1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về xử lý nợ thuế từ thực tiễn tỉnh bà rịa vũng tàu (tóm tắt)

26 209 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 353,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào quá trình nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện để góp phần nhỏ vào việc quản

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình đ-ợc hoàn hành tại: TP Hồ Chí Minh

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS TS Trần Đình Hảo

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Văn Võn

Phản biện 2: PGS.TS Dương Anh Sơn

Luận văn sẽ đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng chấm luận văn thạc

sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 8 giờ 30 ngày 03 tháng 5 năm

2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Th- viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nợ thuế đang là một bài toán khó mà ngành Thuế đang phải tìm cách giải quyết Mặc dù trong thời gian qua, có rất nhiều biện pháp đã được nghiên cứu, áp dụng nhưng số thuế nợ không những không giảm mà còn có xu thế gia tăng Nợ thuế khiến mục tiêu thu ngân sách không đạt được Việc thu ngân sách từ thuế không đạt được kết quả mong đợi sẽ làm thiếu hụt nguồn ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước Tình trạng này đòi hỏi Nhà nước sớm phải tìm ra biện pháp nhằm thu hồi triệt để tiền nợ thuế

Như vậy, thực tiễn đặt ra đòi hỏi bức thiết phải nghiên cứu

để giải quyết tình trạng nợ thuế nhằm đảm bảo mục tiêu thu ngân sách quốc gia Trong bối cảnh chung của cả nước, Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã tập trung đẩy mạnh công tác quản lý nợ thuế và

xử lý nợ thuế Thực tế thời gian qua, công tác quản lý nợ thuế ở Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã đat được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên cũng còn gặp phải một số vướng mắc, khó khăn, hiệu quả của công tác quản lý nợ thuế và xử lý nợ thuế còn thấp nên tình trạng nợ đọng thời gian qua vẫn còn diễn ra nhiều, gây thất thu cho ngân sách nhà nước

Đứng trước thực trạng đó, công tác quản lý nợ và xử lý nợ thuế của toàn ngành nói chung và Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng đang là vấn đề cấp bách, đòi hỏi phải có nghiên cứu lý giải nguyên nhân của việc nợ thuế chiếm tỷ trọng cao so với số thuế thu được và những biện pháp khả thi để xử lý nợ thuế hiệu quả

Xuất phát từ những lý do trên đề tài “Pháp luật về xử lý nợ thuế từ thực tiễn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” có ý nghĩa thực tiễn thiết

thực

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế ở Việt Nam

đã thu hút được sự quan tâm của khá nhiều nhà khoa học và nhà quản lý Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu, bài viết có liên quan đến công tác quản lý nợ và xử lý nợ thuế Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau:

- TS Lê Xuân Trường với nghiên cứu “ Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế ở Việt Nam”

- Các tác giả TS Lê Xuân Trường và Ths Lê Minh Thắng với

bài báo “Đi tìm lời giải cho bài toán nợ thuế ở Việt Nam”

- Hoài Phương với bài báo “Chống nợ đọng thuế cần cơ chế quản lý cứng rắn hơn”

- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Đỗ Thị Ngọc Hà, “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại Cục thuế tình Thái Bình”; luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Hằng

Na, “Pháp luật về quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”

Từ những phân tích trên cho thấy, đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nợ thuế và xử lý nợ thuế trước đây Tuy nhiên, các đề tài trên chỉ dừng lại ở các vấn đề chung về tổ chức bộ máy quản lý hay các biện pháp cưỡng chế thuế một cách thuần túy, nhìn chung các giải pháp thiên về lĩnh vực kinh tế Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào phân tích tính chuyên sâu về nguyên nhân nợ thuế

Do vậy, luận văn này xem xét một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về xử lý nợ thuế để góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế nói chung, pháp luật về quản lý nợ thuế nói riêng ở nước ta Luận văn này tập trung nghiên cứu về nguyên

Trang 5

nhân nợ thuế và phân tích mối quan hệ giữa tình hình nợ thuế và các biện pháp xử lý nợ thuế

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

Mục đích của bài luận văn này là nhằm tìm ra nguyên nhân

nợ thuế, từ đó tìm ra các biện pháp xử lý có hiệu quả tình trạng nợ đọng thuế Để làm rỏ mục tiêu trên, nhiệm vụ bài luận văn nghiên

cứu một số nội dung sau:

- Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nợ thuế và xử lý nợ thuế, đặc biệt, làm rõ tính hiệu quả và đánh giá tính hiệu quả của quản lý nợ thuế và xử lý nợ thuế

- Đánh giá thực trạng pháp luật về công tác quản lý nợ và xử

lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

- Phân tích thời điểm phát sinh, thời điểm đến hạn của nghĩa

vụ nộp thuế để xác định đúng thời điểm doanh nghiệp nợ thuế

- Phân tích thực trạng của pháp luật về xử lý nợ thuế ảnh hưởng đến tình trạng dây dưa nợ thuế, trốn thuế

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ và xử lý nợ thuế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về nợ thuế và xử nợ thuế ở Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung các quy định của pháp luật hiện hành về nợ thuế và các biện pháp xử lý nợ thuế trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trực tiếp quản lý giai đoạn 2011 - 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu triển khai trên cơ sở phương pháp luận là phép duy vật biện chứng của học thuyết Mác - Lênin, kết hợp

Trang 6

với thực tiễn thưc hành pháp luật để khái quát thành các vấn đề có tính lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu phổ biến như phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp đối chiếu -

so sánh, phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn … để giải quyết các yêu cầu đăt ra của đề tài nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào quá trình nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện để góp phần nhỏ vào việc quản lý nhà nước đối với công tác thu thuế nói chung cũng như công tác xử lý nợ thuế nói riêng ở nước ta hiện nay, đồng thời chỉ ra các bất cập của các quy định pháp luật xử lý nợ thuế, sau đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đối với công tác xử lý nợ thuế

Về mặt thực tiễn, luận văn đánh giá đúng thực trạng, tình hình, phân tích nguyên nhân, điều kiện thực thi các quy định của pháp luật về xử lý nợ thuế, những thuận lợi cũng như khó khăn của việc áp dụng pháp luật về xử lý nợ thuế ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Nội dung của luận văn bao gồm phần mở đầu và 3 chương với các phần chính sau đây:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật xử lý nợ thuế Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý nợ thuế

tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực

thi pháp luật về xử lý nợ thuế tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trang 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ NỢ

THUẾ 1.1 Những vấn đề lý luận về pháp luật nợ thuế

Khái niêm “nợ” nói chung thường là một thuật ngữ được dung để nói đến một nghĩa vụ của một chủ thể (con nợ hay người mắc nợ) phải thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện trong hiện tại hoặc trong tương lai đối với một chủ thể khác (chủ nợ) Khái niệm “nợ” chủ yếu được sử dụng để nói các nghĩa vụ tài sản mà một bên chủ thể phải thực hiện trong các giao dịch dân sự, thương mại như quan

hệ vay, mượn tài tài sản, mua, bán, …

Nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất Tuy nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác

Nợ được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay vay một lượng tài sản nhất định Trong xã hội hiện đại, nợ thường được đi kèm với sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định tính theo thời điểm …

Nợ là một phần của tổng tài sản mà người mượn phải trả cho người cho mượn ở một hay nhiều thời điểm khác nhau trong tương lai Tuy nhiên, khi nói đến nợ thuế thì không hoàn toàn như vậy Ở đây “nợ thuế” không phải là phần tài sản của cá nhân hay tổ chức đã vay mà là phần tài sản cá nhân hay tổ chức thuộc diện phải đóng thuế theo quy định của pháp luật phải nộp vào ngân sách Nhà nước khi phát sinh nghĩa vụ đó trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc có phát sinh thu nhập theo quy định của pháp luật

Nợ thuế nếu hiểu theo nghĩa rộng là nghĩa vụ tài chính phải thực hiện của tổ chức, cá nhân đối với Nhà nước Thời điểm xác định

Trang 8

chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế (có nợ thuế Nhà nước) được tính từ khi

có sự kiện pháp lý đã được dự liệu phát sinh Chẳng hạn pháp luật về

thuế giá trị gia tăng có quy định: “Thời điểm xác định thuế giá trị giá tăng đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu quyền

sờ hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền Thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền”

Theo như quy định trên, thời điểm chuyển giao hàng hóa đến người tiêu dùng hoặc thời điểm hoàn thành cung ứng dịch vụ, cá nhân (tổ chức) cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó đã phát sinh nghĩa vụ nộp thuế Nói cách khác cá nhân (tổ chức) này đã phát sinh một khoản thuế nợ đối với Nhà nước và họ cần phải thực hiện nghĩa vụ thuế Tuy nhiên nếu mỗi khi phát sinh nghĩa vụ thuế, đối tượng nộp thuế lại phải thực hiện ngay sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, trong quản lý thuế, để tạo điều kiện thuận lợi và hạn chế các chi phí cho việc kê khai, thu nộp thuế cho người nộp thuế và các cơ quan quản lý thu thuế của Nhà nước nên pháp luật quy định kỳ tính thuế, thời hạn nộp hồ sơ kê khai thuế, thời hạn nộp thuế

Kỳ tính thuế là khoản thời gian để xác định số tiền phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế

Thời hạn nộp hồ sơ kê khai thuế là khoản thời gian mà người nộp thuế phải thực hiện kê khai số thuế phải nộp theo kỳ tính thuế và phải nộp tờ khai cho cơ quan thuế

Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với trường hợp người nộp thuế tính thuế,

Trang 9

trường hợp cơ quan quản lý thuế tính thuế hoặc ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan quản lý thuế

Như vậy, thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế và thời điểm

kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng không giống nhau Không riêng gì thuế giá trị gia tăng, các loại thuế khác cũng có thời điểm phát sinh

và thời hạn nộp thuế là khác nhau như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên …

Như đã trình bày ở trên, thời hạn nộp hồ sơ kê khai thuế đồng thời là thời hạn nộp thuế, nó khác với thời điểm phát sinh nghĩa

vụ nộp thuế Điều đó cũng có nghĩa là thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế và thời điểm nộp thuế không trùng nhau Bởi vậy nợ thuế

có thể được hiểu theo nghĩa hẹp hơn

Theo nghĩa hẹp hơn, nợ thuế là một nghĩa vụ pháp lý phải nộp mà người có nghĩa vụ nộp thuế phải nộp trong kỳ tính thuế mà

đã quá thời hạn phải nộp thuế mà chưa nộp hoặc nộp còn thiếu số tiền thuế phải nộp trong kỳ tính thuế

Tại điểm 1, mục III, phần I của quy trình quản lý nợ thuế ban hành kèm theo Quyết định 1401/QĐ-TCT ngày 28/7/205 của Tổng

cục trưởng Tổng cục thuế “Tiền thuế nợ là: các khoản tiền thuế; phí,

lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản

và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN.”

Do có nhiều quan điểm khác nhau về nợ thuế, trong luận văn này sẽ sử dụng khái niệm nợ thuế theo nghĩa hẹp để có cách hiểu thống nhất với các văn bản pháp luật quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

Từ những lập luận trên, có thể định nghĩa một cách khái quát

về nợ thuế như sau:

Nợ thuế là một nghĩa vụ pháp lý phải nộp của thể nhân hoặc pháp nhân thuộc đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật chưa nộp hoặc chưa nộp đủ vào ngân sách nhà nước sau khi đã quá hạn nộp thuế hoặc quá thời hạn gia hạn nộp thuế

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật xử lý nợ thuế

Trong quá trình quản lý thuế, người nộp thuế có thể tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, tự giác nộp thuế đúng thời hạn quy định hoặc cũng có thể xảy ra trường hợp người nộp thuế không tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế Khi đó, cơ quan thuế sẽ ban hành các quyết định hành chính thuế yêu cầu người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế Nếu người nộp thuế không tuân thủ các quyết định hành chính thuế này thì cơ quan Thuế sẽ thực hiện cưỡng chế thuế, buộc người nộp thuế thu hành các quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật

Để việc cưỡng chế nợ thuế đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi của người bị cưỡng chế nợ thuế, đảm bảo tính công bằng, khách quan, trách sự tùy tiện áp đặt của cán bộ thuế thì phải làm tốt công tác quản lý nợ thuế và quy trình cưỡng chế nợ thuế

1.2.1 Quản lý nợ thuế

Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế Quản lý nợ thuế là một bộ phận của việc xử lý nợ thuế Trong khoản thời gian của các khoản thuế nợ có tuổi nợ từ 90 ngày trở xuống, cơ quan thuế

áp dụng các biện pháp hành chính để đôn đốc thu hồi nợ thuế Khi

Trang 11

các khoản thuế nợ quá hạn (nợ quá hạn), cơ quan thuế áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thu hồi nợ thuế

1.2.2 Cưỡng chế thuế

Cưỡng chế thuế là việc cơ quan thuế và các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng các biện pháp buộc người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ thuế

1.2.2.1 Các biện pháp cưỡng chế thuế được thực hiện hiện nay:

Khoản1, Điều 3 Thông tư số 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính, hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế (sau đây gọi tắt là “Thông tư 215/2013/TT-BTC”) có quy định:

“1 Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế (sau đây gọi chung là biện pháp cưỡng chế thuế)

a) Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản

b) Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập

c) Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng

d) Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước

đ) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang giữ

e) Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.”

a Trích tiền từ tài khoản ngân hàng

Trang 12

Đây là biện pháp cơ quan thuế ra lệnh thu gửi cho ngân hàng nơi đối tượng nộp thuế có tài khoản yêu cầu trích tài khoản của đối tượng nợ thuế để nộp thuế cho Nhà nước

b Khấu trừ tiền lương hoặc thu nhập

Biện pháp này áp dụng đối với các khoản thuế nợ của cá nhân làm công ăn lương Theo đó, cơ quan thuế ban hành quyết định hành chính thuế yêu cầu tổ chức chi trả thu nhập cho cá nhân (tiền lương, tiền công và thu nhập khác) khấu trừ tiền thuế của cá nhân đó

để nộp thuế cho Nhà nước

c Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng

Biện pháp đình chỉ sử dụng hóa đơn được thực hiện thông qua việc cơ quan thuế dừng bán hóa đơn cho người nộp thuế sử dụng hóa đơn mua của cơ quan thuế hoặc thông báo hóa đơn không có giá trị lưu hành trong trường hợp người nộp thuế sử dụng hóa đơn đặt in, hóa đơn tự in hoặc hóa đơn điện tử

d Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên

Đây là biện pháp cưỡng chế mà cơ quan thuế phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện kê biên tài sản và bán đấu giá tài sản kê biên để thu tiền nợ của đối tượng nợ thuế

đ Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang giữ

Đây là biện pháp cơ quan thuế ra văn bản yêu cầu bên thứ ba đang nắm giữ tiền hoặc tài sản của đối tượng nợ thuế không chuyển trả tiền hoặc tài sản cho đối tượng nợ thuế mà chuyển số tiền bên thứ

ba đang nắm giữ vào ngân sách Nhà nước để nộp thuế thay cho đối tượng nợ thuế hoặc chuyển giao tài sản của đối tượng nợ thuế do bên thứ ba nắm giữ cho cơ quan thuế để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thuế

Trang 13

của đối tượng nợ thuế bằng cách bán đấu giá các tài sản này theo quy định của pháp luật

e Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề

Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề là biện pháp của các cơ quan hành chính thực hiện quy định hành chính thuế bằng cách thông báo các loại giấy tờ trên của người nộp thuế hết giá trị pháp lý

1.2.3 Xóa nợ thuế

Khi cơ quan thuế thực hiện tất cả các biện pháp để thu hồi nợ thuế mà cũng không thể thu đủ tiền nợ thuế thì các khoản thuế nợ đó được xóa nợ, chi tiết về các trường hợp được xóa nợ thuế được quy định tại Thông tư 156/2013/TT-BTC, Điều 48, Khoản 1 như sau:

“1 Trường hợp được xoá nợ tiền thuế

a) Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tiền, tài sản để nộp tiền thuế

b) Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiền thuế

c) Các khoản nợ tiền thuế không thuộc trường hợp nêu tại điểm a và b khoản 1 Điều này, đáp ứng đủ các điều kiện sau:

c.1) Khoản nợ tiền thuế đã quá 10 (mười) năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế;

c.2) Cơ quan thuế đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định nhưng không thu đủ tiền thuế;”

Ngày đăng: 30/05/2017, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm