo dục
ý thức cho cộng đồng trong công tác phòng, chống ma túy cho thanh niên Nếu
đề xuất được các biện pháp giáo dục đầy đủ, đồng bộ hơn, sát với đối tượng và thu hút được nhiều chủ thể trong cộng đồng hơn thì có thể nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống ma túy cho thanh niên
Trang 164
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận về: Giáo dục; ma túy; thanh niên; cộng đồng;
phòng, chống ma túy; giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng; biện pháp giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu các biện pháp giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng
- Đề tài đề cập đến các chủ thể như: Công an thành phố Vĩnh Long, Phòng Văn hóa thông tin thành phố Vĩnh Long, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Vĩnh Long
- Đề tài chỉ nghiên cứu trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các cách tiếp cận:
- Tiếp cận giáo dục học
- Tiếp cận phát triển cộng đồng
7.2 Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết: Luận văn phân tích và tổng hợp các tài liệu, lí luận liên quan, bao gồm:
Trang 175
- Lí luận về GD phòng, chống ma túy cho TN dựa vào cộng đồng
- Các văn kiện, văn bản chỉ đạo, điều hành công tác GD phòng, chống ma
túy cho TN dựa vào cộng đồng
- Các công trình khoa học, các bài báo đã được công bố
7.2.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Luận văn sử dụng
phương pháp phân loại và hệ thống hóa kiến thức để sắp xếp phân loại các nghiên
cứu về GD phòng, chống ma túy cho TN dựa vào cộng đồng
7.2.2 Nhóm hương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.2.1.Phương pháp quan sát
Quan sát các hình thức biểu hiện của công tác GD phòng, chống ma túy cho TN dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
7.2.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục
Đề tài xây dựng phiếu hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng
GD phòng, chống ma túy cho TN dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
7.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục
Nghiên cứu phân tích các sản phẩm hoạt động để có cái nhìn toàn diện hơn về công tác GD phòng, chống ma túy cho TN dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
7.2.2.4 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Đề tài xem xét lại những kết quả thực tiễn GD phòng, chống ma túy cho TN dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, những kết luận khoa học bổ ích, những ưu điểm cần học hỏi và phát triển; làm cơ sở để đề xuất các biện pháp GD phòng, chống ma túy cho TN dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
7.2.2.5 Phương pháp chuyên gia
Trực tiếp làm việc với một số chuyên gia hoặc gián tiếp (bằng phiếu hỏi) trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu: Tâm lí học và Giáo dục học Đặc
Trang 186
biệt xin ý kiến về các biện pháp GD phòng, chống ma túy cho TN dựa vào cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
7.2.3 Các phương pháp xử lí thông tin
Thông tin được xử lí bằng toán học thống kê Mã hóa thông tin hợp lí để
sử dụng các phần mềm tin học thực hiện thống kê toán học, vẽ đồ thị và biểu đồ
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về GD phòng, chống ma túy cho TN dựa vào cộng đồng Chương 2 Thực trạng giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào
cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Chương 3 Biện pháp giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào
cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Trang 197
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY CHO
THANH NIÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
Ma túy vốn có lịch sử từ rất lâu đời, nhưng vài thập kỷ gần đây việc lạm dụng và buôn lậu các chất ma túy đã bùng nổ mạnh mẽ hơn lúc nào hết ở tất cả các quốc gia trên thế giới việc nghiện ma túy đã để lại hậu quả nặng nề cho không chỉ riêng con nghiện mà còn gây hậu quả tai hại cho gia đình và cộng đồng Việc nghiện ma túy đã dẫn tới một loạt các vấn đề xã hội: Làm gia tăng tội phạm, gây mất trật tự an toàn xã hội Tình trạng trộm cắp, bỏ việc, bỏ học tăng, gia đình đổ vỡ đặc biệt tình trạng sức khỏe của cả cộng đồng suy giảm trong đó một phần lớn là thế hệ thanh niên Hậu quả tai hại của ma túy đã rõ ràng nhưng việc sản xuất, buôn bán trái phép các chất ma túy lại diễn ra giữa các quốc gia thông qua việc bọn buôn lậu, nhập ma túy từ nước ngoài vào hay xuất
ma túy ra nước ngoài
Điều đó khiến các quốc gia không còn có sự lựa chọn nào khác là phải nỗ lực cùng nhau đề ra các biện pháp, chính sách phù hợp, phát huy hết các tiềm năng để giải quyết vấn đề ma túy một cách có hiệu quả, bởi đây đã trở thành vấn
đề gai góc của cả cộng đồng quốc tế Tại kỳ họp đặc biệt lần thứ 17 ngày 26/6/1988 Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã phê chuẩn chương trình hành động toàn cầu nhằm mục đích cộng đồng quốc tế không có buôn lậu và lạm dụng ma túy Tại kỳ họp này đã thống nhất thập kỷ 1991-2000 là thập kỷ đấu tranh chống
ma túy của Liên hiệp quốc nhằm đưa chương trình hành động toàn cầu vào cuộc sống và ngày 26/6 hàng năm được gọi là ngày Quốc tế phòng, chống ma túy Tại Hội đồng Liên hiệp quốc tổ chức tại Viên ngày 11/01/1971 đến ngày 02/02/1971 đại diện các nước tham dự đã ký công ước quốc tế 1971 về các chất hướng thần [1] Công ước này lần đầu tiên quy định các chất hướng thần, được chia làm 4 bảng Bảng 1 gồm các chất bị nghiêm cấm trừ việc sử dụng cho y tế và nghiên
Trang 208
cứu khoa học Bảng 2,3,4 quy định các chất cụ thể và việc các bên tham gia công ước phải áp dụng các biện pháp đặc biệt để kiểm soát việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán và lưu thông các chất hướng thần [1]
Công ước còn quy định quyền được kiểm tra các kho bãi lưu trữ các chất hướng thần đã đăng ký và các phòng hóa học Về thành phần các chất hướng thần tổ chức y thế thế giới có trách nhiệm nghiên cứu và phân tích cũng như việc bổ sung thêm vào danh mục các chất hướng thần mới xuất hiện
Trước tệ nạn ma túy ngày càng tăng, nhất là tệ nạn buôn bán và lạm dụng ma túy Năm 1988 Liên hiệp quốc đã triệu tập hội nghị gồm các đại diện toàn quyền của
106 nước được tổ chức tại Áo để phê chuẩn công ước quốc tế của Liên hiệp quốc về phòng, chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và các chất hướng thần Công ước quốc tế năm 1988 của Liên hiệp quốc có ý nghĩa rất quan trọng Tại công ước này lần đầu tiên khái niệm về tội phạm và hình phạt các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy được quy định một cách cụ thể Các nước tham gia có thể dựa vào công ước này để soạn thảo, vận dụng vào các văn bản pháp luật hình sự của nước mình Công ước gồm 34 điều với các nội dung cơ bản như: Đưa ra các biện pháp hữu hiệu chống lại bọn buôn lậu ma túy quốc tế; quy định sự phối hợp, hợp tác quốc tế trong phát hiện, khám phá, điều tra các vụ án xuyên quốc gia liên quan đến ma túy; vấn đề dẫn độ tội phạm; chuyển giao hồ sơ vụ án; chuyển quyền thụ lý, xét xử tiếp các vụ án hình sự liên quan đến ma túy [1]
Với trách nhiệm thúc đẩy sự nghiệp phát triển, Liên hiệp quốc đã và đang hướng toàn bộ nỗ lực của mình cho cuộc đấu tranh chống buôn bán và sử dụng chất ma túy Năm 1991 công trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên hiệp quốc
đã được thiết lập nhằm phối hợp toàn bộ các hoạt động kiểm soát các chất ma túy của Liên hiệp quốc, hỗ trợ cho việc áp dụng các biện pháp thích hợp và đảm bảo sự lãnh đạo có hiệu quả của công tác kiểm soát ma túy quốc tế Chương trình này đã trở thành bước ngoặc mới trong thập kỷ chống ma túy 1991-2000 của Liên hiệp quốc [1]
Trang 21và hành vi liên quan đến lạm dụng ma túy có ảnh hưởng sâu sắc tới cả đời sống gia đìn và năng suất lao động Giáo dục là biện pháp chủ yếu để cộng đồng chống lại
sự lan truyền của căn bệnh này Vì thế ưu tiên hàng đầu trên thế giới hiện nay là phải ủng hộ các hoạt động giáo dục phòng, chống ma túy nhằm bảo vệ trẻ em và lứa tuổi thanh, thiếu niên Lạm dụng ma túy và luôn lậu ma túy là vấn đề toàn cầu, tất cả chúng ta hãy cùng hội nhập vào khối đoàn kết đấu tranh chống lại kẻ thù chung là ma túy và dành cho tuổi thanh xuân một sự lựa chọn tốt đẹp [25]
Những điều đó chứng tỏ vấn đề phòng, chống tệ nạn buôn bán và sử dụng trái phép các chất ma túy được thế giới coi là nhiệm vụ có tầm quan trọng và cấp bách, nó đã trở thành vấn đề toàn cầu vì nạn ma túy đang trở thành hiểm họa ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của toàn nhân loại
Một trong các giải pháp phòng chống ma túy mang tính căn bản chính là giáo dục cộng đồng và huy động cộng đồng tham gia vào công cuộc này Do vậy,trên thế giới có nhiều nghiên cứu về việc giáo dục phòng chống ma túy dựa vào cộng đồng:
- Các nghiên cứu của viện nghiên cứu quốc gia Hoa kỳ về ngăn chặn ma túy dựa vào cộng đồng [46]
- Chương trình ngăn ngừa dựa vào cộng đồng trong cuộc chiến với ma túy: những phát hiện từ “ cuộc chiến ngược”. [47]
- Hệ tiêu chuẩn phòng chống ma túy của Canada tập trung vào:
Trang 2210
+ Hiệu quả khi các chủ thể của cộng đồng cùng tham gia: gia đình, nhà
trường, tổ chức thanh niên
+ Kết nối các sáng kiến của nhà trường và cộng đồng
+ Huy động các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực
Trong đó đề xuất các bảng kiểm kê hành động của các chủ thể, đề xuất
tiêu chí tự đánh giá của các chủ thể [49]
Như vậy, hướng nghiên cứu giáo dục, phòng ngừa ma túy dựa vào cộng
đồng đã được triển khai nghiên cứu trên thế giới Các kết quả khẳng định: muốn
các chương trình phòng ngừa,ngăn chặn có hiệu quả cần giáo dục dựa vào cộng
đồng
1.1.2 Ở Việt Nam
Cũng như các nước khác trên thế giới, ở nước ta, giáo dục phòng chống
ma túy đã được quan tâm triển khai cả trên thực tiễn, cả trong lĩnh vực nghiên
cứu
Các nghiên cứu được tiến hành theo các hướng sau:
- Nghiên cứu về thực trạng sử dụng ma túy và các vấn đề liên quan như
“ Nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội ma túy của trẻ vị thành
niên” tác giả Nguyễn Xuân Yêm - 2009
- Nhận thức của thanh thiếu niên về ma túy và ảnh hưởng của ma túy Có
thể điểm 1 số đề tài như: “Nhận thức của sinh viên đại học sư phạm – Đại học
Thái Nguyên về ma túy” của tác giả Nguyễn Mai Phương; Tiêu Minh Hường : “
Thực trạng thái độ đối với ma túy của sinh viên trường Đại học lao động thương
binh và xã hội”;
- Giáo dục phòng chống ma túy trong nhà trường Các nghiên cứu này tập
trung khảo sát thực trạng giáo dục phòng chống ma túy trong nhà trường ở các
khía cạnh: nội dung giáo dục, hình thức giáo dục, hiệu quả giáo dục, từ đó đề
xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này Có thể kế đến các đề
tài:
Trang 2311
“ Giáo dục phòng chống ma túy trong các nhà trưởng tỉnh Nghệ An” của tác giả Nguyễn Thị Nga; “ Giáo dục kỹ năng phòng chống ma túy cho học sinh, sinh viên” của Trần Thị Sáu (Đại học Quảng Bình)
Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về ma túy và giáo dục ma túy cho thanh niên nhưng những nghiên cứu về giáo dục phòng chống ma túy dựa vào cộng đồng còn chưa được triển khai một cách khoa học, trong khi tiếp cận cộng đồng trong phòng chống ma túy là hướng nghiên cứu được coi trọng
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Giáo dục
Trong cuốn Giáo dục học (tập 1) của Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) cho rằng: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ
Tác giả Nguyễn Lân trong từ điển tiếng Việt xem: Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy,
để họ có thể có đầy đủ khả năng tham gia vào đời sống xã hội
Trong cuốn giáo dục học đại cương 1 của tác giả Nguyễn Sinh Huy (chủ biên) lại tiếp cận khái niệm Giáo dục (theo nghĩa rộng) ở phạm vi rộng hơn: Giáo dục là sự hình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất
và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố khác tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu của kinh tế xã hội
Dù xét trên các góc độ, phạm vi khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách
có mục đích và kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm
xã hội loài người
Trang 24Theo nghĩa rộng này, giáo dục bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp (tất cả những yếu tố trên tạo nên nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội)
Giáo dục (theo nghĩa rộng) không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổi học (dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay, chúng ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiện khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyền thanh, video, trực tuyến qua inernet,…) với các hình thức đa dạng, phong phú Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người giáo dục với người được giáo dục
Như phần khái niệm theo nghĩa rộng đã trình bày ở trên, Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận cấu thành nên quá trình giáo dục tổng thể (rộng):
Là quá trình hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, nhân cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, thuộc các lĩnh vực tư tưởng - chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm mĩ, vệ sinh,…
Như vậy, chúng ta nhận thấy quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp có chức năng vượt trội là hình thành nhân cách cho con người Nó được thực hiện trên
cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến hành vi; vừa lĩnh hội hệ thống tri thức và giá trị, vừa thể nghiệm những kinh nghiệm thực tiễn bản thân; vừa trau dồi học vấn, vừa tham gia hoạt động xã hội tập thể
Để thực hiện quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) cần phải tiến hành nhiều nội dung giáo dục như: Giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục lao động, giáo dục
Trang 2513
thể chất, giáo dục hiểu biết quốc tế (hoà bình, hữu nghị, khoan dung, môi trường, dân số,…) giáo dục an toàn giao thông, giáo dục giới tính, Thông qua các hệ thống các phương pháp giáo dục khác nhau và thường được tiến hành thông qua sinh hoạt tập thể, các hoạt động xã hội, lao động công ích, các hoạt động dạy học, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,…
1.2.2 Cộng đồng
Cộng đồng (community) được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ thể sống/ cơ quan/ tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với các khác”
[24] Trong khái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là “cơ
thể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì
Đó có thể là các loại thực vật, cũng có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người – cộng đồng người
Cộng đồng người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồng sinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khác nhau đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học…
Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vào những “nhóm xã hội” có cùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trong cộng đồng
Theo quan điểm Mác – Xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng
đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác – Xít là quan niệm rất rộng,
có tính khái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm người trong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại và hoạt
Trang 2614
động”, là “lợi ích chung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng” “giá trị”chung…Thực chất đó là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thức hệ
Xuất phát từ tiếng La tinh, “cộng đồng” – communis có nghĩa là
“chung/công cộng/được chia sẻ với mọi người hoặc nhiều người” Đặc điểm/ dấu hiệu chung của cộng đồng này chính là đặc điểm để phân biệt nó với cộng đồng khác
Dấu hiệu/ đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi, ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là
vị trí địa lý của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng,
xã, quận, huyện, quốc gia, châu lục… Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia cộng đồng
Tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là một danh từ chung chỉ tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1/ họ cùng tương tác với nhau; 2/ họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó
1.2.3 Ma túy
1.2.3.1 Ma túy là gì?
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm ma túy Theo định nghĩa của các chuyên gia Liên hiệp quốc thì ma túy là chất hóa học có nguồn gốc từ tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ gây tác dụng làm thay đổi các chức năng tâm sinh lý, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng nếu sử dụng lặp lại nhiều lần, gây tổn thương và nguy hại cho cá nhân và cộng đồng [11]
Ma túy có nguồn gốc lâu đời trên thế giới Trong tiếng việt Ma túy mới chỉ xuất hiện cách đây vài chục năm, vì trước đây trong dân gian cũng như trong các văn bản, tài liệu người ta chỉ thường sử dụng từ thuốc phiện vì lúc đó người ta mới biết có thuốc phiện là một chất gây nghiện nhưng ngày nay con người đã sản xuất
Trang 2715
được rất nhiều các chất gây nghiện (gọi là ma túy tổng hợp) nên ma túy được dùng
để chỉ các chất gây nghiện nói chung
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì ma túy là chất khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể, và sau đó định nghĩa này được phát triển thành: Ma túy theo nghĩa rộng nhất là với mọi thực thể hóa học hoặc làm những thực thể hỗn hợp khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì sức khỏe bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm thay đổi chức năng sinh học của con người [26]
Theo báo cáo khoa học của Bộ nội vụ (Mã số KX04.14) thì ma túy là những chất mà người sử dụng nó một thời gian sẽ gây trạng thái nghiện hay nói một cách khác là trạng thái phụ thuộc vào nó
Theo tác giả Vũ Ngọc Bừng: Các chất ma túy là các chất hóa học, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể người, có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, tính cách và trí tuệ, làm cho con người lệ thuôc vào chúng và cuối cùng gây nên tổn thương cho cá nhân và cộng đồng [11]
Trong Luật phòng, chống ma túy có ghi rõ:
- Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành [23]
- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng [23]
- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng [23]
- Tiền chất là các hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất ma túy, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành [23]
- Tệ nạn ma túy là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy [23]
- Phòng, chống ma túy là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn
ma túy và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy [23]
Trang 28Nói tóm lại ma túy là một số chất tự nhiên hoặc được tổng hợp có tác dụng ức chế hoặc kích thích hệ thần kinh, làm giảm đau hoặc có thể gây ra ảo giác, nếu sử dụng đúng liệu lượng sẽ có tác dụng tốt cho việc chữa bệnh, ngược lại sử dụng không vì mục đích chữa bệnh hoặc tự ý tăng liều lượng, tăng thời gian sử dụng thì sẽ bị nghiện, dẫn tới hậu quả là nhiễm độc mãn tính về tâm lý, thể chất, mất khả năng tư duy và lao động
1.2.4.2 Đặc điểm của ma túy
Ma túy có đặc điểm chung là gây cho người nghiện những biểu hiện sau:
- Có ham muốn không kìm chế được và phải sử dụng nó bằng bất kỳ giá nào
- Có khuynh hướng tăng dần liều lượng sử dụng (Liều sau phải cao hơn liều trước mới có tác dụng)
- Có sự lệ thuộc về tinh thần và vật chất Nếu đã nghiện mà ngừng sử dụng sẽ bị hội chứng cai thuốc làm cho có thể có những phản ứng sinh lý bất lợi thậm chí có thể đe dọa đến tính mạng [17]
1.2.3.3 Nguồn gốc của ma túy
* Ma túy có nguồn gốc tự nhiên
- Cây anh túc: Còn gọi là cây thẩu hay cây thuốc phiện, có khả năng sản
xuất ra Moóc phin với hàm lượng cao Trên thế giới cây thuốc phiện được trồng
Trang 2917
đầu tiên ở Thổ nhĩ Kỳ, Iran (cách đây 6000 năm) Hiện nay loại cây này được trồng nhiều ở Mianma, Thái Lan, Lào, Iran, Ấn Độ, Pakistan, Afganitan… Ở Việt Nam cây anh túc được trồng nhiều ở các tỉnh như: Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Lao Cai, Hòa Bình, Nghệ An… Cây thuốc phiện cao từ 0,7m đến 1,5 m, thân cao to, mọc đơn ở đầu cành hoặc đầu thân màu tím, màu vàng hoặc đỏ Quả hình cầu hoặc hình trứng dài 4 đến 7 cm (ảnh 1) Người ta trồng để thu nhựa thuốc phiện từ quả và thu tinh dầu từ hạt thuốc phiện Khi quả còn xanh bắt đầu chuyển sang vàng nhạt, người ta dùng dụng cụ sắc rạch từ 3 đến 5 đường trên quả thuốc phiện vào dịp trời khô ráo Sau khi nhựa thuốc phiện chảy ra phải để 8 đến 12 giờ cho mủ khô mới thu gom Một quả có thể rạch lấy mủ nhiều lần, mỗi quả có thể thu bình quân 0,02g nhựa [6]
Nhựa thuốc phiện (Nha phiến) được lấy từ quả cây anh túc đem phơi khô
có mầu thẫm có thể gói được Từ thuốc phiện chiết xuất ra Moóc phin có tác dụng làm giảm đau khi bị chấn thương, gây ngủ Moóc phin thường tồn tại dưới dạng bột, tinh thể màu trắng hoặc dạng khối vuông (ảnh 7+8) Moóc phin được sản xuất dưới dạng ống tiêm 1ml/0,01g, dạng viên nén bọc 10mg, từ 30mg đến 60mg hoặc 100mg Moóc phin được dùng trong những trường hợp đau mãn tính
đã dùng các thuốc giảm đau khác không khỏi, nhất là đau do ung thu, sỏi mật, sỏi thận, nhồi máu cơ tim, nhưng sử dụng quá liều sẽ gây ra tình trạng nhiễm độc mãn tính hoặc cấp tính [6]
Từ Moóc phin tinh chế ra Hêrôin dạng bột trắng, xốp (Còn gọi là Bạch phiến) Đây là một chất ma túy được dùng phổ biến nhất ở các thành phố, thị xã của nước ta hiện nay Hêrôin là chế phẩm được bán tổng hợp từ Moóc phin có tác dụng giảm đau mạnh hơn Moóc phin nhưng độc hại hơn nhiều Có khả năng gây nghiện rất nhanh chỉ sau vài lần sử dụng Nghiện hêrôin khó cai hơn nghiện Moóc phin Người dùng có thể suy sụp nhanh về thể xác lẫn tinh thần, chỉ cần một liều khoảng 0,06 gam có thể gây chết người ngay sau khi tiêm vào tĩnh mạch Hêrôin là chất tinh thể màu trắng, màu xám nhạt (ở Đông nam Á), màu nâu đen hoặc đen (ở Trung và Nam Mỹ), màu nâu sáng, màu hồng nhạt (ở Trung
Trang 3018
Đông) (ảnh 9,10) Ở Đông Nam Á, Hêrôin được đóng gói thành bánh (túi) hình chữ nhật kích thước 10x14x2,5 cm nặng khoảng 250g, trên mặt túi Hêrôin có hình 2 con sư tử chấn quả cầu với nhiều tên gọi khác nhau [6]
- Cây cần sa: Còn gọi là cây bồ đà, gai dầu, lanh mèo, đại ma Hoạt chất
của cần sa là Canabis trong y học dùng làm thuốc chống co giật, chống nôn mửa cho những người bị ung thư ác tính nhưng có tác dụng kích thích và gây ảo giác
Cần sa được dùng ở dạng hút, hít, uống Cần sa là một chất ma túy được
sử dụng nhiều ở các tỉnh Tây nguyên và Nam bộ Thảo mộc cần sa gồm lá, hoa, quả (ảnh 3,4) Các hoạt chất của cần sa gây cho người nghiện cảm giác hưng phấn, tinh thần phấn chấn, vui sướng có những giấc mơ đẹp, huyền ảo, trạng thái tâm lý thư giãn, sảng khoái Song tác dụng nguy hiểm nhất của cần sa là gây ảo giác làm sai lệch tinh thần [6]
- Cây cô ca: Cô ca là một loại cây có chất ma túy Ở một số nước Nam Mỹ
người dân nhai lá cô ca với vôi giống như người Việt Nam nhai trầu Khi nhai như vậy, họ không có cảm giác đói, làm người khỏe hơn, trạng thái tinh thần sảng khoái Hoạt chất chính của cô ca là côcain có tác dụng kích thích thần kinh trung ương và gây nghiện nên trong y học dùng nhiều Người dùng côcain lúc đầu thấy sảng khoái do tinh thần có những phản xạ được hưng phấn, có vẻ khỏe ra nhưng sau đó bị mê man Nếu dùng với liều cao có thể gây ngộ độc, chân tay co quắp, liệt
* Ma túy có nguồn gốc nhân tạo
Để không phải trồng và chế biến thuốc phiện, nhiều hãng dược đã tổng hợp toàn phần các thuốc giảm đau có tác dụng như Moóc phin và Hêrôin gọi là Moóc phin nhân tạo hay các Opiat như:
Trang 3119
- Amphetamin: là chất ma túy gây kích thích mạnh hệ thần kinh trung ương, làm tăng sự co bóp của tim, co mạch máu ngoại biên, tăng huyết áp Với liều vừa phải Amphetamin có tác dụng làm tăng khả năng lao động trí óc, giảm buồn ngủ, tăng sức lực nhưng với liều cao Amphetamin gây trạng thái choáng, suy sụp, giảm khả năng lao động và học tập, chán ăn, loạn nhịp tim, dùng lâu có thể bị rối loạn thần kinh dẫn đến tâm thần, đây là một chất gây nghiện nguy hiểm Amphetamin được lưu thông dưới dạng bột tinh thể màu trắng, dưới dạng viên nén, con nhộng hoặc dung dịch để tiêm chích
- Methamphetamin (Meth): Là một chất ma túy được sử dụng rộng rãi trên thế giới Sử dụng Methamphetamin gây kích thích mạnh ở hệ thần kinh trung ương, tạo ra sinh lực và trạng thái phấn khích, gây chứng hoang tưởng Nếu dùng liều cao sẽ trở thành tác nhân kích thích người nghiện có hành vi bạo lực, vô cùng man rợ Methamphetamin là chất trong, không màu Ở thị trường bất hợp pháp được sản xuất ở dạng bánh hoặc bột dẻo màu trắng, hồng, nâu (phụ thuộc vào tạp chất) [6]
- Methadone: Là một chất ma túy có tác dụng giảm đau mạnh gấp 5 lần Moóc phin Là một chất không màu hoặc bột tinh thể màu trắng, được lưu thông chủ yếu dưới dạng viên nén 2,5mg và 10 mg, viên con nhộng 5mg, ống tiêm 5mg hoặc 10mg Methadone đang được dùng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như một loại cắt cơn nghiện với hình thức dùng liều giảm dần [6]
- Methaqualone: là một chất ma túy có tác dụng an thần, gây ngủ được chỉ định dùng cho các chứng mất ngủ ban đêm hoặc trạng thái thần kinh bị kích thích căng thẳng, lạm dụng thuốc này sẽ dẫn đến tình trạng nghiện Methaqualone tồn tại dưới dạng chất bột tinh thể màu trắng, lưu thông dạng viên nén 200mg
- LSD (Lyergrde): có tên khác là Lyrergic Acid Diethylaminde là một chất ma túy đang được lưu hành rộng rãi ở nhiều nước LSD được sản xuất dưới dạng viên con nhộng, viên giấy, viên nén hàm lượng khác nhau từ 20 đến 500 microgam LSD là một chất gây ảo giác mạnh được chiết ra từ các cây Rirea
Trang 3220
Curymbosa, cây Ipomoea violacea, cây argyreia nervosa hay nấm lúa mạch Clavicepe prupure Tác dụng gây ảo giác không sợ hãi, có thể làm được những việc mà người lúc bình thường không dám làm, như nhảy từ trên cao xuống, đi trên dây, chạy trên tường cao LSD được sản xuất dưới dạng bột màu trắng ngà, dạng viên có màu sắc khác nhau hoặc dạng viên con nhộng, tẩm trên giấy thấm (ảnh 15) [6]
- MDMA (Ecstasy): MDMA tên khoa học là Methilenedroxymethamphetamin tên phổ biến là Ecstasy Trong y học người ta dùng để điều trị bệnh thần kinh MDMA
đã xuất hiện ở thị trường châu Á đặc biệt là Thái Lan, Trung Quốc Dùng MDMA có thể nhảy nhót thâu đêm suốt sáng mà không cảm thấy mệt mỏi nên được giới thanh niên dùng nhiều trong các vũ trường, sàn nhảy nên loại mà túy này còn có tên gọi khác
+ Thuốc ngủ Babitrat (Xicot)
+ Thuốc an thần Seduxen; Meprobamat những loai này có tác dụng chữa bệnh, chống âu lo, hồi hộp, gây ngủ, dịu đau đầu, dùng nhiều sẽ bị gây nghiện
+ Diazenpam: Là một loại ma túy có tác dụng an thần, gây ngủ, chống co giật và thư giãn cơ, dùng cho các trường hợp mất ngủ, lo lắng, động kinh Diaepam được sảng xuất dưới dạng viên nén 2,5mg, 10mg hoặc dạng ống tiêm Loại ma túy này gần đây xuất hiện nhiều ở các tỉnh biên giới Việt- Trung đặc biệt là ở Quảng Ninh với nhiều màu khác nhau: trắng, vàng nhạt, [6]
1.2.3.4 Phân loại ma túy
Ma túy bao gồm nhiều loại, người ta có thể phân loại chúng tùy theo nguồn gốc, tác dụng hoặc độc tính [13]
Trang 3321
- Phân loại theo nguồn gốc có: ma túy có nguồn gốc tự nhiên và ma túy có nguồn gốc nhân tạo
- Phân loại theo mức độ gây nghiện gồm:
+ Loại mạnh: gồm những ma túy luôn gây ra hiện tượng nghiện, khi cai nghiện thường gây những rối loạn về sinh lý Ví dụ: Thuốc phiện, Hê rô in, Cô
ca in, Meth
+ Loại trung gian: Các chất này thường gây nghiện do phản ứng dược lý, gây tác hại dẫn đến có thể vì vậy chúng được quản lý chặt chẽ Ví dụ: Thuốc an thần Senduxen, thuốc giảm đau moóc phin, Dolagan, thuốc gây ảo giác, bồ đà
+ Loại nhẹ: là chất thường gây nghiện do phản ứng tâm lý khi cai nghiện không gây ra những rối loại sinh lý nghiêm trọng, ít gây tác hại cho cá nhân và
xã hôi nên không chịu sự kiểm soát và nghiêm cấm: cà phê, chè, thuốc lá, rượu
Những ma túy loại nặng và trung gian cần được kiểm soát Những loại thường dùng ở Việt Nam là thuốc phiện, cần sa, côcain, moóc phin, Dolargan, seduxen, Meprobamat Điều đáng lo ngại là những năm gần đây xuất hiện ngày càng nhiều với khối lượng càng lớn hêrôin, là một loại ma túy mạnh
1.2.3.5 Các hình thức sử dụng chất ma túy:
Chất ma túy được sử dụng bằng các hình thức chủ yếu sau: [15]
- Hút: như hút thuốc phiện, lá cần sa, lá cô ca
- Tiêm chích trực tiếp vào mạch máu như chích Hê rô in, Dolargan, Deazepam
- Uống, nuốt như uống viên Amphetamin, Sendusen
- Hít ngửi như hít bột Hê rô in
1.2.3.6 Biểu hiện của người nghiện ma túy
Theo báo cáo khoa học của Bộ nội vụ (Mã số KX 04.14) thì người nghiện
ma túy là người sử dụng lặp lại một hay nhiều chất ma túy dẫn tới trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính, bị lệ thuộc về thể xác và tinh thần Người nghiện ma túy nếu ngừng sử dụng sẽ bị hội chứng cai nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần trong thời gian nhất định, tùy thuộc vào mức độ nghiện
Trang 3422
Thông tư số 22/LĐ-TT hướng dẫn thực hiện Nghị định 167/TTg ngày 08/4/1994 của Thủ tướng Chính phủ cũng định nghĩa: Người nghiện ma túy là người thường xuyên sử dụng đến mức lệ thuộc vào các chất gây nghiện (được gọi chung là chất ma túy như: Hêrôin, côcain, Moóc phin, thuốc phiện, cần sa)
có sự thèm muốn mãnh liệt khó cưỡng lại được, khi không dùng ma túy sẽ xuất hiện hội chứng cai [44]
Người nghiện ma túy có những đặc điểm và biểu hiện về mặt sinh lý, tâm
Tóm lại khi đã nghiện ma túy con người dễ bị hủy hoại về sức khỏe, trí tuệ, nhân cách, phẩm giá, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình và trở thành gánh nặng
xã hội
1.2.3.7 Nguyên nhân nghiện ma túy
Hiện nay trong số người nghiện ma túy chiếm 70-80% là thanh thiếu niên,
có nhiều nguyên nhân dẫn tới nghiện ma túy [2]
* Nguyên nhân chủ quan:
- Do trình độ dân trí ở một số bộ phận dân cư thấp, thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về tác hại của ma túy
Trang 3523
- Do công tác tuyên truyền, giáo dục và quản lý của gia đình – môi trường
xã hội chưa tốt, chưa chú ý coi trọng, còn buông lỏng, do nhận thức về ma túy không đầy đủ, không sâu sắc
- Do một số bộ phận thanh niên ảnh hưởng của lối sống ăn chơi đua đòi,
tò mò, thích tìm cảm giác lạ, không làm chủ được bản thân dễ bị người khác lôi kéo bắt chước sau dần thành nghiện
- Do một số người thiếu công ăn, việc làm hoặc gặp bất hạnh, bế tắc trong cuộc sống nên tìm đến ma túy như một giải pháp để quên đi thực tại, giải thoát được trong chốc lát, hết cơn say lại phải đối mặt với thực tế, bất lực quay về với thuốc [30]
* Nguyên nhân khách quan:
- Do thói quen, tập quán của đối phương, một số vùng còn có tập tục lạc hậu như dùng thuốc phiện để tiếp khách, để làm hiện vật thách cưới
- Do đời sống kinh tế một số vùng còn rất khó khăn, thu nhập từ việc trồng cây thuốc phiện vẫn là nguồn thu chủ yếu
- Sự mở cửa giao lưu kinh tế – văn hóa cũng góp phần tác động làm gia tăng tệ nạn ma túy
- Do một số người hám lợi mua bán ma túy để làm giàu bất chính
- Do pháp luật về phòng chống ma túy của ta chưa đủ chặt chẽ, chưa đủ mạnh mà việc thi hành chưa nghiêm, nên việc phòng, chống và kiểm soát ma túy chưa đạt hiệu quả cao
- Do con người thường xuyên tham gia nhiều mối quan hệ khác nhau nên
có những trường hợp người nghiện chịu tác động của nhiều nguyên nhân cùng một lúc, tuy nhiên sức lôi kéo của các nguyên nhân là khác nhau, ở các độ tuổi khác nhau
1.2.3.8 Ảnh hưởng của ma túy đối với con người – xã hội
Ma túy đã gây ra hậu quả nặng nề cho mỗi cá nhân, gia đình và xã hội, vì
ma túy đã làm suy kiệt sức khỏe của con người, góp phần làm gia tăng đại dịch
Trang 36Ma túy cũng gây rối loạn cảm giác ở người nghiện nên người nghiện sợ nước, sợ gió và rất ngại tắm nên dễ mắc các bệnh ngoài da
Ma túy còn gây ra những rối loạn chức năng tâm lý của con người, người nghiện ma túy thường xuyên có cảm giác chán nản, thất vọng, mất niềm tin vào cuộc sống, thờ ơ với công việc, lãnh đạm và xa lánh mọi người, họ luôn lo âu,
sợ hãi, trầm uất, đờ đẫn nhưng khi lên cơn nghiện lại dễ bị kích động, không làm chủ được bản thân, thường gây ra hành động bạo lực [6]
Hiện nay căn bệnh AIDS đã trở thành căn bệnh thế kỷ và trở thành hiểm họa của toàn nhân loại – Đó là căn bệnh gây suy giảm hệ thống miễn dịch ở cơ thể người và cho đến nay loài người chưa tìm ra phương thuốc hữu hiệu để chữa trị căn bệnh này mà chủ yếu phòng bệnh là chính
Qua rất nhiều những tài liệu về phòng, chống căn bệnh AIDS đã chỉ ra rằng AIDS lây nhiễm qua 3 con đường chính đó là lây qua đường tình dục, đường máu và mẹ truyền sang con Người nghiện ma túy có thể đưa ma túy vào
cơ thể bằng nhiều cách khác nhau trong đó có cách đưa ma túy trực tiếp vào máu quá con đường tiêm chích Theo nhiều tài liệu nghiên cứu mới đây cho thấy
có tới 70% người nghiện ma túy bị nhiễm HIV vì người nghiện thường sử dụng chung kim tiêm và các loại xi lanh được sử dụng để tiêm chích ma túy vào cơ thể nhiều lần không được sát trùng, cho nên vi rút HIV dễ dàng lan truyền qua việc tiêm chích ma túy, vì vậy việc ngăn chặn tệ nạn nghiện hút, tiêm chích ma túy là góp phần ngăn chặn căn bệnh AIDS phát triển hiệu quả
Trang 3725
Ma túy không những gây suy kiệt về thể lực và trí tuệ ở bản thân người nghiện mà còn phá hoại hạnh phúc gia đình, đã có bao gia đình rơi vào cảnh khốn cùng, tan nát: Vợ chồng, cha con phải chia lìa, vì khi đã nghiện ma túy, người chồng, người cha hay người con trong gia đình thường bỏ bê công việc hoặc bị đuổi việc, mất việc làm Để có tiền sử dụng ma túy đã dần bán đi đồ đạc trong gia đình, trộm cắp Trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp con giết cha, chồng giết vợ, trong khi lên cơn nghiện do không xin được tiền để sử dụng ma túy
Cùng với việc gây tai họa cho cá nhân và gia đình, ma túy còn góp phần vào việc làm gia tăng tội phạm, gây mất trật tự an toàn xã hội Ngày nay khối lượng ma túy sản xuất trái phép đã vượt quá mức yêu cầu, vì thế ngày càng xảy
ra nhiều cuộc giao tranh quyết liệt giữa các băng nhóm tội phạm để giành quyền kiểm soát thị trường ma túy Do lợi nhuận khổng lồ của ma túy mang lại nên đã dẫn đến nhiều cuộc thanh toán đẫm máu giữa những kẻ buôn bán ma túy, chúng sẵn sàng thủ tiêu những tên phản bội để lộ bí mật đường dây buôn ma túy Khi
bị truy nã, bọn buôn bán ma túy sẵn sàng xả súng vào những chiến sỹ Công an
để chạy thoát, nhiều chiến sỹ Công an đã hy sinh trong khi truy đuổi bọn tội phạm buôn bán ma túy
Tóm lại ma túy và tệ nạn nghiện ma túy có ảnh hưởng rất xấu đến đời sống xã hội: Làm suy yếu giống nòi, việc tiêm chích ma túy là tác nhân thúc đẩy căn bệnh AIDS phát triển, ma túy cũng làm gia tăng tội phạm, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình và gây tổn thất về kinh tế cho xã hội
vì hàng năm chính phủ phải chi hàng trăm tỷ đồng cho các hoạt động phòng chống ma túy và chữa chạy cho những người nghiện Ma túy đã thực sự là một thảm họa đối với con người và xã hội Việc nhận thức được tác hại của ma túy
và tìm ra những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tệ nạn này tiến tới xóa bỏ nó đem lại sự bình an cho con người và xã hội là điều quan trọng và cũng là trách nhiệm của mọi người
1.2.4 Phòng, chống ma túy
Trang 3826
Theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, phòng, chống ma túy là quá trình huy động rộng rãi cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức, nhà trường, quần chúng nhân dân tham gia phòng, ngừa tệ nạn ma túy, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống ma túy Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy, phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng các hoạt động này vào mục đích trái pháp luật,
tổ chức, quản lý cai nghiện ma tuý, giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện, phòng, chống tái nghiện
1.2.5 Giáo dục phòng, chống ma túy
Giáo dục phòng, chống ma túy là chương trình giáo dục tác động vào nhận thức, thái độ, hành vi của mọi người, để kiên quyết chống lại việc sản xuất, tàng trữ, mua bán và sử dụng ma túy Hoạt động này bao gồm việc tuyên truyền phổ biến các kiến thức về ma túy, đấu tranh chống các tệ nạn ma túy, phát huy tính chủ động của mỗi cá nhân trong việc phòng chống ma túy
1.2.6 Giáo dục phòng, chống ma túy dựa vào cộng đồng
Giáo dục phòng chống ma túy dựa vào cộng đồng là quá trình huy động cộng đồng tham gia giáo dục cho người dân trong cộng đồng nhằm giúp họ có được nhận thức đúng đắn về ma túy và tác hại của ma túy; hình thành thái độ, tình cảm đúng đắn và hành vi, thói quen tích cực loại trừ ma túy, chống lại việc sản xuất, tàng trữ, mua bán và sử dụng ma túy
1.3 Một số đặc điểm của thanh niên ngày nay
Theo Luật Thanh niên năm 2005 thì thanh niên là công dân Việt Nam từ
đủ 16 tuổi đến 30 tuổi Có thể nói, khoảng thời gian của tuổi trẻ trong đời là rất ngắn Ngắn nhưng vô cùng quan trọng và hệ trọng Đây là bước khởi đầu của sự trưởng thành Tùy thuộc định hướng giá trị và lựa chọn lối sống, lẽ sống đúng hay sai mà tuổi trẻ có thể làm nên sự nghiệp, đóng góp hữu ích cho xã hội, phát huy được tài năng và phẩm giá; ngược lại, cũng có thể chệch hướng, lạc đường, thậm chí hư hỏng, tự đánh mất nhân cách của mình
Một trong những đặc điểm nổi bật của TN là sự dồi dào các tiềm năng để phát triển, từ thể chất đến trí tuệ, luôn vươn tới cái mới, nhạy cảm và dễ thích
Trang 3927
ứng với đổi mới, có nhu cầu phong phú về tinh thần, văn hóa tinh thần; cũng do
đó, tuổi trẻ gắn liền với đức tin và niềm tin, dễ phục thiện và noi gương những hình mẫu nhân cách mà họ ngưỡng mộ Không có cơ hội nào tốt hơn, thuận lợi hơn như TN để tiếp nhận giáo dục về trí tuệ và đạo đức Do đặc điểm ấy, đến với TN cần có lòng chân thành, sự tin cậy, trách nhiệm và tình thương yêu với tinh thần của văn hóa khoan dung, của lòng nhân ái, vị tha Ứng xử với TN phải luôn thấm nhuần các chuẩn mực: dân chủ, bình đẳng, công bằng Đó không chỉ
là triết lý mà còn là tình cảm thể hiện các giá trị nhân bản, nhân đạo và nhân văn, chung đúc lại, đó là văn hóa Văn hóa trong ứng xử với TN đòi hỏi không chỉ sự hiểu biết đối tượng đặc biệt nhạy cảm này mà còn là sự tinh tế của phương pháp Ở đó có tất cả sức mạnh thuyết phục, lôi cuốn, thu hút, thúc đẩy tuổi trẻ hướng tới Chân - Thiện - Mỹ
TN rất nhạy cảm đối với thái độ hành vi ứng xử của những người xung quanh họ TN đang tự biểu hiện và tự khẳng định mình, đang bộc lộ cá tính để dần định hình là một cá nhân mang nhân cách Cái tôi - cá thể có một bản ngã riêng, độc lập trong quá trình hình thành, có nhu cầu cao về lòng tự trọng và cần được người lớn tôn trọng Tuổi trẻ, do đó rất dễ phản ứng trực diện, bột phát với những sự áp đặt, độc đoán Tuổi trẻ là những người rất dễ bị tổn thương trước những đối xử bất công, không công bằng trong đánh giá, trong xử thế Họ dễ tin và niềm tin của họ trong sáng, chân thành, hướng thiện, giàu cảm xúc Cũng vì vậy, khi niềm tin bị đổ vỡ là lúc những người trẻ tuổi đau khổ, hoang mang, dễ mất phương hướng, có nguy cơ cao về khủng hoảng tinh thần Do chưa từng trải, chưa
có đủ kinh nghiệm và vốn sống, khi trực tiếp chứng kiến những gì xảy ra trong đời, trong quan hệ với con người trái ngược với những điều tốt đẹp mà họ tin yêu, hy vọng… thì tuổi trẻ rất dễ đau khổ, thất vọng Trạng thái này ở họ thường là cảm xúc mạnh hơn lý trí và thái độ, hành vi phản ứng trở lại của họ mạnh mẽ một cách
tự phát, trực tiếp, ít có khả năng kiềm chế Nhược điểm đó, thật ra cũng từ ưu điểm riêng có ở lớp trẻ mà ra Đó là sự thành thật của cảm tính, của trực cảm Cùng với
Trang 401.4 Công tác giáo dục phòng, chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng
1.4.1 Các quan điểm, chủ trương về phòng chống ma túy ở nước ta hiện nay
1.4.1.1 Những chủ chương về phòng chống ma túy của Đảng, Nhà Nước
Trải qua một thời kỳ dài của chế độ phong kiến đặc biệt là gần 100 năm
đô hộ của thực dân Pháp, tình hình sản xuất, buôn bán và sử dụng ma túy ở Việt Nam đã làm nảy sinh nhiều vấn đề, cho nên ngày 12/3/1952 Thủ tướng chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ban hành Nghị định số 150/TTg ấn định chế độ tạm thời về thuốc phiện Với nội dung chủ yếu là quy định khoanh vùng trồng cây thuốc phiện và nghĩa vụ nộp thế bằng hiện vật giá trị bằng 1/3 giá trị số nhựa thuốc phiện sống, phần còn lại phải bán cho mậu dịch quốc doanh Ngoài các cơn quan chuyên trách, nghiêm cấm bất cứ ai tàng trữ, vận chuyển nhựa thuốc phiện Người vi phạm sẽ bị phạt tiền, tịch thu toàn bộ số thuốc phiện và có thể bị truy tố trước tòa án Người tố cáo và bắt giữ thuốc phiện lậu sẽ được thưởng tiền bằng 20% số tiền bán thuốc phiện lậu bị tịch thu Ngoài ra Nghị định 150/TTg còn quy định một số hành vi cụ thể liên quan đến thuốc phiện sẽ bị truy tố trước toà án Đến ngày 22/12/1952 Thủ tướng chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 225/TTg sửa đổi Với nội dung hạ mức thuế bằng hiện vật xuống so với trước là 1/3 và khuyến khích bán số thuốc phiện còn lại cho Nhà nước và tăng mức thưởng lên 40% thay vì 20% như trước đây cho những ai có công khai báo phát hiện và bắt giữ thuốc phiện và buôn lậu Đây là