Tuy nhiên, trong quá trình triển khai chương trình Xây dựng nông thôn mới ở xã Kênh Giang nói riêng và ở thị xã Chí Linh nói chung còn gặp phải nhiều vấn đề tồn tại cần được khắc phục để
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ HỒNG NHUNG
CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI VÀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA – PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
(Nghiên cứu trường hợp xã Kênh Giang – Chí Linh – Hải Dương)
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 60 31 06 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học ã h i Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Cầm
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Hiền
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 09 giờ 00 ngày 23 tháng 04 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp với gần 70% người dân sống
ở vùng nông thôn, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Ngay từ khi giành độc lập, vấn đề phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế văn hóa xã hội của quốc gia Vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tiến hành nhiều chủ trương, chính sách để phát triển vùng nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi
Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa nhằm thay đổi diện mạo nông thôn đang được diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước Xét ở khía cạnh quy mô, các chương trình phát triển nông thôn được chính phủ thực hiện trong các thập kỉ qua là rất đa diện Hiện nay, có lẽ một trong những chương trình phát triển có tính bao trùm nhất là Chương trình quốc gia Xây dựng nông thôn mới Mục tiêu xây dựng của chương trình là xây dựng mới các cơ sở vật chất, các thiết chế xã hội như trung tâm văn hóa cấp xã và thôn, bưu điện văn hóa, hay trạm y tế.v.v Để hoàn thành mục tiêu đó, các thiết chế phải được nằm trong quyết định của các bộ, ngành có liên quan
Chính sách xây dựng nông thôn mới đang được diễn ra mạnh
mẽ trong phạm vi cả nước nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng Tại các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh phong trào đang diễn ra một cách mạnh mẽ ở các đơn vị xã, phường, thị trấn… Riêng tại thị xã Chí Linh, phong trào Xây dựng nông thôn mới đang diễn ra một cách đồng bộ và bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp tại xã, phường trên địa bàn, người dân phấn khởi chung sức tham gia cùng chính quyền
để thu được kết quả cao Kênh Giang là một trong 12 xã của thị xã Chí
Trang 4Linh đang thực hiện công cuộc Xây dựng nông thôn mới, người dân ở các thôn ra sức cùng nhau thực hiện các mục tiêu đề ra để hoàn thành đạt chi tiêu mà các bộ tiêu chí đặt ra Nhìn chung, đây là chương trình mục tiêu quốc gia được áp dụng tại một đơn vị cơ sở đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống xã hội ở địa phương này, người dân trực tiếp thụ hưởng các sản phẩm vật chất và tinh thần chính họ và nhà nước mang lại trong thời gian qua Tuy nhiên, trong quá trình triển khai chương trình Xây dựng nông thôn mới ở xã Kênh Giang nói riêng và ở thị xã Chí Linh nói chung còn gặp phải nhiều vấn đề tồn tại cần được khắc phục để góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây Đặc biệt là sự thay đổi diện mạo của đời sống văn hóa người dân Kênh Giang dưới tác động của chương trình Xây dựng nông thôn mới - Những vấn đề cần bàn luận cụ thể
Là người con quê hương Kênh Giang, lại hoạt động tại đơn vị
quản lý cấp xã, nên tác giả đã lựa chọn đề tài “Chương trình nông
thôn mới và vấn đề văn hóa - phát triển ở Việt Nam đương đại
(nghiên cứu trường hợp xã Kênh Giang - Chí Linh - Hải Dương) làm
luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Văn hóa học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chương trình Xây dựng nông thôn mới là chương trình lớn của quốc gia, nó có tác động đến toàn bộ đời sống của người dân nông thôn Vì vậy, ngay từ khi được triển khai, chương trình Xây dựng nông thôn mới đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đề cập và bàn luận thông qua các công trình, bài viết Những tập hợp và thống kê dưới đây của tác giả luận văn cho thấy, đến nay đã có những tác phẩm viết về chương trình Xây dựng nông thôn mới ở nước ta Trước hết, có thể kể đến nghiên cứu của nhóm các tác giả
thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên “Thực trạng và giải
pháp xây dựng nông thôn mới tại xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam, tỉnh
Trang 5Bắc Giang giai đoạn 2012-2015” hay “Quy hoạch xây dựng nông thôn mới - những vấn đề đặt ra” của tác giả Đàm Quang Tuấn Hai công trình
nêu lên những vấn đề cấp thiết trong việc xây dựng, hoạch định phát triển các không gian trên địa bàn nông thôn xã một cách toàn diện đáp ứng các yêu cầu của Đảng và Chính phủ về xây dựng tam nông Nội dung của công tác lập quy hoạch xây dựng NTM liên quan chủ yếu đến xây dựng, quy hoạch sản xuất và quy hoạch sử dụng đất Tập trung xây dựng trên địa bàn nông thôn hợp lý, đúng với chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước về văn hóa và phát triển của người dân
Tác giả Nguyễn Minh Tiến với bài viết “Những vấn đề đặt ra
trong xây dựng nông thôn mới ở Hải Dương” viết ngày 17/1//2013
Bài viết nêu rõ, Hải Dương là một tỉnh có nền nông nghiệp gần như thuần túy, gắn liền với đời sống kinh tế của người dân Việc xây dựng đời sống người dân nông thôn phải đảm bảo phát huy lợi ích chương trình với lợi ích của người dân
Tác giả Nguyễn Thu Hiền với bài viết “Khắc phục yếu kém của hệ
thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở” xuất bản năm 2013 và tác giả
Minh Anh với bài viết “Nhà văn hóa - xây xong cửa đóng then cài” xuất
bản năm 2013 Hai bài viết trên đã nếu ra những tồn tại quanh tiêu chí văn hóa đối với mức độ sử dụng của người dân Các tác giả cho rằng, đầu tư cho văn hóa không bao giờ thừa, song để những công trình thật sự hiệu quả thì các cơ quan chức năng cần rà soát lại hệ thống thiết chế văn hóa cơ
sở để có mô hình đầu tư thích đáng và điều quan trọng là phải được xây dựng xuất phát từ nguyện vọng và nhu cầu của người dân, chứ không thể
từ nhu cầu quy hoạch của cơ quan quản lý; phải thực sự đáp ứng nhu cầu của người dân về sinh hoạt, hưởng thụ văn hóa
Tác giả Nguyễn Văn Hy với bài viết “Mấy vấn đề về xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở hiện nay” xuất bản năm 1985 và tác giả Trần
Độ với bài viết “Văn hóa ở cơ sở và văn hóa ở huyện” xuất bản năm
Trang 61987 Hai bài viết đều khẳng định, để có một chỉnh thế các vấn đề văn hóa cần có: Cở sở vật chất; bộ máy tổ chức, cán bộ, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động của vấn đề đó
Tác giả Trần Hữu Sơn trong “Xây dựng đời sống văn hóa ở
vùng cao” xuất bản năm 1985 đã đề cập đến vấn đề qui hoạch chợ
không phù hợp với sinh hoạt văn hóa của người dân ở vùng cao, do
đó người dân gặp nhiều khó khăn trong việc mua lẫn việc bán
Tác giả Đoàn Quang Thiệu với bài viết “Nghiên cứu, xây dựng
các tiêu chí về nông thôn mới ở tỉnh Bắc Kạn” xuất bản năm 2010
Tác giả mô tả các hoạt động của địa phương, đặc biệt là chương trình
135 và các chương trình, dự án giảm nghèo đều huy động các nguồn lực trong Xây dựng nông thôn mới Tác giả cũng chỉ rõ những khó khăn thách thức, mục tiêu xây dựng chương trình cho sự phát triển chung đời sống người dân từng bước được nâng cao, diện mạo nông thôn khu vực miền núi có những thay đổi tích cực
Trong nghiên cứu của Philip Taylor “Những vấn đề của phát triển
nông thôn Việt Nam” xuất bản năm 2012 đã nhận ra rằng, chính sách phát
triển nông thôn hiện nay không thích hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của con người Khi người dân nông thôn Việt Nam sử dụng tôn giáo, kiến thức bên cạnh sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong đời sống
Ngoài ra, còn có các tài liệu tập huấn cho các cán bộ văn hoá
để triển khai thực hiện các mục tiêu về văn hoá trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2016 của Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch
Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến nội dung chương trình Xây dựng nông thôn mới nói chung, tuy nhiên ở một địa phương như ở xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh khi thực hiện phong trào này chưa có công trình bài viết nào đề cập đến trong thời gian qua Do vậy, tác giả luận văn đã lựa chọn đối tượng này làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp
Trang 73 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu về các tiêu chí và hoạt động của chương trình NTM ở một xã thuộc thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương, luận văn hướng tới cung cấp một sự hiểu biết về quan điểm, cách nhìn nhận về văn hoá cũng như triết lý phát triển của Việt Nam đương đại cũng như tác động của chương này đối với thực hành văn hoá và xã hội của người dân
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt
ra là đi sâu tìm hiểu các tiêu chí, việc triển khai thực hiện các tiêu chí cũng như quan điểm của các bên hữu quan về mục tiêu và hoạt động của chương trình này tại địa bàn nghiên cứu Luận văn cũng xem xét các tiêu chí và hoạt động của chương trình đến thực hành văn hóa, xã hội cũng như
quan điểm của người dân về sự thay đổi và phát triển ở địa phương này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối trượng nghiên cứu của luận văn là nội dung và các hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận văn được nghiên cứu trong phạm
vi địa bàn xã Kênh Giang, Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đây là một xã đặc biệt khó khăn và nằm ở vị trí xa nhất của của thị xã Chí Linh, là một trong xã đang thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 Vì vậy, lựa chọn địa bàn xã kênh Giang để thấy được những thay đổi về văn hóa, kinh tế,
xã hội và sự tác động của chúng tới đời sống người dân nơi đây
- Phạm vi thời gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến nay Đây là khoảng thời gian địa phương
Trang 8triển khai xây dựng các tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới với nhiều nội dung, dự án, công trình đầu tư phát triển văn hóa - kinh tế - xã hội
5 Phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu dùng để trình bày và phân tích trong luận văn cơ bản sử dụng phương pháp định tính, dựa trên khảo khát thực địa, quan sát tham gia và phỏng vấn sâu, đồng thời tham khảo, phân tích nguồn tư liệu thứ cấp
Phân tích tư liệu thứ cấp trong quá trình thực hiện các văn bản,
kế hoạch, báo cáo của địa phương; các bài viết về hệ thống văn hoá
cơ sở Đây là những phân tích cung cấp thông tin về tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội tại địa phương, thực trạng các vấn đề văn hóa cơ sở hiện nay Song các tư liệu thứ cấp chủ yếu nhấn mạnh các kết quả đạt được, nêu ra các mặt tích cực và hạn chế chưa được chuyên sâu mà chưa có đề cập đến cách hưởng ứng và tiếp cận của người dân Vì vậy, tác giả luận văn đã thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu quan điểm và phản ứng của người dân đối với chương trình nông thôn mới trong cuộc sống văn hóa người dân địa phương Quá trình phỏng vấn sâu được thực hiện đối với một số lãnh đạo địa phương; các cán bộ phụ trách quản lý văn hóa cơ sở nhằm lấy thông tin về hoạt động quản lý và sử dụng văn hóa cơ sở, những thuận lợi, khó khăn và kế hoạch xây dựng văn hoá mới trong thời gian tới Phỏng vấn sâu còn được tiến hành đối với cán bộ và người dân, những người trực tiếp sử dụng chịu ảnh hưởng của nền văn hóa mới Cuộc phỏng vấn được phân loại thành các nhóm nhỏ hơn với sự khác nhau về nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính và về tôn giáo Các cuộc phỏng vấn sâu được hỏi xoay quanh các vấn đề liên quan tới sự tham gia, quan điểm, nhu cầu của người dân đối với những thay đổi trên địa bàn sinh sống từ khi chưa có chương trình nông thôn mới đến khi chương trình nông thôn mới diễn ra
Trang 9Quan sát tham gia được thực hiện cùng với hoạt động của người dân liên quan sử dụng các vấn đề văn hóa mới, cũ có trên địa bàn Trong đó là được quan sát, tham gia lễ hội truyền thống (đền, chùa, nhà thờ họ); tham gia buổi sinh hoạt nhà văn hóa thôn, đường làng, ngõ xóm, tham gia quan sát trường học, trạm y tế, để thu thập thông tin thực tế về sự biến đổi của người dân đối với các vấn đề của chương trình nông thôn mới với cuộc sống mới và cũ
Khi được phỏng vấn sâu nội dung của các cuộc phỏng vấn thường được tập trung xoay quanh các vấn đề về trải nghiệm của mỗi
cá nhân về suy nghĩ của mình trên mỗi phương diện hoạt động của chính sách Phỏng vấn sâu được hỏi bởi các câu hỏi mở, trọng tâm một vấn đề Hỏi một đối tượng nhiều câu hỏi khác nhau về vấn đề liên quan Trong quá trình tham gia phỏng vấn tôi được sự giúp đỡ rất nhiều người dân địa phương, chính vì vậy có được nhiều thông tin phong phú, đa chiều xác thực phục vụ cho nghiên cứu đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa luận văn
Thông qua nghiên cứu trường hợp chương trình nông thôn mới ở một địa bàn cụ thể, luận văn cung cấp một sự hiểu biết mới về triết lý, định hướng phát triển nông thôn trong xã hội Việt Nam đương đại, từ đó góp thêm một nghiên cứu trường hợp cho bức tranh nghiên cứu của ngành nhân học, nghiên cứu văn hóa về chủ đề văn hóa và phát triển
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch định các chính sách xây dựng, hoạt động quản lí văn hóa của trung ương đến địa phương Đặc biệt là chương trình Xây dựng nông thôn mới đi vào đời sống người dân trong văn hóa và phát triển Bên cạnh đó là người công tác trong khối chính quyền xã, tác giả luận văn có thể tìm hiểu, đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc
Trang 10tham gia của người dân, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ, phát huy chất lượng đời sống văn hóa cơ sở
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần nội dung của luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về xã Kênh Giang
Chương 2: Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông
thôn mới ở Kênh Giang: Quá trình thực hiện các vấn đề văn hóa
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và hiệu quả đạt được thông
qua Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Kênh Giang
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XÃ KÊNH GIANG
1.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm cư dân
Xã có lịch sử gắn liền với dòng sông kinh Thày, đời sống gắn liền với sông nước, hoạt động kinh tế , sản xuất chính mưu sinh với sông nước.Xã Kênh Giang được thành lập năm 1946, tên ban đầu của
xã khi đó là Bình Giang, xã chỉ có một thôn là Nam Giàng Đến năm
1951 xã được đổi tên là xã Kênh Giang Hai dòng họ Nguyễn và Trần
đã đặt chân lên mảnh đất này đầu tiên.Khi thành lập xã chie có một thôn nam Giàng, đến năm 1952 thống nhất tách thôn Nam Giàng thành hai thôn Đông Giàng và Thượng liệt Năm 1955 xã có sự phân chia lại địa giới hành chính đổi tên thôn Đông Giàng là thôn Tân Lập,
thôn Thượng Liệt là thôn Nam Hải
1.2 Đặc điểm cư dân
Xã kênh Giang hiện nay có tổng số nhân khẩu là 910 khẩu 256 hộ.Tập trung sống chủ yếu ở thôn Nam Hải với nghề nghiệp chính là vận tải thủy, thôn Tân Lập là một cồn đảo, nằm tách rời địa giới hành chính của xã, người dân sống ít, và chủ yếu là làm nông nghiệp.Do
Trang 11các đặc điểm đó, văn hóa địa phương luôn gắn liền với nghề sông
nước và nông nghiệp
1.3 Hoạt đ ng kinh tế
Ngành nông nghiệp và vận tải thủy là hai ngành nghề truyền thống hoạt động kinh tế chính của người dân Ngay nay xã Kênh Giang đã xây dựng cơ cấu kinh tế ngư nghiệp - nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ.Người dân làm thêm các nghề, lái tàu, phụ xây, đóng tàu, đóng gạch, đánh bắt cá, làm công nhân tại các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn xã Phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân trong xã, trong thôn có nhiều hộ dân mở hàng, mở quán, kinh doanh dịch vụ bán lẻ hàng hóa, tiêu dùng với qui mô nhỏ, cho thuê xe dịch vụ, phông bạt cưới hỏi chủ yếu là phục vụ người dân trong xã mỗi khi nhà có công có việc hoặc ai đó đi đâu xa Họ tham gia hoạt động kinh tế xây dựng kinh tế gia đình,tham gia các hoạt động văn hóa của thôn, xã trong đời sống văn hóa của họ
1.4 Thiết chế văn hóa - ã h i truyền thống
Văn hóa hoạt động truyền thống của xã phải nói đến là Đền, Chùa và nhà thờ họ Trong đó, đền và chùa được người dân toàn xã tham gia, trong khi nhà thờ họ mang thính chất của dòng họ, chủ yếu
là dòng họ nhà thờ tham gia
Đối với đền: Đền Kênh Giang thờ vị tướng thủy quân vào bậc nhất thời nhà Trần, danh tướng Yết Kiêu Với bài vị và hòm sắc của ngài đền được thành lập năm 1948 Đền trải qua bốn lần tu sửa lần gần đây nhất là tháng 4 năm 2006, đến tháng 8 năm 2008 thì hoàn thành tổng công trình trị giá 500 triệu qui mô vừa truyền thống vừa hiện đại với 3 gian hiền tế, 1 gian hậu cung, 1 bức tiền môn, sân sửa
lễ, nhà bia, bậc thang lên xuống cửa đền, và cổng đền Công trình tu sủa hiện đại nhưng vẫn giữ được nét cổ kính truyền thống với 3 chữ
Trang 12“Giang sơn tự” ở cổng, bức đại tự sơn son thiếp vàng, ở chính đền có chữ “Trần triều thượng tưởng’’, có hai câu đối hai bên hiền tế:
“Tử vi thần độ thái cứu dân Sinh vị tướng phù vua trị quốc”
Đền được tu sủa bằng sự đóng góp, công đức của nhân dân địa phương, và đặc là gia đình cụ Hiệu Lề hội chính của đền diễn ra vào ngày 10 tháng giêng âm lịch Nghi lễ được thực hiện bởi người dân trong làng, và phần hội được nhân dân hai thôn tham gia với trò chơi truyền thống là bơi chải Lễ hội đền không chỉ những người dân trong làng có đền tham gia còn có sự tham gia của những người ngoài làng Những người đi làm ăn, cư trú xa quê hương thì lễ hội cũng là dịp họ trở về quê hương cúng tiến công đức, đóng góp xây dựng quê hương Đền là nơi thờ vị tướng có công chống giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi đất nước Đối với người dân xã Kênh Giang ngôi đền luôn có một vị trí vô cùng quan trọng Trước kia khi chưa có UBND xã, thì mỗi khi trong làng có công việc quan trọng thì hoạt động chính trị văn hóa trong làng đều được bàn bạc, hội họp ở nơi của đền Đây là nơi diễn ra những hoạt động lớn mang giá trị chính trị, văn hóa cho cả làng, ngoài những hoạt động chính đền làng như
là một cơ quan hội tụ quyền lực điều hành của cả xã Mọi công việc liên quan đến người dân trong làng, hay là việc chính trong xã đều điễn ra ở Đền làng Đền làng lúc này mang trong mình vai trò và chức năng rất lớn đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân, cũng như nền kinh tế của cả người dân
Đối với chùa: Là nơi được sử dụng cho các hoạt động tín ngưỡng và văn hóa xã hội của người dân nơi đây
Chùa được dựng năm 1958, lúc đó chỉ là một ngôi chùa nhỏ, hoang sơ, nằm trên địa bàn thôn Nam Hải Chùa rất thiêng, trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật của phật có bộ cửu long 5 dây, đồ thờ
Trang 13cổ Chùa Kênh Giang có 3 gian gian hữu thờ Đức ông, gian tả thờ Đức thánh Hiền, vọng cung thờ Phật gồm có: Tượng Tam Thế, Di
Đà, bộ Cửu Long 5 dây Trong không gian chùa còn có ban thờ mẫu: Thờ Mẫu Sơn Trang, Mẫu Địa và Mẫu Thoải Chùa còn tổ chức lễ vào các ngày lễ trong năm: Lễ đầu năm (1/1),lễ rằm tháng riêng (15/1),lễ Phật đản (15/4),tết Đoan ngọ (5/5),lễ cầu siêu (15/7),lễ tất niên (30/12) Chùa, đền của xã Kênh Giang đều do dân làng tự quản
lí, họ bầu ra một vị có uy tín trông nom Trong đó các nghi thức, nghi
lễ và lễ hội làng diễn ra mang tính linh, thiêng kèm theo Tính “ linh, thiêng” của các thiết chế văn hóa truyền thống được tạo ra nhờ
“nguồn gốc tâm linh” các đối tượng được tôn vinh trong các nghi thức, tế tự.Vào ngày lễ hội cính người dân xã Kênh Giang tổ chức lề hội, với phần lễ tôn nghiêm, phần hội vơi những trò chơi dân gian gắn bó với đời sống người dân
Đối với nhà thờ họ: Trên địa bàn xã hiện nay có khoảng hơn
20 dòng họ, trong đó có 2 dòng họ xây dựng nhà nhà thờ khang trang
và quy mô Đó là dòng họ Đào và dòng họ Vũ mỗi dòng họ có những
“tộc ước” riêng ghi chép cẩn thận, rõ ràng, chi tiết, bản sắc gia phong, truyền thống dòng họ, cấu trúc tổ chức họ, trưởng họ các đời, các chi và quản lí tài chính Việc xây dựng nhà thờ Họ thể hiện được tình cảm thân thiết trong họ, sự tập trung, tình cảm của mỗi cá nhân trong dòng họ với nhau iềm vinh dự, tự hào lớn, niềm mơ ước, khát khao và oai phong của dòng họ mình Ngoài ý nghĩa tâm linh cội nguồn tiên tổ, mối quan hệ xã hội giữa các hình thức tôn giáo, các quan hệ xã hội giữa người dân sống với nhau quan hệ tình cảm xóm, làng, quan hệ
họ hàng, với nhau thông qua việc cầu cúng các bậc thân linh Nhà thờ dòng họ ngày nay luôn thể hiện được tình cảm thân thiết trong họ, sự tập trung, tình cảm của mỗi cá nhân trong dòng họ với nhau