1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề từ thực tiễn tỉnh bình dương

98 395 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận Vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và phương pháp nghiên cứu chính sác

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THỊ NGỌC THIÊN HƯƠNG

CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG

CÓ TAY NGHỀ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THỊ NGỌC THIÊN HƯƠNG

CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG

CÓ TAY NGHỀ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Chuyên ngành : Chính sách công

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐÌNH HẢO

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của Quý thầy, cô đang công tác, giảng dạy tại Học viện Khoa học Xã hội Từ đó, giúp tôi có điều kiện tiếp cận và cập nhật, bổ sung thêm kiến thức về khoa học Chính sách công, phục vụ tốt hơn cho công tác chuyên môn của bản thân

Đến nay, tôi đã hoàn thành chương trình học và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp, tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám đốc, Khoa Chính sách công và tập thể giảng viên đang công tác tại Học viện Khoa học Xã hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu trong suốt thời gian qua

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và

sâu sắc nhất đến PGS TS Trần Đình Hảo, người đã dành thời gian và tâm

huyết để truyền đạt cho tôi kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu, tận tình hướng dẫn tôi với tinh thần trách nhiệm cao trong suốt quá trình nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc và lãnh đạo HVKHXH đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của Quý thầy, cô và các bạn học viên để luận văn có giá trị thực tiễn hơn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản luận văn “Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề từ thực tiễn tỉnh Bình Dương” này là công trình

nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý

thuyết và xuất phát từ thực tiễn công tác, dưới sự hướng dẫn của PGS TS

Trần Đình Hảo

Các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực,

chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và

công nhận bởi Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Chính sách

công

Một lần nữa tôi xin khẳng định sự trung thực của lời cam kết trên

Tác giả

Đặng Thị Ngọc Thiên Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG CÓ TAY NGHỀ Ở VIỆT NAM 8

1.1 Những vấn đề lý luận về chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề 8

1.2 Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở nước ta hiện nay 22

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách việc làm đối với người lao động có tay nghề 24

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG CÓ TAY NGHỀ TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG 30

2.1 Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề của tỉnh Bình Dương 30

2.2 Tổ chức thực hiện chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề tại tỉnh Bình Dương 45

Chương 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG CÓ TAY NGHỀ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 61

3.1 Nhu cầu, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở nước ta 61

3.2 Các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở nước ta 65

3.3 Kiến nghị 75

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AEC : ASEAN Economic Community

(Cộng đồng Kinh tế ASEAN) AFTA : ASEAN Free Trade Area

(Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN) ASEAN : Association of Southeast Asian Nations

( Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á) CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

GQVL : Giải quyết việc làm HĐND : Hội đồng nhân dân ILO : International Labour Organization

(Tổ chức Lao động quốc tế) KCN : Khu công nghiệp

KH&ĐT : Kế hoạch và Đầu tư KT-XH : Kinh tế - xã hội

LĐ : Lao động LĐ-TB&XH : Lao động - Thương binh và Xã hội NLĐ : Người lao động

TPP : Trans-Pacific Partnership Agreement

(Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương)

TW : Trung ương UBND : Ủy ban nhân dân WTO : World Trade Organization

(Tổ chức Thương mại thế giới) XHCN : Xã hội chủ nghĩa

XKLĐ : Xuất khẩu lao động

Trang 7

2020 63

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua 30 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế - xã hội của Việt nam đã hoàn toàn thay đổi từ một nước nông nghiệp lạc hậu chuyển sang một nước công nghiệp hóa hiện đại, bên cạnh đó bảo đảm an sinh xã hội phải phù hợp với quá trình phát triển kinh

tế - xã hội để đi đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động Do đó việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để bảo đảm cuộc sống và phát triển toàn diện của nền kinh tế Chính sách việc làm cho con người là một trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu, là mối quan tâm lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng Tạo việc làm cho con người, bảo đảm quyền bình đẳng về việc làm cho mọi người trong độ tuổi lao động là trách nhiệm của mọi quốc gia Do đó, vấn đề việc làm của con người trong độ tuổi lao động luôn là một vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Và đây không chỉ là quan tâm giải quyết các vấn đề thu nhập, ổn định cuộc sống cho cá nhân và gia đình của con người, mà còn là vấn đề của sự phát triển quốc gia

Trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam luôn

là điểm sáng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài từ khắp nơi trên thế giới: Mỹ, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… Là bộ phận trực tiếp tham gia vào các quy trình sản xuất vì thế mà việc phát triển nguồn nhân lực cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế của doanh nghiệp

Thời kỳ đầu đổi mới, những thay đổi về chính sách vĩ mô và môi trường kinh

tế trong nước đã khơi dậy nguồn lực và đóng góp cho tăng trưởng, phát triển Những thuận lợi trước đây không còn nhiều và những khó khăn, thách thức đang xuất hiện Đến nay, các nguồn lực vốn, tài nguyên, công nghệ đang dần được sử dụng hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn trong một nền kinh tế mở Muốn tăng hiệu quả

và phát triển bền vững, nền kinh tế phải coi trọng phát triển nguồn nhân lực và cụ thể là lực lượng lao động qua đào tạo nghề

Trang 9

2

Thực tiễn của hoạt động đào tạo nghề hiện nay đang là tâm điểm của nhiều ý kiến liên quan đến vấn đề làm thế nào để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế Việc sử dụng lao động kỹ thuật, lao động qua đào tạo nghề hiện nay cũng còn nhiều bất cập, chưa thể hiện vai trò là “cầu kéo”, “sức hút”, đầu ra “hấp dẫn” cho đào tạo Vấn đề việc làm của lao động qua đạo nghề không chỉ đơn thuần là việc làm hay đào tạo hoặc sử dụng, mà cả ba yếu tố này đều góp phần tạo nên

Vấn đề đặt ra là phải tạo ra và giải quyết việc làm, vừa phải phát triển đội ngũ lao động cũng như có những chính sách sử dụng và tạo môi trường cho phát triển việc làm của lao động qua đào tạo nghề Vừa giải quyết việc làm cho đối tượng này trong sự cân đối dài hạn vừa phải đổi mới sử dụng sao cho hiệu quả đồng thời vừa thúc đẩy phát triển đào tạo đáp ứng đủ, phù hợp nhu cầu là một câu hỏi lớn đặt ra cho cả vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam

Quan điểm chỉ đạo của Đảng thể hiện trong Văn kiện Đại hội XII: nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 – 2020: “Phát triển thị trường lao động đảm bảo đồng bộ liên thông minh bạch và tạo điều kiện cho tự do dịch chuyển lao động” Chính vì vậy để giải quyết vấn đề việc làm đối với lao động có tay nghề

là vấn đề mới phát sinh cần được giải quyết bằng chính sách công

Bình Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Ngay

từ những năm 90 của thế kỷ trước, với chính sách trải thảm đỏ đón các nhà đầu tư, Bình Dương trở thành một trong những tỉnh đi đầu trong thu hút đầu tư, góp phần giải quyết việc làm không những cho lao động trong tỉnh mà còn lao động từ các tỉnh khác đến Từ nay đến năm 2020, hằng năm tỉnh cần tuyển dụng trên 50.000 lao động trong đó phấn đấu trên 70% lao động được qua đào tạo Bên cạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cho lao động, Bình Dương cần phải có chính sách phù hợp để giải quyết việc làm cho lao động có tay nghề, để có thể giữ được nguồn nhân lực quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong thời gian tới

Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả quyết định chọn đề tài “Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề từ thực tiễn tỉnh Bình Dương” để làm đề tài

luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 10

3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc làm nói chung và việc làm đối với lao động có tay nghề nói riêng là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện Quyền lao động và đảm bảo việc làm của người lao động đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoá trong Bộ luật Lao động đầu tiên ở nước ta Việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động có tay nghề là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó,

cần hoàn thiện chính sách về việc làm đối với lao động có tay nghề

Chính sách việc làm cho người lao động có tay nghề đã được nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về

chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề Có thể kể những công trình như

Tác giả Nguyễn Viết Sự đã có một nghiên cứu khá công phu “Giáo dục nghề nghiệp – những vấn đề và giải pháp” Trong nghiên cứu này, tác giả đã nhận diện

những vấn đề tồn tại phổ biến trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam,

từ chương trình, phương pháp, nội dung, đội ngũ giáo viên, chất lượng giảng dạy,

Trang 11

Bài viết “Những vấn đề đặt ra trong công tác đào tạo nghề hiện nay” của

tác giả Doãn Huy đã nêu ra một số bất cập của việc triên khai công tác đào tạo nghề còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với đặc điểm của từng vùng, ngành kinh tế; thiếu định hướng dài hạn, chưa gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, một số nơi dạy nghề còn chạy theo số lượng, chất lượng thấp, chưa phù hợp với nhu cầu người học và người sử dụng lao động

Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Công nghiệp hóa, đô thị hóa qua thực tiễn ở Bình Dương” Bình Dương tháng 3 - 2015 do Hội đồng lý luận Trung ương và tỉnh ủy Bình Dương làm chủ biên với nhiều bài viết của Hội đồng lý luận trung ương, tỉnh

ủy Bình Dương, các bài viết của các nhà khoa học, của các Sở ban ngành trong tỉnh Bình Dương nhằm đánh giá tổng quan quá trình chuyển đổi nhận thức, đổi mới tư duy, tầm nhìn chiến lược của tỉnh trong công cuộc CNH, HĐH và đô thị hóa tỉnh Bình Dương Từ đó đưa ra các định hướng phát triển tỉnh Bình Dương từ bài học thực tiễn và kinh nghiệm của các tỉnh thành phố trong nước, các nước, các khu vực trên thế giới

Các công trình nghiên cứu, các bài viết của các nhà khoa học đã đề cập nhiều

ý kiến quan trọng đóng góp cho việc hoàn thiện chính sách việc làm Tuy nhiên, theo sự cập nhật cho thấy, trên địa bàn tỉnh Bình Dương chưa có một tác giả nào tập trung nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về vấn đề này, cũng như chưa có tác giả nào nghiên cứu về chính sách việc làm cho lao động có tay nghề

Với đề tài luận văn này được thực hiện là có sự kế thừa, phát triển những kết

Trang 12

5

quả của các tài liệu có liên quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất ra các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu cho GQVL ở nước ta nói chung và tỉnh Bình

Dương nói riêng về vấn đề Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề trong

thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận về Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề và những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề, luận văn phân tích thực trạng chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề từ thực tiễn tỉnh Bình Dương Từ đó kiến nghị và đề xuất những giải pháp hoàn thiện Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề mang lại hiệu quả cao nhất để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Dương trong giai đoạn phát triển để trở thành thành phố Bình Dương thông minh

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận, lý thuyết, cơ sở pháp lý quy định về chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở Việt Nam Đồng thời làm rõ những quan điểm chỉ đạo, mục tiêu của chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề

- Đánh giá thực trạng Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề hiện hành của Bình Dương Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu, giải pháp, công

cụ, các chủ thể tham gia thực hiện chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề tại tỉnh Bình Dương và những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách và việc thực hiện chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề tại tỉnh Bình Dương

- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện chính sách việc làm đối với

lao động có tay nghề ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách việc làm đối với lao động

có tay nghề tại tỉnh Bình Dương Cụ thể là nghiên cứu giải pháp và công cụ chính

Trang 13

6

sách việc làm đối với lao động có tay nghề từ thực tiễn tại tỉnh Bình Dương theo góc độ khoa học chính sách công

Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu: tại tỉnh Bình Dương

Thời gian: Giai đoạn từ năm 01/01/2010 đến 30/11/2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và phương pháp nghiên cứu chính sách công từ lý luận đến thực tiễn và phân tích đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, tiếp cận các quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá có sự tham gia của các chủ thể chính sách, qua đó lý thuyết chính sách công được làm rõ hơn qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, sử dụng phương

pháp thống kê, thu thập số liệu, để làm rõ thực trạng chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề tại tỉnh Bình Dương Phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn

có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương, các công trình nghiên cứu, báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề chính sách việc làm đối với lao động

có tay nghề tỉnh Bình Dương Khi đã có những thông tin cụ thể, tác giả sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đánh giá kết quả thực hiện chính sách

để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề tại tỉnh Bình Dương

Phương pháp phỏng vấn sâu : Phỏng vấn sâu là phương pháp được dùng khá

phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại với một đối tượng nhằm thu thập thông tin, theo dự kiến thiết kế nghiên cứu có phương pháp

Trang 14

7

điều tra bằng bảng hỏi với đối tượng như: cơ quan quản lý nhà nước về lao động dạy nghề và việc làm, doanh nghiệp sử dụng lao động có tay nghề, các cơ sở đào tạo nghề, trung tâm dịch vụ việc làm Do thời gian có hạn nên tác giả tập trung và phương pháp phỏng vấn sâu nghiên cứu chính sách

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa thực tiễn

- Các giải pháp và kiến nghị của luận văn giúp lãnh đạo các cấp của Bình Dương có thêm nguồn tham khảo nhằm hoàn thiện chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề tại tỉnh Bình Dương, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong thời gian tới

- Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước về lao động việc làm và dạy nghề trong tỉnh Bình Dương, nhằm

để hoạch định chính sách và thực hiện có hiệu quả nhất khi Bình Dương trở thành thành phố thông minh Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành chính sách công, cũng như những ai quan tâm đến đề tài này

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu luận văn gồm có 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách việc làm đối với lao động có

tay nghề ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề tại

tỉnh Bình Dương

Chương 3: Hoàn thiện chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở

nước ta hiện nay

Trang 15

8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM ĐỐI VỚI

LAO ĐỘNG CÓ TAY NGHỀ Ở VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề lý luận về chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề

1.1.1 Khái niệm về chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề

Khái niệm chính sách công được diễn đạt như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền” [Đỗ Phú Hải, 2012, 2014]

Như vậy, chính sách công là thể hiện cụ thể của những chủ trương, quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Chính sách công giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trong đời sống kinh tế –

xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ thực hiện nhằm giải quyết vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách

Khái niệm Việc làm trong Bộ luật Lao động quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (Khoản 1, điều 9, Bộ

luật Lao động năm 2012) Theo khái niệm này, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm: * Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần, không bị pháp luật cấm, được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật; * Những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể

cả những công việc không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật

Đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức

về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau một thời gian nhất định người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuấn mực mới

- Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan

Trang 16

9

tới công việc, nghề nghiệp được giao

Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2015 định nghĩa: “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [13]

Có thể hiểu đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức,

kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học Đó là quá trình truyền đạt kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành cho người học nghề để người học có được trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề, đáp ứng yêu cầu làm việc của thị trường lao động

Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau: Dạy nghề là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định

Như vậy, lao động qua đào tạo nghề hiện theo Luật Giáo dục nghề nghiệp gồm: Trình độ sơ cấp; trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng

Lao động có tay nghề : “là lực lượng lao động đã được đào tạo về một nghề nào đó, có thể bắt tay vào công việc ngay mà không cần phải bỏ ra chi phí và thời gian đào tạo lại nữa”

Từ khái niệm việc làm và lao động có tay nghề, có thể khái niệm : “Việc làm đối với lao động có tay nghề là hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm, phù hợp với trình độ, tay nghề mà lao động đã được đào tạo, để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”

Với nhận thức trên đây có thể khái niệm, Chính sách việc làm đối với lao

động có tay nghề là: “Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề là chính sách công, là một tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn

Trang 17

10

các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề việc làm cho NLĐ có tay nghề, nhằm đáp ứng những nhu cầu sống và sự phát triển toàn diện của NLĐ có tay nghề và góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”

Theo nghĩa đầy đủ hơn, chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề là hệ thống các quan điểm, chủ trương, phương hướng, các mục tiêu, các giải pháp và công cụ thực hiện để tạo việc làm và bảo đảm việc làm cho các công dân có tay nghề, kỹ năng làm việc có khả năng lao động và có nhu cầu việc làm nhằm đáp ứng

cơ bản về nhu cầu cuộc sống và yêu cầu phát triển KT-XH đặt ra Nói cách khác, chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề là chính sách xã hội được thể chế hóa bằng luật pháp của Nhà nước trong lĩnh vực lao động và việc làm, liên quan đến thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người, thông qua đó con người có việc làm, việc làm mang tính nhân văn, nhờ đó họ có được thu nhập, bảo đảm đời sống, góp phần

ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội

1.1.2 Vấn đề của chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề tại VN

Trải qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển KT-XH, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do đó, vấn đề lao động - việc làm ở nước ta rất quan trọng và đã từng bước được giải quyết theo hướng của quy luật khách quan về kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta đang gặp phải những vấn đề nổi cộm đó là chính sách việc làm cho lao động có tay nghề Do máy móc, trang thiết bị ngày càng hiện đại nên lao động phổ thông chuyển sang lao động có tay nghề để kịp thời đáp ứng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do vậy, hiện nay thị trường

có sự chuyển động rất lớn từ lao động phổ thông sang lao động có tay nghề, lao động có tay nghề đang có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh tế và xã hội Bên cạnh đó, Nhà nước ưu tiên cho đầu tư những dự án sử dụng ít lao động đặc biệt là lao động phổ thông Tình hình suy thoái kinh tế, nhiều người thất nghiệp dẫn

Trang 18

11

đến cạnh tranh cao hơn cung nhiều hơn cầu, nên doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội

để kén chọn Vì thế, lao động có tay nghề giỏi mới dễ có việc làm Theo báo cáo của các Trung tâm dịch vụ việc làm, nhu cầu tuyển dụng không tăng lên về số lượng nhưng có thay đổi về đối tượng, lao động có tay nghề ngày càng được “săn đón” hơn Tuy nhiên, trong quý I năm 2016, có tới hơn 38,7% số lao động thất nghiệp cả nước là lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc nghề từ 3 tháng trở lên Trong

đó, nhóm lao động có trình độ từ đại học trở lên chiếm thị phần lớn nhất, khoảng 44,7% tổng số lao động thất nghiệp nhóm này

Điều đó cho thấy là thực trạng chính sách giải quyết vấn đề lao động việc làm cho người lao động có tay nghề ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập,

chính sách có lúc chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế Có thể nhìn

nhận và thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực qua đào tạo nghề chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội Đội ngũ người lao động có trình độ chuyên môn cao, công nhân lành nghề vẫn còn rất thiếu so với nhu cầu xã hội để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, nhất là để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng như nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị đó Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên môn cao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém về năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng ngoại ngữ là công cụ giao tiếp và làm việc của nguồn nhân lực còn rất hạn chế Trong môi trường làm việc có yếu tố nước ngoài, ngoại ngữ, hiểu biết văn hoá thế giới luôn là điểm yếu của lao động Việt Nam Tinh thần trách nhiệm làm việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân, ý thức văn hoá công nghiệp, kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa cao

Quản lý nhà nước đối với thị trường lao động, việc làm và vai trò điều tiết của Nhà nước đối với quan hệ cung cầu lao động đối với lao động nói chung và đối

Trang 19

12

với lao động có tay nghề còn hạn chế Thiếu thông tin dự báo về nhu cầu sử dụng lao động có tay nghề ở mọi ngành nghề và sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành các cấp trong công tác đào tạo, phát triển lao động có tay nghề

Mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề tuy đã được quy hoạch nhưng việc thực hiện quy hoạch còn chậm, chưa đồng bộ trong đào tạo, thiếu sự liên thông, liên kết giữa các bậc trình độ của người lao động Mô hình đào tạo và các chuẩn mực đào tạo chưa tương xứng với tiềm năng và trí tuệ sẵn có

Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động, việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh, gây áp lực cho vấn đề GQVL Các chính sách còn mang tính chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể, cần có các chính sách để tập trung đầu tư và có cơ chế tự chủ tài chính tự chủ linh hoạt để nâng cấp toàn diện các cơ sở đạy nghề trọng điểm; có thêm chính sách

hỗ trợ, thu hút và phát triển đội ngũ giáo viên chất lượng cao; phổ biến hơn nữa hình thức đào tạo “kép”: vừa học lý thuyết vừa làm tại doanh nghiệp…

Thực trạng nói trên của vấn đề GQVL cho người có tay nghề, có nhiều

nguyên nhân, song có một số nguyên nhân chính sau đây:

Một là, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, có xuất phát điểm quá

thấp, thiếu điều kiện vật chất cơ bản để chuyển mạnh sang nền kinh tế hàng hóa Chúng ta chưa có chủ trương, chính sách cụ thể và quyết liệt đầu tư thỏa đáng cho đào tạo và phát triển các cơ sở đào tạo nghề Nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước cho phát triển đào tạo nghề còn hạn chế; chưa huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội (nhất là các Doanh nghiệp) để phát triển nguồn lao động có tay nghề Chưa kết nối giữa những trường đào tạo với doanh nghiệp, đào tạo những gì đang

có chứ không đào tạo những gì doanh nghiệp đang cần, chưa đào tạo theo yêu cầu

xã hội

Hai là, Sự quản lý nhà nước về phát triển người lao động có tay nghề còn

những bất cập so với yêu cầu Chủ trương, đường lối phát triển nguồn nhân lực chưa được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách và các kế hoạch phát triển một cách kịp thời và đồng bộ; việc triển khai thực hiện các

Trang 20

13

chủ trương, đường lối, chính sách chưa kịp thời, chưa nghiêm túc Nhiều mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chưa tính toán đầy đủ các điều kiện thực hiện Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội đặc biệt là ngành giáo dục – đào tạo còn nhiều khuyết điểm và nhược điểm trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm

vụ phát triển nguồn nhân lực có tay nghề chưa chặt chẽ

Ba là, hệ thống giáo dục quốc dân - lực lượng nòng cốt trong đào tạo và phát

triển nguồn nhân lực đất nước bộc lộ nhiều hạn chế Cụ thể là: công tác phân luồng định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông chưa tốt; công tác đào tạo, giáo dục nghề nghiệp chưa thực sự dựa trên cơ sở nhu cầu xã hội, chưa thu hút được sự tham phát triển nguồn nhân lực từ các đơn vị sử dụng lao động; đội ngũ giáo viên, giảng viên còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn nghiệp vụ, còn sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển giữa các địa phương, vùng, miền; hệ thống phương pháp, công cụ kiểm tra, giám sát, kiểm định và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo còn lạc hậu, kém hiệu quả; mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng…

Tóm lại, xuất phát từ vị trí, vai trò của lao động có tay nghề và thực trạng, nguyên nhân thất nghiệp của lao động có tay nghề, Nhà nước cần phải có chính sách việc làm phù hợp với nhóm đối tượng này Khi chính sách này điều chỉnh phù hợp không chỉ phát huy hết năng lực của đội ngũ lao động có tay nghề, ổn định cuộc sống cho họ mà còn góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời gian tới

1.1.3 Mục tiêu của chính sách việc làm đối với NLĐ có tay nghề

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016 - 2020 đề ra mục tiêu: “Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65 - 70%, trong đó có bằng cấp chứng chỉ đạt 25% Phát triển đa dạng các ngành, nghề

để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích tạo thuận lợi để NLĐ học tập nâng cao trình độ lao động, tay nghề; đồng thời có cơ chế chính sách phát triển, trọng dụng nhân tài”

Trang 21

có lợi thế so sánh quốc tế; đồng thời nêu ra các giải pháp phát triển nhân lực, hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao theo chuẩn khu vực và từng bước tiến tới chuẩn quốc tế

Mục tiêu cụ thể: Tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế dưới các hình thức, trình độ khác nhau từ mức 40,0% năm 2010 lên mức 70,0% năm 2020, trong đó tỷ lệ nhân lực qua đào tạo ngành nông, lâm ngư nghiệp tăng tương ứng từ 15,5% lên 50,0%; ngành công nghiệp từ 78,0% lên 92,0%, ngành xây dựng từ 41,0% lên 56,0%; ngành dịch vụ tăng từ 67,0% lên 88,0% Phát triển đồng

bộ đội ngũ nhân lực với chất lượng ngày càng cao, đủ mạnh ở mọi lĩnh vực, đồng thời tập trung ưu tiên những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế cạnh tranh Xây dựng được đội ngũ giáo viên có chất lượng cao để đào tạo nhân lực có trình độ cho đất nước

1.1.4 Giải pháp và công cụ chính sách việc làm đối với người lao động có tay nghề

Để thực hiện mục tiêu từ Nghị quyết Đại hội Đảng đề ra và Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/07/2011 của Thủ tướng chính phủ về việc Phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020;

Các giải pháp chính của chính sách việc làm cho lao động có tay nghề cần thiết phải là:

Thứ nhất, xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH cần phải tính đến mục tiêu

GQVL cho NLĐ có tay nghề Nói cách khác cần xác định mục tiêu GQVL trong các chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH Gắn kết chính sách việc làm cho NLĐ

Trang 22

15

có tay nghề với chính quá trình và kế hoạch KT-XH tổng thể và tái cấu trúc kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển “việc làm bền vững” Nâng cao nhận thức chung của các cấp, các ngành, toàn xã hội và huy động các nguồn lực trong xã hội tham gia vào hoạt động dạy nghề Có chính sách khuyến khích các các chủ thể tham gia vào hoạt động phát triển kỹ năng như người sử dụng lao động, các cơ sở đào tạo, người học và toàn xã hội

Thứ hai, Có chính sách cụ thể quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo, dạy

nghề trên phạm vi toàn quốc theo các vùng kinh tế trọng điểm và các địa phương; đặc biệt là chính sách quy hoạch các nghề trọng điểm và các trường có nghề trọng điểm nhằm tạo điều kiện để công tác đào tạo, dạy nghề phát triển tập trung, định hướng, đảm bảo cung ứng đủ công nhân kỹ thuật lành nghề tại chỗ cho các doanh nghiệp, nhất là ở các đô thị lớn, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khắc phục tình trạng mất cân đối cung – cầu lao động kỹ thuật hiện nay, giảm sức ép di chuyển lao động giữa các vùng miền

Thứ ba, cần có chính sách về nâng cao chất lượng dạy nghề đáp ứng yêu cầu

của thị trường lao động: đổi mới đồng bộ các quy định liên quan về tiêu chuẩn giáo viên, đầu tư cơ sở vật chất, kiểm định chất lượng; hoàn thiện nội dung, chương trình dạy nghề theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, khu vực và quốc tế để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước; gắn rèn luyện kỹ năng thực hành với rèn luyện tác phong làm việc công nghiệp, tính năng động và sức sáng tạo, trong

đó người học phải được va chạm với thế giới công việc trước cả khi tốt nghiệp

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

cho người lao động để không chỉ thiết lập hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng làm cơ sở phát triển kỹ năng kỹ thuật phù hợp với thế giới công việc thông qua một hệ thống được kết nối tốt hơn, mà còn nhằm công nhận trình độ kỹ năng cho người lao động

có kỹ năng nghề đã tích lũy trong quá học tập và sản xuất, kinh doanh mà chưa được công nhận hoặc sử dụng, tăng cơ hội việc làm cho người lao động có kỹ năng nghề cũng như thúc đẩy và tạo thuận lợi cho cá nhân trở lại hệ thống giáo dục, đào tạo chính quy

Trang 23

16

Thứ năm, đẩy mạnh thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông

thôn đến năm 2020, nhằm nâng cao trình độ kỹ năng nghề, nâng cao chất lượng, năng suất và tính cạnh tranh của sản xuất nông nghiệp góp phần bổ sung nhân lực vào lực lượng lao động có tay nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đảm bảo phát triển bền vững và an sinh xă hội

Thứ sáu, xây dựng hệ thống các chính sách khuyến khích doanh nghiệp

tham gia tích cực vào hoạt động dạy nghề, thiết lập một mối liên kết chặt chẽ, phù hợp giữa các chương trình đào tạo nghề với các yêu cầu về kỹ năng mà thị trường lao động đang cần, tạo cho người lao động sau khi được đào tạo trở thành những người “sẵn sàng làm việc”, tức là sẵn sàng đáp ứng với yêu cầu của các doanh nghiệp; đồng thời cần tập trung cải cách hệ thống dạy nghề theo hướng tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá, đào tạo nguồn lao động phải gắn với nhu cầu của sản xuất, kinh doanh và thị trường lao động, phù hợp với trang thiết bị hiện đại để vận hành máy móc thiết bị

Thứ bảy Có các chính sách cụ thể về tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi

kinh nghiệm về hoạt động dạy nghề; sử dụng chương trình dạy nghề, tiêu chuẩn kỹ năng nghề của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; khuyến khích hợp tác, đầu tư của nước ngoài vào dạy nghề ở Việt Nam; hài hòa các tiêu chuẩn kỹ năng của các nước trong khu vực để tiến tới xây dựng cơ chế công nhận lẫn nhau về trình độ kỹ năng nghề của người lao động trong ASEAN

1.1.5 Hệ thống văn bản pháp luật của chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở nước ta hiện nay

Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của NLĐ để bảo đảm cuộc sống

và phát triển toàn diện Điều 55, Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ”

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản luật như Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 (Chương V - Bảo hiểm thất nghiệp), Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng,

Trang 24

về việc làm Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính

phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi

tắt là Đề án 1956); Chương trình Mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo; Chiến lược Việc làm giai đoạn 2011 – 2020 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Quyết định số 07/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 02/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc Phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”;

Đặc biệt hơn, Quốc hội đã ban hành Luật Việc làm năm 2013 (có hiệu lực ngày 01/01/2015) - là dấu mốc đặc biệt quan trọng đối thể chế chính sách việc làm, gồm 7 chương, 62 điều: Quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm Sau khi Luật Việc làm năm 2013 được ban hành Chính phủ một số nghị định quy định chi tiết về các chương của Luật việc làm

Thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26/11/2011 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII, Chính phủ đã chỉ đạo

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tổ chức xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dạy nghề Tuy nhiên, theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 2013, không có thuật ngữ "dạy nghề" mà chỉ có thuật ngữ “giáo dục nghề nghiệp” và thuật ngữ “học nghề” tại Điều 61 quy định về giáo dục Như vậy có thể hiểu việc học nghề, bao gồm cả học nghề ở trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng đều thuộc về giáo dục nghề nghiệp

Trang 25

18

Do vậy, để bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dạy nghề được đổi tên thành Luật Giáo dục nghề nghiệp Luật Giáo dục nghề nghiệp có hiệu lực thi hành

từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 thay thế Luật Dạy nghề

Ngoài các văn bản chính sách nêu trên, còn có các công ước của ILO (Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc ngang nhau năm 1959, Công ước số 111 về Phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958, Công ước số 122 về chính sách việc làm năm 1964) mà Việt Nam phê chuẩn, gia nhập, đã thể hiện trách nhiệm của Việt Nam với tư cách là một thành viên trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, quyết tâm phấn đấu giải quyết các vấn đề xã hội ngay trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập

1.1.6 Thể chế chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở nước ta hiện nay

“Thể chế được hiểu là quy định chính thức, là khuôn khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi hình thành những giới hạn chính thức và phi chính thức giữa các bên tham gia tương tác, là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự và chia sẻ các chuẩn mực, giá trị chung” [13, tr.1] Theo đó, thể chế chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề là những quy định

chính thức và quy tắc phi chính thức về việc quá trình hoạch định, xây dựng và thực hiện, đánh giá chính sách việc làm trong đó, các quy định về: Các bên tham gia, thủ tục, tổ chức, cách tiếp cận, phương pháp, quá trình ra quyết định có liên quan đến quá trình xây dựng và thực hiện chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề, có vai trò chi phối toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện chính sách việc làm cho NLĐ

có tay nghề Thể chế chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề gồm 3 yếu tố chính: (1) Hệ thống pháp luật và các quy định điều chỉnh các mối quan hệ về lao động - việc làm cho NLĐ có tay nghề được pháp luật thừa nhận của một quốc gia; (2) Các

chủ thể chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề (tổ chức nhà nước, cộng đồng

doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự (sự tham gia của các bên)); (3) Các cơ chế,

Trang 26

19

phương pháp, thủ tục hoạt động Cải cách thể chế còn có tác động trực tiếp đến việc giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Trong môi trường thể chế chính sách đã xác lập về quyền lao động và bảo

đảm có việc làm của NLĐ có tay nghề đã được khẳng định trong Hiến pháp nước

Cộng hòa XHCN Việt Nam Quyền này đã được cụ thể hóa trong Bộ luật Lao động lần đầu tiên ở nước ta và việc hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải cách hành chính

đã tiến lên từng bước Sự đồng bộ về khung khổ thể chế và cơ chế chính sách việc

cho NLĐ có tay nghề làm trên các khía cạnh là hết sức quan trọng: (1) Đảm bảo các

quyền lao động và việc làm (cả trực tiếp và gián tiếp), tạo khung khổ cho việc xây dựng và thực hiện các loại hợp đồng và cung cấp đầy đủ thông tin cho các chủ thể; (2) Tạo ra sự công khai, minh bạch trong các chính sách và hoạt động của bộ máy công quyền; (3) Tạo điều kiện cho sự tham gia của dân cư vào quá trình hoạch định

và thực hiện chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề

Thể chế chính sách lao động - việc làm cho NLĐ có tay nghề còn nhiều bất

cập trước yêu cầu đáp ứng một thị trường lao động việc làm hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Chính sách lao động - việc làm cho

NLĐ có tay nghề còn chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể để giải quyết được vấn đề

lao động - việc làm cho NLĐ có tay nghề hiện tại; nhiều quy định mới chỉ được thể hiện bằng các văn bản dưới luật nên tính pháp lý chưa cao Hơn nữa, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với kinh tế khu vực và thế giới, đồng thời là một thành viên WTO, gia nhập AEC thể chế chính sách chưa theo kịp sự phát triển của xã hội

và chịu nhiều tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường Thực tiễn chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề hiện nay cho thấy sự gắn kết giữa cung - cầu lao động dường như đang gặp phải tình trạng lúng túng và bị động từ hệ thống các chính sách

Cải cách thể chế chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề thông qua xây

dựng một khung pháp lý phù hợp tác động đối với thị trường lao động, tạo điều kiện

cho tăng trưởng kinh tế Thể chế chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề là để

thúc đẩy thị trường lao động phát triển nhằm gắn kết giữa cung - cầu lao động Môi

Trang 27

20

trường thể chế chính sách xã hội (bao hàm cả thể chế chính sách việc làm cho NLĐ

có tay nghề) phải dựa trên nền tảng cốt lõi nhất là coi trọng yếu tố con người và phát huy đến mức cao nhất tiềm năng của con người, bảo đảm các yêu cầu có tính nguyên tắc, đó là: Mọi người có việc làm, được học nghề và có thu nhập đảm bảo

cuộc sống hàng ngày Trong đó, môi trường thể chế việc làm cho NLĐ có tay nghề

cần phải làm rõ để phân định vai trò nhà nước và vai trò thị trường theo hướng tôn trọng và phát huy mặt tích cực của quy luật thị trường (hình thành đầy đủ các yếu tố thị trường lao động - việc làm)

1.1.7 Các chủ thể chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề

Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực như: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành thực hiện chức năng quản lý Nhà nước Chính sách việc làm cho lao động có tay nghề cũng là một trong những chính sách công của Nhà nước Do đó, chủ thể ban hành chính sách việc làm cho lao động

có tay nghề gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ,

Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Nội vụ, ngành liên quan như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nội vụ và Sở LĐ-TB&XH, Phòng LĐ-TB&XH, các đơn vị sự nghiệp công lập, các cơ sở đào tạo nghề và Chủ sử dụng lao động

Quốc hội: Ban hành Bộ luật Lao động và Luật Việc làm; Luật Giáo dục

nghề nghiệp Đây là khung pháp lý cao nhất để các chủ thể khác căn cứ để thực hiện các chính sách về lao động có tay nghề

Chính phủ: Chức năng của Chính phủ là quản lý nhà nước mọi mặt của đời

sống kinh tế – xã hội trên phạm vi cả nước Chính phủ xây dựng các Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, trong đó có lĩnh vực việc làm cho lao động có tay nghề và ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành các

cơ quan, ban ngành thực hiện chức năng của mình về lĩnh vực việc làm cho lao động có tay nghề

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Thực hiện chức năng quản lý nhà

nước về các lĩnh vực; việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm

xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp

Trang 28

21

Bộ đề ra chiến lược phát triển việc làm, xây dựng, thực hiện và phối hợp thực hiện các kế hoạch liên quan đến chính sách về lao động có tay nghề

Bộ Tài chính: Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: Tài chính (bao

gồm: ngân sách Nhà nước, thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách Nhà nước Bộ Tài chính thực hiện chế độ tài chính đối với chính sách việc làm cho lao động có tay nghề trên phạm vi cả nước

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác: phối hợp thực hiện các chiến lược, kế

hoạch, chính sách về lao động có tay nghề khi có liên quan

- HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: theo Khoản 5, Điều 19,

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, trong lĩnh vực y tế, lao động và thực hiện chính sách xã hội, HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm

vụ, quyền hạn trong lĩnh vực lao động, việc làm, HĐND cấp tỉnh có quyền quyết định biện pháp quản lý, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực ở địa phương; biện pháp tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động ở địa phương, phí lệ phí, học phí… Để thực hiện chức năng này, HĐND cấp tỉnh phải ban hành các nghị quyết định hướng chính sách về việc làm cho lao động có tay nghề

UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Quản lý nhà nước về mọi

mặt của đời sống kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh, thành phố, trong đó bao hàm cả lĩnh vực lao động – việc làm Ban hành các cơ chế, chính sách việc làm cho lao động có tay nghề phù hợp với thực tế địa phương mình và đảm bảo tính thống nhất của pháp luật và theo định hướng của HĐND cấp tỉnh

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Quản lý nhà nước về việc làm; dạy nghề; lao động; tiền lương, tiền công; bảo

hiểm xã hội; an toàn lao động; và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân cấp, ủy quyền của UBND tỉnh, thành phố và theo luật định Chính sách việc làm cho đối tượng đặc thù, lao động làm việc tại nhà, lao động dịch chuyển Quản

lý Trung tâm Dịch vụ việc làm, cơ sở trường dạy nghề trên địa bàn tỉnh, thành phố;

Trang 29

22

thành lập, theo dõi, kiểm tra Hội đồng thi về đào tạo nghề, xem xét cấp Bằng nghề, Chứng chỉ nghề và hướng dẫn, giới thiệu lao động có nhu cầu tìm việc

1.2 Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở nước ta hiện nay

1.2.1 Quan điểm chỉ đạo về chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề

Chính sách việc làm cho lao động có tay nghề là chính sách công cơ bản của Đảng và Nhà nước, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành, các

tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và mỗi NLĐ

Xác định ý nghĩa chiến lược của nguồn nhân lực có tay nghề: tại điều 61 của Hiến Pháp năm 2013 ghi nhận “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài ” Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo giỏi, đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế chính sách thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo cho nông dân, đặc biệt đối với người bị thu hồi đất; nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo Quan tâm tới phát triển giáo dục, đào tạo vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục, thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với người và gia đình có công, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh giỏi, học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn”

Những quan điểm chỉ đạo về xây dựng và phát triển lao động có tay nghề cũng như chính sách việc làm cho lao động có tay nghề đã được thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 được thông qua tại Đại hội XI của Đảng;

Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 đã được Chính Phủ thông qua trong Quyết định 579/QĐ-TTg ngày 19/04/2011 của Thủ tướng

Trang 30

23

Chính phủ; Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 đã được Chính Phủ thông qua trong Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/07/2011 của Thủ tướng chính phủ; Đó chính là căn cứ pháp lý quan trọng để đề ra những chính sách việc làm cho lao động có tay nghề

1.2.2 Một số đánh giá chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở nước ta hiện nay

Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề hiện nay là một trong những chính sách được ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta Trên cơ sở đó, Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ về tài chính để xúc tiến việc làm, đào tạo nghề cho người lao động; Nhà nước bảo vệ, khuyến khích mọi người làm giàu một cách chính đáng, bảo vệ quyền tự do di chuyển chỗ làm, việc làm, tự do hành nghề; Nhà nước có trách nhiệm và có chế độ khuyến khích tạo việc làm mới để thu hút người lao động, khai thác mọi tiềm năng trong nhân dân và tranh thủ đầu tư, hỗ trợ của nước ngoài; tiếp tục đẩy mạnh chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình để giảm sức ép “cung” lên thị thị trường lao động Đảm bảo đạt mục tiêu của chiến lược lao động, việc làm giai đoạn 2011 – 2020 Chính sách việc làm NLĐ có tay nghề ở nước ta trong những năm qua đạt được những kết quả nhất định Hệ thống pháp luật, chính sách về việc làm được ban hành ngày càng đầy đủ trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm: Chính sách chung về việc làm (quyền và nghĩa vụ của NLĐ về việc làm, trách nhiệm của Nhà nước về việc làm); Chính sách

hỗ trợ để tạo và tự tạo việc làm cho NLĐ (Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dự án cho vay GQVL) Các chính sách GQVL, chương trình mục tiêu quốc gia

về việc làm được ưu tiên thúc đẩy trong chương trình phát triển KT-XH của cả nước Ngoài ra, các chính sách GQVL luôn được Nhà nước quan tâm, ưu tiên tạo việc làm cho nhóm lao động nữ và lao động là người khuyết tật

Hiện nay, chính sách việc làm cho lao động có tay nghề được thể hiện một cách tập trung ở Luật Việc làm năm 2013 (có hiệu lực 01/01/2015), đã tạo ra môi trường hành lang pháp lý và tạo điều kiện thúc đẩy đa dạng hóa các hình thức kết

nối cung cầu lao động thông qua các Trung tâm dịch vụ việc làm, đã góp phần kịp

Trang 31

24

thời điều chỉnh và mở đường thuận lợi cho các quan hệ xã hội về việc làm, thị trường lao động phát triển theo các quy luật của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thúc đẩy và bảo đảm việc làm cho NLĐ Việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, chính sách về việc làm cho lao động có tay nghề đã xuất phát từ thực tiễn của các quan hệ xã hội về việc làm, dựa trên sự tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các văn bản pháp luật về việc làm; tiếp thu các Điều ước, Công ước quốc tế mà nước ta đã phê chuẩn; tham khảo rộng rãi và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật lao động của các quốc gia trên thế giới, bước đầu đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về việc làm

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì chính sách việc làm cho lao động có

tay nghề cũng còn điểm tồn tại, hạn chế, cần khắc phục như: Hệ thống văn bản pháp

luật, chính sách về việc làm còn thiếu tính hệ thống và đồng bộ Hầu hết các quy

định pháp luật cụ thể về việc làm cho lao động có tay nghề được thể hiện trong các

Nghị định, Quyết định, Thông tư hướng dẫn thi hành nên tính pháp lý chưa cao, gây nhiều khó khăn trong quá trình triển khai Một số quy định pháp luật về việc làm còn phản ánh chưa đầy đủ những nhu cầu xã hội và chưa phù hợp với đối tượng tác động, nên hiệu quả áp dụng không cao Hiện nay, chính sách việc làm cho lao động

có tay nghề chủ yếu mới chú trọng đến tạo việc làm, chứ chưa chú trọng đến chất

lượng việc làm để đảm bảo “việc làm bền vững”, nên tính ổn định và bền vững trong việc làm và hiệu quả tạo việc làm thấp Hiện mới chỉ có chính sách tạo việc

làm cho lao động có tay nghề chung và cho một số đối tượng đặc thù, chứ chưa có

chính sách việc làm theo ngành, vùng kinh tế nên sự chuyển dịch cơ cấu lao động chậm

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách việc làm đối với người lao động có tay nghề

Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách việc làm cho LĐ có tay nghề, bao gồm:

Hệ thống chính trị, các yếu tố bên trong, các yếu tố thuộc cơ quan lập chính sách, các yếu tố bên ngoài

Trang 32

25

1.3.1 Hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị hay cơ cấu tổ chức của mỗi quốc gia sẽ chi phối cả nội dung lẫn hình thức của việc xây dựng và triển khai chính sách công, nó phản ánh bản chất của chế độ chính trị xã hội của quốc gia đó Trong hệ thống chính trị thì có thể chia các yếu tố nhỏ hơn nữa Bao gồm các yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thế chế chính trị

Văn hóa chính trị:

Văn hóa chính trị là tập hợp các giá trị mang tính tương đồng, ổn định phản ánh nhận thức và các hoạt động của các tổ chức và cá nhân trong hệ thống chính trị; văn hóa chính trị của các nhà làm chính sách và quần chúng nhân dân (bao gồm các yếu tố hệ tư tưởng chính trị, lý tưởng chính trị, tình cảm và đạo đức cách mạng, truyền thống chính trị, hành vi của chủ thể chính trị,…) chi phối rất lớn đến mục tiêu, nội dung, phương thức hoạch định và thực hiện chính sách việc làm cho NLĐ

có tay nghề vì nó tạo nên nhận thức chính trị, tư duy đổi mới nhận thức về phương pháp luận nghiên cứu chính sách việc làm của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị và các cơ quan nhà nước

Hiến pháp:

Hiến pháp là một đạo luật cơ bản do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành hiến định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước Do đó, chính sách việc làm cho NLĐ

có tay nghề cũng được xây dựng và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp Quyền lao động và bảo đảm có việc làm của NLĐ đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

1.3.2 Thể chế chính trị

Thế chế chính trị của nước ta hiện nay là chế độ XHCN, cụ thể tại Điều 2

Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” Vì vậy, chính sách

việc làm cho LĐ có tay nghề được xây dựng vì mục tiêu GQVL, tạo ra ngày càng

Trang 33

26

nhiều việc làm cho NLĐ có tay nghề, nâng cao thu nhập cho NLĐ nhằm xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

1.3.3 Các yếu tố bên trong

Vai trò của công luận và truyền thông:

Vai trò của công luận và truyền thông được thể hiện là phản ứng, bình phẩm, quan điểm của nhân dân được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác về vấn đề chính sách việc làm cho LĐ có tay nghề Đây là một kênh quan trọng trong việc tham gia trực tiếp vào các quá trình chính sách việc làm cho LĐ có tay nghề Đồng thời, công luận và truyền thông có sự hỗ trợ và cộng hưởng lẫn nhau tạo nên sức ảnh hưởng và lan truyền mạnh đến chính sách việc làm cho LĐ có tay nghề Truyền thông là những phương tiện truyền tải, phản ánh những thông tin hay hiện tượng xã hội nhằm cung cấp những luận cứ khách quan, khoa học để nhà nước nâng cao tính hiệu quả của việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề

Hệ thống các giá trị xã hội:

Hệ thống các giá trị xã hội bao gồm sự đa dạng về văn hóa, truyền thống, thói quen, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, tầng lớp xă hội, các nhóm lợi ích, nhóm xă hội Chính sách việc làm cho LĐ có tay nghề phải thể hiện

sự tồn tại trong sự đa dạng và thỏa hiệp của hệ thống các giá trị xã hội, việc làm với các giá trị xã hội của nó là hoạt động của LĐ, mang tính nghề nghiệp để đem lại lợi ích hoặc thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm nhằm đáp ứng những nhu cầu sống

và sự phát triển toàn diện của con người Các giá trị xã hội nghề nghiệp hiện nay

thì: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm”

Hệ thống kinh tế:

Hệ thống kinh tế của một quốc gia có vai trò quan trọng trong việc định hướng hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách việc làm cho LĐ có tay nghề của nhà nước: Yếu tố kinh tế vừa là mục tiêu chính sách vừa là phương tiện động lực của chính sách, do đó, chính sách việc làm cho LĐ có tay nghề phải thay đổi phù hợp với quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế và sự

Trang 34

27

thay đổi của yếu tố kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay Sự vận động của

hệ thống kinh tế theo hàng loạt các vấn đề KT-XH mới nảy sinh như lao động, việc làm, thất nghiệp, đầu tư, tín dụng, tài chính - ngân hàng, thương mại, kinh doanh quốc tế, chuyển giao công nghệ thị trường chứng khoán, bất động sản buộc các nhà hoạch định chính sách phải tính toán xây dựng chính sách vừa giải quyết tình huống mới, vừa lường trước tác động sau này để cho nền kinh tế phát triển ổn định

1.3.4 Các yếu tố thuộc bên trong cơ quan lập chính sách

Chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề là kết quả của một loạt hoạt động

từ nhiều cơ quan chức năng khác nhau, gắn liền với quan hệ các chủ thể làm chính sách việc làm, là sự thỏa hiệp, mặc cả, thương lượng - đó là quan hệ quyền lực của chủ thể chính sách việc làm, quan hệ trong các bộ phận làm chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề

Trình độ, đạo đức, tầm nhìn tư duy và năng lực của chủ thể lập chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức của chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề cần phải được cân nhắc, các mối quan hệ vừa riêng

tư của các công chức vừa chính thức bên trong các cơ quan, giữa các cơ quan lập chính sách đều có thể ảnh hưởng đến nội dung, tính chất của chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề

Ngoài ra, trong quy trình chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề cần bàn đến yếu tố năng lực của đối tượng chính sách ảnh hưởng đến khả năng tham gia, cũng như cần tính đến năng lực thực hiện chính sách của đối tượng chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề, vì nó là yếu tố quan trọng đến sự thành hay bại của một chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề

1.3.5 Các yếu tố bên ngoài

Vị trí địa chính trị, địa chiến lược ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách công: Trong quá trình hoạch định chính sách công, đặc biệt đối với các chính sách đối ngoại, các nhà lập chính sách đều phải tính đến yếu tố địa chính trị, địa chiến lược của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á khu vực năng động phát triển kinh

tế

Trang 35

28

Các lợi thế so sánh quốc gia và các quan hệ kinh tế quốc tế là yếu tố phải được tính đến trong quá trình hoạch định chính sách công: Tuy là thành viên của WTO và ASEAN (đặc biệt AFTA đi vào hoạt động), nhưng với các lợi thế so sánh của Việt Nam hiện nay là lợi thế tĩnh (hay còn gọi là lợi thế cấp thấp: nhờ giàu về tài nguyên nhưng mới dừng lại ở trình độ khai thác và xuất khẩu thô dưới dạng sơ chế là chủ yếu - giá trị tăng thấp; nguồn lao động trẻ dồi dào song đang yếu về kỹ năng lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, khả năng làm chủ công nghệ hiện đại còn yếu - gia công là chính và chưa quen tác phong công nghiệp) Trong khi các thành viên trong khối WTO và ngay cả ASEAN (AFTA hoạt động) họ sẽ hướng các công ty xuyên quốc gia đầu tư vào những nước có điều kiện và lợi thế sản xuất cấp cao (có lợi thế động: mạnh về vốn, công nghệ lao, trình độ lao động lành nghề, cơ

sở hạ tầng hiện đại) Việc nước ta tham gia vào các hiệp định thương mại tư do đa phương như AEC, TTP và các hiệp định song phương; quá trình thực hiện chính sách hội nhập, mở cửa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế bên cạnh những cơ hội, cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức như phát sinh những vấn đề mới phức tạp, đặc biệt là xử lý mối quan hệ lao động trong điều kiện mới khi có sự hoạt động và mở rộng thị trường lao động, hội nhập vào thị trường lao động quốc tế và khu vực để mở rộng khả năng tạo việc làm, cũng như học tập được kinh nghiệm của thế giới trong lĩnh vực GQVL cho NLĐ có tay nghề Trường hợp GQVL cho NLĐ

có tay nghề thông qua chính sách XKLĐ là một điển hình, cũng như thông qua liên kết trong đào tạo nhân lực để nâng cấp nguồn nhân lực trong nước để có cơ sở cho quá trình chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề bền vững

Kết luận chương 1

Tóm lại, chương 1 đã làm rõ những nội dung cơ bản về cơ sở lý luận chung

và pháp lý về vấn đề chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề, trong đó làm sáng tỏ các khái niệm liên quan như khái niệm việc làm, lao động có tay nghề, việc làm đối với lao động có tay nghề, chính sách công, chính sách công về việc làm đối với lao động có tay nghề Từ đó nêu ra nêu ra các mục tiêu của chính sách việc làm

Trang 36

29

cho người lao động có tay nghề Thể chế của chính sách việc làm cho người lao động có tay nghề Phân tích và làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể của chính sách việc làm cho người lao động có tay nghề Nêu và phân tích quan điểm, mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta về chính sách việc làm cho người lao động

có tay nghề Trong đó tập trung phân tích sâu về hệ thống chính trị, thể chế chính trị, các yếu tố thuộc về bên trong cơ quan lập chính sách như: Trình độ, đạo đức, tầm nhìn tư duy và năng lực của chủ thể lập chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức của chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề, yếu tố năng lực của đối tượng chính sách ảnh hưởng đến khả năng tham gia, cũng như cần tính đến năng lực thực hiện chính sách của đối tượng chính sách việc làm cho NLĐ có tay nghề Cơ sở lý luận và pháp lý chương 1 chính là nền tảng để đánh giá thực trạng về chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề trên thực tiễn tỉnh Bình Dương tại Chương 2 Và đề ra hướng hoàn thiện chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới trong chương 3

Trang 37

30

Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG

CÓ TAY NGHỀ TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG 2.1 Chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề của tỉnh Bình Dương

2.1.1 Vấn đề chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề của BD

Bình Dương là tỉnh nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam với diện tích tự nhiên 2.695 km2, Cơ cấu hành chính gồm 01 thành phố (TP Thủ Dầu Một hiện là trung tâm hành chính - kinh tế - văn hóa của tỉnh, cách trung tâm thành phố

Hồ Chí Minh 30 km), 04 thị xã (Thuận An, Dĩ An, Bến Cát và Tân Uyên), 04 huyện (Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) với 91 xã, phường, thị trấn Đến nay, dân số khoảng 1,9 triệu người, trong đó 1,4 triệu người là trong độ tuổi LĐ

Từ một tỉnh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, qua 30 năm thực hiện đường lối đổi mới theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

VI (1986) và 20 năm tái lập tỉnh (01/01/1997-01/01/2017), Bình Dương đã trở thành một tỉnh phát triển công nghiệp trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam Những năm qua, Bình Dương luôn đạt mức tăng trưởng kinh tế khá so với vùng và

cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng: công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp Đến cuối năm 2015, tỷ trọng tương ứng các ngành công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp là: 60,4% - 36,4% - 3,2% Kết cấu hạ tầng được đầu

tư phát triển đồng bộ tạo môi trường đầu tư phát triển kinh tế từ đó thu hút nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đến đầu tư tại tỉnh

Bình Dương hiện có 29 khu công nghiệp được thành lập với diện tích gần 10.000 và 08 cụm công nghiệp tổng diện tích gần 600 ha, tỷ lệ lấp kín của các khu công nghiệp và cụm công nghiệp đạt trên 65% Hiện nay, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh là 17.266 doanh nghiệp trong nước đăng ký hoạt động với tổng số là 129.498 tỷ đồng và 2.367 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký 20,3 tỷ USD, tổng số lao động có việc làm trong các doanh nghiệp đang

Trang 38

31

hoạt động là 920.263 người Hàng năm có hơn 1.000 dự án đầu tư mới với nhu cầu tuyển dụng của Doanh nghiệp từ 40.000 đến 50.000 lao động

Bảng 2.1 Nhu cầu lao động tỉnh Bình Dương từ năm 2009 đến năm 2016

Năm Nhu cầu lao động

(người)

Trong đó (người) Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ

125.358 124.18 122.503 120.869 119.258 117.668 116.099 114.443

473.398 511.181 542.234 575.174 610.144 647.177 686.492 714.774

142.924 156.090 181.558 209.388 239.795 273.015 309.302 348.269

Nguồn: Sở Lao động – Thương binh & Xã hội Bình Dương

Với chủ trương của tỉnh Bình Dương là thu hút đầu tư một cách có chọn lọc, thu hút rất nhiều dự án có nguồn vốn đầu tư lớn, đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, phát triển mạnh công nghiệp nhỏ và vừa, các ngành nghề truyền thống và đẩy mạnh cơ cấu kinh tế theo thứ tự ưu tiên: công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp Cùng với việc các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cần nguồn cung lao động dồi dào, thì hiện nay nhu cầu của các Doanh nghiệp tuyển dụng cần số lượng lao động có tay nghề là rất lớn:

Bảng 2.2 Nhu cầu LĐ qua đào tạo nghề Bình Dương từ năm 2009 - 2016

Năm

Nhu cầu LĐ qua đào tạo nghề (người)

Trong đó (người) Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ

16.714 18.624 19.600 20.548

181.803 208.977 231.992 257.653

81.467 88.971 103.852 120.189

Trang 39

21.466 22.357 23.220 25.178

286.229 318.013 353.331 383.726

138.122 157.803 179.395 203.389

Nguồn: Sở Lao động – Thương binh & Xã hội Bình Dương

Một đặc điểm nổi bật trong cơ cấu lao động ở Bình Dương là lực lượng lao động trẻ Lao động trong nhóm tuổi từ 15-34 chiếm tới 60,2%, cao hơn mức trung bình cả nước (37,3%) và Đông Nam Bộ (42,5%) Lực lượng lao động trung niên (35

- 54 tuổi) chiếm 32,02% và lực lượng lao động cao tuổi (55 trở lên) chỉ chiếm 7,78% Đây là một lợi thế và cũng là một thách thức không nhỏ trong việc nâng cao trình độ của người lao động cũng như chính sách về việc làm và an sinh xã hội

Có thể nhận thấy nhu cầu tuyển dụng người lao động có tay nghề được tăng cao trong từng năm Cùng với việc nhận thức được việc các Doanh nghiệp tuyển dụng lao động có tay nghề Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm, giúp tăng thu nhập cho người lao động được tỉnh Bình Dương đặc biệt quan tâm Bình quân hàng năm Bình Dương giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động: 33.000 lao động/năm (2001-2005), 46.500 lao động/năm (2006-2010), 45.000 lao động/năm (2011-2013) Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 38% (2001-2005) lên 60% (2006-2010) và 66% (2011-2015) Tỉnh chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và

bộ đội xuất ngũ Tuy nhiên thực tế là lao động có tay nghề vẫn còn nhiều bất cập chưa tương xứng với vị trí nhu cầu của người sử dụng lao động và chưa có được vị trí xứng đáng với mức lương của mình tương ứng với trình độ và tay nghề

Trang 40

sở đào tạo nghề đều lạc hậu so với quy trình sản xuất hiện đại Nhiều cơ sở đào tạo nghề vẫn chưa tạo được mối liên kết, “bắt tay” với doanh nghiệp để học viên có thể được thực hành ngay trên dây chuyền sản xuất mới, hiện đại

Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên môn cao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém về năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp; vẫn cần có thời gian bổ sung hoặc đào tạo bồi dưỡng để sử dụng hiệu quả

Người lao động qua đào tạo nghề có xu hướng thích lựa chọn công việc ở những công ty lớn, quá tầm với so với năng lực bản thân Trong khi đó, vẫn còn rất

nhiều cơ hội việc làm tại các công ty vừa và nhỏ

2.1.2 Mục tiêu chính sách việc làm đối với lao động có tay nghề tại tỉnh Bình Dương

Theo quy hoạch của tỉnh đến 2020, Bình Dương trở thành trung tâm công nghiệp lớn, thành phố thông minh, tầm quốc gia và khu vực; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 30,6%/năm thời kỳ 2006-2010; 26,0% thời kỳ 2011-2015 và 24,1% thời kỳ 2016-2020; nâng dần công nghệ cao trong sản phẩm công nghiệp; phát triển mạnh công nghiệp nhỏ và vừa, các ngành nghề truyền thống, giải quyết

Ngày đăng: 30/05/2017, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Hữu Dũng & Trần Hữu Trung (chủ biên) (1997), Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng & Trần Hữu Trung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia"
Năm: 1996
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia"
Năm: 2011
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia"
Năm: 2015
8. Đỗ Phú Hải (2012), Chu trình chính sách công tại Việt Nam: Vấn đề lý luận và thực hiện, Đề tài cấp cơ sở Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu trình chính sách công tại Việt Nam: Vấn đề lý luận và thực hiện
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2012
9. Đỗ Phú Hải (2014), Chính sách công, Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, (số 02), tr.103-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
10. Đỗ Phú Hải (2014), Chính sách lao động - việc làm: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách lao động - việc làm: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
11. Đỗ Phú Hải (2014), Đánh giá chính sách công tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Khoa học chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Khu vực II, TP. Hồ Chí Minh, (số 7), tr.46-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chính sách công tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
12. Đỗ Phú Hải (2014), Về chính sách công hiện nay ở nước ta, Tạp chí Cộng sản, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, (số 91), tr.67-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách công hiện nay ở nước ta
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
13. Đỗ Phú Hải (2014), Xây dựng mạng lưới nghiên cứu và phân tích chính sách công tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Khu vực II, TP. Hồ Chí Minh, (số 2), tr.26-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mạng lưới nghiên cứu và phân tích chính sách công tại Việt Nam
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
14. Đỗ Phú Hải (2014), Xây dựng chính sách công: Vấn đề, giải pháp và các yếu tố ảnh hưởng, Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, (số 5), tr.88-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chính sách công: Vấn đề, giải pháp và các yếu tố ảnh hưởng
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
15. Đỗ Phú Hải (2015), Những vấn đề cốt lõi trong đổi mới thể chế tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, (số 4), tr.1-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt lõi trong đổi mới thể chế tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2015
16. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chính trị học (2007), Tập bài giảng Chính trị học (hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Chính trị học (hệ cao cấp lý luận chính trị)
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chính trị học
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
18. Trần Văn Minh (2014), Chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Trần Văn Minh
Năm: 2014
19. Nguyễn Minh Phong (2011), Chính sách lao động - việc làm nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô, Tạp chí Tài chính Điện tử, (số 96) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách lao động - việc làm nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô
Tác giả: Nguyễn Minh Phong
Năm: 2011
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01/6/2012 Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa XI) Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 Khác
2. Cục Thống kê tỉnh Bình Dương (2015), Niên giám thống kê Bình Dương 2014 Khác
4. Đảng bộ tỉnh Bình Dương (2015), Văn kiện Đại Hội XII của Đảng Bộ Tỉnh Bình Dương ( nhiệm kỳ 2015-2020) Khác
17. Hội đồng lý luận Trung ương – Tỉnh ủy Bình Dương (2015), Kỷ yếu hội thảo khoa học công nghiệp hóa, đô thị hóa qua thực tiễn ở tỉnh Bình Dương Khác
23. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Dương (2010), Báo cáo kết quả 5 năm (2006-2010) và kế hoạch 5 năm (2011- 2015) ngành Lao động - Thương binh & Xã hội, Bình Dương Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w