1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chương trình nông thôn mới và vấn đề văn hóa phát triển ở việt nam đương đại (nghiên cứu trường hợp xã kênh giang chí linh hải dương

94 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai chương trình Xây dựng nông thôn mới ở xã Kênh Giang nói riêng và ở thị xã Chí Linh nói chung còn gặp phải nhiều vấn đề tồn tại cần được khắc phục để

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO THỊ HỒNG NHUNG

CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI VÀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA – PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

(Nghiên cứu trường hợp xã Kênh Giang – Chí Linh – Hải Dương)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO THỊ HỒNG NHUNG

CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI VÀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA – PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

(Nghiên cứu trường hợp xã Kênh Giang – Chí Linh – Hải Dương)

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 60 31 06 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HOÀNG CẦM

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn nguồn rõ ràng

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước cơ sở đào tạo về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày 17 tháng 2 năm 2017

Tác giả luận văn

Đào Thị Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Văn hóa học, Học viện Khoa Học Xã hội (Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam) những người đã trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích nhất, để giúp tôi có thể hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài của mình

Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Đảng Ủy, Ủy ban nhân dân xã Kênh Giang, đồng nghiệp cơ quan, người dân trong xã Kênh Giang đã giúp đỡ tôi có nguồn tư liệu thực địa hoàn thành đề tài

Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Hoàng Cầm, người đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn cao học

Cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành luận văn cao học

Xin chân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 17 tháng 2 năm 2017

Tác giả luận văn

Đào Thị Hồng Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XÃ KÊNH GIANG 9

1.1 Lịch sử hình thành 9

1.2 Đặc điểm cư dân 10

1.3 Hoạt động kinh tế 11

1.4 Vấn đề văn hóa – xã hội truyền thống 14

Chương 2: CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở KÊNH GIANG: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC VẤN ĐỀ VĂN HÓA 24

2.1 Vài nét về chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới 24

2.2 Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới được thực hiện ở Kênh Giang, Chí Linh 26

Chương 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC THÔNG QUA CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở KÊNH GIANG 48

3.1 Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng nông thôn mới và triết lý phát triển nông thôn ở nước ta hiện nay 48

3.2 Sự thay đổi quan niệm, thực hành văn hóa, kinh tế, xã hội ở Kênh Giang thông qua chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 52

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 78

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT Từ/cụm từ viết tắt Từ/cụm từ viết đầy đủ

1 BNNPT&NT Bộ Nông nghiệp Phát triển và Nông thôn

3 BVH, TT &DL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta là một nước nông nghiệp với gần 70% người dân sống ở vùng nông thôn, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Ngay từ khi giành độc lập, vấn

đề phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế văn hóa xã hội của quốc gia Vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tiến hành nhiều chủ trương, chính sách để phát triển vùng nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi

Các chương trình xây dựng, phát triển nông thôn tiến hành trong nhiều năm qua được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa nhằm thay đổi diện mạo nông thôn đang được diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước Xét ở khía cạnh quy mô, các chương trình phát triển nông thôn được chính phủ thực hiện trong các thập kỉ qua là rất đa diện Ở thời điểm hiện tại, một trong những chương trình phát triển có tính bao trùm nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới Mục tiêu xây dựng của chương trình là xây dựng mới các cơ sở vật chất, các vấn đề xã hội như trung tâm văn hóa cấp xã và thôn, bưu điện văn hóa, hay trạm y tế v.v…Để hoàn thành mục tiêu đó, các vấn đề phải được nằm trong quyết định của các bộ, ngành có liên quan Ví dụ, ở khía cạnh văn hoá, theo “Quy định tổng thể phát triển hệ thống vấn đề văn hóa”, theo đó đến năm 2020, tỷ lệ văn hóa, thể thao cấp thôn phải đạt 70% (đối với khu vực miền núi là 50%), 80% ở cấp xã (khu vực miền núi là 60%) có trung tâm văn hóa thể thao

Chính sách chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới đang được diễn ra mạnh mẽ trong phạm vi cả nước nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng Tại các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh phong trào đang diễn

ra một cách mạnh mẽ ở các đơn vị xã, phường, thị trấn… Riêng tại thị xã Chí

Trang 8

Linh, phong trào Xây dựng nông thôn mới đang diễn ra một cách đồng bộ và bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp tại xã, phường trên địa bàn, người dân phấn khởi chung sức tham gia cùng chính quyền để thu được kết quả cao Kênh Giang là một trong 12 xã của thị xã Chí Linh đang thực hiện công cuộc Xây dựng nông thôn mới, người dân ở các thôn ra sức cùng nhau thực hiện các mục tiêu đề ra để hoàn thành đạt chỉ tiêu mà các bộ tiêu chí đặt

ra Nhìn chung, đây là chương trình mục tiêu quốc gia được áp dụng tại một đơn vị cơ sở đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống xã hội ở địa phương này, người dân trực tiếp thụ hưởng các sản phẩm vật chất và tinh thần của chính họ mà nhà nước mang lại trong thời gian qua Tuy nhiên, trong quá trình triển khai chương trình Xây dựng nông thôn mới ở xã Kênh Giang nói riêng và ở thị xã Chí Linh nói chung còn gặp phải nhiều vấn đề tồn tại cần được khắc phục để góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây Đặc biệt là sự thay đổi diện mạo của đời sống văn hóa người dân Kênh Giang dưới tác động của chương trình Xây dựng nông thôn mới

Nhận thấy sự cần thiết của việc tìm hiểu về chương trình nông thôn mới, đặc biệt là các tác động của chương trình này đối với các thực hành văn

hoá và xã hội của người dân nông thôn, tôi chọn “Chương trình nông thôn

mới và vấn đề văn hóa - phát triển ở Việt Nam đương đại (nghiên cứu trường

hợp xã Kênh Giang - Chí Linh - Hải Dương) làm luận văn tốt nghiệp cao

học, chuyên ngành Văn hóa học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chương trình Xây dựng nông thôn mới là chương trình lớn của quốc gia, nó có tác động đến toàn bộ đời sống của người dân nông thôn Vì vậy, ngay từ khi được triển khai, chương trình Xây dựng nông thôn mới đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đề cập và bàn luận thông qua các công trình, bài viết Những tập hợp và thống kê dưới đây của tác giả luận văn

Trang 9

cho thấy, đến nay đã có những tác phẩm viết về chương trình Xây dựng nông thôn mới ở nước ta

Trước hết, có thể kể đến nghiên cứu của nhóm các tác giả thuộc Trường

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên “Thực trạng và giải pháp xây dựng nông

thôn mới tại xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015” hay “Quy hoạch xây dựng nông thôn mới - những vấn đề đặt ra” của

2012-tác giả Đàm Quang Tuấn Hai công trình nêu lên những vấn đề cấp thiết trong việc xây dựng, hoạch định phát triển các không gian trên địa bàn nông thôn xã một cách toàn diện đáp ứng các yêu cầu của Đảng và Chính phủ về xây dựng tam nông Nội dung của công tác lập quy hoạch xây dựng NTM liên quan chủ yếu đến xây dựng, quy hoạch sản xuất và quy hoạch sử dụng đất Tập trung xây dựng trên địa bàn nông thôn hợp lý, đúng với chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước về văn hóa và phát triển của người dân

Tác giả Nguyễn Minh Tiến với bài viết “Những vấn đề đặt ra trong xây

dựng nông thôn mới ở Hải Dương” viết ngày 17/1//2013 Bài viết nêu rõ, Hải

Dương là một tỉnh có nền nông nghiệp gần như thuần túy, gắn liền với đời sống kinh tế của người dân Việc xây dựng đời sống người dân nông thôn phải đảm bảo phát huy lợi ích chương trình với lợi ích của người dân

Tác giả Nguyễn Thu Hiền với bài viết “Khắc phục yếu kém của hệ

thống vấn đề văn hóa, thể thao cơ sở” xuất bản năm 2013 và tác giả Minh

Anh với bài viết “Nhà văn hóa - xây xong cửa đóng then cài” xuất bản năm

2013 Hai bài viết trên đã nêu ra những tồn tại quanh tiêu chí văn hóa đối với mức độ sử dụng của người dân Các tác giả cho rằng, đầu tư cho văn hóa không bao giờ thừa, song để những công trình thật sự hiệu quả thì các cơ quan chức năng cần rà soát lại hệ thống vấn đề văn hóa cơ sở để có mô hình đầu tư thích đáng và điều quan trọng là phải được xây dựng xuất phát từ nguyện vọng và nhu cầu của người dân, chứ không thể từ nhu cầu quy hoạch của cơ

Trang 10

quan quản lý, phải thực sự đáp ứng nhu cầu của người dân về sinh hoạt, hưởng thụ văn hóa

Tác giả Nguyễn Văn Hy với bài viết “Mấy vấn đề về xây dựng đời sống

văn hóa cơ sở hiện nay” xuất bản năm 1985 và tác giả Trần Độ với bài viết “Văn hóa ở cơ sở và văn hóa ở huyện” xuất bản năm 1987 Hai bài viết đều khẳng

định, để có một chỉnh thế các vấn đề văn hóa cần có: Cơ sở vật chất; bộ máy tổ chức, cán bộ, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động của vấn đề đó

Tác giả Trần Hữu Sơn trong “Xây dựng đời sống văn hóa ở vùng cao”

xuất bản năm 1985 đã đề cập đến vấn đề qui hoạch chợ không phù hợp với sinh hoạt văn hóa của người dân ở vùng cao, do đó người dân gặp nhiều khó khăn trong việc mua lẫn việc bán

Tác giả Đoàn Quang Thiệu với bài viết “Nghiên cứu, xây dựng các tiêu

chí về nông thôn mới ở tỉnh Bắc Kạn” xuất bản năm 2010 Tác giả mô tả các

hoạt động của địa phương, đặc biệt là chương trình 135 và các chương trình,

dự án giảm nghèo đều huy động các nguồn lực trong Xây dựng nông thôn mới Tác giả cũng chỉ rõ những khó khăn thách thức, mục tiêu xây dựng chương trình cho sự phát triển chung đời sống người dân từng bước được nâng cao, diện mạo nông thôn khu vực miền núi có những thay đổi tích cực

Trong nghiên cứu của Philip Taylor “Những vấn đề của phát triển nông

thôn Việt Nam” xuất bản năm 2012 đã nhận ra rằng, chính sách phát triển

nông thôn hiện nay không thích hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của con người Khi người dân nông thôn Việt Nam sử dụng tôn giáo, kiến thức bên cạnh sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong đời sống

Ngoài ra, còn có các tài liệu tập huấn cho các cán bộ văn hoá để triển khai thực hiện các mục tiêu về văn hoá trong Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2016 của Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch

Trang 11

Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến nội dung chương trình Xây dựng nông thôn mới nói chung, tuy nhiên ở một địa phương như ở xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh khi thực hiện phong trào này chưa có công trình bài viết nào đề cập đến trong thời gian qua Do vậy, tác giả luận văn đã lựa chọn đối tượng này làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu về các tiêu chí và hoạt động của chương trình NTM ở một xã thuộc thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương, luận văn hướng tới cung cấp một sự hiểu biết về quan điểm, cách nhìn nhận về văn hoá cũng như triết lý phát triển của Việt Nam đương đại cũng như tác động của chương trình này đối với thực hành văn hoá và xã hội của người dân

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là

đi sâu tìm hiểu các tiêu chí, việc triển khai thực hiện các tiêu chí cũng như quan điểm của các bên hữu quan về mục tiêu và hoạt động của chương trình này tại địa bàn nghiên cứu Luận văn cũng xem xét các tiêu chí và hoạt động của chương trình đến thực hành văn hóa, xã hội cũng như quan điểm của

người dân về sự thay đổi và phát triển ở địa phương này

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối trượng nghiên cứu của luận văn là nội dung và các hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi địa bàn xã Kênh Giang, Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đây là một xã đặc biệt

Trang 12

khó khăn và nằm ở vị trí xa nhất của của thị xã Chí Linh, là một trong 12 xã đang thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 Vì vậy, lựa chọn địa bàn xã kênh Giang để thấy được những thay đổi về văn hóa, kinh tế, xã hội và sự biến đổi của chúng tới đời sống người dân nơi đây

- Phạm vi thời gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến nay Đây là khoảng thời gian địa phương triển khai xây dựng các tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới với nhiều nội dung, dự án, công trình đầu tư phát triển văn hóa - kinh tế - xã hội

5 Phương pháp nghiên cứu

Nguồn tư liệu dùng để trình bày và phân tích trong luận văn cơ bản sử dụng phương pháp định tính, dựa trên khảo khát thực địa, quan sát tham gia

và phỏng vấn sâu, đồng thời tham khảo, phân tích nguồn tư liệu thứ cấp

Phân tích tư liệu thứ cấp trong quá trình thực hiện các văn bản, kế hoạch, báo cáo của địa phương; các bài viết về hệ thống văn hoá cơ sở Đây là những phân tích cung cấp thông tin về tình hình phát triển kinh tế - văn hóa -

xã hội tại địa phương, thực trạng các vấn đề văn hóa cơ sở hiện nay Song các

tư liệu thứ cấp chủ yếu nhấn mạnh các kết quả đạt được, nêu ra các mặt tích cực và hạn chế chưa được chuyên sâu mà chưa có đề cập đến cách hưởng ứng

và tiếp cận của người dân Vì vậy, tác giả luận văn đã thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu quan điểm và phản ứng của người dân đối với chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới trong cuộc sống văn hóa người dân địa phương

Quá trình phỏng vấn sâu được thực hiện đối với một số lãnh đạo địa phương, các cán bộ phụ trách quản lý văn hóa cơ sở nhằm lấy thông tin về hoạt động quản lý và sử dụng văn hóa cơ sở, những thuận lợi, khó khăn và kế hoạch xây dựng văn hoá mới trong thời gian tới Phỏng vấn sâu còn được tiến

Trang 13

hành đối với cán bộ và người dân, những người trực tiếp sử dụng chịu ảnh hưởng của nền văn hóa mới Cuộc phỏng vấn được phân loại thành các nhóm nhỏ hơn với sự khác nhau về nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính và về tôn giáo Các cuộc phỏng vấn sâu được hỏi xoay quanh các vấn đề liên quan tới sự tham gia, quan điểm, nhu cầu của người dân đối với những thay đổi trên địa bàn sinh sống

từ khi chưa có chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới đến khi chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới diễn ra

Quan sát tham gia được thực hiện cùng với hoạt động của người dân liên quan sử dụng các vấn đề văn hóa mới, cũ có trên địa bàn Trong đó là được quan sát, tham gia lễ hội truyền thống (đền, chùa, nhà thờ họ) tham gia buổi sinh hoạt nhà văn hóa thôn, đường làng, ngõ xóm, tham gia quan sát trường học, trạm y tế, để thu thập thông tin thực tế về sự biến đổi của người dân đối với các vấn đề của chương trình nông thôn mới với cuộc sống mới và cũ

Khi được phỏng vấn sâu nội dung của các cuộc phỏng vấn thường được tập trung xoay quanh các vấn đề về trải nghiệm của mỗi cá nhân về suy nghĩ của mình trên mỗi phương diện hoạt động của chính sách Phỏng vấn sâu được hỏi bởi các câu hỏi mở, trọng tâm một vấn đề Hỏi một đối tượng nhiều câu hỏi khác nhau về vấn đề liên quan Trong quá trình tham gia phỏng vấn tôi được sự giúp đỡ rất nhiều người dân địa phương, chính vì vậy có được nhiều thông tin phong phú, đa chiều xác thực phục vụ cho nghiên cứu đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Thông qua nghiên cứu trường hợp chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới ở một địa bàn cụ thể, luận văn cung cấp một sự hiểu biết mới về triết lý, định hướng phát triển nông thôn trong xã hội Việt Nam đương đại, từ đó góp thêm một nghiên cứu trường hợp cho bức tranh nghiên cứu của ngành nhân học, nghiên cứu văn hóa về chủ đề văn hóa và phát triển

Trang 14

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch định các chính sách xây dựng, hoạt động quản lí văn hóa của trung ương đến địa phương Đặc biệt là chương trình Xây dựng nông thôn mới đi vào đời sống người dân trong văn hóa và phát triển Bên cạnh đó là người công tác trong khối chính quyền xã, tác giả luận văn có thể tìm hiểu, đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia của người dân, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ, phát huy chất lượng đời sống văn hóa cơ sở

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần nội dung của luận văn bao gồm 03 chương:

Chương 1: Tổng quan về xã Kênh Giang

Chương 2: Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở

Kênh Giang: Quá trình thực hiện các vấn đề văn hóa

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và hiệu quả đạt được thông qua

Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Kênh Giang

Trang 15

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XÃ KÊNH GIANG 1.1 Lịch sử hình thành

Người dân xã Kênh Giang có cội nguồn là nghề sông nước hay còn gọi

là nghề “thuyền chài” theo như lời nói vui của các cụ từ thời xưa Người dân

có đời sống sinh hoạt trên các con thuyền, dân cư nơi đây có nguồn gốc từ vùng Nam Sách, Thượng Đạt, Chí Linh tỉnh Hải Dương Do điều kiện kinh tế khó khăn nên họ đã chọn con sông Kinh Thày để mưu sinh Người dân đi thuyền, thả bè, bám trụ với nghề sông nước rồi đến vùng đất là xã Kênh Giang ngày nay để làm ăn Thời kì cách mạng tháng 8 năm 1945 người dân đậu thuyên tại vùng đất Kênh Giang này làm nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng, kháng chiến bằng việc chở bộ đội qua sông và chở lương thực Từ năm 1928 đến năm

1945 một số người dân tham gia giành chính quyền, lập lên một chính quyền chủ yếu hoạt động ở dưới thuyền Xã Kênh Giang lúc đó chưa là một xã, chỉ là một vùng đất hoang cây cỏ, cây sậy mọc lên um tùm không có người ở

Xã Kênh Giang được thành lập năm 1946, tên ban đầu của xã khi đó là Bình Giang, xã chỉ có một thôn là Nam Giàng Đến năm 1951 xã được đổi tên

là xã Kênh Giang, sở dĩ có việc đổi tên gọi như vậy là do tên xã Bình Giàng trùng với huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương Việc đổi tên Kênh Giang cũng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân trong xã, phù hợp với nghề truyền thống là đánh bắt cá gắn liền với đời sống sông nước của người dân

Đến năm 1950 thấy rằng đây là một vùng đất phù hợp với nghề đánh bắt cá, là nơi cư trú ổn định lâu dài cho người dân từ sống ở dưới thuyền lên bờ

ổn định an cư lạc nghiệp, làm ăn kinh tế lâu dài, một số dòng họ đã xác định lên

bờ Dòng họ đặt chân lên mảnh đất xã Kênh Giang ngày nay đầu tiên là hai họ Nguyễn và Trần Với mục đích khai hoang tìm đất ở và làm ăn ổn định Sau khi đất nước đã hòa bình một số dòng họ sống ở dưới thuyền cũng đã lên bờ khai hoang lập nghiệp gồm có dòng họ Đào, họ Phùng, họ Đỗ, họ Hoàng

Trang 16

Khi dân số xã đã phát triển, để thuận tiện điều hành cho từng khu vực dân cư dễ cho việc chỉ đạo sản xuất Năm 1952 thống nhất tách làng Nam Giàng thành hai làng Đông Giàng và Thượng liệt Năm 1955 xã có sự phân chia lại địa giới hành chính đổi tên làng Đông Giàng là làng Tân Lập, làng Thượng Liệt là làng Nam Hải Sau nhiều lần thay đổi tên gọi, địa giới hành chính xã Kênh Giang ngày nay đã được Ủy ban dân tộc quốc hội khóa XII công nhận là xã vùng 3 và làng Tân Lập là làng thuộc diện đặc biệt khó khăn theo quyết định số 05/2007/QĐ-UBDT ngày 06/09/2007 căn cứ dựa trên trình

độ phát triển Xã cách trung tâm thị xã Chí Linh khoảng 20 km về phía Tây Bắc, cách thành phố Hải Dương 45 km về phía Đông

Ngày nay khi đất nước hòa bình, dần dần đi vào đổi mới, làng xóm phát triển hội nhập với nền văn hóa kinh tế mới của đất nước Làng Nam Hải là một làng có lịch sử hình thành ngay từ thuở khai sơn lập địa, giá trị lịch sử văn hóa gắn liền với đời sống người dân Trên địa bàn làng Nam Hải có trụ sở

ủy ban nhân dân xã, có đền nằm trên địa bàn làng, là làng lớn nhất trong xã và tách rời với làng còn lại trong xã Làng Nam Hải được hình thành từ khi xã được thành lập cho đến ngày nay mang trong mình nhiều giá trị văn hóa truyền thống

1.2 Đặc điểm cƣ dân

Xã kênh Giang hiện nay có tổng số nhân khẩu là 910 khẩu 256 hộ Tổng diện tích của xã là 5.72km2, trong đó làng Tân Lập nằm tách rời là một cồn đảo một mặt giáp sông Kinh Thày, một mặt giáp với xã Lê Ninh của huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương Làng Nam Hải nằm gọn trong diện tích xâm cư có phần địa giới hành chính xen với xã Nguyễn Huệ, xã Thủy An của huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh và nằm ngay bên cạnh sông Kinh Thày

Là một xã có vị trí địa lí đặc biệt, trải dài với địa thế quan trọng về mặt quân sự, trước mặt là dòng sông Kinh Thày nên giao thông đường sông thuận

Trang 17

tiện phát triển kinh tế xã hội, dịch vụ vận tải Nghề truyền thống nông nghiệp,đánh bắt cá, vận tải thủy Do đặc điểm nghề nghiệp như vậy nên đã ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề văn hóa của người dân Nền văn hóa nông nghiệp, văn hóa ngư nghiệp phát triển và tồn tại với người dân xã Kênh Giang đặc biệt gắn với đời sống người dân Nam Hải Người dân có những đặc điểm văn hóa riêng, gắn với đời sống sinh hoạt của bản thân, gia đình và trong làng,

xã mình, họ tham gia truyền thống văn hóa của làng của xã

Làng Nam Hải có cơ cấu cư dân đông mật độ người dân ở cao, người dân sống ở làng chiếm 80 % dân số trong xã Trung bình nam giới chiếm tỷ lệ 60% còn nữ giới chiếm tỷ lệ 40% Người già chiếm tỷ lệ thấp 15%, người trung niên, thanh niên chiếm cao 70 % còn lại là trẻ nhỏ Mức thu nhập, điều kiện kinh tế người dân làng Nam Hải cao hơn làng Tân Lập vì do nghề nghiệp chính của người dân trong làng là làm thương mại vận tải tàu thủy và đi lao động nước ngoài

1.3 Hoạt động kinh tế

Theo lịch sử hình thành của xã Kênh Giang, xã có vị trí địa lý nằm bên dòng sông Kinh Thày Người dân có nghề chính là đánh bắt cá, chở hàng trên sông Sau khi lên bờ mới phát hoang trồng lúa và các loại cây hoa màu, bên cạnh đó họ làm thêm nghề đan thuyền, đan lưới… Trước đây đời sống sản xuất của người dân còn nhiều khó khăn, lạc hậu Người dân lo làm ăn, lo cơm

áo gạo tiền nên chưa có ý thức lo cho đời sống văn hóa

Cho đến ngày nay, xã Kênh Giang đã xây dựng cơ cấu kinh tế ngư nghiệp - nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ Xã có tổng diện tích đất nông nghiệp là 62,312 ha trong đó đất nông nghiệp 16,44 ha Đất phi nông nghiệp 43,98 ha, đất chưa sử dụng là 1,90 ha Hộ có thuyền vận tải thủy là 100 hộ Người dân là nguồn nhân lực chính với nhiều nghề nghiệp và sinh kế khác nhau với số lượng lao động chiếm khoảng 55% dân số trong đó

Trang 18

lao động nông nghiệp chiếm 30% dân số, lao động ngư nghiệp 25%, lao động công nghiệp 40%, thương mại dịch vụ 4%, lao động thiếu việc làm 1%

Nghề đánh bắt cá đã nhường ngôi cho nghề vận tải tàu thủy phát triển

và là ngành nghề chính người dân xã Kênh Giang Bên cạnh đó là ngành nông nghiệp với hình thức hợp tác xã nông nghiệp làm cơ sở ổn định đời sống xã hội và phát triển các ngành kinh tế khác Người dân làm thêm các nghề như lái tàu, phụ xây, đóng tàu, đóng gạch, đánh bắt cá, làm công nhân tại các công

ty, doanh nghiệp trên địa bàn xã Phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân trong

xã, trong làng có nhiều hộ dân mở hàng, mở quán, kinh doanh dịch vụ bán lẻ hàng hóa, tiêu dùng với qui mô nhỏ, cho thuê xe dịch vụ, phông bạt cưới hỏi chủ yếu là phục vụ người dân trong xã mỗi khi nhà có công có việc hoặc ai đó đi đâu

xa Từ việc thay đổi cơ cấu từ ngư nghiệp sang các ngành nghề khác có sự ảnh hưởng đến sự tham gia và sử dụng các vấn đề văn hóa của người dân

Điều kiện của người làm vận tải tàu thủy ít có thời gian sống trên địa bàn nên không thể tham gia đầy đủ các vấn đề văn hóa hàng ngày, người làm nông nghiệp sống trên địa bàn có điều kiện tham gia đầy đủ các vấn đề văn hóa Những người đi làm thuê tại các công ty nhà máy, thời gian gò bó, lao động về mệt khó có thể tham gia vào các vấn đề văn hóa, lễ hội làng Trong

đó đối tượng dich vụ hàng hóa còn lo kinh doanh trao đổi, buôn bán, nên nhiều khi không tham gia

Hiện nay, trên địa bàn xã có 5 doanh nghiệp hoạt động, trong đó có 2 doanh nghiệp kinh doanh dầu diezen, 1 doanh nghiệp đóng tàu, 1 doanh nghiệp bán vật liệu xây dựng và 1 doanh nghiệp sản xuất gạch Các doanh nghiệp là các gia đình tự mở công ty làm ăn, góp phần giải quyết việc làm cho người dân và người trong gia đình đa số người dân trong xã làm việc thuê tại các doanh nghiệp này Các doanh nghiệp trong xã làm việc dựa vào điều kiện địa lí thuận lợi từ dòng sông Kinh Thày bám trụ với đất với làng Hàng năm

Trang 19

các doanh nghiệp cũng có những ủng hộ, đóng góp, gây quỹ đầu tư cho đời sống văn hóa, cơ sở hạ tầng trong xã

Trong toàn xã người dân tích cực tham gia lao động, tham gia hoạt động văn nghệ, quan hệ làng xóm thân thiết, các vấn đề văn hóa được sử dụng và được người dân tham gia sử dụng là cơ sở văn hóa hàng ngày của người dân

* Nghề nghiệp mưu sinh và cư trú

Nghề nghiệp mưu sinh chính của người dân chủ yếu là nghề nông nghiệp, ngư nghiệp Một thời gian dài cái nghề thuyền chài gắn với cả con

người cán bộ ở đây Một lão thành cán bộ có nói “Đi họp cũng gọi là anh

khăn tõm, anh thuyền chài, ngày đó còn khổ lắm, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc mọi người vẫn rỉ tai nhau câu nói rằng:

“Buôn thuyền bán bè

Không bằng ăn dè hà tiện”

Rồi đến việc ăn uống, cũng gắn với đời sống sống trên thuyền ăn con tôm con cá ở vùng đất này, mà cách nấu, cách chế biến cũng được dặn:

“Con tôm kho mặn thì bùi

Con cá kho mặn cái mùi mất ngon”.Hay còn có câu;

“Ruốc tháng ba, cà ra tháng 10”

Hay những câu thơ dân gian được người dân ứng dụng trong đời sống

ẩm thực của mình là:

“Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon” 1

Người dân sống trên thuyền ăn uống sinh hoạt ngay trên thuyền họ chỉ quan tâm đến làm ăn mưu sinh, lo kinh tế gia đinh chưa có định hình về đời sống văn hóa Khi lên bờ ổn định “an cư lạc nghiệp” họ bắt đầu cuộc sống mới ổn định, hòa nhập cuộc sống trên bờ giao lưu văn hóa vùng lân cận Phát

1 Phỏng vấn Ông Đào Văn Hưởng, sinh năm 1930, ngày 21/01/2016 tại Kênh Giang, xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Trang 20

triển văn hóa lịch sử con người địa phương, trao dồi kiến thức, tư tưởng trong

sự phát triển văn hóa đương đại

1.4 Vấn đề văn hóa – xã hội truyền thống

* Đền

Làng Nam Hải có một ngôi đền chính được gọi tên là Đền Kênh Giang Đền thờ một vị tướng thủy quân vào bậc nhất thời nhà Trần, danh tướng Yết Kiêu Một nhân vật lịch sử đã có công phò trợ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn thống lĩnh quân và dân Đại Việt 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông ở thế kỉ thứ 13 Ngôi đền cùng các nhân vật được thờ phụng được bao bọc trong muôn vàn truyền thuyết và sự tích Kênh Giang là xã đảo duy nhất của thị xã Chí Linh, đa phần người dân đều làm nghề chài lưới, nên lập đền thờ Yết Kiêu Là danh tướng thời Trần có biệt tài về sông nước là phúc thần Mặc dù ngôi đền được xây dựng chưa lâu, song những cổ vật được thờ tự trong đền lại có niên đại nhiều thế kỷ

Tương truyền rằng: Trong trận cuối cùng ở Vạn Kiếp, tướng giặc là Phạm Nhan có tài thần thông biến hóa, Hưng Đạo Đại Vương chưa có kế sách

gì để bắt được tướng giặc, tướng Yết Kiêu đã lặn sâu vào giữa dưới thuyền của giặc để nghe ngóng, nắm bắt tình hình Biết được kế sách bắt sống tướng giặc, người đã lặn tìm đến đúng chiến thuyền tướng Phạm Nhan đục thuyền của tướng giặc rồi nổi lên bắt Phạm Nhan chói bằng chỉ ngũ sắc để không còn biến hóa được và mang nộp cho Trần Hưng Đạo

Thiên hạ thái bình ông được vua triệu về trao thưởng Thuyền xuôi đến lục đầu giang, trời đất bỗng nổi cuồng phong, mưa to sóng lớn dồn dập, đạo quân gặp cây gỗ lớn xoay quanh dòng sông, với tài chí cao ông đã xoay được cây gỗ lớn cho xuôi dòng nước, để đoàn quân tiến về Thăng Long Ông hóa tại đây, theo cây

gồ về đến trang Thượng Đạt, nhân dân lập bài vị và thờ cúng từ đó và sửa lễ biểu

Trang 21

tâu về triều Vua nghe xong sai sắc phong trung thần và sắc chỉ cho trang Thượng Đạt trùng tu tôn tạo thờ cúng (Xem phụ lục, ảnh 17)

Cây có cội, nước có nguồn, nhân dân Thượng Đạt dù đi đâu, ở đâu cũng nhớ về nơi sinh ra Một bộ phận dân Thượng Đạt phiêu bạt làm ăn di cư đến vùng đất này (Làng Nam Hải xã Kênh Giang ngày nay) với bài vị và hòm sắc của Ngài, đã được ông cha ta lập lên đền thờ bên dòng sông Kinh Thày năm 1948, lấy tên là đền Kênh Giang thờ danh tướng Yết Kiêu có sắc phong cùng ngọc phả và một số đồ thờ tế tự cổ đã đủ nói lên một lịch sử văn hóa lâu đời trên đất Kênh Giang

Từ khi lập đền thờ cho đến nay đền Kênh Giang đã trải qua 4 lần tu sửa, nâng cấp Lần gần đây nhất nhân dân Kênh Giang tập trung sức người sức của và đền được tu sửa trên nền đất cũ, khai móng tháng 4 năm 2006, đến tháng 8 năm 2008 thì hoàn thành tổng công trình trị giá 500 triệu qui mô vừa truyền thống vừa hiện đại với 3 gian hiền tế, 1 gian hậu cung, 1 bức tiền môn, sân sửa lễ, nhà bia, bậc thang lên xuống cửa đền, và cổng đền Công trình tu sửa hiện đại nhưng vẫn giữ được nét cổ kính truyền thống với 3 chữ “Giang sơn tự” ở cổng, bức đại tự sơn son thiếp vàng, ở chính đền có chữ “Trần triều thượng tưởng”, có hai câu đối hai bên hiền tế:

“Tử vi thần độ thái cứu dân Sinh vị tướng phù vua trị quốc”

Số tiền tu sửa, sửa chữa Đền được nhân dân trong xã đóng góp và tiền công đức của du khách địa phương trong đó phần lớn là sự quyên góp của gia

đình cụ Hiệu Người trông nhà đền đã nói rằng: “ngày 25 tháng chạp là ngày

mất của ngài, ngày 10 tháng riêng là ngày sinh của ngài Lễ hội chính vào ngày sinh của ngài” 1 Người dân xã kênh giang hàng năm cứ 10/1 âm lịch lại

1 Phỏng vấn Ông Đào Văn Được, sinh năm 1950, ngày 20/01/2016 tại Đền Kênh Giang, xã Kênh Giang, thị

xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Trang 22

tổ chức lễ hội chính tại cửa đền Người dân hai thôn, các ban ngành đoàn thể đều tập trung chuẩn bị cho ngày lễ hội chính

Đền là nơi hoạt động các lễ hội của người dân Trưởng ban khánh tiết đền

Kênh Giang đã nói rằng: “Lễ hội diễn ra trong 2 ngày phần lễ chọn người từ 45

tuổi trở lên vào đội tế, người không vướng mắc vào việc tang làm quan viên Tế chính là nam giới, đàn bà chỉ có lễ dâng hương, dâng hoa Đội tế gồm có từ 8 -

10 người tế, đội tế tập trước từ ngày mùng 5 đến mùng 7 Ngày mùng 10 là lễ tế chinh gọi là tế yên vị tế xong mới mời du khách thập phương nhân dân vào thắp hương Chiều tối ngày mùng 9 tế nhập tịch Chiều tối mùng 10 là tế đã kết thúc hội, phần tế lễ có tế rượu, tế nước, tế hương 1 ” (Xem phụ lục, ảnh 5)

Phần hội

Bên cạnh phần lễ, phần hội được người dân tham gia nhiệt tình nhất, những lúc này họ tham gia hội với niềm vui vẻ, mong muốn năm mới sẽ được mọi điều may mắn, già, trẻ, gái, trai không phân biệt tuổi tác tham gia lễ hội Các trò chơi trong lễ hội có đi cầu tũm, đập niêu đất, bơi trải, đánh bóng chuyền, đá bóng, ngày nay một số trò chơi không còn nữa nhường chỗ cho những trò chơi mới như: kéo co, câu cá bằng nhựa, ném bóng, phi tiêu Xong trò chơi hội truyền thống là bơi trải vẫn giữ nguyên bản sắc là trò chơi được nhân dân mong đợi nhất Để xem phần thi bơi trải người dân phải đứng hai bên bờ sông họ cầm trống, cầm chiêng cổ vũ cho đội thôn mình Một người dân tham gia hội nói

trong niềm vui: “Phần thi bơi chải là tôi thấy vui nhất, hai thôn có hai đội bơi

trải ai ở thôn nào thì cũng cổ vũ nhiệt tình cho thôn đó Ngoài tiền thưởng của ban tổ chức người trong thôn còn tài trợ tiền cho đội mình chiến thắng tùy từng người có người cho 50.000đ, người thì cho 100.000đ gọi là động viên tinh thần đội nhà mình” 2

Trang 23

Kết thúc phần hội là niềm vui hân hoan của mọi người nơi họ có nhiều

nụ cười vui, thoải mái trong các trò chơi trong hội Năm nào cũng vậy con người và nhân dân trong xã tham gia lễ hội như một phần cuộc sống không thể thiếu Dù bận rộn, ngày hội chính người dân ai cũng cố gắng sắp xếp công việc về tham gia lễ hội, đây chính là tính thiêng mà đền Kênh Giang có được trong lòng người dân Ngoài lễ hội chính người dân xã Kênh giang đến tham gia sinh hoạt tại Đền vào các ngày lễ lớn của năm: lễ đầu năm, lễ sáng 1/1 âm lịch, lễ cúng đêm giao thừa, ngày rằm tháng 7… Mục đích chính mà người dân đến đền là để cầu bình an, tốt lành trong năm mới, cũng như là mong một năm buôn bán làm ăn thuận lợi, may mắn, có thể vượt qua được mọi tai ương trong cuộc sống

Người dân trong làng lên đền lễ vào những ngày gia đình có việc trọng đại, con cái đi làm ăn xa, họ xuống thuyền mới, con cái học hành thi cử Bà Cậy

có con ứng cử Đại biểu Hội đồng nhân dân xã nói: “Bất cứ khi nào gia đình có

việc trọng đại đều mang lễ lên đền với mong muốn con được đỗ đạt, hay công việc lớn mình chuẩn bị làm sẽ thành công Mình cứ thành tâm, cho tư tưởng thoải mái” 1

Đây như là nếp sống văn hóa, thói quen của người dân với mong

muốn công việc trong gia đình được may mắn, thuận lợi, mạnh khỏe, hạnh phúc

Chị em Phụ nữ trong làng thường rỉ tai nhau câu nói “Cúng quanh năm bằng ngày rằm tháng 7” Vào ngày rằm tháng 7 người dân trong làng, đặc biệt

là chị em phụ nữ làm lễ rất lớn, to hơn so với các ngày lễ khác Bởi tháng 7 là mùa mưa có nước lũ lớn, gia đình nhà mình đi tàu nhiều nên làm lễ lớn, mong muốn tránh được cơn bão to, bão lớn, con nước lớn, con nước ngược dòng Rằm tháng 7 theo như người dân nói đây là lễ cầu siêu của làng Lễ được cúng bằng thuyền bát nhã, cửu vong, lễ được sắm tươm tất, đầy đủ với mong

1 Phỏng vấn Bà Đỗ Thị Cậy, sinh năm 1955, ngày 20/05/2016 tại thôn Nam Hải, xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh, Hải Dương

Trang 24

muốn người dân đi thuyền gặp nhiều may mắn tránh được mưa to bão lớn.(Xem phụ lục, ảnh 6)

Lễ hội không chỉ những người dân trong làng có đền tham gia còn có

sự tham gia của những người ngoài làng Những người đi làm ăn, cư trú xa quê hương thì lễ hội cũng là dịp họ trở về quê hương cúng tiến công đức, đóng góp xây dựng quê hương Để lễ hội được diễn ra người dân trong làng mỗi người một viêc Các cụ cao niên chủ trì, tổ chức nghi thức trong lễ hội, hội phụ nữ, nông dân đóng vai trò làm công tác hậu cần trong lễ hội, thanh niên trẻ tổ chức phần hội, chính quyền địa phương là cơ quan đơn vị tổ chức

và cũng là khách mời tham dự lễ hội

Đền là nơi thờ vị tướng có công chống giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi đất nước Đối với người dân làng Nam Hải ngôi đền luôn có một vị trí vô cùng quan trọng Trước kia khi chưa có UBND xã, thì mỗi khi trong làng có công việc quan trọng thì hoạt động chính trị văn hóa trong làng đều được bàn bạc, nói chuyện ở nơi của đền Đây là nơi diễn ra những hoạt động lớn mang giá trị chính trị, văn hóa cho cả làng, ngoài những hoạt động chính đền làng như là một cơ quan hội tụ quyền lực điều hành của cả xã Mọi công việc liên quan đến người dân trong làng, hay là việc chính trong xã đều điễn ra ở Đền làng Đền làng lúc này mang trong mình vai trò và chức năng rất lớn đối với đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị của người dân

* Chùa

Chùa là công trình kiến trúc thờ phật, tuy nhiên chùa Việt Nam ngoài thờ phật còn thờ thần Làng Nam Hải hiện nay có một ngôi chùa là chùa Kênh Giang Chùa có từ khi người dân Nam Hải bắt đầu đến vùng đất này lập nghiệp và sinh sống Chùa được dựng năm 1958, lúc đó chỉ là một ngôi chùa nhỏ, hoang sơ Chùa rất thiêng, trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật của phật

có bộ cửu long 5 dây, đồ thờ cổ

Trang 25

Chùa Kênh Giang có 3 gian gian hữu thờ Đức ông, gian tả thờ Đức thánh Hiền, vọng cung thờ Phật gồm có: Tượng Tam Thế, Di Đà, bộ Cửu Long 5 dây Trong không gian chùa còn có ban thờ mẫu: Thờ Mẫu Sơn Trang, Mẫu Địa và Mẫu Thoải

Năm 2005 chùa được tu sử và hoàn thành tháng 8 năm 2006 Kinh phí

tu sửa do người dân tham gia quyên góp tiền, công sức để tu sửa Người trông

chùa nói: “Trong lần tu sửa này công sức đóng góp của người dân rất lớn,

ngoài phần của chính quyền thì gia đình ông Đào Văn Hiệu đã quyên góp 85 cây vàng (700 triệu), phần nhỏ còn lại được nhân dân trong xã quyên góp Tất cả số tiền đóng góp ủng hộ của dân làng đều được ghi vào bia đá công đức của chùa” 1

Người dân trong xã và một số tín đồ phật giáo, du khách thập phương đến đền lề bái, chiêm bái vào các ngày rằm, ngày mùng một hàng tháng Một

người dân nói rằng: “Vào ngày mồng 1 hoặc khi nhà tôi có công việc, con thi

cử, nhà có người ốm đau tôi đều lên chùa cầu khấn để phật phù hộ che chở cho con cái gia đình” 2

Ngoài ra ở chùa còn tổ chức lễ vào các ngày lễ trong

năm: Lễ đầu năm (1/1), lễ rằm tháng riêng (15/1), lễ Phật đản (15/4), tết Đoan ngọ (5/5), lễ cầu siêu (15/7), lễ tất niên (30/12) Ngày lễ rằm tháng 7 được tổ chức với qui mô lớn hơn vì theo quan niệm của người dân nơi thì đây

là thời điểm cứu giúp cho các vong linh tội khổ và đồng thời là cơ hội để đền

ơn báo hiếu, đền ơn sinh thành, dưỡng dục của các bậc sinh thành Chính vì vậy vào các ngày lễ nhân dân trong làng từ già đến trẻ, nam hay nữ đều đến thắp hương, thả hoa đăng cầu nhiều phúc, nhiều lộc

Khi có việc trọng đại trong gia đình, trong làng, trong xã, trong dòng

họ, người dân lại sắm lễ lên chùa mọi người tạo cho mình một thói quen văn

Trang 26

hoá đặt niềm tin vào tâm linh, lên cửa phật với niềm tin tâm linh với mong

muốn: “Thịnh vượng,thành đạt, hạnh phúc” Một người dân trong làng đã nói với tôi rằng: “Nhà nào trong làng làm ăn được họ thường lên chùa làm lễ rất

lớn, họ sắm mâm lế lớn, có hoa ngũ sắc, mâm ngũ quả, bánh kẹo, chè thuốc, rượu đầy đủ Các thành viên trong nhà đều được phân công mỗi người đội một lễ lên chùa và công đức cho nhà chùa” 1

Bên cạnh đó là các hoạt động biểu diễn văn hóa, văn nghệ được diễn ra ở chùa, là nơi được người dân tham gia đầy đủ sinh hoạt, văn hóa văn nghệ của làng

Vào đầu mùa hè là phụ nữ trong làng lại góp tiền làm lễ cầu thần sông

để cho con họ đi thuyền không bị ngã, các cháu tắm sông không chết đuối, họ

hầu đồng thả thuyền, đời sống văn hóa tâm linh phát triển và đa dạng (Xem

đó sẽ đảm nhiệm quản lý ngôi đền

Trước đây, người tham gia vào đền phải là nam giới, chùa chỉ có nữ giới tham gia Sau thời gian với những biến đổi của xã hội giờ đây đền, chùa không còn là nơi sinh hoạt gắn liền với giới tính nữa, mà bất kì đối tượng nào cũng đều có thể đến tham gia sinh hoạt

Sự nhìn nhận về các vấn đề văn hóa truyền thống ta nhận ra một điều rằng người dân đã hoàn toàn tập trung công sức trí tuệ không chỉ xây dựng không gian kiến trúc (cơ sở vật chất), không gian của thiên nhiên - kiến trúc - hội họa - điêu khắc mà còn quan tâm đến phần hồn, phần đời sống tâm linh của các vấn đề Đó chính là các nghi thức, nghi lễ và lễ hội làng diễn ra mang

1 Phỏng vấn Bà Bùi Thị Lượt, sinh năm 1968, ngày 11/01/2016 tại thôn Nam Hải, xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh, Hải Dương

Trang 27

tính linh thiêng kèm theo Tính “linh, thiêng” của văn hóa truyền thống được

tạo ra nhờ nguồn gốc tâm linh các đối tượng được tôn vinh trong các nghi thức, tế tự

là nơi lưu giữ gia phả, văn tự cổ cùng những sắc phong, bài vị… cùng với lịch

sử của dòng họ, những di vật của tổ tiên Mỗi dòng họ có những “tộc ước” riêng ghi chép cẩn thận, rõ ràng, chi tiết, bản sắc gia phong, truyền thống dòng họ, cấu trúc tổ chức họ, trưởng họ các đời, các chi và quản lí tài chính Các thành viên trong họ phải thực hiện các điều luật của dòng họ mình Cụ

ông dòng họ Đào đã nói về dòng họ mình “Họ nhà tôi cứ ngày 15-3 âm lịch

là ngày giỗ tổ họ, gia tộc đều có mặt đông đủ, cứ vào ngày này thường niên hàng năm là con cháu trong dòng họ đều về tụ họp, gặp mặt, làm cỗ to, mọi người cùng nhau đóng góp, không nhiều thì ít, người thì đóng góp tiền, người thì đóng góp bằng hiện vật (con gà, cân gạo nếp…) để làm mâm lễ tỏ lòng thờ cúng với tổ tiên Có ngãnh trong họ con cái làm ăn được tài, được lộc nhiều khi tài trợ hẳn một con lợn làm cỗ khao cả họ, trong nhà thờ còn có đồ cúng tiến của con cháu trong các chi trong họ Bọn trẻ nhỏ góp tiền mua chuông cúng tiến, có ngãnh trong họ thì mua trống, trồng cây trong khuôn viên nhà

Trang 28

thờ, thấy các cháu trẻ mà có tấm lòng như vậy các cụ già như chúng tôi cũng vui, phấn khởi cho dòng họ mình” 1 (Xem phụ lục,ảnh 4)

Đối với cả dòng họ việc xây dựng nhà thờ Họ là một niềm vinh dự, tự hào lớn, niềm mơ ước, khát khao và oai phong của dòng họ mình Cụ bà thuộc dòng họ Hoàng đã nói về niềm vui của dòng họ mình mỗi khi có ngày

chạp họ: “Vào ngày chạp họ, giỗ tổ tôi còn được gặp các chị em ở xa đến

ngày này chúng nó về hết nên vui lắm, già rồi chẳng có thời gian thăm nhau,

có ngày giỗ tổ con cái đưa về, chị em già lại ngồi với nhau nói chuyện đến là vui, bọn trẻ thì làm cỗ, nhìn thấy người biết được chúng nó khỏe, công việc ổn định là mừng cho nó” 2

Bởi vậy có thể thấy rằng nhà thờ dòng họ ngày nay luôn thể hiện được tình cảm thân thiết trong họ, sự tập trung, tình cảm của mỗi cá nhân trong dòng họ với nhau Trong đó nền văn hóa truyền thống là vấn đề văn hóa điển hình, không phải mô hình vấn đề áp đặt từ bên trên mà xuất phát từ bên trong mỗi người dân Trong đời sống người dân có thể hiểu một điều, trong khi xã hội phát triển nhiều loại hình văn hóa xã hội khác ra đời, các vấn đề văn hóa truyền thống vẫn luôn giữ vị trí quan trọng trong suy nghĩ, trong đời sống mỗi người dân ở đây Người dân làm lễ cúng tiến, tham gia vào các hoạt động tế tự trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng Trong đó mỗi cá nhân tham gia trong không gian văn hóa của họ như một chủ thể sáng tạo ra văn hóa, họ là chủ thể sở hữu di sản, họ chủ động trong việc nhận diện giá trị, sử dụng, phát huy bảo tồn di tích

và thực hành các nghi lễ, mà đối tượng phục vụ chính là họ

Ngoài ý nghĩa tâm linh cội nguồn tiên tổ, mối quan hệ xã hội giữa các hình thức tôn giáo, các quan hệ xã hội giữa người dân sống với nhau

Trang 29

quan hệ tình cảm xóm, làng, quan hệ họ hàng, với nhau thông qua việc cầu cúng các bậc thân linh

Nhu cầu tâm linh luôn xuất hiện trong đời sống văn hóa của người dân Nhu cầu niềm tin là nhu cầu thuộc tâm linh, xác lập tính cứu cánh chính thống của đời sống xã hội và cá nhân để cá nhân tự điều khiển hành vi phù hợp lợi ích chung của tập thể và của toàn xã hội đồng thời thấy đời sống của mình là

có ý nghĩa sự thỏa mãn vấn đề tâm linh các nhu cầu phụ là sự nhập nội vào cá nhân các hệ thống lý thuyết về tôn giáo, các hệ thống xác định điều hay, dở, phải, trái trong các khuôn mẫu ứng xử

Tiểu kết chương 1

Trên những phương diện về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế và các vấn đề văn hóa truyền thống đã có được một không gian văn hóa, vấn đề văn hóa điển hình của vùng đất Kênh Giang ngày nay Đặc biệt là các loại hình Đền, Chùa, nhà thờ Họ tạo nên một khối phức hợp văn hóa phong phú và đa dạng với đời sống con người nơi đây Là cơ sở văn hóa không thể tách rời trong nhận thức đời sống con người thể hiện niềm tin, sức mạnh tinh thần, đời sống tâm linh về cuộc sống ấm no hạnh phúc Các sản phẩm văn hóa không phải chỉ là nhận thức của con người mà còn là sản phẩm tinh hoa, đời sống tâm linh tạo nên cho con người có sức mạnh tinh thần cộng đồng, gắn kết chặt chẽ Văn hóa gắn liền với đời sống sinh hoạt con người, mang đến cho họ một văn hóa với bản sắc riêng của vùng đất miền nông thôn sông nước Với những vấn đề văn hóa đó, đời sống sẽ là cơ sở để cho ta nhận xét về sự biến đổi đời sống người dân ở vùng nông thôn khi các vấn đề văn hóa mới được hình thành

Trang 30

Chương 2:

CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở KÊNH GIANG: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC VẤN ĐỀ VĂN HÓA

2.1 Vài nét về chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới

Đất nước Việt Nam là đất nước có nền nông nghiệp là chủ yếu, cây lúa

là cây lương thực quan trọng đối với đời sống người dân Người dân xuất thân

từ khu vực đồng quê là chủ yếu Khi đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến đời sống nhân dân người nông thôn

Khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, nhà nước đặt ra nhiều mục tiêu xây dựng chương trình nông thôn mới Như phản ánh trong chính tên gọi của chương trình ,địa bàn mà chương trình hướng tới là toàn bộ khu vực nông thôn ,không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản

lí bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã Mục tiêu chính của chương trình là thay đổi toàn bộ bộ mặt nông thôn, từ kinh tế, cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế môi trường cho đến đời sống văn hóa, xã hội Với nhiệm vụ đòi hỏi sự chủ động, trách nhiệm tham gia của cả hệ thống chính trị.Trong đó việc triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sâu rộng với quyết tâm cao của các cấp từ trung ương đến địa phương

Để thực hiện chương trình, Nhà nước đã ban hành một số văn bản qui định thực hiện nông thôn mới như: Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 14/6/2010 của thủ tướng chính phủ về 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới cấp xã khu vực Bắc Trung Bộ; thông tư số: 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04 tháng 10 năm 2013 hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số

Trang 31

558/QĐ-TTg ngày 05 tháng 4 năm 2016 về việc ban hành tiêu chí huyện nông thôn mới và quy định thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới Song song với việc ban hành các qui định, tiêu chí để thực hiện chương trình, Nhà nước cũng thành lập Ban chỉ đạo Chương trình Nông thôn mới ở cấp quốc gia đặt tại Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Dưới cấp Trung ương là Ban chỉ đạo nông thôn mới cấp tỉnh, huyện và xã

“Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng Với mục tiêu toàn diện: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn từng bước hiện đại; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo qui hoạch; xây dựng nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái; giữ vững an ninh trật tự; tăng cường hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.[38]

Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên toàn quốc được quyết định ngày 14/06/2010 của thủ tướng chính phủ về 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới đó là:

Tiêu chí 1: Quy hoạch

Tiêu chí 2: Giao thông

Tiêu chí 3: Thủy lợi

Tiêu chí 4: Điện

Tiêu chí 5: Trường học

Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa

Tiêu chí 7: Chợ nông thôn

Tiêu chí 8: Bưu điện

Trang 32

Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư

Tiêu chí 16: Văn hóa

Tiêu chí 17: Môi trường

Tiêu chí 18: Hệ thống chính trị xã hội vững mạnh

Tiêu chí 19: An ninh trật tự xã hội

Bộ tiêu chí Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới

là cụ thể hóa đặc trưng của xã nông thôn mới thời kì đẩy mạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là căn cứ xây dựng nông thôn mới, là chuẩn mực các

xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới.Sau khi hoàn thành bộ tiêu chí của chương trình, bộ mặt nông thôn Việt Nam được tin là sẽ “khang trang, sạch đẹp” phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ một cách toàn diện, có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo,thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

2.2 Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới được thực hiện ở Kênh Giang, Chí Linh

Nằm trong xu thế chung của cả nước, thị xã Chí Linh bắt đầu thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 thực hiện trên 12 xã nông thôn thuộc địa bàn thị xã, với nguồn kinh phí lên đến hàng chục tỷ đồng ( theo dự kiến để hoàn thiện các tiêu chí xã Kênh Giang cần đến hơn mười hai tỷ đồng)

Trang 33

Thị xã Chí Linh phấn đấu đến năm 2020, 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới.Để thực hiện Chí Linh tập trung tổ chức tuyên truyền về nội dung chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM tới các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân Chí Linh tập trung chỉ đạo thành lập ban chỉ đạo xây dựng NTM các cấp, tổ chức tuyên truyền về nội dung chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM tới các cấp làm công tác xây dựng NTM qua đó khảo sát, đánh giá thực trạng nông thôn của 12 xã trên địa bàn theo bộ tiêu chí quốc gia về NTM Thị xã chỉ đạo các phòng, ban ngành, đoàn thể và các xã cần tập trung thực hiện một số nội dung về “qui hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

và dịch vụ; qui hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường; hoàn thiện hệ thống các công trình phúc lợi công cộng” [57]

Đối với xã Kênh Giang, từ năm 2010 thực hiện chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của thị xã Chí Linh, xã Kênh Giang đã phát động phong trào “xây dựng nông thôn mới” theo Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 của thủ tướng chính phủ Ba trọng tâm chính là văn hóa, kinh tế, xã hội từ khi triển khai xây dựng nông thôn mới, các nội dung xây dựng nếp sống mới được lồng ghép trong hương ước thôn xóm và tuyên truyền trên hệ thống loa phát thanh của xã

Trang 34

tên gọi, vị trí, chức năng, góp phần tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kiến thức khoa học, kỹ thuật, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn thôn Nhà văn hóa là nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao, vui chơi giải trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới Đồng thời nhà văn hóa còn là nơi tổ chức hội họp, học tập cộng đồng, và các sinh hoạt khác ở thôn

Trong tiêu chí văn hóa, để được công nhận đạt tiêu chí cở sở vật chất văn hóa, xã phấn đấu một là có hội trường văn hóa đa năng, các phòng chức năng, sân bóng đá, trang thiết bị và tổ chức các hoạt động đạt chuẩn Hai là 100% thôn có nhà văn hóa và khu thể thao đạt chuẩn Thời gian qua, bên cạnh

sự đồng thuận, vào cuộc tích cực trong việc giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất

và hiến đất để xây dựng nhà sinh hoạt văn hóa, khu thể thao thôn, nhân dân trong xã đã hiến đất đai, cây cối, ngày công để xây dựng các nhà sinh hoạt văn hóa Năm 2015 xã đã hoàn thành tiêu chí, có hội trường sinh hoạt văn hóa nằm trong khuôn viên UBND xã Xây dựng dựa trên nguồn vốn ngân sách từ trên xuống là chính tổng công trình xây dựng là 1tỷ 200 triệu đồng Được xây dựng trên nền đất được quy hoạch trong khuôn viên UBND xã nên việc quy hoạch đất diễn ra thuận lợi Hoàn thành tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa không những góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, mà còn là điều kiện để tổ chức hoạt động văn hóa theo định hướng của địa phương Thu hút người dân tham gia vào các hoạt động văn hóa tích cực của địa phương, qua đó góp phần thay đổi đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, tiến bộ, đảm bảo cho sự phát triển hài hòa, bền vững của địa phương

Trong quá trình xây dựng thực hiện tiêu chí, năm 2013 xã đã sửa chữa cổng trụ sở UBND xã có mức kinh phí 48.000.000 đồng trích từ ngân sách địa

Trang 35

phương, năm 2014 xã có sửa chữa tường rào, quét vôi ve trụ sở UBND xã tổng kinh phí 165.540.000 đồng được trích từ nguồn ngân sách địa phương Trong khi

đó trung tâm văn hóa xã chưa được xây dựng, chưa có sân thể thao Trang thiết

bị nhà văn hóa xã chưa đủ bàn ghế, loa máy phục vụ hoạt động chưa có, hiện trạng thực hiện chưa có kinh phí để xây sửa, trang thiết bị cho nhà văn hóa

Đến Năm 2015 thực hiện tiêu chí, nhà văn hóa được xây dựng theo kinh phí ngân sách của tỉnh về xây dựng nông thôn mới đối với địa phương Khi được đầu tư xây dựng hội trường UBND từ cán bộ lãnh đạo, đến người dân đều rất vui mừng Mục tiêu đề ra của UBND năm 2014 đến năm 2015 hoàn thành tiêu chí văn hóa, trong thời gian đó bằng sự nỗ lực của cơ quan chính quyền địa phương, nhân dân đã thực hiện hoàn thành đến năm 2015 hoàn thành và đi vào sử dụng phục vụ mục đích văn hóa, văn nghệ của địa phương hoạt động văn hóa chung của đất nước

Hội trường UBND xã được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ như loa, đài, bàn ghế, phông màn và có cả những nội quy hoạt động chung Kinh phí hoạt động được trích một phần kinh phí của xã, một phần từ các đoàn thể, hội Hội trường UBND xã có quy mô rộng lớn, được trang thiết bị đầy đủ, sạch đẹp nằm trong khuôn viên của UBND xã được quản lí bởi cán bộ xã

Nhà văn hóa thôn được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ như loa, đài, bàn ghế, phông màn và có cả những nội quy hoạt động chung, trong đó có quy định thời gian mở cửa vào các ngày trong tuần Kinh phí hoạt động trong nhà văn hóa thôn do nhân dân đóng góp, được trích một phần kinh phí của xã xong không đáng kể, một phần từ các đoàn thể, hội Hội trường UBND xã được hoàn thành năm 2015 có quy mô rộng lớn, được trang thiết bị đầy đủ, sạch đẹp nằm trong khuôn viên của UBND xã được quản lí bởi cán bộ xã Đối với các nhà văn hóa thôn xóm quản lí chủ yếu là giao cho trưởng thôn, trưởng

Trang 36

xóm, hoặc là bí thư các chi bộ, họ là những người sống gần nhân dân, làm việc theo hình thức kiêm nhiệm, có trách nhiệm với người dân, cộng đồng Người dân đến nhà văn hóa thôn , người dân thân quen có quan hệ hàng xóm láng giềng, có công có việc cần sử dụng nhà văn hóa đến nhà mượn chìa khóa là được sử dụng ngay Không như hội trường UBND xã cần có chương trình kế hoạch mới được sử dụng, nhà văn hóa thôn hay được sử dụng hơn nhà văn hóa

xã Bởi nhà văn hóa thôn gần gũi và người dân được sử dụng dễ dàng hơn

Thực tế cho thấy rằng, nhà văn hóa hiện nay được công nhận đạt chuẩn theo cơ sở vật chất kĩ thuật, theo tiêu chí của chương trình nông thôn mới và được đưa vào sử dụng phục vụ cho đời sống văn hóa của người dân vùng nông thôn Nhưng còn chưa tạo ra nhiều điểm nổi bật khi sử dụng như là cần sử dụng đi đôi với gìn giữ NVH không chỉ là nơi luyện tập văn hóa, giao lưu văn nghệ mà còn là nơi cho các hoạt động đọc sách, báo, văn thơ trong địa bàn

2.2.2 Cơ sở hạ tầng

* Giao Thông

Đối với giao thông tiêu chí 2 được triển khai đó chính là việc cải thiện các con đường Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT Năm 2013 xã đã sửa chữa đường, bờ kè vào nghĩa trang nhân dân với kinh phí 10.000.000 đồng trích từ ngân sách địa phương Đối với con đường của làng Nam Hải được thực hiện

bê tông hóa giao thông nông thôn năm 2011 – 2015 xã đã triển khai nâng cấp làm mới đường trục thôn Nam Hải dài 3km, ngân sách do tỉnh cấp số tiền là: 1.695.000.000 đồng Đường ngõ xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa là

cơ sở hạ tầng đầu tiên mà người dân tham gia hưởng ứng tán thành 100% Con đường làng trước đây từ đầu làng đến cuối làng là đường đất, đường sỏi giao thông đi lại rất khó, trời nắng đi lại gập ghềnh không bằng phẳng bụi bay

Trang 37

mịt mù, khó khăn nhất là vào trời mưa đường đi lầy lội, lấm lem Khi đường được nhựa hóa, bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT thì một bộ mặt mới của xã cũng hình thành Đường đi được làm bằng bê tông đi lại thuận tiện đây thật sự là một niềm vui lớn của người dân nơi đây Đường

đi được làm bằng bê tông đi lại thuận tiện đây thật sự là một niềm vui lớn của người dân nơi đây Khi được hỏi về niềm vui đó, trưởng thôn Nam Hải nói

trong niềm vui hân hoan: “Mừng lắm chứ mơ ước được làm đường bao lâu

nay, nay được làm chúng tôi đi cũng sướng vừa sạch sẽ vừa không lầy lội như trước, trước cứ có trận mưa là ra đường lầy lội đất bám hết vào bánh xe, quần áo bẩn có đi ăn cưới đến được nơi thì xe bẩn người bẩn, giờ được nhà nước quan tâm làm cho con đường vừa to, vừa sạch sẽ có mưa cũng chẳng thấy đất cát đâu, đi lại thuận tiện dân tôi rất là phấn khởi” 1

Mô hình đường giao thông ngõ xóm sạch không lầy lội vào mùa mưa thật sự đã tạo điều kiện hết sức dễ dàng cho người dân sinh hoạt đi lại từ khi có đường mới một người

dân nói rằng: “Ra đường thì sạch sẽ, không ngại ra đường như ngày trước, có

việc đi đâu đúng lúc trời mưa thì khổ vô cùng, có đường mới ai cũng vui, phấn khởi, bà con làng xóm cũng thích ra đường đứng chơi hơn” 2

Thực hiện đổi mới, đường làng ngõ xóm sạch sẽ đạt chỉ tiêu, bộ máy chính quyền địa phương đã ra sức thực hiện thi đua, lập kế hoạch, vạch ra nhiệm vụ và những thách thức mới từ sự thay đổi của địa phương Từ một xã khó khăn, xã Kênh Giang đang biến chuyển thành một xã có bộ mặt kinh tế -

xã hội mới Một lãnh đạo xã Kênh Giang nói rằng: “Thực hiện chương trình

của thị xã về nông thôn mới, được sự ủng hộ giúp đỡ của Đảng và Nhà nước đối với một xã khó khăn như xã Kênh Giang, chúng tôi như có thêm động lực,

Trang 38

tinh thần, trách nhiệm xây dựng xã nhà theo một mô hình nông thôn mới Trong đó đời sống người dân được nâng cao, từ văn hóa, giải trí, kinh tế chúng tôi thấy vui mừng phấn khởi, khi được Đảng và Nhà nước quan tâm Người dân xã tôi vui mừng khi có con đường mới hình thành làm ăn buôn bán cũng thuận lợi, xe đi lại thuận tiện hơn, giao thương dễ dàng, mà chúng tôi đi họp cũng thuận tiện dễ dàng hơn trước”1 Việc thực hiện tiêu chí về giao thông thật sự rất hiệu quả đối với người dân nơi đây khi xã thì nghèo, đời sống người dân cũng chỉ đủ chăm lo cho gia đình không có tiền để đóng góp làm đường thì con đường mới được nhà nước hỗ trợ thật sự là niềm vui của người dân nơi đây

Khi các con đường được bê tông hóa, một chức năng nữa phục vụ đời sống người dân không phải đi lại, mà lại phục vụ cho sản xuất nông nghiệp,

đó chính là việc tận dụng đường bê tông làm sân phơi thóc, phơi rơm của người dân Người dân làm nông nghiệp tận dụng con đường đã được quét sạch làm sân phơi thóc được thu hoạch trong mùa sản xuất

Các doanh nghiệp trên địa bàn mở rộng kinh tế làm ăn với các xã lân cận việc vận chuyển hàng hóa không còn là vấn đề khó khăn như trước nữa Trời mưa gió họ cũng có thể chạy giao hàng, không sợ chậm trễ có thể ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá Hàng hoá từ đó cũng được mua dễ dàng hơn

và không bị đắt đỏ như trước nữa

Việc thực hiện và hoàn thành tiêu chí giao thông được người dân tham gia ủng hộ và coi đây như là tài sản chung của toàn xã mỗi người trong thôn,

xã đều có trách nhiệm bảo vệ con đường của minh Khi có sự phát hiện gây ảnh hưởng hỏng hoặc có sự phá hoại người dân không ai bảo ai đều có trách

1 Phỏng vấn Ông Hoàng Xuân Tuyến, sinh năm 1975, ngày 10/01/2016 tại thôn Nam Hải, xã Kênh Giang, thị

xã Chí Linh, Hải Dương

Trang 39

nhiệm báo cơ quan có thẩm quyền, hoặc khuyên giải để họ không làm hỏng con đường chung của toàn thôn

* Điện

Trong hạ tầng kinh tế xã hội nhóm 2 của quyết định 491/QĐ-TTg đối với tiêu chí điện thì điện lưới đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của ngành điện Xã Kênh Giang ngày nay các hộ đã 100% dùng điện lưới quốc gia Trước đó người dân dùng đèn dầu, đèn măng xông, đèn pin, bình ắc qui để tích điện Chỉ một số nhà có điều kiện mua máy phát điện về dùng và sử dụng các thiết

bị điện, những hộ này chiếm tỉ lệ rất ít trong xã Khi có điện lưới về xã, điều lợi đầu tiên mang đến cho người dân là ánh sáng Từ đó người dân mua ti vi màu, bộ loa đài âm li… Từ những thay đổi trong sinh hoạt, đời sống văn hóa của người dân được nâng lên Nhờ có ti vi, tin tức được người dân biết đến

nhanh chóng qua thông tin thời sự Một cụ Già nói rằng: “Trước chúng tôi ở

thuyền thì dùng đèn dầu, nến là tốt lắm rồi, sau lên bờ có điều kiện thì dùng đèn nạp bằng bình điện, mỗi lần đi nạp lại phải mang sang xã khác nạp rồi mang về, dần dần được đảng và nước quan tâm có điện lưới Khi có điện, chúng tôi dùng được các trang thiết bị hiện đại Không phải khổ như trước, thật là cảm ơn Đảng, Nhà nước và Chính quyền” 1 Trong xã, các hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn điện đạt chuẩn, nông thôn không còn

có ý niệm về miền tối tăm thiếu ánh sáng như trước

Lựa chọn những hướng hiện đại hóa, phát triển theo Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới điện lưới được người dân sử dụng phục vụ cho đời sống sinh hoạt, sản xuất, làm ăn kinh tế Điện về làng, xã là

hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện với tiêu chí đạt 100%

tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn điện Năm 2011 xã đạt chuẩn tiêu chí điện Lựa chọn những hướng hiện đại hóa, phát triển theo

1 Phỏng vấn Bà Nguyễn Thị Na, sinh năm 1960, ngày 13/03/2016 tại thôn Nam Hải, xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh, Hải Dương

Trang 40

nông thôn mới điện lưới được người dân sử dụng phục vụ cho đời sống sinh hoạt, sản xuất, làm ăn kinh tế

* Trường

Thực hiện tiêu chí 5 trường học, xã có 2 trường học cho 2 cấp học được xây dựng tại trung tâm xã, gồm trường tiểu học và trường mầm non phấn đấu đến năm 2018 đạt chuẩn đang trong quá trình xây dựng đạt chuẩn

Trong đó trường tiểu học được thực hiện tu bổ từ năm 2011: Xây dựng tường rào, thư viện với kinh phí 100.000.000 đồng từ nguồn ngân sách địa phương Năm 2013 nâng cấp nhà vệ sinh: 50.000.000 đồng từ tiền tài trợ của

cá nhân đơn vị doanh nghiệp Năm 2014 thực hiện tôn tạo sửa chữa quét vôi trường, trang trí mức chi phí 55.000.000 đồng, năm 2015 xây mới hai phòng học mức kinh phí 600.000.000 đồng từ tiền tài trợ Tổng số giáo viên của trường là 16 đồng chí, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo được cấp các loại văn bằng chứng chỉ đạt 40%, tỷ lệ học sinh hàng năm đỗ tốt nghiệp THCS và tiếp tục học phổ thông, bổ túc hoặc nghề đạt 95%.Đảm bảo điều kiện cơ sở vật

chất,thực hiện dạy đủ các môn học của chương trình.(Xem phụ lục,ảnh 8)

Trường mầm non trong xã chính thức được xây mới năm 2012 được hỗ trợ vốn của Hàn Quốc Có các phòng học cho các lứa tuổi 3 tuổi, 4 tuổi, 5 tuổi, bếp ăn, xong chưa có khu vui chơi cho trẻ Năm 2014 được hỗ trợ tiền doanh nghiệp tài trợ sân trường được bắn mái tôn, sủa chữa 40.000.000 đồng Trong năm 2017 trường đang thực hiện xây dựng khu vườn cổ tích giành cho các hoạt động ngoài trời của bé với nguồn kinh phí của thị xã

Xây dựng hệ thống trường học với cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia, việc đầu tư cho tri thức được người dân ủng hộ cao Nguồn vốn xây dựng trường chủ yếu là được tài trợ và từ nguồn ngân sách được cấp hàng năm của chính quyền địa phương Người dân trước đó hầu như không được đi học, cuộc sống nay đây mai đó trên thuyền rất khó tiếp xúc với sách vở Từ khi lên

Ngày đăng: 30/05/2017, 17:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Minh Anh (2013) Nhà văn hóa - xây xong cửa đóng then cài” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hóa - xây xong cửa đóng then cài
2. Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới xã Kênh Giang (2014), Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới xã Kênh Giang, Kênh Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới xã Kênh Giang
Tác giả: Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới xã Kênh Giang
Năm: 2014
4. Bộ NN& PTNN (2009) “Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
5. Bộ NN& PTNN(2013) “Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
6. Bộ VHTT&DL (2011) “Thông tư qui định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của nhà văn hóa – khu thể thao thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư qui định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của nhà văn hóa – khu thể thao thôn
7. Bộ VHTT&DL (2010) “Thông tư qui định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của trung tâm văn hóa-thể thao xã” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư qui định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của trung tâm văn hóa-thể thao xã
8. Hoàng Cầm, Nguyễn Trường Giang (2013), Đa dạng văn hóa: Bài học từ những câu chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng văn hóa: Bài học từ những câu chuyện
Tác giả: Hoàng Cầm, Nguyễn Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
9. Hoàng Cầm, Phạm Quỳnh Phương (2012), Diễn ngôn,chính sách và sự biến đổi văn hóa-sinh kế tộc người, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn ngôn,chính sách và sự biến đổi văn hóa-sinh kế tộc người
Tác giả: Hoàng Cầm, Phạm Quỳnh Phương
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2012
11. Đoàn Văn Chúc (2004), Văn hóa học, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2004
12. Cục văn hóa cơ sở (2013), Tài liệu hội nghị đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống vấn đề văn hóa cơ sở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghị đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống vấn đề văn hóa cơ sở
Tác giả: Cục văn hóa cơ sở
Năm: 2013
13. Cục văn hóa cơ sở (2012), Xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới
Tác giả: Cục văn hóa cơ sở
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2012
14. Cục văn hóa cơ sở (2013), Tài liệu nghiệp vụ văn hóa cơ sở, Nxb hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiệp vụ văn hóa cơ sở
Tác giả: Cục văn hóa cơ sở
Nhà XB: Nxb hà Nội
Năm: 2013
15. Phan Đại Doãn (1995), chủ động sáng tạo xây dựng đời sống, văn hóa cơ sở, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), chủ động sáng tạo xây dựng đời sống, văn hóa cơ sở
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1995
16. Lê Duẩn (1984),Về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
17. Đinh Xuân Dũng (2013), Văn hóa trong chiến lược phát triển của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong chiến lược phát triển của Việt Nam", Nxb Chính trị "Quốc gia - Sự thật
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị "Quốc gia - Sự thật"
Năm: 2013
18. Đinh Xuân Dũng (2013),Văn hóa trong chiến lược phát triển của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong chiến lược phát triển của Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - sự thật
Năm: 2013
19. Đại học Nông Lâm Thái Nguyên ( 2012-2015)“Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới tại xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới
21. Trần Độ (1987), Văn hóa cơ sở và văn hóa ở huyện, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa cơ sở và văn hóa ở huyện
Tác giả: Trần Độ
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1987
22. Trần Độ (1987) Văn hóa ở cơ sở và văn hóa ở huyện, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ở cơ sở và văn hóa ở huyện
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
23. Nguyễn Văn Hy (1985) Mấy vấn đề về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay,Nxb Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay
Nhà XB: Nxb Văn hóa Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w