BIỆN PHÁP GIÁO DỤC CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HOÀN THÀNH ÁN HÌNH SỰ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TẠI THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG .... Biện pháp giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -
ĐINH VĂN HAI
GIÁO DỤC CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HOÀN THÀNH ÁN HÌNH SỰ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TẠI THÀNH PHỐ VĨNH LONG,
TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -
ĐINH VĂN HAI
GIÁO DỤC CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HOÀN THÀNH ÁN HÌNH SỰ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TẠI THÀNH PHỐ VĨNH LONG,
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh là
công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ một nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Đinh Văn Hai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh , người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá
trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong Khoa Tâm
lý – Giáo dục học, trường ĐHSP Hà Nội, các đồng chỉ cùng công tác tại đơn vị…., gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu
Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng
do khả năng của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy, cô góp ý và chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2017
Tác giả luận văn
Đinh Văn Hai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp mới của đề tài 5
9 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HOÀN THÀNH ÁN HÌNH SỰ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG 6
1.1 nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài luận văn 9
1.2.1 Giáo dục 9
1.2.2 Cộng đồng 10
1.2.3 Tội phạm, án hình sự và người đã hoàn thành án hình sự 14
1.2.4 Tái hòa nhập cộng đồng 16
1.2.5 Giáo dục tái hòa nhập cộng đồng 17
1.3 Vai trò của cộng đồng đối với người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 19
1.3.1 Đặc điểm của người đã hoàn thành án hình sự 19
1.3.2 Tác động của cộng đồng đến những người đã hoàn thành án hình sự 21
1.4 Một số vấn đề lí luận về giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 23
Trang 61.4.1 Mục tiêu giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập
cộng đồng 23
1.4.2 Nội dung giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 24
1.4.3 Phương pháp giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 24
1.4.4 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 25
1.4.5 ết quả giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 26
1.4.6 Các lực lượng tham gia giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 27
1.5 Các yêu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác giáo dục cho người đã hoàn thành xong án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 29
1.5.1 Các yếu tố thuộc về các nhà quản lí, lãnh đạo chính quyền, các cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội 29
1.5.2 Các yếu tố thuộc về các chủ thể tham gia giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 30
1.5.3 Các yếu tố thuộc về người đã hoàn thành án hình sự 30
1.5.4 Các yếu tố thuộc về môi trường 31
Kết luận chương 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HOÀN THÀNH ÁN HÌNH SỰ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TẠI THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG 35
2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 35
2.1.1 Mụ ảo sát 35
ảo sát 36
Trang 72.1.3 Phương pháp xử lí số liệu 36
2.2 Sơ lược đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Vĩnh Long 36
2.2.1 Vị trí địa lí, lịch sử phát triển của thành phố Vĩnh Long 36
2.2.2 Tình hình kinh tế và xã hội của thành phố Vĩnh Long 38
2.3 Thực trạng những người đã hoàn thành án hình sự tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 40
2.3.1 Đặc điểm chung về những người đã hoàn thành án hình sự ở thành phố Vĩnh Long 40
2.3.2 Những khó khăn của người đã hoàn thành án hình sự địa bàn thành phố Vĩnh Long sau khi trở về với địa phương 44
2.3.3 Thực trạng người đã hoàn thành án hình sự tham gia hoạt động cộng đồng ở thành phố Vĩnh Long 46
2.4 Thực trạng giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 48
2.4.1 Thực trạng nhận thức về công tác giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 48
2.4.2 Thực trạng thực hiện giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 52
2.4.3 Thực trạng các lực lượng giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 59
2.4.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 63
2.5 Đánh giá chung về thực trạng 65
65
66
2.5.3 Nguyên nhân 66
Trang 8Kết luận chương 2 68
Chương 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HOÀN THÀNH ÁN HÌNH SỰ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TẠI THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG 69
3.1 Định hướng và nguyên tắc đề xuất biện pháp 69
3.1.1 Định hướng đề xuất biện pháp 69
3.1.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 70
3.2 Biện pháp giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 73
3.2.1 Thực hiện việc chỉ đạo của các cáp ủy Đảng và chính quyền đối với công tác giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 73
3.2.2 Tổ chức thông tin, truyền thông đối với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và toàn thể nhân dân về giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 75
3.2.3 Tổ chức thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và đặc điểm, hoàn cảnh của người đã hoàn thành án hình sự 77
3.2.4 Bồi dưỡng năng lực GD cho những cán bộ phụ trách công tác giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 79
3.2.5 Phát huy tính tích cực, chủ động của những người đã hoàn thành án hình sự trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng 80
3.2.6 Phối hợp giữa lực lượng công an với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội và gia đình trong quản lí, giám sát người đã hoàn thành xong án hình sự 82
3.2.7 Phát triển cộng đồng văn hóa trong gia đình và toàn xã hội, trợ giúp về tâm lí cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 84
Trang 93.2.8 Tổ chức các hình thức trợ giúp về sức khỏe, nghề nghiệp, việc làm
cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng 85
3.2.9 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng một cách thường xuyên và hiệu quả 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp và khả ện pháp 88
3.3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88
3.3.2 Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 89
Kết luận chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng người đã hoàn thành án hình sự cư trú tại thành phố Vĩnh
Long, tỉnh Vĩnh Long trong những năm gần đây 41 Bảng 2.2 Đánh giá về những biểu hiện hành vi vi phạm pháp luật cuả người đã
hoàn thành án hình sự cư trú tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 42 Bảng 2.3 Đánh giá về nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật 43 Bảng 2.4 Đánh giá về những khó khăn của người đã hoàn thành án hình sự địa bàn
thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long sau khi trở về với địa phương 44 Bảng 2.5 Đánh giá mức độ tham gia của những người đã hoàn thành án hình sự
trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long trong các hoạt động giáo dục 47 Bảng 2.6 Đánh giá về tầm quan trọng của công tác giáo dục cho người đã hoàn thành
án hình sự THNCĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 49 Bảng 2.7 Nhận thức về mục tiêu GD cho những người đã hoàn thành án hình
sự THNCĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 50 Bảng 2.8 Thực trạng thực hiện các nội dung GD cho những người đã hoàn
thành án hình sự THNCĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 52 Bảng 2.9 Đánh giá thực trạng sử dụng các biện pháp GD cho những người đã
hoàn thành án hình sự THNCĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 53 Bảng 2.10 Đánh giá mức độ sử dụng các hình thức GD cho những người đã hoàn
thành án hình sự tái TNHCĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 56 Bảng 2.11 Đánh giá về kết quả giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái
hòa nhập cộng đồng trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 57
Trang 11Bảng 2.12: Đánh giá mức độ quan trọng củ ững người đã
hoàn thành án hình sự THNCĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 60 Bảng 2.13: Đánh giá mức độ thực hiệ ững người đã
hoàn thành án hình sự THNCĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 61 Bảng 2.14 Đánh giá thực trạng phối hợp giữa lực lượng công an với cá lực
lượng tham gia GD cho những người đã hoàn thành án hình sự
THNCĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 62 Bảng 2.15 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của GD cho những
người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 64 Bảng 3.1 Mẫu khách thể khảo nghiệm 90 Bảng 3.2 Đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp GD cho những người đã
hoàn thành án hình sự THNCĐ tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 91 Bảng 3.3 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp GD cho những người đã hoàn
thành án hình sự THNCĐ tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 94
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức tái hòa nhập cộng đồng (THNCĐ) cho những người đã hoàn thành án hình sự là vấn đề có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, thể hiện bản chất nhân đạo của Nhà nước, truyền thống đạo lý của dân tộc, là hoạt động có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng ngừa tình trạng tái phạm đối với người đã hoàn thành án hình sự nói riêng Tổ chức THNCĐ cho người đã hoàn thành án hình sự đã trở thành một chủ trương, chính sách lớn trong chiến lược phòng ngừa tội phạm của Đảng
và Nhà nước ta Nghị định 80/CP của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm THNCĐ đối với người đã hoàn thành án hình sự , các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ban ngành, đoàn thể và lực lượng Công an đã có nhiều hình thức, biện pháp thiết thực, tạo điều kiện thuận lợi để những người đã hoàn thành án hình sự khi trở về địa phương sớm ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng [13]
Người đã hoàn thành án hình sự - người đã trải qua một thời gian chấp hành hình phạt tù, bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội, được quản lý, giáo dục tập trung tại các trại cải tạo theo quy định của pháp luật Sau khi đã hoàn thành án hình sự trở về với cuộc sống đời thường, liệu họ có thực sự hòa nhập với gia đình, với cộng đồng, ổn định cuộc sống, trở thành công dân có ích cho
xã hội? Đây là vấn đề không chỉ ở bản thân những người đã hoàn thành án hình sự, của gia đình họ mà là vấn đề Nhà nước và xã hội quan tâm Đây là giai đoạn sau của thi hành án, kết quả của nó sẽ đánh giá hiệu quả thực sự của quá trình người phạm tội đã được giáo dục, cải tạo trong trại giam Bên cạnh
đó, bản thân người đã hoàn thành án hình sự trở về với tư cách là một thành viên của cộng đồng, họ được khôi phục các quyền và nghĩa vụ công dân, họ rất cần sự giúp đỡ của người thân, gia đình và xã hội cho họ làm lại cuộc đời
Trang 142
Trong những năm qua do làm tốt công tác tham mưu, triển khai thực hiện một cách đồng bộ, với sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp của các cấp, các ngành và sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của những người đã hoàn thành án hình sự nên công tác THNCĐ ở thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là tỷ lệ đối tượng hòa nhập cộng đồng tái phạm tội ở mức thấp Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, công tác THNCĐ vẫn tồn tại nhiều hạn chế chẳng hạn, những người đã hoàn thành án hình sự còn mang nặng mặc cảm trong quá trình THNCĐ ở cả phạm vi gia đình và xã hội, mức độ tin tưởng của cộng đồng dân cư về sự tiến bộ của nhóm đối tượng này chưa cao, việc giải quyết công ăn việc làm, ổn định cuộc sống cho họ còn chậm, tỉ lệ thất nghiệp cao
Để công tác THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thiết thực hơn nữa trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, trong thời gian tới cần nghiên cứu, hoàn thiện các giải pháp mang tính phù hợp và hiệu quả Một trong những hướng đó là hoàn thiện công tác giáo dục THNCĐ cho các đối tượng này
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long” để tiến hành nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận của giáo dục hỗ trợ THNCĐ cho những người
đã hoàn thành án hình sự và khảo sát thực trạng giáo dục THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục cho nhóm đối tượng này trên địa bàn nghiên cứu, góp phần giữ gìn trật tự an ninh xã hội
Trang 153
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác tái hòa nhập cộng đồng cho những người đã hoàn thành án hình sự
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục tái hòa nhập cộng đồng cho những người đã hoàn thành án hình sự tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
4 Giả thuyết khoa học
Giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long hiện nay chưa thực sự đạt hiệu quả như mong muốn Nếu đánh giá đúng thực trạng và đề xuất được các biện pháp tập trung vào các nội dung như: phối hợp hoạt động giữa các lực lượng công an với các Ban, ngành, đoàn thể, trợ giúp về tâm lý, sức khỏe, nghề nghiệp cho những người đã hoàn thành án hình sự, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động của họ trong THNCĐ thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự trên địa bàn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự
5.2 Khảo sát thực trạng công tác giáo dục THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
5.3 Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu về GD cho những người đã hoàn thành án hình sự từ năm 2013 trở lại đây
- Đề tài khảo sát trên 78 cán bộ quản lí các Ban, Ngành., Đoàn thể; 50 người dân và 100 người đã hoàn thành án hình sự trên địa bàn thành phố Vĩnh
Trang 164
Long, tỉnh Vĩnh Long; cùng 20 chuyên gia thuộc lĩnh vực Tâm lí học, Giáo dục học ở trường Đại học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Nhóm phương pháp này dùng để thu thập, xử lí các tài liệu có liên quan, trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu lí luận được sử dụng bao gồm: phương pháp
phân tích, tổng hợp lí luận; phương pháp giả thuyết, phương pháp chứng minh
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này dùng để nghiên cứu về thực trạng giáo dục THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Các phương pháp được sử dụng bao gồm:
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng và sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để thu thập ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lí các Ban, ngành và người đã hoàn thành án hình sự về thực trạng giáo dục THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Trò chuyện, phỏng vấn sâu để lấy ý kiến của cán bộ quản lí các Ban, ngành và người đã hoàn thành án hình sự về công tác giáo dục THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học nhằm xử lí những số liệu thu được từ thực trạng giáo dục THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình
sự tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, trên cơ sở đó, đưa ra những nhận
Trang 178 Đóng góp mới của đề tài
Hệ thống được một số vấn đề lí luận về giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ trên địa bàn thành phố
Đánh giá được thực trạng giáo dục cho những người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long và nguyên nhân thực trạng
Xác định được các biện pháp giáo dục cho những người đã hoàn thành
án hình sự THNCĐ tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về giáo dục giáo dục cho những người đã
hoàn thành án hình sự THNCĐ
Chương 2 Kết quả nghiên cứu thực trạng giáo dục cho những người
đã hoàn thành án hình sự THNCĐ tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Chương 3 Biện pháp giáo dục lại cho những người đã hoàn thành án
hình sự THNCĐ tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Trang 18Trong những năm gần đây, vấn đề TNHCĐ đối với người đã hoàn thành án hình sự và GD cho những người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Năm 2001, trong công trình nghiên cứu của mình “Giáo dục, giúp đỡ người
tù tha tái hòa nhập cộng đồng”, tác giả Nguyễn Quốc Nhật không những phân tích đánh giá sâu sắc về thực trạng công tác quản lý, giáo dục mà còn đề cập tới các biện pháp quản lý giáo dục của lực lượng công an, khẳng định cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý giáo dục người chấp hành xong án phạt tù Nội dung của công trình này đã đưa ra những số liệu mang tính thực nghiệm để đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý, giáo dục của lực lượng công an Đây được coi là một công trình nghiên cứu rất có giá trị đối với công tác THNCĐ
và GD cho những người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ [40]
Năm 2010, trong công trình nghiên cứu của mình “Tái hoà nhập cộng đồng
và việc đảm bảo quyền của người chấp hành xong án phạt tù”, tác giả Huỳnh Thị Kim Ánh (2010) đã phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và các quy định của pháp luật về đảm bảo quyền của người chấp hành xong án phạt tù Ngoài ra, bài viết này còn chỉ ra mặt ưu điểm và hạn chế của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm tổ chức công tác tái hoà nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù [1]
Trang 197
Năm 2013, trong đề tài luận án tiến sĩ của mình “Tổ chức THNCĐ cho người chấp hành xong án phạt tù theo chức năng của lực lượng cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam”, tác giả Vũ Văn Hòa đã nghiên cứu làm rõ lí luận về người chấp hành xong án phạt tù và tổ chức hoạt động THNCĐ cho người chấp hành xong án phạt tù; khảo sát, đánh giá thực trạng việc tổ chức THNCĐ cho người chấp hành xong án phạt tù, trên cơ sở đó đưa
ra những nhận xét, làm rõ những nguyên nhân, tồn tại, hạn chế của công tác này; đồng thời dự báo và đưa ra hệ thống các giải pháp góp phần hoàn thiện
về lí luận, nâng cao hiệu quả hoạt động THNCĐ cho người chấp hành xong
án phạt tù của lực lượng cảnh sát nhân dân góp phần quan trọng vào công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm [26]
Năm 2014, trong đề tài luận văn thạc sĩ của mình “Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội của thành phố Hải Phòng”, tác giả Đinh Thị Hường đã làm sáng tỏ những vấn đề về mặt lí luận và những quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam về tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội Thông qua việc phân tích tình hình tái hòa nhập xã hội nói chung và đi sâu phân tích công tác tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội của thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây, tác giả đánh giá được thực trạng của công tác tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội của thành phố Hải Phòng nói riêng, một trong những địa phương điểm hình của cả nước về tình hình tội phạm Đồng thời, tác giả đưa ra các giải pháp có giá trị về mặt lí luận và thực tiễn để vận dụng có hiệu quả vào công tác tái hòa nhập xã hội, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này trong thời gian tới, cũng như đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật nước ta về vấn đề này [30]
Năm 2014, trong đề tài luận văn thạc sĩ của mình “Hình phạt tù có thời hạn và công tác tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù ở nước ta (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)”, tác giả Đỗ Tiến Dũng đã đề cập
Trang 208
đến những vấn đề chung về hình phạt tù có thời hạn và tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù; phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng hình phạt tù và công tác tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Bên cạnh
đó, tác giả đưa ra quan điểm hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù và công tác tái hòa nhập đối với người mãn hạn tù [22]
Năm 2015, trong công trình nghiên cứu của mình “Nâng cao hiệu quả quản lý, giáo dục người chấp hành xong án phạt tù và được đặc xá về địa phương”, tác giả Trần Hải Âu đã khái quát thực trạng công tác triển khai thực hiện các chủ trương quản lý, giáo dục người chấp hành xong án phạt tù và người được đặc xá; đánh giá những kết quả đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại của công tác này Đồng thời, tác giả đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lí, giáo dục, giúp đỡ đối với những người chấp hành xong án phạt tù và người được đặc xá, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, phát hiện đấu tranh chống tội phạm tại các địa phương [2]
Bên cạnh những công trình trên, còn có các bài báo đăng tải trên kỷ yếu Hội thảo khoa học, chúng ta có thể kể đến một số bài báo của những tác giả tiêu biểu như: “Bài học thực tiễn của quá trình tái hòa nhập xã hội từ trại giam đến nơi cư trú của những người mãn hạn tù” của tác giả Nguyễn Văn Cảnh [10]; “Thực trạng và giải pháp trong công tác quản lí, giúp đỡ người được đặc
xá, mãn hạn tù trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Lợi [38]; “Thực tiễn tái hòa nhập xã hội của người mãn hạn tù trên địa bàn quận Hai Bà Trưng” của tác giả Đàm Thanh Thế [45]; “Hình phạt tù
và vấn đề THNCĐ ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Hồ Sĩ Sơn [43]
Tóm lại, qua quá trình khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề chúng tôi thấy rằng: công tác tổ chức THNCĐ nói chung và giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
Trang 219
cứu Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu về vấn đề này còn chưa nhiều Đặc biệt, theo vốn hiểu biết của nhà nghiên cứu, cho đến nay, ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về giáo duc cho người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài luận văn
1.2.1 Giáo dục
Giáo dục theo từ tiếng Hán thì giáo nghĩa là dạy, là rèn luyện về đường tinh thần nhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm đạo đức, dục là nuôi, là săn sóc về mặt thể chất Vậy giáo dục là một sự rèn luyện con người
về cả ba phương diện trị tuệ, tình cảm và thể chất Theo phương Tây thì education vốn xuất phát từ chữ educare của tiếng La tinh Động từ educare là dắt dẫn, hướng dẫn để làm phát khởi ra những khả năng tiền tàng Sự dắt dẫn này nhằm đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đến tốt, từ thấp kém đến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh “Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ” [42]
Theo tác giả Nguyễn Lân “Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy
đủ khả năng tham gia vào đời sống và đời sống xã hội” [31]
Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy “Giáo dục là sự hình thành có mục đích
và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu
tố khác tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu của kinh tế xã hội” [29]
Trang 2210
Dù xét trên các góc độ, phạm vi khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người
Như vậy: Giáo dục luôn là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, là quá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục
Thông qua quá trình tương tác giữa người giáo dục và người được giáo dục để hình thành nhân cách toàn vẹn (hình thành và phát triển các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất, lao động) cho người được giáo dục
Giáo dục không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổi học (dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay, chúng ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiện khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyền thanh, video, trực tuyến qua inernet,…) với các hình thức đa dạng, phong phú Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người giáo dục với người được giáo dục
1.2.2 Cộng đồng
* Khái niệm
Cộng đồng (community) được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ thể sống/ cơ quan/ tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với các khác” [55] Trong khái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là “cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên Dấu hiệu/ đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi, ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là vị trí địa lý
Trang 2311
của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng xã, quận huyện, quốc gia, châu lục… Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia cộng đồng Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loại thực vật, cũng có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người – cộng đồng người
Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạn cộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cội nguồn Và cộng đồng được xem là một trong những khái niệm nền tảng nhất của xã hội học, bởi vì nó mô tả những hình thức quan hệ
và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích có tính riêng
lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về tinh thần - tâm linh bao quát hơn và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị
Cộng đồng người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồng sinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khác nhau đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học…
Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vào những “nhóm xã hội” có cùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trong cộng đồng
Nhà xã hội học người Mỹ J Fichter trong tác phẩm “Những khái niệm cơ bản của Tâm lí học xã hội” [23] cho rằng cộng đồng bao gồm bốn yếu tố sau đây:
- Sự tương quan mật thiết giữa các cá nhân (mặt đối mặt)
- Sự liên hệ về mặt xúc cảm, tình cảm giữa các cá nhân trong quá trình thực hiện vai trò xã hội và các nhiệm vụ được giao
Trang 2412
- Sự dâng hiến về mặt tinh thần đối với những giá trị mà tập thể cho
là cao cả
- Sự đoàn kết, hợp tác giữa cá nhân với người khác và với tập thể
Theo quan điểm Mác – Xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng
đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác – Xít là quan niệm rất rộng, có tính khái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm người trong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại
và hoạt động”, là “lợi ích chung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng” “giá trị”chung…Thực chất đó là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thức hệ
Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, cộng đồng được hiểu là
“mọi phức hợp các quan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực kinh cụ thể, được xác định về mặt địa lý, hàng xóm hay những mối quan hệ mà không hoàn toàn về mặt cư trú, mà tồn tại ở một cấp độ trừu tượng hơn” [54]
Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợi ích, cùng làm việc vì một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong một khu vực xác định Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trung của một nhóm các cá nhân và không thực hiện các chức năng như một thể thống nhất
Tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là một danh từ chung chỉ tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1/ họ cùng tương tác với nhau; 2/ họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó
Trang 2513
* Phân loại cộng đồng
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại cộng đồng theo những dấu hiệu khác nhau Trong một số tài liệu, người ta lại chia cộng đồng theo 2 nhóm như sau [33]:
- Nhóm cộng đồng theo địa vực: thôn xóm, làng bản, khu dân cư, phường xã, quận huyện, thị xã, thành phố, khu vực, châu thổ cho đến cả quả địa cầu của chúng ta Ở nước ta, ở quy mô tỉnh, thành phố thì chúng ta có 63 tỉnh, thành phố, theo quy mô xã phường thì chúng ta có trên chục ngàn xã, phường, ở quy mô thôn xóm, khu dân cư (nhỏ hơn xã phường) thì chúng ta có hàng trăm ngàn cộng đồng
- Nhóm cộng đồng theo nền văn hóa: nhóm này bao gồm: cộng đồng theo hệ tư tưởng, văn hóa, tiểu văn hóa, đa sắc tộc, dân tộc thiểu số… Nhóm này cũng có thể bao gồm cả cộng đồng theo nhu cầu và bản sắc như cộng đồng người khuyết tật, cộng đồng người cao tuổi
- Nhóm cộng đồng theo tổ chức: được phân loại từ các tổ chức không chính thức như tổ chức gia đình, dòng tộc, hội hè cho đến những tổ chức chính thức chặt chẽ hơn như các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị, tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, xã hội… từ phạm vi nhỏ ở một đơn vị hoặc trong phạm vi quốc gia cho đến phạm vi quốc tế
Cũng có thể phân loại cộng đồng theo đặc điểm khác biệt về kinh tế -
Trang 2614
dưới xã, phường, đó là thôn/ làng, bản (địa bàn nông thôn/ nông thôn miền núi) và tổ dân cư/ khu dân cư (địa bàn thành thị) cùng với hệ thống các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức nghề nghiệp… mà những người dân đó là thành viên dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí của Nhà nước
Như vậy, cộng đồng là một đơn vị hành chính, kinh tế - xã hội có tính độc lập tương đối so với các cộng đồng khác trong một quốc gia Trong mỗi cộng đồng có các thành viên cộng đồng là các cá nhân hoặc gia đình đang sinh sống trên địa bàn, có những tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức xã hội
mà các thành viên cộng đồng tham gia sinh hoạt trên địa bàn dân cư, các tổ chức kinh tế, dịch vụ mà thành viên cộng đồng tham gia làm việc (cũng có thể thành viên không làm việc ở đó)
Ở Việt Nam ngày nay, các tổ chức chính trị - xã hội đó có thể là các tổ chức trong khối Mặt trận tổ quốc xã phường: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường/ xã; Hội/ Chi hội Phụ nữ; Hội/ chi hội người cao tuổi; Hội/ chi hội Cựu chiến binh; Hội nông dân (đối với địa bàn nông thôn); tổ chức tôn giáo (nếu có)… Tổ chức chính quyền: Ủy ban nhân dân; Hội đồng nhân dân; một số tổ chức kinh tế địa phương: Hợp tác xã nông nghiệp; Hợp tác xã thủ công, Doanh nghiệp… Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn có Trạm Y tế xã/ phường; bệnh viện, trường học; tổ chức Đảng, chi bộ Đảng
1.2.3 Tội phạm, án hình sự và người đã hoàn thành án hình sự
* Tội phạm
Theo điều 8, Bộ Luật hình sự: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi
Trang 2715
ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
* Án hình sự
Án hình sự (vụ án hình sự) là vụ án mà các hành vi vi phạm là tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự
* Người đã hoàn thành án hình sự
Quan niệm về người đã hoàn thành án hình sự
Người đã hoàn thành xong án hình sự là những người đã chấp hành xong thời hạn phạt tù (phạt tù có thời hạn) và những người chưa hết hạn phạt
tù nhưng tiến bộ, được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước, được tha về địa phương (đặc xá, ân xá)
Quyền của người đã hoàn thành án hình sự
Người đã hoàn thành án hình sự có các quyền sau:
- Được chính quyền địa phương và cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tạo điều kiện giúp đỡ để THNCĐ;
- Được đăng ký thường trú, tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú;
- Được quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận xóa
án tích khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và được đề nghị cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi có nhu cầu
Nghĩa vụ của người đã hoàn thành án hình sự
Người đã hoàn thành án hình sự có các những nghĩa vụ sau:
- Phải trở về nơi cư trú và xuất trình Giấy chứng nhận chấp hành xong
án phạt tù hoặc Giấy chứng nhận đặc xá với Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, đơn vị công tác cũ theo đúng thời gian quy định
Trang 2816
- Chịu sự quản lý, giáo dục, giám sát của chính quyền địa phương, đơn
vị, tổ chức xã hội và nhân dân nơi cư trú, công tác, học tập trong thời gian chưa được xóa án tích
- Định kỳ báo cáo kết quả chấp hành pháp luật và việc thực hiện các cam kết, nghĩa vụ dân sự (nếu có) với chính quyền địa phương hoặc cơ quan, đơn vị nơi cư trú, công tác, học tập
- Tích cực lao động, học tập và tham gia các hoạt động phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm và những hành vi vi phạm pháp luật khác
Trang 2917
sự
ọ
hoàn thành án hình sự
Tóm lại, THNCĐ của người đã chấp hành xong án hình sự là hành
động biểu hiện tính tích cực, trong đó, mỗi người đã chấp hành xong án hình
sự mong muốn được thực hiện những hành động phù hợp với các giá trị, chuẩn mực đạo đức và pháp luật của Nhà nước nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách, cũng như đảm bảo cho sự ổn định và phát triển xã hội Vì vậy, muốn THNCĐ, người đã chấp hành xong án hình sự phải trải qua một quá trình rèn luyện, tu dưỡng nhằm hoàn thiện bản thân theo yêu cầu của xã hội
1.2.5 Giáo dục tái hòa nhập cộng đồng
* Quan niệm về giáo dục tái hòa nhập cộng đồng
Cho đến nay, chưa có quan niệm giáo dục THNCĐ một cách đầy đủ được đưa ra trong các tài liệu nghiên cứu đã có, tuy nhiên, từ những vấn đề lí luận đã nêu, chúng tôi cho rằng: “Giáo dục THNCĐ là quá trình phối hợp các lực lượng xã hội, tác động có mục đích, có kế hoạch theo qui luật của quá trình giáo dục và qui luật của quá trình xã hội hóa đến những người đã từng
có hành vi lệch chuẩn, nhằm giúp họ nhận thức đúng đắn về những yêu cầu, chuẩn mực đạo đức xã hội, hình thành cho họ những kĩ năng cần thiết nhất là
kĩ năng sống, đồng thời phát triển ở họ những thái độ, hành vi tích cực trong quá trình hoàn thiện nhân cách của mình, chủ động hòa nhập vào cuộc sống
xã hội”
Trang 3119
1.3 Vai trò của cộng đồng đối với người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng
1.3.1 Đặc điểm của người đã hoàn thành án hình sự
Người đã hoàn thành án hình sự trong quá trình giáo dục THNCĐ có hai tư cách:
Người đã hoàn thành án hình sự là đối tượng của quá trình giáo dục:
Họ tiếp nhận sự tác động có dịnh hướng, kế hoạch, có phương pháp, có tổ chức, có hệ thống từ các lực lượng giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho bản thân ý thức đúng đắn về THNCĐ, phát triển thái độ, tình cảm đúng đắn và những hành vi, thói quen tích cực trong quá trình THNCĐ
Người đã hoàn thành án hình sự là chủ thể của quá trình tự giáo dục:
Họ tiếp nhận tác động giáo dục một cách có ý thức, có khả năng tự vận động, biến những tác động từ bên ngoài (yêu cầu của các lực lượng xã hội) thành những tác động bên trong của bản thân (coi đó là lẽ phải cần thực hiện để mang lại những điều tốt đẹp cho xã hội, cho những người xung quanh, cho bản thân), tự giác thực hiện những yêu cầu đó, từng bước chủ động THNCĐ
và trở thành một thành viên tích cực đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng xã hội
Hai tư cách đối tượng giáo dục và chủ thể giáo dục thống nhất với nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó, tư cách đối tượng giáo dục là điều kiện, tư cách chủ thể giáo dục là cơ bản
Người đã hoàn thành án hình sự có một số đặc điểm cơ bản sau:
xã hội thường có những mặc cảm về bản thân, thiếu tự tin vào khả năng của mình, bối rối, không có tâm thế sẵn sàng trong giao tiếp với những người xung quanh, thiếu chủ động trong THNCĐ
Trang 3220
Hai là, những người đã hoàn thành án hình sự đều nhận thức được rằng phạm tội là một hành vi làm trái pháp luật, có ảnh hưởng xấu đến xã hội Nhà nước và Pháp luật luôn luôn lên án và có những hình phạt thích đáng cho những ai có hành vi trái pháp luật Khi những người có hành vi sai lệch các chuẩn mực đạo đức xã hội chấp hành những hình phạt tại các trại cải tạo là quá trình giúp họ nhìn nhận lại hành vi sai trái của mình, từ đó tự kiểm điểm, cải tạo, sửa chữa lỗi lầm của mình Sau một thời gian cải tạo tốt trong các trại cải tạo, họ được trở về địa phương và nhận được các chế độ ưu đãi của Nhà nước và Pháp luật, giúp họ sớm hoàn hương, hòa nhập với cộng đồng
Ba là, người đã hoàn thành án hình sự có nhu cầu cao về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận) Sau quá trình cải tạo, người đã hoàn thành án hình sự ý thức rõ về mình – mộ
người xung quanh, muốn đượ
Năm là, sau một thời gian dài bị cách li khỏi đời sống xã hội, khi được trở về với cộng đồng, những người đã hoàn thành án hình sự xác định cho mình những mục tiêu mới của cuộc đời, trong đó có những mục tiêu về nâng cao vốn hiểu biết về các vấn đề xã hội, mục tiêu học tập theo một lĩnh vực
Trang 3321
nghề nghiệp – việc làm cụ thể nhằm tạo lập cuộc sống của bản thân, của gia đình, đồng thời đóng góp một phần công sức của mình đối với xã hội
Sáu là, một bộ phận không nhỏ người đã hoàn thành án hình sự không
có nghề nghiệp, việc làm, hoàn cảnh kinh tế lại khó khăn, thậm chí còn có tính lười biếng, không thích lao động Những điều đó tạo nên những khó khăn không nhỏ đối với quá trình trợ giúp học nghề và làm việc của cộng đồng dân
cư đối với những người này
Bảy là, đa số những người đã hoàn thành án hình sự có trình độ nhận thức không cao, thiếu chủ động, tích cực đối với hoạt động học tập ngay cả khi có điều kiện, cơ hội học tập Điều này tạo ra những khó khăn rất lớn đối với việc tiếp những thông tin GD từ các lực lượng giáo dục trong xã hội
Tám là, một bộ phận người đã hoàn thành án hình sự sau một thời gian
bị tách biệt khỏi đời sống xã hội, khi trở về địa phương họ có tâm lý hận đời, bất cần Điều đó khiến họ sống ích kỉ, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình
và xã hội; không có ý chí vươn lên làm lại cuộc đời
Để tiến hành công tác GD cho những người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ, các lực lượng giáo dục cần tìm hiểu sâu sắc về những đặc điểm của ngươi đã hoàn thành án hình sự, từ đó xây dựng kế hoạch và triển khai kế hoạch GD cho những đối tượng này một cách phù hợp, giúp họ THNCĐ một cách hiệu quả
1.3.2 Tác động của cộng đồng đến những người đã hoàn thành án hình sự
Công tác tổ chức THNCĐ nói chung và GD cho người chấp hành xong
án hình sự THNCĐ là vấn đề có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, thể hiện bản chất nhân đạo của Nhà nước, truyền thống đạo lý của dân tộc, là hoạt động có
ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng ngừa tình trạng tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù nói riêng Trong những năm qua, tổ chức THNCĐ cho
Trang 34Qua những thông tin khảo sát cho thấy, người đã chấp hành xong án hình sự trở về địa phương có nhu cầu cần sự trợ giúp, hỗ trợ tìm kiếm và bố trí việc làm Việc THNCĐ thành công hay không thành công một phần phụ thuộc rất lớn vào việc người đã chấp hành xong án hình sự giải quyết được những khó khăn của mình hay không Vì vậy, sự chung tay giúp sức của cộng đồng dân cư đóng vai trò rất quan trọng, giúp cho những người đã chấp hành xong án hình sự giải quyết được những khó khăn của mình, từng bước tự tin, chủ động tham gia tái hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự của địa phương
Sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng dân cư đối với người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ được thể hiện qua nhiều mặt, nhiều hình thức, nội dung, biện pháp Có thể kể đến sự quan tâm về mặt tinh thần, hạn chế và tiến tới loại bỏ hoàn toàn tâm lý xa lánh người đã từng mắc phải lầm lỗi, giúp học xóa đi những mặc cảm tội lỗi của mình, tự tin hơn trong giao quá trình tham gia hoạt động, giao tiếp với những những xung quanh; bên cạnh đó, cộng đồng dân cư còn giúp đỡ về vấn đề kinh tế, chăm sóc sức khỏe, tạo công ăn việc làm cho những người đã hoàn thành án hình sự ; mặt khác, cộng đồng dân cư còn tổ chức nhiều loại hình hoạt động tập thể (văn hóa, văn nghệ, thể
Trang 351.4 Một số vấn đề lí luận về giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng
1.4.1 Mục tiêu giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng
GD là một quá trình có tính mục đích Mục đích GD có tính lịch sử, chúng luôn biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội và thời đại
Mục đích GD là hình thành những công dân có ý thức, biết sống hòa nhập với cộng đồng, biết phấn đấu vươn lên tự khẳng định mình trong một xã hội đang phát triển hết sức năng động
Mục đích GD được cụ thể hóa thành các mục tiêu gắn với từng giai đoạn hay từng dạng hoạt động cụ thể
Mục đích GD luôn là thành tố hàng đầu, nó có vai trò định hướng, quy định sự vận động và phát triển của các thành tố khác của quá trình GD (nội dung, phương pháp, biện pháp tổ chức, hình thức tổ chức, kiểm tra, đánh giá kết quả GD ) chi phối toàn bộ các thành tố khác của quá trình GD, đồng thời
là cơ sở để xây dựng chuẩn đánh giá chất lượng và hiệu quả của quá trình GD
GD thành công có nghĩa là toàn bộ các hoạt động giáo dục đã đạt được mục đích, đã có chất lượng
Trang 3624
Mục đích GD cho những người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ là làm cho người đã hoàn thành án hình sự có được những hiểu biết đầy đủ về THNCĐ, giúp họ hình thành và phát triển hệ thống thái độ, tình cảm đúng đắn
và tích cực, chủ động trong việc THNCĐ, từng bước trở thành một thành viên
có ích, xây dựng cuộc sống cho bản thân, gia đình, đồng thời nỗ lực đóng góp công sức của mình cho sự phát triển của cộng đồng xã hội
1.4.2 Nội dung giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng
GD là quá trình có nội dung cụ thể Nội dung GD là hệ thống tri thức
về giá trị văn hóa, xã hội mà các đối tượng giáo dục cần phải nắm vững để biến nó thành ý thức, thái độ và hành vi cá nhân
Nội dung GD được chi tiết hóa thành từng mặt phù hợp với trình độ, lứa tuổi, phù hợp với từng tình huống GD cụ thể
Nội dung giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ bao gồm:
Giáo dục ý thức về THNCĐ cho người đã hoàn thành án hình sự
Hình thành cho họ hệ thống những kĩ năng cần thiết trong đó chú trọng đến việc trang bị cho họ những kĩ năng sống
Giáo dục cho họ thái độ tích cực trong đấu tranh chống lại những hành
Phương pháp giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ là
hệ thống những tác động của các lực lượng giáo dục đến người đã hoàn thành
án hình sự thông qua tổ chức các hoạt động đa dạng nhằm giúp họ hình thành
Trang 3725
ý thức tự giác, thái độ đúng đắn và hành động tích cực, chủ động THNCĐ Phương pháp GD ở đây về thực chất là phương pháp tổ chức các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày cho người đã hoàn thành án hình sự
Mục đích, nội dung, phương pháp GD luôn thống nhất với nhau, trong đó, phương pháp GD là yếu tố quan trọng vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật và tính đạo đức giữa vai trò quyết định sự thành công của quá trình GD
Các lực lượng GD ngoài việc căn cứ vào mục đích, nội dung GD, còn phải căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, giới tính, trình độ nhận thức của người đã hoàn thành án hình sự trong các tình huống cụ thể để lựa chọn các phương pháp giáo dục thích hợp
Một phương pháp GD không phải bao giờ cũng thành công đối với mọi đối tượng, mọi tình huống GD Phương pháp GD muôn hình, muôn vẻ, không
có “khuôn mẫu chung” cho mọi trường hợp Phương pháp GD được thực hiện thông qua các biện pháp GD cụ thể
1.4.4 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng
Theo lí luận GD hiện đại, hoạt động được coi là phương tiện GD quan trọng nhất Do đó, để hoàn thiện nhân cách cho người được GD, cần tổ chức các loại hình hoạt động khác nhau cho họ (hoạt động học tập, lao động, vui chơi, hoạt động xã hội, hoạt động tập thể), trong đó, hoạt động càng phong phú và đa dạng bao nhiêu thì quá trình GD càng có hiệu quả bấy nhiêu
Các hoạt động GD được tổ chức cho người được GD theo nhiều hình thức khác nhau Hình thức tổ chức hoạt động thường được hiểu là sự biểu hiện bề ngoài của hoạt động Mỗi hình thức hoạt động GD là một quá trình, hiện tượng GD trọn vẹn, được tiến hành theo một trình tự xác định Theo một hình thức hoạt động nào đó, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, sự tương tác giữa nhà giáo dục và người được giáo dục
Trang 3826
Việc lựa chọn hình thức hoạt động GD phụ thuộc vào nhiệm vụ GD đặt
ra, tính chất của hoạt động, khả năng của người được GD, điều kiện thực hiện
Quá trình GD cho người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ có thể thực hiện bằng các hình thức sau đây:
Thông qua công tác tuyên truyền trong cộng đồng liên quan đến chủ đề THNCĐ cho người đã hoàn thành án hình sự
Tổ chức các buối sinh hoạt chuyên đề “THNCĐ” cho người đã hoàn thành
án hình sự tại địa phương
Tổ chức các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, hội thảo khoa học về chủ đề THNCĐ cho những người đã hoàn thành án hình sự để họ được tự bộc lộ ý tưởng, sáng kiến về các biện THNCĐ phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh của
cá nhân và thực tế địa phương
1.4.5 kết quả giáo dục cho người đã hoàn thành án hình sự tái hòa nhập cộng đồng
Kết quả GD là sản phẩm của những tác động GD theo từng giai đoạn
và của quá trình GD Sản phẩm của giai đonạ này là tiền đề cho giai đoạn sau
và chúng kế thừa nối tiếp nhau để đạt mục đích GD tổng thể
Trong quá trình GD cần thường xuyên đánh giá các hoạt động GD nhằm cung cấp thông tin cho công tác quản lí và tổ chức GD Người được GD phải biết tự đánh giá bản thân để có phương hướng phấn đấu vươn lên
Đánh giá kết quả GD cần khách quan, có tiêu chí và thang đo chính xác Kiểm tra, đánh giá thường xuyên sẽ tạo nên những tác động mạnh đến quá trình tự tu dưỡng của người được GD và hoạt động của tập thể
Kết quả GD cho người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ phản ánh sự phát triển từ nhận thức đến hành động của những người đã hoàn thành án hình
sự có liên quan đến THNCĐ
Trang 3927
Việc đánh giá kết quả GD cho người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ dựa trên những thông tin, số liệu thu được từ công tác này
Trong quá trình đánh giá kết quả GD cho người đã hoàn thành án hình
sự THNCĐ, cần kết hợp các phương pháp và hình thức đánh giá khác nhau
1.4.6 Các lực lượng tham gia giáo dục cho người đã hoàn thành án hình
sự tái hòa nhập cộng đồng
Chủ thể GD là những người trực tiếp đưa đến những tác động cho người được GD Trình độ văn hóa, tầm hiểu biết, kinh nghiệm GD và uy tín của họ ảnh hưởng rất lớn đến đối tượng GD và quyết định sự thành bại của quá trình GD Chính vì vậy, chủ thể GD luôn phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức, nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, luôn là tấm gương cho các đối tượng GD noi theo
Các chủ thể tham gia vào quá trình GD cho những người đã hoàn thành án hình sự bao gồm:
1.4.6.1 Lực lượng công an
Tham mưu cho Ủy ban nhân dân trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác tiếp nhận, quản lí, giáo dục, giúp đỡ người đã hoàn thành án hình sự về cư trú tại địa phương Chủ trì công tác phối hợp với các lực lượng giáo dục khác trong việc xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và những điều kiện cần thiết cho công tác giáo dục người đã hoàn thành án hình sự THNCĐ, đồng thời thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả của công tác này một cách thường xuyên, đảm bảo hiệu quả
1.4.6.2 Các Ban, Ngành, Đoàn thể, các cơ quan, tổ chức tại địa phương
Các Ban, Ngành, Đoàn thể, các cơ quan, tổ chức tại địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, đồng thời phối hợp với các lực lượng giáo dục khác trong
Trang 40Phối hợp với Chính quyền địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan trao đổi, thống nhất biện pháp giáo dục người đã hoàn thành xong án hình sự, kịp thời phát hiện, thông báo cho chính quyền và cơ quan chức năng địa phương về những biểu hiện, thái độ, hành vi vi phạm của người đã hoàn thành xong án hình sự để có biện pháp quản lí, giáo dục phù hợp và xử lí vi phạm kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật
1.4.6.4 Gia đình người đã hoàn thành xong án hình sự
Những người thân trong gia đình người đã hoàn thành xong án hình sự cần thường xuyên động viên, giúp đỡ người đã hoàn thành xong án hình sự xóa bỏ mặc cảm; tích cực lao động, học tập và tham gia các hoạt động xã hội,
ổn định cuộc sống; hỗ trợ, tạo điều kiện giúp người đã hoàn thành xong án hình sự tiếp tục thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự
Phối hợp thống nhất với chính quyền, các cơ quan, tổ chức quần chúng
và nhân dân địa phương trong việc giáo dục người đã hoàn thành xong án hình sự, kịp thời phát hiện, thông báo cho chính quyền và các cơ quan chức năng địa phương về những biểu hiện, hành vi của người đã hoàn thành xong
án hình sự