Tuy nhiên, Nho gi o hông đ n giản là đối tượng phản ánh khách quan của nhà văn mà theo t c giả bài viết còn ăn sâu vào tình cảm nhận thức của Ngô Tất Tố ng trong ài o trên hi l giải cho
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
==========
NGUYỄN MẠNH HÒA
TINH THẦN TỰ PHÁN CỦA NHO GIA THỜI HIỆN ĐẠI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ
(qua “Lều chõng” và các bài báo)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hải Yến
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN MẠNH HÒA
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: VĂN NGHIỆP CỦA NGÔ TẤT TỐ TRONG KHUNG CẢNH VĂN HÓA VIỆT NAM NHỮNG NĂM 30 – 40 CỦA THẾ KỶ XX 12
1.1 i sống văn h a văn chư ng Việt am những năm 9 -1940 12
1.2 on đư ng viết văn của gô Tất Tố 20
Chương 2: CỬA KHỔNG SÂN TRÌNH SAU CUỘC ÂU HÓA 28
ho học – nhìn từ một số s liệu 28
2.2 Nho học qua “lều chõng” 33
hà văn gô Tất Tố đi ra hay tr l i “r ”? 42
Chương 3: DƯ VỊ NHO GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG ”DÂN QUÊ” VIỆT NAM TRƯỚC 1945 54
hìn l i những tác phẩm của gô Tất Tố về “ ân quê” 54
ấu tr c làng x và giai t ng nông thôn từ quan s t của gô Tất Tố 57
3.3 Gia đình và ngư i phụ nữ nông thôn trong các tác phẩm của gô Tất Tố 69
KẾT LUẬN 76
T I LIỆU THAM HẢO 78
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của ề tài
1.1 Cùng với Phật gi o và o giáo, Nho giáo đ để l i những dấu ấn không thể phủ nhận Việt Nam Tuy nhiên, với sự xuất hiện của ngư i Pháp
và cuộc tiếp xúc với văn h a phư ng Tây sau đ đ gây nên những iến động lớn trong xã hội Việt am một trong số đ là việc ho gi o n mất đi ưu thế của mình trên mọi phư ng iện Thế hệ những nhà nho cuối mùa vì thế mang một tâm tr ng đ y mâu thuẫn Họ vừa tiếc nuối về một th i hoàng kim
đ qua vừa quyết liệt phản ứng l i với văn h a văn minh phư ng Tây Và
c ng có lúc họ l i hoài nghi về giá trị và vai trò của đ o Thánh hiền mà mình theo đuổi Những tr ng th i này đ in đậm trong những s ng t c văn học
đư ng th i, nhất là những nhà văn xuất thân từ c a Khổng sân Trình mà gô Tất Tố là một trư ng hợp điển hình
Trong c c nhà văn Việt am thuộc giai đo n trư ng thành của văn học hiện đ i gô Tất Tố 89 - 9 là cây t đa ng: c viết o c ịch thuật iên hảo và s ng t c hưng trước hi nhập làng văn làng o ông l i thụ hư ng một nền gi o ục truyền thống h n thế đ từng lều chõng thi c và
đỗ đ t Thực tế đ đ lưu l i ấu vết trong nhiều t c phẩm của ông àng lo t công trình iên hảo inh điển Nho giáo gắn với tên tuổi gô Tất Tố ng là
so n giả của s ch T T , là ngư i ch giải D , là ịch giả
t u T u t , ất t , là nhà văn giả
của c c t c phẩm T t u , …và nhiều ài o liên quan
đến tư tư ng ho gi o th i cận đ i hư vậy c thể coi i sản này là đ i iện cho một giai đo n của văn ho văn chư ng Việt am mà đ đ i sống hiện
đ i u ho trong thiết chế thực ân ổn định vừa ung chứa vừa đào thải c c
gi trị truyền thống Việc một tr thức truyền thống lên tiếng về những vấn đề quen thuộc của thế hệ mình hiến gô Tất Tố được coi là “nhà nho c c phê ình c tr xét đo n c tư tư ng mới” [36; tr 216] Trong ối cảnh x hội
Trang 5thực ân u ho hiện tượng này hàm chứa nhiều ngh a về sự va ch m chuyển đổi sự vượt tho t về tư tư ng c ng như những giới h n tư tư ng giới
h n hoàn cảnh x hội i n ra ph m vi văn h a văn chư ng
ây là những l o c ản để ch ng tôi lựa chọn đề tài T n t n t
p n n o t n tron s n t t qu u
n v o) cho luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu ề tài
n ến bàn v t t n o o tron s n t a Ngô T t T
Một trong những yếu tố ảnh hư ng đến phong c ch nhà văn ch nh là hoàn cảnh sống, xuất thân của nhà văn ây là những yếu tố t c động một cách trực tiếp đến cách cảm nhận của nhà văn về hiện thực cuộc sống Truyền thống gia đình quê hư ng ch nh là những căn r văn h a sớm ảnh hư ng đến phong c ch nhà văn Xuất thân trong một gia đình c truyền thống Nho gi o
và bản thân Ngô Tất Tố c ng được đào luyện n i c a Khổng sân Trình cội r
đ đ ảnh hư ng đến trước thuật của ông ặc trưng này trong sự nghiệp viết của Ngô Tất Tố đ được h u hết c c nhà nghiên cứu đ chỉ ra Tiêu iểu như
nhà nghiên cứu Kiều Thanh Quế với ài “Phê ình L u chõng” o Tri tân,
số 33, ngày 23.1.1942), mục viết về gô Tất Tố trong v của
V gọc Phan 9 -1945), Phong Lê với ài “ gô Tất Tố - một chân dung
lớn, một sự nghiệp lớn” T p v ọc, số năm 99 Vư ng Tr hàn với ài “ hà nho thức th i – ngòi bút tình cảm Ngô Tất Tố” T p v ọc,
số năm 99 Phan Cự ệ với ài “ gô Tất Tố sống mãi trong lòng cách
m ng” trong Ngô Tất T toàn tập, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục năm 996
nhà văn V T am với bài viết “ ây t sắt sắc bén của một nhà nho” o
, số 1, ra ngày 1.1.1994), nhà nghiên cứu V Tuấn nh c “ gô Tất
Tố - cây t cựu học giữa th i tân văn” u ọ số năm
6 …
Trang 6Nhà nghiên cứu Vư ng Tr hàn trong ài viết “ hà nho thức th i, ngòi bút tình cảm Ngô Tất Tố” đ nhận xét: “Giữa những dòng chữ ngư i đọc không c n tinh ý lắm c ng đọc ra được nỗi ngây ngất của ông đ u xứ trước quá khứ đẹp đẽ của mình và c c s để ng rằng mãi mãi về sau ông còn nhấm nháp vẻ thi vị của nó một cách hào hứng” [34; tr.178] Trong nhận xét này Vư ng Tr hàn đ gi n tiếp đề cập đến ảnh hư ng của Nho giáo trong sáng tác của Ngô Tất Tố Tuy nhiên, Nho gi o hông đ n giản là đối tượng phản ánh khách quan của nhà văn mà theo t c giả bài viết còn ăn sâu vào tình cảm nhận thức của Ngô Tất Tố ng trong ài o trên hi l giải cho sự linh ho t của ngòi bút Ngô Tất Tố Vư ng Tr hàn cho rằng “triết lí của đ o khổng vẫn c điểm tựa cho những ngư i ham sống, biết lựa chiều cuộc sống để t n t i một cách hợp l ” [34; tr.56] ây thực chất là quan niệm
về bổn phận của một kẻ s còn phảng phất trong cách ứng x với th i thế của Ngô Tất Tố
Trong l i giới thiệu cho Ngô Tất T toàn tập xuất bản năm 996 t c
giả Phan Cự ệ đ àn luận khá chi tiết về tư tư ng ho gi o trong cuộc đ i
và sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố Nhà nghiên cứu đ t i hiện l i bối cảnh lịch s th i đ i Ngô Tất Tố, quá trình di n biến tư tư ng của nhà văn khi ông
“vượt lên ph a trước đuổi kịp thế hệ và tr thành một trong những ngư i tiến
bộ nhất của lớp nhà nho cuối mùa” [26; tr.10] Và nhà nghiên cứu khẳng định:
“Sự phê phán của Ngô Tất Tố đối với Khổng T và Nho giáo không phải là
sự phủ định toàn diện và triệt để Chỗ đứng của Ngô Tất Tố vẫn là lập trư ng của một nhà nho” [26; tr.38] Theo Phan Cự ệ ch nh vì xuất thân là môn đ Khổng giáo nên những tư tư ng ho gi o vẫn vư ng vấn Ngô Tất Tố với những hình ảnh có ph n thi vị về một th i vang bóng qua một số mẫu hình
nhà nho, một số cảnh sinh ho t Nho học trong L u chõng và Trong r ng nho
hà văn V T am trong ài viết “ ây t sắt sắc bén của một nhà nho” c ng nhận xét về phong cách của Ngô Tất Tố thế này: “ ếp sống của
Trang 7ông trước sau vẫn giữ phong cách của một nhà nho - nhưng là một nhà nho với bản l nh và c t nh đặc biệt, vừa nghiêm t c vui tư i sâu sắc mà ho t bát, trí tuệ và tâm tư luôn năng động, chân thành gắn bó với những con ngư i và
sự vật xung quanh c ng c ngh a với vận mệnh đất nước” [14; tr.185] Trong nhận định này nhà văn V T am c ng khẳng định những điểm tích cực của Nho giáo trong lối sống tư tư ng của Ngô Tất Tố
Trong bài viết “ gô Tất Tố - Cây bút cựu học giữa th i tân văn” nhà nghiên cứu V Tuấn nh đ phân t ch và chỉ ra dấu vết “cựu học” còn được bảo lưu trong tư tư ng c ng như lối viết của Ngô Tất Tố Bên c nh đ t c giả bài viết còn cho thấy những biểu hiện của “tân văn” trong những thể lo i Ngô
Tất Tố lựa chọn để sáng tác Ông cho rằng tiểu thuyết L u chõng là: “cuộc
chia tay hông t lưu luyến của nhà văn với quá khứ của chính ông, và t m
v mô của văn h a mới với văn h a ho gi o” [1; tr.20] Ở cấp độ khái quát
h n t c giả V Tuấn Anh viết: “Vốn hiểu biết phong phú về Khổng giáo, về
sinh ho t trư ng ốc thi c của một ngư i thông hiểu T t ũ k và đ
từng nghiệm sinh một th i lều chõng đ t o nên những trang viết giàu t nh tư liệu của một nhà khảo cứu và giàu t nh sinh động của một cây bút phóng sự” [1; tr.19– ] hư vậy, nhà nghiên cứu V Tuấn nh đ chỉ ra sự tác động của tư tư ng Nho gi o đến sáng tác của Ngô Tất Tố như một tất yếu Cho dù phê phán Nho học, trong sáng tác, chất Nho gi o vẫn t n t i như một “vô thức sáng t o” của nhà văn, điều đ cho thấy ông hông hước từ hoàn toàn hệ tư
nhiều t c giả lấy đề tài từ văn h a ho gi o như hu Thiên với cuốn Bút
Trang 8nghiên (1942), cuốn Nho giáo (in năm 1943), Nguy n Công Hoan với
cuốn T a m hưng trong các tác phẩm c đề tài Nho giáo, Ngô Tất Tố
không những có số lượng sáng tác nhiều nhất đề tài phong phú nhất mà tư
tư ng c ng sâu sắc h n c t c phẩm của ông đều thể hiện không gian đậm đà văn h a ho gi o của xã hội Việt Nam từ nhiều góc độ h c nhau” Và tác giả bài viết đi đến kết luận: “ gô Tất Tố dành nhiều tâm huyết trong nghiên cứu văn h a ho gi o và trong những tác phẩm của ông, bất kể là tiểu thuyết hiện thực, tiểu thuyết lịch s hay ký sự đều mang đậm dấu ấn văn h a ho giáo, thể hiện tình cảm đặc biệt đối với văn h a ho gi o của tác giả” [15]
hư vậy, nhiều nhà nghiên cứu bằng những g c độ tiếp cận khác nhau đều chỉ ra hình bóng Nho gi o ho họctrong t c phẩm của Ngô Tất Tố trong
đ ph n viết “ gô Tất Tố và ho gi o” trong ọ t a -1945
của Phan ự ệ là nghiên cứu sớm nhất đ đi sâu vào vấn đề này là những hình ảnh hiện thực của qu hứ được t i t o là sự hiện iện của Nho giáo trong vốn tri thức con đư ng đi và những ấu vết của n trong thi ph p
Và một số nghiên cứu đ chỉ ra t nh “đa thanh” trong ứng x của Ngô Tất Tố với Nho giáo: cảm hứng trân trọng hiện diện bên c nh tinh th n phê phán
2.2 Nh ng ý kiến bàn v tinh th n phê phán trong sáng tác c a Ngô T t T
Theo quan s t của ch ng tôi những iến àn về tinh th n phê ph n của gô Tất Tố được trình ày trong những ài viết hoặc mang t nh h i qu t hoặc là những nghiên cứu c c t c phẩm cụ thể
Tác giả Tr n Hữu Tá, hi đ nh gi về u đ nhận xét: “ gô
Tất Tố đ phê ph n n chế độ khoa c ) một cách sắc sảo ng đ ựng l i
h sinh động những cách học hành cổ lỗ, l c hậu c ng như chế độ thi c phiền toái, nghiệt ngã, mục n t ưới triều Nguy n Tác phẩm về căn ản có ngh a chống l i phong trào phục cổ do thực ân đề xướng hi đ ” [35; tr.852] ng trong mục này, Tr n Hữu Tá còn chỉ ra mâu thuẫn tư tư ng của Ngô Tất Tố thể hiện trong tác phẩm: “ gô Tất Tố chưa c th i độ phê phán
Trang 9triệt để, nhất là với chế độ giáo dục phong kiến Tác giả đ t nhiều thi vị hóa một số cảnh sinh ho t của c c nhà nho l tư ng hóa một số nhân vật thuộc giới đ làm nghề d y học… và nhất là đ m nho s tài hoa ất đắc chí, với lối
sống ngông nghênh, nhàn tản, mang tính chất tiêu cực của họ” [35; tr.852]
ng trong T ể v ọc, Tr n Hữu Tá cho rằng tập phóng sự Vi c
làng của Ngô Tất Tố “trình ày một c ch sinh động những sự đau x t về các
tục lệ “qu i g , mọi rợ” nông thôn Thông qua tác phẩm, Ngô Tất Tố c ng phê phán một số hiện tượng tiêu cực trong tâm l tư tư ng ngư i nông dân: bệnh chuộng hư anh trọng ngôi thứ” [35; tr.1991] Theo Tr n Hữu Tá có thể nhận ra tư tư ng tiến bộ của nhà văn gô Tất Tố trong lo t phóng sự điều tra
về đ i sống nông thôn Trong đ c tinh th n khách quan phê phán những hủ tục trong đ c những hủ tục là hệ quả của Nho giáo n tr thành một mối
n n, là gánh nặng đè nén và làm n cùng h a đ i sống của ngư i nông dân
ng quan điểm với Tr n Hữu Tá, nhà nghiên cứu Phan Cự ệ trong
giáo trình ọc Vi t Nam (1900–1945) c ng cho rằng hai tập phóng sự
Vi c làng và Tập á á ì đ thể hiện m nh mẽ tinh th n phê phán hủ tục
n i thôn quê: “Trong hai tập phóng sự Tập á á ì và Vi c làng, Ngô Tất
Tố tìm c ch ph i tr n những sự thật xấu xa về các hủ tục nông thôn xem đ
là một c i gì vô l “qu i g ” “mọi rợ” và đặt chính quyền thực ân trước nhiệm vụ phải giải quyết” [5; tr 9] ng trong công trình này Phan ự ệ
còn tiếp tục đưa ra những nhận xét về đ i sống Nho giáo trong tiểu thuyết L u
chõng Ông cho rằng: “L u chõng ném ra một bức tranh màu xám với những
đư ng nét tối sẫm Bằng kinh nghiệm cuộc đ i mình, Ngô Tất Tố c điều kiện hiểu rõ h n c c nhà văn l c ấy gi về những sự thối nát của chế độ khoa c phong kiến” [5; tr.392] Nhà nghiên cứu Phan Cự ệ đ chỉ ra ảnh
hư ng đậm nét của Nho giáo trong giấc mộng công danh, một lựa chọn lập thân bằng con đư ng khoa bảng song bất thành của nhà văn Không ừng l i
đ nhà nghiên cứu Phan Cự ệ còn khẳng định: “L u chõng còn là một tấn
Trang 10bi k ch của những nhà nho trí thức ưới chế độ phong kiến là sự sụp đổ
thảm h i về mặt tinh th n của những ngư i trí thức suốt đ i lấy khoa c làm con đư ng tiến thân nhưng l i bị hoàn toàn thất vọng” [ ; tr.394]
ên c nh đ nhà nghiên cứu Phan Cự ệ c ng phân tích tinh th n tự
phán của Ngô Tất Tố Trong l i giới thiệu Ngô Tất T toàn tập, ông đ chỉ ra
những biểu hiện “nhận thức l i ho gi o” của nhà văn này Phan ự ệ đ nhìn thấy Ngô Tất Tố những biểu hiện của “một nhà nho bất kính với
Khổng T ” [26; tr.15] ộc lộ qua những tác phẩm L u chõng, Trong r ng
nho, trong một số bài báo và cả trong sự nghiệp khảo cứu và dịch thuật của
Ngô Tất Tố Phan Cự ệ đ chỉ ra tinh th n phê phán khách quan của Ngô
Tất Tố khi tiếp nhận một số s ch inh điển nho gia như Kinh d ch, một số quan điểm tư tư ng của Lão T , Trang T , hay phê bình cuốn Nho giáo của
Tr n Trọng Kim
Khi tổng kết về thể ký Việt Nam thế kỷ XX trong sách ọc Vi t
Nam thế kỷ XX, tác giả Lê Dục T c ng đ ành nhiều nhận xét khẳng định
đ ng g p của Ngô Tất Tố cho thể lo i Bà viết: “Vi c làng cùng với Tập án
á ì của Ngô Tất Tố là bản cáo tr ng đanh thép v ch tr n sự vô l đến tàn
nhẫn của những hủ tục l c hậu đ nhấn chìm ao ngư i nông dân vào cảnh khốn cùng” [6; tr.383] Nhận định này tiếp tục khẳng định tinh thấn phê phán những hủ tục là hệ quả của nho gi o trong đ i sống ân quê ng th i tác giả
Lê Dục Tú còn cho Vi c làng và Tập á á ì đ “chỉ ra những nguyên nhân
t n t i những hủ tục chốn thôn quê là do chính quyền thực dân phong kiến thực hiện ch nh s ch “chia để trị” Mặt khác chúng l i cố duy trì tình tr ng l c hậu nông thôn để d bề cai trị” [6; tr.386] Qua nhận định này, nhà nghiên cứu Lê Dục T đ chỉ ra sự tiến bộ trong tư tư ng của Ngô Tất Tố hi ông đ sớm nhận ra sự bất cập của văn h a truyền thống trong đ i sống thôn quê
Nhà nghiên cứu ngư i Trung Quốc Hoàng Khả ưng c ng đ nh gi cao thành công trong thể lo i phóng sự của Ngô Tất Tố th i độ phê phán
Trang 11Ông viết: “ c sự Tập á á ì đ thể hiện sự phê ph n
quyết liệt với những cặn phong iến xuất ph t từ văn h a ho gia ùng với đ hi đối iện hiện thực đen tối của x hội Việt am ưới chế độ thống trị của thực ân Ph p gô Tất Tố l i lấy tư tư ng văn h a truyền thống tốt đẹp của ho gi o làm thước đo tiến hành phê ph n một c ch “sắc l nh” hiện thực x hội vô nhân t nh thể hiện nhận thức t ch cực với một số văn h a ưu điểm ho gi o” [15]
Nói tóm l i, vấn đề Nho giáo trong sáng tác của Ngô Tất Tố đ được nhiều nhà nghiên cứu để tâm Có thể thấy nổi lên hai lu ng ý kiến a số các
ý kiến đều khẳng định Ngô Tất Tố là một nhà nho tiến bộ Biểu hiện là việc các nhà nghiên cứu đ chỉ ra tinh th n nhận thức khách quan về Nho giáo của Ngô Tất Tố là tinh th n phê phán sự bất cập của Nho giáo trong hoàn cảnh mới Là sản phẩm của nền giáo dục khoa c nhưng gô Tất Tố không tôn sùng ho gi o để cổ v cho phong trào phục cổ đư ng th i Mặt khác, một số nhà nghiên cứu còn chỉ ra tâm tr ng nuối tiếc của Ngô Tất Tố về một
th i vàng son của Nho giáo khi ông miêu tả một số cảnh sinh ho t trư ng ốc, qua hình ảnh một số nhân vật nhà nho đ y thiện cảm iểm l i những ý kiến trên với tinh th n kế thừa ch ng tôi xem đây là những gợi m ổ ch để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục ch và nhiệ vụ nghiên cứu
3.1 Mụ í n ên ứu
Luận văn tập trung làm rõ những biểu hiện của tinh th n tự ph n mà
gô Tất Tố đ thể hiện trực tiếp qua c c ài o và gi n tiếp qua thế giới nghệ thuật của t c phẩm văn chư ng đối với sự t n t i của Nho giáo trong xã hội Việt Nam những năm 9 – 9 Từ đ c thể đem l i một c i nhìn cụ thể h n về con đư ng đi vào hiện đ i của văn học văn h a Việt am ên
c nh đ luận văn c ng sẽ là một hảo s t về thế ứng x của những cây t
Trang 12xuất thân ho học trước những nhu c u của x hội hiện đ i hai phư ng iện: tư tư ng và t ph p
3.2 Nhi m vụ nghiên cứu
Luận văn chỉ ra những biểu hiện tinh th n tự phán của gô Tất Tố thể hiện trong những t c phẩm tiêu iểu của ông ua đ phân t ch và tìm hiểu xem một nhà nho sống vào th i ỳ u h a hoàn tất như gô Tất Tố c thể và hông thể làm gì với i sản ho gi o tìm hiểu xem đề tài Nho giáo có vai trò
ra sao trong sự nghiệp văn chư ng của Ngô Tất Tố
ua một trư ng hợp t c giả ho học s ng t c văn chư ng những năm
9 - 9 nghiên cứu sẽ: 1/ Một l n nữa làm rõ t nh chất giao th i của văn học s Việt am; 2/ Tìm hiểu vị tr của c c gi trị truyền thống, qua đ i iện
là tư tư ng ho gi o và phư ng thức ứng x của tr thức xuất thân ho học với ch nh n trong đ i sống hiện đ i
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.2 Ph m vi nghiên cứu
- Ph m v t l u: hư trên đ n i, gô Tất Tố để l i một lượng trước thuật
phong ph cả về chủng lo i và số lượng Tuy nhiên trong huôn hổ và t nh chất của một luận văn chuyên ngành văn học ch ng tôi sẽ tập trung vào c c tác phẩm văn xuôi của Ngô Tất Tố được s ng t c trong giai đo n trước Cách
m ng th ng T m 9 như: L u chõng c đối s nh với Trong r ng nho T t
) và c c ph ng sự ài o đ được sưu t m trong Tất T T ểu p
á Tu ển chọn t ơ ột ì á ới tìm thấy ao ắc
Trang 13iểm sưu t m iên so n x ội hà văn và Tất T t tập
ữ uy guyên chủ iên; Phan ự ệ giới thiệu tập 996 x Văn học òn c c công trình iên hảo ịch thuật của gô Tất Tố về văn liệu s liệu Trung oa và Việt am truyền thống và những tác phẩm đư ng th i sẽ được ùng như những ữ liệu ổ trợ hi c n thiết
- Ph m vi nghiên cứu: Sau trên một thế ỷ t n t i và ảnh hư ng đến đ i sống
tinh th n văn ho của Việt am sự va ch m của hệ tư tư ng này và c c môn
đệ của n với đ i sống hiện đ i là ằng ai và phức t p on đư ng c m t sắt của một nhà nho như gô Tất Tố và toàn ộ i sản của ông chắc chắn là những minh họa rõ nét cho thực tế đ Sự “tự ph n” trong trư ng hợp cụ thế này được ch ng tôi ùng theo ngh a: nhà văn phê ph n hệ tư tư ng ho gi o
và phê ph n giai t ng của mình nhà nho ụ thể trong luận văn này ch ng tôi sẽ tập trung vào những iểu hiện tự phê ph n tư tư ng ho gi o của gô Tất Tố với tư c ch một nhà văn xuất thân ho học qua: c ch ông xây ựng
và iểu tả nhân vật nho sinh; c ch ông thể hiện quan niệm của mình về một
số vấn đề của ho học của tư tư ng ho gi o như thi c inh s ch hình ung x hội gia đình…
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Do đề tài là liên quan đến ho gi o và nhà nho nên c c tri thức và g c nhìn văn ho học sẽ là hướng tiếp cận căn ản ể ảo đảm c thể giải quyết thấu đ o c c vấn đề đặt ra
- ên c nh đ vì đề tài c ng là một hiện tượng văn học s , nên cách tiếp cận hông thể thiếu của luận văn là phư ng ph p văn học s , tức là đặt và
lý giải các vấn đề trong hoàn cảnh xuất hiện của nó và trong tiến trình phát triển trước c ng như sau đ
ai phư ng ph p tiếp cận đ văn học s và văn ho học sẽ được s ụng song song trong suốt luận văn và sẽ được cụ thể ho qua c c thao t c: thống ê phân t ch so s nh…
Trang 146 Ý nghĩa l luận và ý nghĩa thực tiễn của ề tài
6 Ý n ĩ lí luận
- Trên c s thống ê hệ thống c c t c phẩm gô Tất Tố viết về gi o
ục ho học và những vấn đề liên quan đến hệ tư tư ng ho gi o ch ng tôi
sẽ chỉ ra phư ng thức ứng x của t c giả với hệ tư tư ng mà ông đ tiếp nhận
h trọn vẹn
- Phân t ch đ nh gi th i độ ứng x đ trong hung cảnh văn ho văn chư ng đư ng th i nhằm chỉ ra hả năng tự vượt tho t và những giới h n của
ản thân t c giả hoàn cảnh
- ổ sung thêm điểm nhìn về sự nghiệp của nhà văn gô Tất Tố c ng
như ối cảnh giao th i của văn ho văn chư ng Việt am
6 Ý n ĩ t c tiễn
Nội dung của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ngư i quan tâm, nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố và òng văn hiện thực phê phán Việt am c ng như tr ng th i của Nho giáo Việt Nam giai
đo n trước năm 9
7 Cấu tr c của luận văn
Ngoài các ph n Mở ầu, Kết Luận và Tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành chư ng như sau:
hư ng Văn nghiệp của gô Tất Tố trong hung cảnh văn h a Việt
am những năm - của thế ỷ XX
hư ng a Khổng sân Trình sau cuộc u h a
hư ng Dư vị ho gi o trong đ i sống “ ân quê” Việt am
trước 9
Trang 15Chương 1 VĂN NGHIỆP CỦA NGÔ TẤT TỐ TRONG KHUNG CẢNH VĂN HÓA VIỆT NAM NHỮNG NĂM 30 – 40 CỦA THẾ KỶ XX
1.1 Đời sống văn h a văn chương Việt Na nh ng nă 30-1940
Trong ph n này, chúng tôi tập trung tổng thuật l i tình hình văn hóa và văn học Việt Nam trong hoảng 40 năm đ u thế ỷ XX như một nền tảng để xác định vị trí của Ngô Tất Tố c ng như quan điểm của nhà văn về Nho giáo
Việt Nam
1.1.1 t s n v n
ước sang thế kỷ XX văn h a Việt Nam bắt đ u có những chuyển biến sâu sắc Sự chuyển động của đ i sống văn h a càng tr nên rõ rệt khi thực dân Pháp thực hiện xong công cuộc ình định những phong trào kháng chiến của s phu yêu nước và kh i ngh a nông ân Tiếp đ là hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp (l n 1 từ năm 987 đến năm 9 l n 2 từ năm 9 đến năm 9 9) đ làm iện m o văn h a Việt am thay đổi
Có thể thấy, trong x hội Việt am th i ỳ phong iến Nho giáo chi phối đến mọi mặt trong đ i sống: thiết chế ch nh trị tổ chức x hội gi o ục
đ o đức, Mặc dù chỉ có nho s - t ng lớp trí thức – trực tiếp tiếp xúc hệ thống sách v inh điển của đ o ho nhưng vì họ vốn xuất thân và sống chủ yếu nông thôn nên tư tư ng Khổng M nh qua họ, vô hình chung được truyền và ăn sâu vào tư uy x hội Việt am Thêm vào đ là việc xây dựng các thiết chế xã hội đến tận làng x thư ng dựa trên những quan niệm Nho giáo khiến cho tư tư ng này ăn sâu vào nếp sống nếp cảm, nếp ngh của ngư i Việt hưng tình tr ng này đ thay đổi khi các thiết chế dân sự Pháp được vận hành trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
Thay đổi c ảnh hư ng quan trọng đến vị thế của ho gi o trong đ i
sống văn ho là những cuộc cải c ch giáo dục của ch nh quyền thực ân Với
Trang 16mục đ ch biến Việt Nam thành thuộc địa lâu dài và đ ng ho xứ s này, thực dân Ph p đ m một số trư ng học d y tiếng Pháp nhằm đào t o đội ng viên chức, thừa hành t i ông Dư ng Tuy nhiên, an đ u họ vẫn cho tổ chức những kỳ thi Hán học nhằm xoa dịu tinh th n phản kháng của những môn đ Khổng T Việt Nam Sang đ u thế kỷ XX, sau hi giải t n trư ng ông Kinh gh a Thục o c c ch s uy tân lập ra thực dân Pháp đ ùng một mô hình mới thay thế Hệ thống c c trư ng tiểu học Pháp Việt được m rộng nhằm thay thế d n Hán học i từng ước, c c hoa thi ư ng ội ình ị bãi bỏ với mục đ ch chấm dứt vai trò của ẻ s truyền thống Hệ thống giáo dục mới sau hai l n cải c ch đến năm 9 7 đ thực sự được “Ph p ho ” g m
có ba cấp: tiểu học, trung học, và cao đẳng/đ i học n nữa “trong nội dung chư ng trình giảng d y của hệ thống giáo dục này, thực ân Ph p đ lo i trừ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt am thay vào đ là chư ng trình truyền “văn minh đ i Ph p” nhằm đào t o một thế hệ ngư i Việt am “mất gốc” hông c tinh th n yêu nước và ý thức về số phận của ngư i dân mất nước,
nô lệ để từ đ phục vụ đắc lực cho công cuộc thống trị” [9]
Hệ quả của chính sách gi o ục thực dân n i trên là xã hội Việt Nam
trong qu ng những năm 9 đến 1940 t n t i hai kiểu người trí thức Nho
học và Tây học Hai kiểu ngư i trí thức này là đ i diện cho hai mô hình văn hóa trong xã hội Việt Nam đư ng th i Trí thức Nho giáo ph n lớn lựa chọn bảo vệ những giá trị truyền thống mà các thế hệ tiền bối dày công xây dựng
Và sau ngày c c cuộc vận động canh tân văn ho của lớp ch s uy tân l n lượt thất i c hội ành cho những tr thức cựu học càng tr nên hiếm hoi hoặc r t về làng quê hoặc gia nhập vào cư ân thành thị chấp nhận u ho
òn trí thức Tây học đ tr thành những đ i sứ văn h a và c t c động đến nhận thức của xã hội Việt Nam lúc bấy gi theo hướng u ho từ tư uy khoa học đến thị hiếu thẩm m , Tuy nhiên hai hệ thống văn ho này hông phải l c nào c ng iệt lập mà thư ng xuyên h n là tr ng th i đan xen
Trang 17Bên c nh đ sau hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, hệ
thống xã hội Việt Nam phát triển đ éo theo sự phát triển ạnh của ô thị và tầng lớp thị dân Và đô thị c ng không chỉ đ n giản là sinh ho t của
những thành phố lớn như à ội, Hải Phòng Nhiều vùng quê c ng ắt đ u ước vào òng cuốn đô thị hóa, nhận thức dân quê c ng hông thể giữ nguyên tr ng th i c Về văn h a đô thị đ t o ra kiểu ngư i thị dân Những giá trị văn h a truyền thống bị đem ra so s nh với lối sống tân th i Những sáng tác của Tr n Tế Xư ng đ n i tới sự lên ngôi của đ ng tiền thành thị Dưới con mắt của nhà th đ ng tiền làm huynh đảo xã hội thay đổi truyền thống thói tục và luân thư ng đ o l hưng đến Nguy n nh đô thị với lối sống phư ng Tây hiện đ i đang xâm nhập và lấn chiếm những văn h a cổ truyền và đ i sống giản dị chân quê là “ hăn nhung qu n l nh rộn ràng” thay thế cho những vẻ đẹp thẩm m cổ truyền “hoa chanh n giữa vư n
chanh” Chân quê)
Tuy nhiên, mọi di n tiến của nền văn h a mới đều vấp phải tinh th n phản kháng của văn h a truyền thống Nội dung cuộc xung đột văn h a này được nhà nghiên cứu Lê Trí Vi n t m lược như sau:
“ an đ u lúc phong trào uy tân đang ng bột o quan điểm yêu nước, lập trư ng dân tộc chi phối và việc tiếp thu ý thức tư sản còn nông c n,
c c s phu tiến bộ nhằm tranh đấu cho một cái mới có bí quyết làm cho “nước giàu dân m nh” hưng n d n công thư ng ph t triển, giai cấp tư sản đòi hỏi được tiếp xúc với một nền học thuật, một nền văn h a mới Do đ mà thực dân Pháp, mặc dù muốn duy trì thứ học thuật phong kiến l c hậu c ng phải làm ra vẻ tiến bộ, bãi bỏ thi c và việc học chữ Hán, và m một trư ng
đ i học để làm quảng c o ến hi con ngư i tư sản và tiểu tư sản đ trư ng thành hẳn hoi đòi hỏi được mọi quyền tự o hư ng thụ cuộc đ i thì cá nhân chủ ngh a vấp phải mọi sự ràng buộc của l giáo phong kiến Kết quả chưa
có bên nào thắng hẳn Về mặt học thuật văn h a thì ph i c phải bắt buộc quy
Trang 18hàng và nhận lấy lẽ phải để Nho học như ng chỗ cho Tây học đ ng th i gánh lấy trách nhiệm khiêm tốn là “ àn giao” những gì còn giá trị của Nho học cho các lớp ngư i mới” [64; tr.125]
hư vậy, có thể nhận thấy sự chuyển động văn h a trong n a đ u thế
kỷ XX đ t o ra ước ngoặt lớn Sự song hành và xung đột c - mới ông – Tây r i sự lấn lướt sau đ của c c yếu tố phư ng Tây đ uộc x hội và con ngư i Việt Nam phải vận động phải thích ứng Sự chuyển biến về nền tảng văn h a c ng là t c nhân làm thay đổi cách nhìn nhận và quan điểm thẩm m của ngư i Việt mà trước hết là lớp tr thức hững thay đổi và xung đột này
đ thẩm thấu vào h u hết trước thuật của Ngô Tất Tố
1.1.2 n n t m t s n m t Đ n s n
Cùng với sự biến động của xã hội và văn h a văn học Việt am c ng c những biến đổi lớn lao trong năm đ u thế kỷ XX hìn nhận l i một trong những sự iện đặc iệt quan trọng của giai đo n này là sự xuất hiện của Th mới oài Thanh và oài hân đ chỉ ra nhiều nhân tố t o nên phong trào mang t nh c ch m ng này trong th ca Một trong số đ là vai trò ấu nối chuyển tiếp của thế hệ cựu học thông qua nhân vật Tản à “ ung chiêu anh
h n Tản à” m đ u cuốn Thi nhân Vi t Nam đ khẳng định những “đứa con
đ u lòng của thế kỷ hai mư i” hông phải là “những quái thai của th i đ i, những đứa thất cước không có liên l c gì với quá khứ của giống nòi” [52; tr.6]
Thực tế sự iến đổi của văn chư ng Việt am ưới những t c động phư ng Tây c sự đ ng g p của nhiều nhân tố Dưới đây ch ng tôi sẽ đề cấp đến vấn đề ảnh hư ng m nh mẽ đến sự chuyển hướng của văn chư ng đ u thế ỷ XX và liên quan trực tiếp đến đư ng đ i gô Tất Tố) là: Phong trào văn ho như ông Kinh gh a Thục (1907 – 1908), phong trào Truyền
bá Quốc ngữ (1938); Sự ra đ i của o ch ; và Tình tr ng phân ho trong đội ng viết
Trang 19Phong trào ông Kinh gh a Thục là một tổ chức có quy củ do một
nh m s phu yêu nước tiến bộ sáng lập như guy n Quyền ư ng Văn an oàng Tăng Dư ng Tr c Tổ chức này lập ra trư ng tư thục d y học với mục đ ch cổ động việc uy tân trên c s d y học bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán và tiếng Pháp trong đ chữ uốc ngữ vị tr quan trọng nhất và
uy tân ằng c ch thay đổi lối học s ch v học Nội dung giảng d y không phải là Tứ thư g inh như trước mà thay vào đ là c c iến thức khoa học phổ thông như lịch s địa lý, khoa học, về “đ i sống mới” ên c nh việc
giảng d y trư ng còn cho xuất bản t ổ Tùng báo và i Vi t Tân báo
làm c quan ngôn luận và sinh ho t tư tư ng c ng như cổ động cho trư ng in
và phổ biến sách của nhà trư ng c ng như Tân thư từ nước ngoài g i về T n
t i chưa đ y một năm song ông Kinh gh a Thục đ c công lớn trong việc
x c lập vị tr vững chắc cho chữ uốc ngữ trong gi o ục và văn chư ng hiện
đ i ùng với việc đ ng thuận xo ỏ việc ùng chữ n phong trào đ làm một cuộc c ch m ng tư tư ng là phê ph n sự hủ i của tư tư ng ho gi o đối với con đư ng uy tân đất nước Vì ản thân c c thành viên của ông Kinh gh a Thục là nho gia mang tinh th n canh tân nên đây thực chất là những hành động tự ph n và vì họ là những ngư i mang tinh th n i quốc nên công cuộc o họ h i xướng tr thành một ảo đảm thiêng liêng cho những chủ trư ng văn ho trong đ c văn chư ng được đề xuất
Sự ra đ i của Hội truyền bá Quốc ngữ ra đ i khoảng những năm 9 8
c ng g p ph n phổ biến chữ Quốc ngữ rộng rãi trong xã hội Việt Nam Ho t động của hội c ng nhanh ch ng làm thay đổi đ i sống văn h a văn học Việt Nam B i lẽ với sự thuận lợi trong việc làm chủ chữ Quốc ngữ, ho t động sáng tác và tiếp nhận văn học c ng tr nên thuận lợi h n chữ Hán rất nhiều
hân tố thứ hai g p ph n đ ng ể vào sự phát triển của văn học đặc iệt là văn chư ng viết ằng chữ uốc ngữ là báo chí Nếu như những năm
đ u thế kỷ XX, b n đọc Việt am tìm đến báo chí chủ yếu để làm quen với
Trang 20chữ Quốc ngữ thì đến giai đo n những năm 9 – 9 tình hình đ c chuyển biến Số lượng t báo t p ch đăng xuất bản ngày càng nhiều, nổi
tiếng phải kể đến là Nam Phong t p chí, Phụ nữ t v á T ểu
t u ết t Tiểu thuyết th bảy, Tr t T a ặc biệt dung
lượng ành cho văn học trên các t báo ngày một gia tăng o ch l c này đ
tr thành phư ng tiện đắc lực để m rộng ho t động văn ho , văn chư ng Các t báo trong giai đo n này thư ng tr thành di n đàn để c c nhà văn trao đổi ý kiến, học hỏi kinh nghiệm sáng tác từ việc xây dựng hình tượng đến thuật viết giới thiệu t c phẩm mới Kh nhiều nhà văn tho t tiên đ th sức trong ho t động báo chí, r i từ đây tr thành t c giả văn học; c ng c ngư i thông qua o ch để m rộng được số lượng độc giả c ng như trình ày một cách trực tiếp quan điểm tư tư ng của mình về thực t i xã hội
Từ những thay đổi nhiều mặt n i trên đội ng viết văn c ng iến chuyển Chỉ tính riêng địa h t văn học viết, suốt mư i thế kỷ văn học Việt Nam th i trung đ i chủ yếu lực lượng sáng tác là nhà nho Với sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ, học vấn phư ng Tây cùng nhà in và o ch lực lượng sáng tác của văn học Việt Nam những thập niên đ u của thế kỷ XX bắt đ u chuyển động Thay thế c c cây t cựu học là c c tác giả có xuất thân Nho học nhưng được tiếp thu văn h a phư ng Tây và nền học vấn hiện đ i r i sau
đ là lớp t c giả hoàn toàn u học ai sự iện c t c động quyết định đến sự thay đổi này ch nh là việc phế ỏ thi c ho học và thiết định hệ thống trư ng học Ph p-Việt mà ch ng tôi đ n i trên
Sự thay đổi của t ng lớp trí thức và những biến động trong đ i sống cả
về vật chất và tinh th n đ éo theo sự thay đổi về quan niệm viết Nếu như trước đây ngư i s ng t c văn chư ng luôn thức mình là ngư i mang “đ o” mang “ch ” của bậc thánh hiền vào văn chư ng văn chư ng là tiếng n i “tâm ngữ tâm” ành cho những ngư i đ ng đ o tri ỷ tri âm chứ hông chủ trư ng hướng tới thực t i đ i sống i h c trong đ i sống văn chư ng nhà nho
Trang 21ho t động tiếp nhận văn chư ng chủ yếu là sự thù tiếp giữa những ngư i cùng giới Tác phẩm văn học c ng hông được phổ biến rộng r i Phê ình văn học
c ng ừng l i lối “tri âm” đ ng cảm thư ng lãm hưng đến th i ỳ này nhà văn hông còn đ n thu n là nhà đ o đức mà còn là một ngư i viết văn để kiếm sống ng th i viết để iếm sống và viết cho o ch c ng là những nhân tố t c động rất m nh đến sự thay đổi quan niệm viết: từ n i ch tải đ o
n chuyển sang “tả chân” hoặc gắn với chủ đ ch của từng t o mà mình cộng t c T m l i từ những năm đ u thế ỷ XX tr đi những ngư i c m t vốn được rèn r a theo quan niệm n i trên đ tự chuyển mình hoặc uộc phải chuyển theo th i đ i Kh i đ u là lớp nhà nho uy tân và vào những năm
9 là thế hệ của những ngư i như gô Tất Tố ối tượng độc giả c ng được m rộng gay như việc tiếp nhận văn học c ng i n ra nhiều cấp độ tuỳ thuộc vào từng iểu độc giả Sự phát triển của báo chí Quốc ngữ và nghề
in lúc này c ng t o điều kiện truyền bá tác phẩm văn chư ng đến với công chúng đọc ình ân và vì thế mà độc giả tr nên đông đảo h n
1.1.3 n o o tron s n o t ên o
Song song với sự hình thành một nền quốc văn mới thì đ i sống dịch thuật, biên khảo c ng mang t nh giao th i Ho t động biên khảo, dịch thuật giai đo n này vừa thể hiện phong trào phục cổ vừa thể hiện nhu c u phê phán những bất cập của tư tư ng Nho giáo vốn đ c ỹ l c hậu và truyền tư
tư ng mới
Về ho t động hảo cứu c thể ể đến c c ài viết trên o uốc ngữ
xuất ản am Kỳ Trung Kỳ sau đ là trên a t p 9 7 đến
9 và đặc iệt nhất là trên t p ch Tri tân Trong l i Phi lộ đặt ngay số
o đ u tiên ra ngày 3/6/1941, Tri tân hẳng định mục đ ch của mình là: “ n
c ! iết mới!” T p ch này châu tu n quanh n một nh m t c giả thuộc thế
hệ thứ hai chữ ùng của i guyên n - sản phẩm của gi o ục Ph p Việt ên c nh đ còn c những công trình hảo cứu độc lập của guy n Văn
Trang 22gọc 89 1942), ào Duy nh 9 1988), guy n Văn uyên 9 1975) …
-Riêng về iên hảo ịch thuật n ôm c nhiều công trình nhằm đến đối tượng là inh điển của đ o Nho và lịch s th văn Theo thống ê của nhà nghiên cứu Tr n gh a ta thấy số s ch ịch thuật iên hảo thuộc l nh vực
n ôm được công ố qua từng chặng th i gian năm một trong năm
đ u thế ỷ XX như sau: 9 – 9 : 6 t c phẩm; 9 6– 9 : 9 t c phẩm; 1911– 9 : 8 t c phẩm; 9 6– 9 : t c phẩm; 9 – 9 : 6 t c phẩm; 1926– 9 : 76 t c phẩm; 9 – 9 : 7 t c phẩm; 9 6– 9 : 9 t c phẩm [32] Trong đ c cả những ài iên hảo ngắn gọn t m lược l i c c s ch v
inh điển của ho gia c ng c những công trình ài h i như Nho giáo của ệ
Th n Tr n Trọng Kim thể ể đến hàng lo t công trình biên khảo
như: Bàn v Hán học (1918), Khảo v u i Hán (1919), Khảo v l i câu
i Nôm (1926), Nam thi hợp tuyển (1927), Nữ u v ọc s (1929), Nam
âm thi v k ảo bi n (1929), Vi t á v k ảo (1930), Qu v ụ thể (1932)
Ho t động biên khảo những năm đ u thế kỷ XX đ cho thấy tr về với cội ngu n hướng về i sản tiền nhân là một thực tế éo ài liên tục trong những năm đ u thế ỷ XX; i n ra trong cả hu vực s ng t c và iên hảo đề cập đến lịch s anh nhân lịch s t n ngư ng văn ho ân gian văn minh
ân tộc văn chư ng truyền thống ; mang mục đ ch nuôi ư ng ảo lưu c c
gi trị tinh th n của ân tộc, đ ng th i đ ng g p vào việc xây ựng một nền văn ho văn chư ng ân tộc th i hiện đ i Trong c c ho t động đa ng đ vai trò của nh m tr thức cựu học đặc iệt lớn Từ việc dịch các tài liệu kinh điển của Nho giáo sang chữ quốc ngữ đến việc c c nho s ày tỏ th i độ tiếp nhận phân t ch c phê ph n hệ tư tư ng này đ cho thấy nhu c u tự phán đang đi n vào những vấn đề ên trong của ho gi o
Trang 231.2 Con ường viết văn của Ngô Tất Tố
1.2.1 o – ên o t uật – v n t
Ký giả Ngô Tất Tố
Trước hi ước vào làng văn gô Tất Tố đ sớm thành công trên l nh vực báo chí với hàng lo t những bài phóng sự và những t p văn tiểu phẩm xuất sắc ăm 9 6 gô Tất Tố chính thức ước chân vào làng báo và coi đây là một nghề nghiệp thực thụ của mình Những bài viết của ông liên tục
xuất hiện trên nhiều t báo có tiếng tăm l c ấy gi như An Nam t p chí,
D ơ t i báo, Thần chung, Phổ t T ơ a T i vụ, Hà Nội
t v T ểu thuyết th ba, Hải Phòng tuần báo với c c t anh như: Ph
Chi, Thôn Dân, Thiết Khẩu Nhi, Lộc Hà, Xứ Tố, Lộc ình Tuệ Nh n m Hiên, Hy C , Thuyết Hải, Xuân Trào
Ngô Tất Tố có th i gian giữ mục “ i mà ch i” “ i hay đừng” Với cái nhìn sắc sảo và ngòi t tài năng, ngay lập tức các bài viết của ông đ thu hút sự quan tâm của độc giả B i báo chí với Ngô Tất Tố thực sự là những sản phẩm có tính chiến đấu Sự nghiệp báo chí của Ngô Tất Tố vừa lớn về số lượng vừa phong phú về nội ung iểm l i sự nghiệp báo chí của ông có thể hình dung một nhà báo Ngô Tất Tố c hi lăn lộn với ân quê để quan sát ghi chép những sinh ho t đa ng hay điều tra th n tích của những vị th n th nh
Có khi Ngô Tất Tố l i hài hước, sâu cay l c àn đến những vấn đề thuộc địa
và n đ o v ch mặt những âm mưu của đ m thực dân,quan l i Những chân dung quan tham, những con số về mất mùa đ i ém n n thuế thân, gán nợ
đều được ngòi bút Ngô Tất Tố đưa ra công luận Phóng sự “Dao cầu thuy n
tán” được ông viết năm 9 Hải Phòng và được đăng trên o Công dân
Trong thiên phóng sự này, ngòi bút Ngô Tất Tố không ng n ng i phanh phui những mối tệ của xã hội vốn đ tr nên nhức nhối ng i tác phẩm này mà
chính phủ bảo hộ đ phải đưa ra lệnh cấm ông hông được viết bài cho Hải
Phòng tuần báo, bắt ông d i hiệu thuốc về quê, trục xuất ông hông cho lưu
Trang 24trú những thành phố lớn ến năm 9 9 ông tiếp tục cho đăng ph ng sự
Tập á á ì trên báo Con ong ăm 9 đăng ph ng sự Vi c làng trên
báo Hà Nộ t v Với hai tập phóng sự này, Ngô tất Tố đ trình ày một
góc nhìn sâu sắc về đ i sống ngư i dân quê với nhiều nỗi c cực Ngoài phóng sự, Ngô Tất Tố còn thành công thể lo i tiểu phẩm Tác giả Lê Thị
ức H nh đ nhận xét: “ hưa n i tới những l nh vực khác, chỉ riêng văn tiểu phẩm c ng đ thấy rõ tính chất phong ph và đa ng trong ngòi bút của Ngô Tất Tố Ông vừa c tài “viết mỗi ngày một chuyện” l i vừa có tài viết mỗi bài một kiểu” Vì thế qua h n một trăm ài o của ông không thấy sự
đ n điệu trùng lặp Trái l i độc giả d bắt gặp những thú vị bất ng ” [14; tr.424] Chính vì vậy mà nhà văn V Trọng Phụng đ ành những nhận xét
n ng hậu để giới thiệu chân dung nhà báo Ngô Tất Tố Tác giả S ỏ viết:
“Ngô Tất Tố là một nhà báo về phái nho học, và là một tay ngôn luân xuất sắc trong đ m làng nho àng o ắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ c ng như độc giả, hẳn không ai mà l i không biết đến danh tiếng ngư i ra đ i từ khi Nguy n
Khắc Hiếu chủ trư ng An Nam t p chí và đ viết nhiều ài đ i luận, khảo cứu,
bút chiến, phê bình, nhiều truyện lịch s có giá trị, trong nhiều tu n báo và t p chí cả Nam lẫn Bắc Với cái sự được đ i hoan nghênh ấy, Ngô Tất Tố chẳng
c n ai giới thiệu nữa” [14; tr.409]
L i giới thiệu của V Trọng Phụng đ h i qu t đ y đủ thế m nh c ng như những thành công của Ngô Tất Tố trên l nh vực báo chí
Nhà biên khảo, dịch thuật Ngô Tất Tố
Ngô Tất Tố không những là một bậc nho gia lão luyện, từng lều chõng
đi thi từng đỗ đ t mà còn là ngư i đẫm mình trong phong vị của văn h a
ho gi o phư ng ông ền tảng Nho học uyên thâm đ phục vụ đắc lực cho
ho t động nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật của Ngô Tất Tố
Về ho t động khảo cứu văn chư ng của Ngô Tất Tố có thể kể đến các
công trình như T v ì ú Vi t a v ọc ( ọc th ý ọc
Trang 25i Trần) Hai công trình nghiên cứu đ đi vào sưu t m và giới thiệu cho độc
giả đư ng th i những tác phẩm và tác giả nổi bật của giai đo n văn học đ u tiên của th i ỳ trung đ i Ngô Tất Tố quan niệm khảo cứu là công việc hết sức h hăn và phức t p B i lẽ: “Nếu cuốn văn học s của mình kh i thảo trong h i Lê m t, công việc tìm kiếm tài liệu c ng đ h nhọc lắm r i Huống chi từ đ tr đi trong hoảng g n hai trăm năm lịch s nước nhà l i thêm biết bao nhiêu cuộc binh hỏa” [ ; tr ] hư vậy, mục đ ch của tác giả trong việc biên so n chính là tái hiện l i diện m o của một th i kỳ văn học đang c nguy c mai một đ ng th i hắc phục sự đứt đo n ngôn ngữ văn
ho đang hiện iện l c ấy gi Theo Ngô Tất Tố trong “ i àn chung” cuốn
T v ì chú thì: “những v n th quốc âm th i xưa hết thảy xuất hiện
trong trong đ i hoa c h u hết vẫn c ảnh hư ng n học trong ếu xét ngư i ta sẽ thấy thể tài điển t ch và t nh chất của c c ài đ ph n nhiều o
n học mà ra hẳng ao lâu nữa n học sẽ hết hững chỗ nh l u đến
n học đ nếu hông được giải th ch rõ ràng thì ngư i hông c n học còn hiểu sao được? hững ngư i sao lục và nhà xuất ản th văn quốc âm n i trên hình như hông chịu chỗ đ ; c ngư i ỏ hông giải th ch c ngư i giải
th ch cực ỳ s lược l i c ngư i tự tiện đặt ra điển t ch để lòe độc giả là chưa n i đến những chỗ lộn xộn chữ này chép chữ h c văn của ngư i nọ chua là văn của ngư i ia ộ s ch ra đ i mục đ ch thứ nhất là ổ ch nh chỗ
đ ” [ ; tr ]
Ngô Tất Tố còn để l i dấu ấn trong ho t động ình ch inh điển với
các công trình như: Lão T , M c T , Kinh d ch, hay bình luận “Phê bình Nho giáo của Tr n Trọng Kim” Trong c c công trình ình ch inh điển, Ngô Tất Tố thể hiện một phư ng ph p làm việc cẩn trọng, tỉ mỉ và công phu trước các ngu n tư liệu Bên c nh đ gô Tất Tố còn để l i dấu ấn trong phê ình phê bình, đ là hi ông thể hiện thể hiện quan điểm cá nhân trong mỗi công trình ình ch ng đ cung cấp cho b n đọc hiểu thêm về các học thuyết triết
Trang 26học th i cổ đ i mà những b n đọc không biết Hán học khó có thể hiểu được
“ i đây n học sẽ đến tiêu iệt muốn hảo cứu ho gi o ngư i ta c ng làm như ông oàng o chỉ tìm ộ Nho giáo mà thôi ếu như những chỗ sai l m của s ch ấy hông được đ nh ch nh thì với những ngư i đẻ sau vài chục năm nữa ho gi o sẽ là “Tr n Trọng Kim gi o” hông phải đ o của Khổng T và tiên ho r i” [26; tr.321]
ên c nh c c ho t động trên gô Tất Tố còn là ịch giả c c t c phẩm văn chư ng Trung Hoa an đ u Ngô Tất Tố dịch th ư ng để đăng o sau
ông tập hợp in thành sách ng thi Và theo nhà sưu t m ao ắc iềm thì
năm tuổi gô Tất Tố đ ịch một t c phẩmcổ khuyết danh Trung Hoa
C ơ ì với nội dung "phú quý là m i c nh tranh, ph n hoa là bả
ghen ghét" nêu lên "c i gư ng luân l cho ngư i đ i sau" ây ch nh là cuộc
th t trước cổng làng văn1
Theo nhà nghiên cứu V Tuấn Anh thì “cái vốn kinh sách v – s -
triết bất phân của Nho học đ tr thành một lợi thế, phát huy hết sức m nh
trong những ho t động văn h a của ông để cùng một lúc có dịp phân nhánh thành những khảo cứu trước tác chuyên sâu từng mặt” Thêm vào đ “Vốn Hán học thâm thúy và cả vốn quốc ngữ được rèn r a thành thục đ gi p ông
c được những tác phẩm dịch được yêu thích Ở mọi vấn đề ngư i ta đều thấy một sự thức nhận mới các vốn văn h a c mà ông đ từng thu nhận” [1; tr.15]
Nhà văn Ngô Tất Tố
Nhắc đến nhà văn gô Tất Tố độc giả không thể không nhắc đến T t
ây là một tác phẩm thực sự tr thành một trong những đỉnh cao kinh
điển của văn học hiện thực phê phán Việt Nam những năm trước Cách m ng
T t đ lấy đi ao nước mắt của các thế hệ độc giả Việt Nam L c vào thế
So-tay/Mot-goc-nhin-ve-nha-bao-nha-van-Ngo-Tat-To-Mem-deo-va-kien-dinh-310296/
Trang 27giới nghệ thuật T t , b n đọc như l c vào không khí thê thảm n o động,
căng thẳng và ngột ng t của làng ông X trong vụ thu thuế ng từ những
đ ng tiến thuế mà thực dân và tay sai bóc lột đ đẩy gia đình chị Dậu vào cảnh khốn cùng c ng là thảm cảnh chung của ngư i nông dân phải ch y ngược xuôi vay nợ n con để có tiền nộp thuế Cả vùng thôn quê sống trong
tình tr ng sợ hãi, u ám Nhà nghiên cứu Nguy n ăng M nh đ nh gi T t
: “là một trong những thành tựu nghệ thuật xuất sắc nhất trong òng văn
học hiện thực phê phán Việt am trước cách m ng” [1; tr.27]
Ngoài đỉnh cao T t , Ngô Tất Tố còn trình làng tiểu thuyết L u
chõng ây là t c phẩm miêu tả những bi kịch của những ngư i trí thức nho
học cuối mùa Với L u chõng nhà văn đ thẳng thắn chỉ ra những bất cập và
l c hậu của nền giáo dục và chế độ thi c th i phong kiến Có thể nói, với sự
ra đ i của L u chõng, Ngô Tất Tố đ t o nên cái nhìn một c ch đa chiều về
hiện thực xã hội
Vì những gi trị đ hai cuốn tiểu thuyết T t và L u chõng vẫn luôn
khẳng định được sức sống bền bỉ theo th i gian ây c ng là sự khẳng định vị thế của nhà văn trong òng hiện thực phê phán Việt Nam 1930–1945
một t c phẩm cùng đề tài ho học nho s với u là Trong
r ng nho ây là một câu chuyện giả tư ng của gô Tất Tố về nữ s Xuân
ư ng Dư ng như gô Tất Tố hông muốn g p àn về những hư thực xung quanh à mà mượn những hư thực đ để ộc ch những quan niệm c nhân
về đội ng nhà nho quan niệm về tài năng và tình yêu nam nữ
ên c nh đ Ngô Tất Tố còn là t c giả của h nhiều truyện ký lịch s
như: L ch s Thám, Vua Hàm Nghi với vi c kinh thành thất thủ G a ì
Tổng trấn tả qu Du t, Ở những t c phẩm này độc giả thấy rõ tri
thức văn ho văn chư ng lịch s phư ng ông của gô Tắt Tố c ng như quan niệm viết về lịch s của ông “dựa theo sự thật lịch s là chính, không lấy
Trang 28sự việc lịch s làm cái cớ để xây ựng cốt truyện theo riêng như nhiều nhà viết tiểu thuyết lịch s h c” [ ; tr 9 ]
1.2.2 Nho o v u v v n n p t
Xuất thân từ một gia đình c truyền thống Nho học, làng Lộc Hà tổng
Hộ Phụ quê hư ng ông c ng mang đ y đủ những đặc trưng của một ngôi làng truyền thống và bản thân ông c ng sớm được thừa hư ng nền giáo dục Hán học
Từ nhỏ Ngô Tất Tố được học chữ Hán với cha ông – một nhà nho nghèo và lận đận ăm 9 gô Tất Tố thi hỏng kỳ thi h ch đệ nhất ăm
9 ông đỗ đ u kỳ hảo h ch xứ Bắc inh nên được gọi là “đ u xứ Tố” hưng liền sau đ ông l i hỏng kỳ thi đệ nhị của khoa thi cuối cùng của chế
độ khoa c Hán học Sau đ ông làm nghề d y học và m nghề thuốc quê Trong tình thế ấy Ngô Tất Tố cảm nhận sâu sắc sự thay đổi và biến động của nền tảng tinh th n mà mình từng thâu n p rèn r a hàng ngày
c nhiều triều đ i phong kiến chọn Nho giáo thành quốc giáo, dùng Nho giáo làm nội ung để tổ chức thi c , kén chọn ngư i tài cho triều đình
Kẻ s vì vậy luôn ôm mộng, nuôi chí lớn hòng đi thi đỗ đ t và ra làm quan để được vinh thân phì gia Bản thân Ngô Tất Tố c ng lều chõng đi thi và đ từng
c c i anh “đ u xứ” Giấc m công anh hẳn c ng từng hiến ngư i trí thức này phấn h ch hưng thế cuộc đổi thay Sự thay đổi hoàn cảnh đ đ gây nên những sang chấn tâm lý Giấc mộng công danh bỗng xa xôi và phù phiếm
đ uộc t ng lớp nhà nho phải có những hành động cụ thể Có nhà nho chọn cho mình lối sống ẩn dật Số khác không bảo thủ mà ngược l i tỏ ra khá nh y bén với cái mới Ngô Tất Tố thuộc số các nhà nho chấp nhận ảnh hư ng phư ng Tây và chọn đi theo xu hướng hiện đ i ho Tuy nhiên ông không hề
đo n tuyệt hoàn toàn với Nho giáo Bằng chứng là ho t động biên khảo và
th i độ khách quan khi phê bình Nho giáo
Trang 29hìn l i sự nghiệp c m t của gô Tất Tố ch ng ta c ng thấy rất rõ vai trò to lớn của tri thức ho gi o trong cả a mảng trước thuật còn l i của ông on đư ng viết văn của gô Tất Tố là viết o – một nghề nghiệp hoàn toàn xa l với ẻ s ho học nhưng iên hảo ịch thuật và viết văn thì l i là những công việc s trư ng của nhà nho Thêm nữa xét về nội ung, trong i sản gô Tất Tố để l i ể cả hàng ngàn ài o độc giả c ng ắt gặp vô số tri thức hình ảnh nhân vật quen thuộc của x hội truyền thống Và ngư i c m
t ghi l i tất cả những điều đ ư ng như đ y trăn tr : vừa phẫn nộ với những th i tệ vừa x t xa tiếc nuối với những c i đẹp đang ị trôi vào qu
v ng
Tiểu ết
u thế ỉ XX x hội Việt am c những chuyển iến m nh mẽ Việc xây ựng c c trung tâm hành ch nh gắn liền ch nh s ch inh tế thực ân đ
t o nên những đô thị và đ i sống thị ân chưa từng c trong lịch s Việt am
h nh s ch gi o ục với hai quyết s ch căn ản: i ỏ thi c ho học và xây ựng c c trư ng học Ph p-Việt đ t o nên đội ng tr thức mới trong đ c
c c t c giả viết văn ao g m tr thức cựu học chấp nhận canh tân và tr thức được đào t o hoàn toàn từ nhà trư ng mới theo mô hình o thực ân lựa chọn
Trong ối cảnh văn ho đ ho gi o – một hệ tư tư ng từng là rư ng cột của chế độ phong iến Việt am nhiều thế ỷ – đ tr thành một đối tượng ị phê ph n đ ng th i c ng tr thành một gi trị được nhận thức l i iện tượng này xuất hiện cả trong đ i sống iên hảo và s ng t c văn chư ng Việt am đ u thế ỷ XX đặc iệt là những năm 9 9
Xuất thân là một tr thức Nho học, Ngô Tất Tố đ lựa chọn con đư ng lập thân truyền thống ằng vốn tri thức ấy gư i từng đỗ đ u ỳ thi ho học của một vùng đ chấp nhận ước vào cuộc sống đang trong tr ng th i - u giao thao ằng s trư ng của ẻ s là chữ ngh a nhưng những thay đổi x hội
đ uộc ông phải đi theo một con đư ng vừa cổ truyền vừa phi cổ truyền đối
Trang 30với nho s ; trong đ hảo cứu iên ịch viết truyện là s trư ng còn viết o
là thứ xa l với một nhà nho h nh vì những điều như vậy mà hối t c phẩm
- của giả nhà iên hảo ịch thuật nhà văn họ gô này - là một tổ hợp của những đan xen c -mới của giao thoa hoặc nhượng ộ giữa c c yếu tố văn ho ông và Tây hững thay đổi trong tư tư ng của một nhà nho đ in ấu trong hàng lo t t c phẩm thuộc những l nh vực h c nhau của gô Tất Tố như o
ch viết văn hay iên hảo phiên ịch ng th i xuất thân ho học c ng
để l i một ấu vết rất rõ trong i sản của ông đ là chủ đề ho gi o qua hình ảnh nho sinh trư ng thi và nếp sống tập tục làng quê
Trang 31Chương 2 CỬA KHỔNG SÂN TRÌNH SAU CUỘC ÂU HÓA
2 Nho học – nh n t t số s liệu
Trong ph n này chúng tôi tiến hành tổng thuật một số công trình và những ý kiến của các nhà nghiên cứu c àn đến tình hình Nho học và sự phân hóa của hệ tư tư ng này trong xã hội Việt am giai đo n giao th i
ng th i ngư i viết c ng ao qu t và t m lược vài nét c ản ho t động khoa c Nho gi o để thấy được diện m o của Nho học buổi cuối mùa Hiện
tr ng này đ để l i ảnh hư ng và c ng là cảm hứng chủ đ o trong sáng tác của Ngô Tất Tố
2.1.1 Nho học trong thiết chế giáo dục phong kiến Vi t Nam
Theo hảo cứu của Nguy n Thị Chân Quỳnh trong cuốn Khoa c Vi t
Nam –T ơ thì “con đư ng chính của triều đình tìm ngư i tài tuấn ra
làm quan là Khoa c , hỏi về thuật trị nước của ho đ o, lấy Ðức làm trọng l i tôn quân quyền nên được vua chúa dùng làm quốc giáo Trong non một nghìn năm tự trị, Nho học và hhoa c đ đào t o từng lớp quan l i có nhiệm vụ trong thì lo cho dân, ngoài thì bảo vệ b cõi, chống ngo i xâm; những ngư i không làm quan thì lui về dậy học truyền "đ o Thánh" cho lớp trẻ sau này
ra gánh vác việc nước "Chính và Giáo" là hai mục tiêu của ho đ o” [45] Thông qua chế độ khoa c để tuyển chọn ngư i tài đức cho bộ máy chính
quyền phong kiến đ cho thấy điểm tích cực của ho gi o B i “mục đ ch
đ u tiên của ngư i quân t theo ho đ o là dậy dỗ ân ăn cho thu n lư ng biết phải trái, sống hài hòa với nhau cho nên trước hết phải “Tu thân” s a mình để treo gư ng s ng cho ân Nho gia b i đắp một xã hội có trật tự, có chỉ đ o dựa trên luân lý rõ ràng, có nếp sống hiền hòa, trọng sự lư ng thiện, chê ghét lòng ích kỷ, kiêu căng ai c ng c ổn phận, chức năng Khoa c chọn ngư i hiền tài không phân biệt sang hèn Mỗi hoa thi đều c trưng iển
Trang 32nêu rõ ngh a mục đ ch: “Phụng chỉ c u hiền” “Tuyển hiền tr ch năng” Phép thi tổ chức nghiêm mật để tránh những chuyện gian lận tư t i” [45] ét
t ch cực thứ hai của ch nh s ch tuyển lựa quan l i từ hoa c là khuyến khích
t ng lớp nam nhi trong xã hội học hành để vư n lên đỉnh cao danh vọng Tuy nhiên c ng ch nh đây ch nh s ch tuyển hiền tài ổ ụng quan l i ằng thi c
đ t o ra một tâm l chung trọng anh h n thực và một hi định vị đây là con
đư ng tiến thân uy nhất thì c ng c ngh a những ngả đư ng h c đ ị đ ng
l i thất i – nếu c – cung đư ng này c ng c ngh a là g n như hông c
c hội ất ỳ đâu
Về phép tắc thi c chung tuy thi ho học hai hoa từ triều nhưng phép thi vẫn chưa được định hình ến th i Tr n (triều Tr n Duệ Tông) phép thi mới được quy định cụ thể theo phép thi nhà Tống ên Trung oa Theo đ
s t phải tham gia ba kỳ thi là thi ư ng thi ội thi ình còn gọi là Tam
tr ng Kỳ thi đ u tiên gọi là thi ư ng Theo Nguy n Thị Chân Quỳnh, “Thi
ư ng là ỳ thi quan trọng cấp đ u để lấy ngư i đỗ C nhân ra làm quan” [45] Về định kỳ thi “từ th i hậu ê a năm thi một kỳ c ng chia ra a cấp:
cấp T tài ngư i đỗ gọi là S ồ c văn ằng hàng năm được mi n n a thuế; cấp C nhân gọi là ơ ng, thi pháp chế và dân luật, dành cho
những ngư i đỗ Tú tài từ năm được hoàn toàn mi n thuế; cấp thứ ba
thi Tiế sĩ ành cho c c ư ng cống từ ba năm” hưng đến th i nhà
Nguy n mặc dù vẫn giữ định kỳ năm một l n thi nhưng đ thay đổi “Sinh
đ và ư ng cống thi chung một l n thi ư ng ngư i hông đỗ nhưng điểm cao thì xếp h ng Sinh đ /T tài hông được thi Hội hông được làm quan; ngư i đỗ gọi là ư ng cống/C nhân được làm quan và được thi Hội ngay năm sau thành ra lệ a năm một khoa bắt chước Trung Quốc không còn
l o ch nh đ ng chỉ hai năm c ng đủ” [45]
Thi Hội là kỳ thi thứ hai “ ành cho những ngư i đ đỗ ư ng cống /
C -nhân được tổ chức ngay sau năm thi ư ng thư ng vào những năm
Trang 33Thìn, Tuất, S u Mùi” [45] Th i Lê, những năm 6 67 6 th i gian thi chỉ kéo dài một ngày, tức là hôm trước thi Hội, hôm sau thi Ðình
ến nhà Nguy n kỳ thi này éo ài đến g n một tháng Thi Hội là kỳ thi chung cho s t cả nước, bao gi c ng tổ chức inh đô
Thứ a là thi ình “với mục đ ch để sắp đặt những ngư i đỗ Trúng cách theo thứ bậc cao hay thấp chứ ít hi đ nh hỏng Trên nguyên tắc phải đỗ thi Hội mới được thi Ðình nhưng th i Nguy n đôi hi 8 87 vua "gia ân" cho cả những ngư i hông đỗ thi Hội nhưng được điểm cao, gọi là Thứ
Tr ng c ch c ng được dự thi Ðình” [45] Thi ình thư ng được tổ chức sau
kỳ thi Hội khoảng từ một đến năm s u th ng
Về thể thức thi Nho học Tam trư ng có thể t m lược l i như sau: “Thi
Hội c ng như thi ư ng thư ng g m ba hay bốn kỳ thi c ng gọi là tr ng),
đề mục mỗi kỳ hỏi một thể lo i khác nhau, các thể văn này đ được trình bày
ội ung thi ình c ph n h c với hai ỳ thi ư ng và thi thi ội
“Thi Ðình ao gi c ng là một ài văn s ch còn gọi là sá vấ ế sá )
hỏi về phép trị nước lan rộng ra cả đến c c vấn đề l số hay thuật phong thủy
v v thư ng chia làm hai ph n :
Trang 34- Cổ v hỏi về Tứ Thư g Kinh thuật trị nước của c c đế vư ng
Trung quốc th i đ i hoàng im ghiêu Thuấn những iến chuyển của c c
th i đ i iến cố và c ch thức ngăn ngừa v v
- v hỏi việc trị an của nhà vua Việt am đang thực hiện những
phư ng ph p làm cho nước m nh ân gi u v v
"th n" đều phải viết nhỏ l i và lệch về ên phải nêu hông sẽ mắc tội hiếm cung; phải tuân theo những luật lệ trư ng quy nhiêu hê uộc hiến cho
ch nh nhà vua đôi hi phải h lệnh cho quan trư ng ớt câu nệ để s t được
tự o y tỏ iến thực ụng chứ hông chỉ nhắc l i những huôn s o c
v : ốt hùng h n điển nh hông được ùng l i phù phiếm hiểm h c
h hiểu Văn s ch về th i vụ c n y tỏ châm chước phải lẽ để tiện thực ụng hông được ho c l c hay cố chấp tự hông c vẻ thu n hậu” [45]
Sự phức t p của phép thi đ gây hông t h hăn tr ng i cho s t trong quá trình thi hiều s t còn ị hép tội o ph m h y mà hông iết
2.1.2 Vài nét v tình hình khoa cử Nho giáo và Nho học khi Âu hóa xu t
hi n
Sau khi tới dự l xướng danh kỳ thi ư ng năm 1897 Nam ịnh, chứng kiến tinh th n hiếu học và lòng quyết tâm của các s t Bắc Kỳ vào năm 898 Toàn quyền ông Dư ng Paul Doumer, đ ra quyết định đưa chữ Quốc ngữ, chữ Pháp vào kỳ thi ư ng với l do “Ở kỳ thi ư ng Nam ịnh
Trang 35có khoảng 10 ngàn ngư i tham dự Nếu cứ 1 ngư i có mặt t i cuộc thi, có ít nhất 3 ngư i khác theo học thì tổng số ngư i học là 40 ngàn Nếu ta đưa tiếng Pháp và Quốc ngữ vào trư ng thi thì nghi m nhiên ta có 40 ngàn ngư i phải học tiếng Pháp và Quốc ngữ, mà ngân sách l i không phải chịu gánh nặng Hiệu quả đối với nền hành chính và chính trị sẽ là vô gi ” Thế nhưng phải năm sau quyết s ch này mới được thực hiện u thế kỷ XX, khi thực dân Pháp vừa ra sức xây dựng một nền giáo dục mới, vừa tìm cách thủ tiêu vai trò của nền giáo dục c , c c hoa thi ư ng ội ình ị bãi bỏ, trong đ thi chữ Hán Nam kỳ bị bãi bỏ trước nhất, còn Bắc và Trung kỳ vẫn giữ lối học và thi này đến năm 9 9 Từ ngày th ng năm 9 6 theo đ o dụ của Thành Th i chư ng trình thi ư ng được đổi l i Về ph n chữ Nho thì bỏ inh ngh a và thi ph chỉ còn thi văn s ch và luận Về ph n chữ Quốc ngữ thì
đ c ài luận về địa ư hoa học thư ng thức, toán pháp Chữ Ph p c ng ắt
đ u đưa vào chư ng trình thi ăm 9 8 triều vua Duy Tân đ s a đổi l i chư ng trình học và thi cho phù hợp với chính sách cai trị của thực dân Pháp ông Dư ng
ng trong năm 9 8 Bộ học ra đ i và ấn định phép thi ư ng như sau: trư ng nhất thi đ o văn s ch hỏi về văn chư ng luân l am ắc s , chính trị, hình luật ông Dư ng; trư ng Nhì thi hai bài luận chữ n trư ng
ba thi ba bài thi luận Quốc ngữ và một bài tình nguyện dịch Ph p văn ra uốc ngữ; trư ng Tư thi một bài luận chữ Hán và một bài luận Quốc ngữ Phép thi
c vẫn giữ lệ như thế đến khi thực dân Pháp thỏa hiệp với triều đình uế bãi
bỏ thi c Bắc kỳ năm 9 5 và Trung kỳ năm 9 8 ến đây nền giáo dục Nho học và thi c truyền thống chính thức cáo chung sau một th i gian dài suy tàn
Từ một ph a h c những ngư i Việt am mang tinh th n i quốc l c này chủ yếu là vẫn là tr thức ho học đ chuyển nhiệt huyết cứu vong cứu
t n cho ân tộc sang c c ho t động canh tân văn ho Và ch nh đội ng này đ
Trang 36tr thành những ngư i vận động đ u tiên cho u ho : học chữ uốc ngữ cắt
t c và thay đổi trang phục tiếp thu tri thức hoa học ỹ thuật của phư ng Tây ản thân họ là những ngư i uyên thâm ho học nhưng l c này l i lên tiếng phê ph n lối học c phê ph n hoa c quan trư ng và êu gọi học hỏi văn minh phư ng Tây ông cuộc thay đổi văn ho này trên năm sau từ cuối những năm 9 sẽ được tiếp sức i đội ng tr thức u học đậm nét
h n Trong trào lưu u ho sôi động đ u thế ỷ XX ấy c thể thấy c nh c a
c c trư ng thi truyền thống ho l i nhưng ho học l i chưa hoàn toàn chấm
ứt ui về làng quê một số nhà nho đậu đ t hay chưa đậu đ t đ lấy y học làm nghề Kh nhiều h i 2
, những mẩu chuyện hoặc truyện ngắn về th i ỳ này đ nhắc đến những lớp học như vậy cả h a c nh t ch cực và tiêu cực Song ẫu thế nào thì hiện tr ng này đ thực sự t n t i cả miền ắc Trung am cho đến những năm của thế ỷ XX là những lớp học hai tâm v lòng đ u tiên cho lớp trẻ thôn quê trước hi ch ng c điều iện lên thành thị theo học c c trư ng “nhà nước” i h c đi ên lề của hệ thống nhà trư ng quan phư ng những năm 9 9 học vấn ho gi o vẫn lặng lẽ t n t i trước hi chấm ứt hoàn toàn với phong trào ình ân học vụ
và nền gi o ục ân chủ cộng hoà
2.2 Nho học qua “lều chõng”
2.2.1 Nếp học, sinh ho t Nho học cu i mùa
Viết L u chõng và Trong r ng nho, ngòi bút Ngô Tất Tố đ hắc họa
sinh động đ i sống sinh ho t Nho gi o đư ng th i qua những nhân vật nhà nho Thông qua đ i sống của những môn đ đ o Khổng, những sinh ho t học hành trư ng ốc, Nho học hiện lên vừa mang cảm hứng tiếc nuối của nhà văn trước sự suy tàn của đ o học Bên c nh đ nhà văn còn ph i ày những bất cập và lỗi th i của Nho học
2
hẳng h n i của ặng Thai Mai
Trang 37ề cập đến những sinh ho t học hành của t ng lớp nho sinh, Ngô Tất
Tố hông đưa ho học vào trung tâm của sự ngợi ca Những nhà nho trong sáng tác của Ngô Tất Tố không còn vẻ khảng khái trong việc tu thân, chuyên
c n trong việc tiếp thu những triết thuyết Khổng M nh như mẫu hình Nguy n Trãi, Nguy n Bỉnh Khiêm nữa Việc theo đòi ho học gi đây hông nhằm vào mục đ ch s a mình, mang tài kinh bang tế thế ra phục vụ triều đình phục
vụ quốc gia như những nhà nho hành đ o mẫu mực trong buổi hoàng kim của
xã hội phong kiến Mặc dù am hiểu và làu thông inh s ch nhưng Vân c đ
tỏ ra h ch quan h n c c n đ ng khoa trong nhận thức về tư tư ng nho giáo Anh cảm thấy khó chịu trước lối học “vẹt” “t m chư ng tr ch c ” cốt để thuộc lòng mà không hiểu bản chất của nhà trư ng nho gi o ao đ i vẫn lặp
đi lặp l i gư i ta cố để nh i nhét vào trí nhớ để mang đi thi c l c “Vân
H c lẩm nhẩm ngh th m: “Không hiểu vì sao ngư i ta l i cứ bắt tội trẻ con phải học những sách quái g ? Những đứa độ tám, chín tuổi, mới v lòng được vài bốn tháng, còn biết đ i “hỗn mang” là c i gì ẻ “hiền hào” là ngư i như thế nào, vậy mà chúng nó cứ phải học cho thuộc lòng, thật là một sự khổ cho con trẻ” [29; tr.434] Cuộc đối đ p giữa Vân H c với Nguy n Khắc Mẫn
c ng cho thấy lối hành x giữa hai ngư i đ ng môn thật khác nhau Khắc Mẫn vẫn duy trì lối giao thiệp chuộng về hình thức màu mè cốt để điểm trang câu văn mà theo đ nh gi của Vân H c thì đây là ệnh của lối văn thi c Trong thư của Khắc Mẫn g i Vân H c đ ể đến “ àn c bị phủ đ y” “giò lan b ch ngọc mới n ” “lối hoa rụng” [29; tr.428 - 9] hưng hi đến nhà Khắc Mẫn, Vân H c đ ng c nhiên hỏi:
“- Giò lan b ch ngọc mới nở ở u? a rụ a quét ổ v ỗ nào? Sao tô k t ấ ?
ẫ ơ á
- ùa ì ó a u ra a rụ
Trang 38c ch xưng hô trong giao tiếp mặc ù c tiếng học tài nhưng Vân c tỏ ra
h chịu với cung c ch h ch s o của n: “ ếu a k v t a t ế
u v ọ t ủa a t ì t dậ ập t k t ó
vớ a ột u ữa” [29; tr ] Th i độ này đ cho thấy Vân c
trọng ản chất h n là hình thức ên ngoài gay cả con đư ng công anh tiến thân ằng lối học c t c ng n được Vân c “nhận thức l i” Với chàng
đi thi hông phải là để cho mình mà vì ước m được làm “ à nghè” “ à
th m” của vợ hư thế những gi o điều mà inh s ch ho gia y anh và mục đ ch tiến thân trên con đư ng hoa ảng của anh hông còn thiêng liêng nữa
ng là một nho s nhưng Tr n ằng ong l i thành công h n Vân c trên con đư ng công anh uộc vinh quy i tổ của quan nghè Tr n ằng ong với màn rước x ch linh đình đ hẳng định trình độ học vấn của anh ta
Theo nhận xét của Vân c thì: “ ũ ột bậc thông minh có
tài, nếu ợc t ng trải vi i, ch c sẽ thành ra một dụng, có thể
úp d úp ớ ợc nhi u vi g mà bây gi v a mớ t ỗ, còn
là một anh thiếu t s ần n a i chỉ ợc nghi n ngẫm kinh
ĩa t ơ p ú a e t ếng súng lần nào Thế mà nhất á p ả ầm
qu á c” [29; tr.496] Một l n nữa những s học của nghè ong l i
cho thấy sự hông phù hợp trong việc ứng ụng vào thực tế và ằng chứng là
sự thất i của ằng ong trong việc c m quân ẹp lo n Thất i của quan
Trang 39nghè Văn Khoa c ng chứng tỏ sự lỗi th i của ho gi o trong một hoàn cảnh mới
Trong tác phẩm Trong r ng nho Ngô Tất Tố tiếp tục chỉ ra sự bất cập
của lối “học vẹt” của học trò n i trư ng ốc ng đ Nghệ An nói ngọng đi
d y con trẻ c ng là một màn đối tho i hài hước khi thằng bé học trò vừa đi vừa đọc “t c là đụ” thì:
Với kiểu đối đ p này gô Tất Tố không chỉ t o ra tiếng cư i giải trí
ựa trên i sự trùng hợp của tiếng địa phư ng ẫn đến hiểu nh m của con trẻ ằng sau màn đối đ p hài hước đ là hàm thâm th y gi u nh i lối học thuộc lòng của nền giáo dục Nho học Từ con trẻ đến những học trò trư ng thành đều cố n p vào mình những kinh sách mà việc hiểu được ngh a hông quan trọng bằng mục đ ch nhớ lâu, nhớ nhiều để đi thi òn ông ghè ông Cống ưng a mang tiếng đỗ đ t nhưng l i dốt nát nh m cả chữ trong sách Hán Cao Tổ Hai cây cổ thụ trong rừng nho bị lật tẩy thực tài đ nổi cáu mà đập v cả cái niêu của ngư i ăn mày n i leo ặng hư ch l i có thói háo
Trang 40danh, tuy dốt nhưng th ch hoe học thức bằng việc đề th lên v ch tư ng chùa Trấn Quốc ể c được bốn câu th lưu anh đ m học trò ặng hư Bích phải “chữa đi chữa l i đến mấy chục lượt” phải tốn đến “h n chục giấy bản” làm nháp và nhà chùa phải “cung phụng mư i ấm nước chè t u và năm sáu ấm nước l o mai” [29; tr ] m học trò này còn tự phụ “tấm tắc khen hay” “ông nọ bảo ông kia không thể bỏ được chữ nào” ây ch nh là sản phẩm của một nền giáo dục mục ruỗng Tài học của họ mang vào trư ng thi chính là những thứ “ văn chư ng”, “ ốc mùi” “Công ph ho gi o đến thế, có lẽ chỉ có ngòi bút của Ngô Tất Tố mà thôi” [14; tr.393]
2.2.2 Thi cử và gi c m ng công danh
Với dùng hệ thống inh điển ho gi o với chủ trư ng ùng thi c ho học làm phư ng c ch tuyển chọn quan l i cho bộ m y nhà nước nên suốt th i
ỳ phong iến đi thi đỗ đ t và ra làm quan là lối thoát duy nhất cho kẻ s Một hi ngư i học trò tiến thân thì cha mẹ, vợ con, họ hàng, b n è đều được vinh dự B i vậy “vinh thân phì gia” “võng anh đi trước “võng nàng theo sau” “một ngư i làm quan cả họ được nh ” đ tr thành niềm m ước của
ao ngư i ng ch nh những h t hao này đ n làm biến đổi mục đ ch của việc tiếp thu những triết thuyết của Nho giáo i học từ chỗ để m mang nhận thức tr thành phư ng tiện để thay đổi thân phận đem l i ph qu địa
vị trong xã hội
Trong L u chõng, Ngô Tất Tố đ t i hiện l i một cách chân thực sự
mục nát của chế độ khoa c Trư ng thi vốn là n i s t thể hiện tài năng lúc này thành sân khấu để s t di n những thảm kịch khoa bảng Chế độ giáo dục
và khoa c phong kiến nhấn chìm trí thức trong khuôn phép Những ngư i
thực tài như Vân c đều bị vùi dập với những lí do hết sức phi l : “trong chỉ
phê rằn c quả ta i tài, sự họ ơ ẳn Nguyễ C u
á ợ ỗ ầu khoa này Chỉ hi m tên ấy hãy còn trẻ tuổ v ơ không khỏi có chỗ ngông nghênh Nếu lấ ỗ cao, sợ sẽ nuôi thêm cho y cái