Từ những hoài nghi đó, tôi – người viết bài này tự hỏi, Quyền lợi và nghĩa vụ của xã viên Hợp tác xã được pháp luật qui định như thế nào mà không thu hút được sự quan tâm của các tầng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ 9
1.1 Khái niệm, vai trò, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hợp tác xã 9
1.1.1 Khái niệm, vai trò của Hợp tác xã 9
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hợp tác xã 15
1.2 Cơ sở và căn cứ pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ của xã viên 18
1.2.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của xã viên 18
1.2.2 Cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ xã viên 18
1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ xã viên hợp tác xã 22
1.3.1 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ xã viên 22
1.3.2 Vai trò của Điều lệ hợp tác xã trong việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ xã viên 23
1.4 Kinh nghiệm phát triển Hợp tác xã của các nước trên thế giới 23
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển Hợp tác xã ở các nước phát triển 23
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển Hợp tác xã ở các nước đang phát triển 25
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27
Chương 2: THỰC TIỂN THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SÓC TRĂNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30
2.1 Nội dung pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của xã viên 30
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ sử dụng dịch vụ 30
2.1.2 Quyền được phân phối thu nhập 32
Trang 42.1.3 Quyền và nghĩa vụ góp vốn 33
2.1.4 Quyền ứng cử, đề cử, biểu quyết và tham dự đại hội xã viên 34
2.1.5 Quyền kiến nghị, tiếp cận thông tin và khiếu nại, tố cáo 38
2.1.6 Quyền được trả lại vốn góp khi rút khỏi Hợp tác xã, liên minh Hợp tác xã và được chia giá trị tài sản còn lại khi Hợp tác xã giải thể 39
2.1.7 Nghĩa vụ tài chính về các khoản nợ và bồi thường thiệt hại 42
2.1.8 Quyền tự nguyện gia nhập và rút khỏi tư cách thành viên Hợp tác xã 42
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của xã viên trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 43
2.2.1 Khái quát một số nét về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế, xã hội và tình hình hoạt động của Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 42
2.2.2 Thực trạng bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của xã viên hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 46
2.3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ xã viên hợp tác xã 54
2.3.1 Phương hướng 54
2.3.2 Giải pháp 55
2.4 Phương hướng và giải pháp tăng cường bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ xã viên hợp tác xã 56
2.4.1 Phương hướng 56
2.4.2 Giải pháp 58
2.5 Một số kiến nghị 58
2.5.1 Kiến nghị về quyền của xã viên 58
2.5.2 Kiến nghị về nghĩa vụ của xã viên 60
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong bối cảnh xu hướng quốc tế hóa và hội nhập ngày càng nhanh và sâu, khoảng cách địa lý và rào cản ngôn ngữ ngày càng được thu hẹp, chiến tranh đã lùi xa mặc dù đâu đó vẫn còn xung đột nội bộ Trong một thế giới hòa bình, hợp tác, hữu nghị và hội nhập như hiện nay, nhu cầu phát triển kinh tế, ổn định xã hội là nhu cầu hết sức bức thiết của mỗi quốc gia Để
ổn định xã hội, nâng cao mức sống cho nhân dân thì nhà nước phải tạo mọi điều kiện để phát huy nội lực nền kinh tế Để nội lực một quốc gia phát huy hết hiệu quả của nó, thì mọi thành phần kinh tế trong cả nước phải được chú trọng khơi thông
Việt Nam là một quốc gia Đông Nam Á với thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng lý luận cho định hướng phát triển của mình Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời năm 1945, Đảng và Nhà nước ta tiến hành xây dựng đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế tập trung bao cấp, từng bước xóa bỏ kinh tế tư nhân, thiết lập kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trên toàn lãnh thổ, nhưng đây là một sai lầm nghiêm trọng của Đảng và Nhà nước ta Từ cuối những năm 80 Đảng và Nhà nước ta đã thấy được những sai lầm đó, cụ thể là từ ngày 20 đến ngày 29/03/1989 tại Hà Nội, Nghị quyết hội nghị TW lần thứ 6 Ban chấp hành khóa VI đã quyết định chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, đa dạng hóa sở hữu, đa dạng hóa loại hình kinh tế nhằm phát huy tối đa nguồn nội lực trong nước để đưa nền kinh tế thoát khổi khủng hoảng, trì truệ sau nhiều năm sai lầm của cơ chế tập trung bao cấp Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế với nhiều thành phần
Trang 6kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, cụ thể là Hợp tác xã (HTX) đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Bên cạnh hàng loạt công
ty nhà nước ra đời theo quyết định số 90/TTg và 91/TTg ngày 7/3/1994, thì Đảng và Nhà nước cũng đưa ra nhiều văn bản chỉ đạo nhằm kiện toàn thành phần kinh tế tập thể, cụ thể là HTX để cùng với thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
Như chúng ta đã biết, HTX được thành lập tại nước ta từ năm 1956 trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, mô hình kinh tế HTX tiếp tục được nhân rộng tại miền Nam với sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, Nhà nước đã quyết liệt hỗ trợ sức người, sức của nhằm duy trì và phát triển loại hình kinh tế này, nhưng loại hình kinh
tế HTX, đặc biệt là HTX nông nghiệp, không mang lại hiệu quả như kỳ vọng, đẩy nền kinh tế nước ta nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng, rơi vào trì trệ và khủng hoảng Trước tình hình đó, ngày 13/01/1981 Ban bí thư ban hành chỉ thị số 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, thường gọi tắt
là khoán 100 Tuy nhiên, sau quá trình áp dụng, nhận thấy khoán 100 còn những hạn chế nhất định, tháng 04/1988 Bộ chính trị ra Nghị quyết 10 để đổi mới toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đổi mới kinh tế xã hội ở nông thôn Chỉ thị 100 và Nghị quyết 10 đã tạo tiền đề cho mô hình kinh tế HTX chuyển đổi từ hình thức cũ tập trung, bao cấp, mệnh lệnh với hình thức
sở hữu tập thể sang HTX hình thức mới dân chủ, tự nguyện vận hành theo cơ chế thị trường với hình thức sở hữu tư nhân Từ khi HTX chuyển sang hoạt động theo hình thức mới, loại hình kinh tế này tiếp tục được sự quan tâm và
hỗ trợ của Nhà nước từ cơ chế chính sách đến các nguồn lực như tài chính, đất đai, nhân lực,… Nhưng thực tế cho thấy, từ khi chuyển đổi cho đến nay, loại hình kinh tế này tiếp tục gặp khó khăn, trì trệ, không thu hút được sự
Trang 7quan tâm của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thành phần kinh tế nông hộ
Do sự hỗ trợ của Nhà nước, về số lượng loại hình kinh tế này có duy trì với một số lượng HTX nhất định, nhưng không đáng kể, còn chất lượng và hiệu quả hoạt động thì ngày càng giảm súc theo từng năm Từ những thực tiển đó,
câu hỏi được đặt ra là: Tại sao Hợp tác xã, đặc biệt là Hợp tác xã nông
nghiệp, được sự hỗ trợ của nhà nước cả về cơ chế, chính sách lẩn nguồn vật lực cùng với sự tham gia chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị mà vẫn không phát huy được hiệu quả? Tại sao Hợp tác xã không thu hút được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là kinh tế nông hộ? Từ những
hoài nghi đó, tôi – người viết bài này tự hỏi, Quyền lợi và nghĩa vụ của xã
viên Hợp tác xã được pháp luật qui định như thế nào mà không thu hút được
sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là kinh tế hộ vào loại hình
kinh tế này? Và đây cũng là lý do mà tôi chọn chủ đề “Quyền và nghĩa vụ
của xã viên hợp tác xã theo pháp luật hợp tác xã từ thực tiễn tỉnh Sóc Trăng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành luật kinh tế tại
Học viện Khoa học xã hội cho khóa học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi ra đời cho đến nay, HTX luôn là chủ đề được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, từ lĩnh vực kinh tế, chính trị,…đến luật học trong và ngoài nước, nội dung nghiên cứu liên quan tới bài viết này trong những năm gần đây có một số công trình tiêu biểu như sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
* Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã ở Việt
Nam hiện nay, Luận văn cao học luật của Doãn Thị Vân Anh, Đại học quốc
gia Hà Nội, 2014 Đề tài đã giải quyết được những vấn đề cơ bản đặt ra cho
đề tài về mặt lý luận cũng như thực tiễn, nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã
Trang 8* Một số vấn đề pháp lý về hợp tác xã và thực tiễn áp dụng trên địa
bàn thành phố Hà Nội, Luận văn cao học luật của Trần Lệ Thu, Đại học quốc
gia Hà Nội, 2010 Đề tài đã tìm hiểu một số quy định pháp luật về thành lập
và hoạt động của HTX một số nước trên thế giới, ở Việt Nam và của một số loại hình doanh nghiệp có tính chất tương đồng Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về thành lập, hoạt động HTX trên địa bàn thành phố Hà Nội để tìm
ra những phù hợp và sai lệch giữa lý luận và thực tiễn Đánh giá những tồn tại, bất cập và nguyên nhân, để từ đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện một số quy định pháp luật về thành lập, hoạt động HTX
* Kinh tế hợp tác xã - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Liên minh
HTX Việt Nam, 1998 Đề tài nghiên cứu về sự khác biệt giữa lý luận và thực tiển trong quá trình thành lập, hoạt động loại hình HTX ở nước ta, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần ổn định và phát triển loại hình kinh tế này tại Việt nam trong thời gian tới
* Khung khổ pháp lý và kinh nghiệm phát triển hợp tác xã của một số
nước, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, 2006 Đề tài tập trung
nghiên cứu mối quan hệ giữa khung pháp lý và sự phát triển của HTX, nhằm đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện khung pháp lý về loại hình kinh tế này
* Đổi mới cơ chế quản lý hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội,
Luận văn cao học của Vũ Mạnh Nam, Đại học quốc gia Hà Nội, 2010 Đề tài tìm hiểu và hoàn thiện cơ chế quản lý HTX trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung, góp phần hoàn thiện khung pháp lý HTX
* Một số giải pháp về khung pháp lý cho dịch vụ hỗ trợ phát triển hợp
tác xã ở Việt Nam, Đề tài cấp Bộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), TS Nguyễn Minh
Tú, 2010
Trang 9* Những vấn đề pháp lý về đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh,
dịch vụ của các doanh nghiệp tập thể, Luận văn cao học của Nguyễn Đức
Long, Đại học quốc gia Hà Nội 1996
* Chế độ pháp lý xã viên HTX – Những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Luận văn cao học luật của Nguyễn Thị Ngọc Hà, Đại học luật Hà Nội, 1997
* Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong quá trình chuyển đổi HTX, Luận
văn cao học luật của Hoàng Thị Vinh, Đại học luật Hà Nội, 1999
* Cơ sở lý luận của đổi mới tổ chức và quản lý các HTX, Luận án Tiến
sĩ luật học của Trần Thị Thơ, Đại học quốc gia Hà Nội, 2001
2.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
* Hợp tác xã trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu về quyền sở hữu
trong sáp nhập, Luận văn cao học luật, Lovisa Nilsson, Đại học Thụy Điển,
2010 Đề tài nghiên cứu về kỳ vọng và mối quan hệ giữa các xã viên và ban quản trị sau khi sáp nhập HTX, cũng như niềm tin giữa các xã viên trong HTX
* Chính sách và pháp luật Hợp tác xã ở Đông nam Phi, Tổ chức lao
động quốc tế, Jan Theron, 2010 Đề tài nghiên cứu, phân tích và so sánh chính sách và khung pháp lý về HTX giữa các quốc gia Đông nam Phi Từ đó tìm ra mối quan hệ giữa chính sách, khung pháp lý với sự phát triển của loại hình HTX
* Mối quan hệ giữa các xã viên Hợp tác xã tại Montana, Luận văn tiến
sĩ, Hardial Singh Saini, 1965 Đề tài tập trung nghiên cứu mối liên hệ thực tế giữa các xã viên tại HTX Montana để đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện mối quan hệ này để góp phần phát triển loại hình kinh tế HTX
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích tổng quát
Mục đích của bài nghiên cứu này là nhằm tìm ra nguyên nhân tại sao HTX ra đời và tồn tại ở nước ta trong một thời gian dài như vậy mà không thu hút được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là kinh tế hộ? Tại sao các xã viên không “mặn mà” với loại hình kinh tế này?
* Làm rỏ sự khác biệt giữa quyền và nghĩa vụ xã viên HTX với quyền
và nghĩa vụ của thành viên của các loại hình doanh nghiệp khác theo luật doanh nghiệp hiện hành;
* Khảo sát và thăm dò ý kiến xã viên, lãnh đạo HTX và các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng về quyền và nghĩa vụ của xã viên cũng như những vướng mắc làm họ chưa hài lòng về loại hình kinh tế này
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để làm rỏ các mục tiêu đặt ra, bài nghiên cứu sẽ trả lời được các câu hỏi sau:
* HTX và các loại hình doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp khác nhau như thế nào?
* Quyền và nghĩa vụ xã viên HTX khác quyền và nghĩa vụ thành viên các loại hình doanh nghiệp khác như thế nào?
* Tại sao HTX không thu hút được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là kinh tế hộ?
Trang 11* Tại sao hiệu quả hoạt động của HTX ngày càng giảm sút, trong khi
đó nó được Nhà nước hỗ trợ từ cơ chế đến các nguồn lực vật chất khác?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của bài này là HTX, cụ thể là quyền và nghĩa vụ của xã viên của HTX theo pháp luật HTX
* Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu là HTX trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, trong giai đoạn từ 2010 đến 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp logic làm phương pháp luận cơ bản và xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu của mình, cùng với một số phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội khác, cụ thể là:
* Phương pháp phỏng vấn bằng bảng câu hỏi theo mẩu và phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo, xã viên Hợp tác xã và các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp từ các Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã, liên minh Hợp tác xã, Cục thống kê trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Tổng cục thống kê và một số nguồn đáng tin cậy khác trên internet
* Phương pháp so sánh để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa quyền, nghĩa vụ của xã viên HTX và quyền, nghĩa vụ của thành viên của các loại hình doanh nghiệp khác, cũng như sự khác biệt giữa doanh nghiệp với Hợp tác xã Đồng thời so sánh để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa Hợp tác xã tại Việt Nam và Hợp tác xã ở các nước khác trên thế giới
Trang 12* Phương pháp quy nạp và diễn dịch nhằm tìm ra mối liên hệ mang tính quy luật chung từ kết quả thu thập, phân tích, so sánh của 3 phương pháp trên
* Quy trình nghiên cứu:
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Hợp tác xã trong tương lai Đồng thời đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho Hợp tác xã và
xã viên trong việc tổ chức, điều hành HTX trong thực tiển
7 Cơ cấu của luận văn
Bao gồm phần mở đầu và 2 chương với các phần chính sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về quyền và nghĩa vụ của xã viên Hợp tác xã
Chương 2: Thực tiễn thực hiện về quyền và nghĩa vụ của xã viên trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và những giải pháp đảm bảo thực hiện và hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của xã viên hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay
Kết luận
Phỏng vấn xã viên
và các tầng lớp dân
cư khác về tính hấp dẫn của HTX đối với họ
Kết luận
So sánh quyền và nghĩa
vụ xã viên với quyền và nghĩa vụ thành viên của các loại hình doanh nghiệp khác
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ
1.1 Khái niệm, vai trò, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hợp tác xã
1.1.1 Khái niệm, vai trò của Hợp tác xã
là người góp vốn nhỏ
Cách hiểu 2: HTX là tổ chức mang nặng tính từ thiện, lấy việc giúp đỡ người nghèo, người khó khăn là chính Với cách hiểu này, HTX chỉ tồn tại
nếu có tổ chức bao cấp hay có nguồn “tài trợ” thường xuyên HTX làm ra thì
ít mà tiêu là chính nên khó tồn tại lâu dài và nhất là không thể đáp ứng nhu
cầu số lượng xã viên lớn
Cách hiểu 3: HTX có hoạt động kinh doanh nhưng không được coi hoạt động như doanh nghiệp; hạn chế các hoạt động cạnh tranh và quyền của HTX trên thị trường Do đó, tính xã hội, nhân văn của HTX vẫn phần nào
mang màu sắc của tính “từ thiện”, mang tính “chỉ định” như “hạn chế HTX tham gia thị trường”, “bắt buộc phải sử dụng dịch vụ của HTX”,… Điều đó dẫn đến tình trạng HTX dễ ỷ thế độc quyền, không phát triển được, không
Trang 14cạnh tranh được và tất yếu dẫn đến khó khăn, cần sự bao cấp nhiều của Nhà
nước
Cách hiểu 4: HTX hoạt động như doanh nghiệp, có các quyền như doanh nghiệp khác, cạnh tranh trên thị trường với các loại hình doanh nghiệp khác và mang tính xã hội nhân văn cao do thu hút người nghèo, người yếu thế
và đem lại lợi ích cho họ Với cách hiểu này, HTX có thể phát triển bền vững,
thật sự tự chủ, về lâu dài không nhất thiết cần sự hỗ trợ cụ thể về tài chính của nhà nước, đem lợi ích lâu dài cho xã viên và cho xã hội Đây chính là cách hiểu phổ biến trên thế giới, nhất là ở tất cả các nước có mô hình HTX kiểu mới thành công.[5, tr 7]
Theo điều 3 luật HTX hiện hành 2012 của Việt Nam thì HTX được định nghĩa như sau:
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 xã viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của xã viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê-nin, kinh tế nông thôn có
những nét cơ bản sau đây:
Thứ nhất, kinh tế nông thôn là một bộ phận chủ yếu của thành phần sản
xuất hàng hóa nhỏ, tồn tại khách quan và lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Phát triển lý luận của K.Marx về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lenin đã chỉ rõ đặc điểm lớn nhất, xuyên suốt của thời kỳ đó là sự tồn tại một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với những giai cấp cơ bản: tư sản, tiểu tư sản, công nhân và những người lao động tập thể Nhưng ông cũng chỉ rõ, tùy điều kiện mỗi nước mà các thành phần kinh tế và giai cấp sẽ có những điểm khác biệt Ông nhấn mạnh: giữa
Trang 15các thành phần kinh tế ấy, tính tự phát tiểu tư sản chiếm ưu thế, số đông, thậm chí là đại đa số nông dân đều là những người sản xuất hàng hóa nhỏ
Cả K.Marx, F.Engels và V.I.Lenin đều thống nhất quan niệm là các thành phần trên sẽ tồn tại lâu dài, trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là vì, một mặt, như F.Engels chỉ ra là do người nông dân là một nhân
tố rất cơ bản của dân cư, của nền sản xuất và của chính quyền, nên sự tồn tại của nó là có lợi cho giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Mặt khác, do toàn bộ tâm lý, tập quán sản xuất nhỏ tồn tại hàng trăm năm đã tạo “một cơ sở có những cội rễ rất sâu và rất chắc” vào ý thức tư hữu của người nông dân, nên họ sẽ chống lại bất cứ sự can thiệp, hay kiểm kê, kiểm soát nào của nhà nước, vì vậy việc thay thế chế độ tư hữu nhỏ bằng chế
độ công hữu là không thể tiến hành một lần mà xong được Vậy nên, V.I.Lenin đã cực lực phê phán những tư tưởng nóng vội muốn xóa bỏ ngay
mọi hình thức tư hữu để xác lập chế độ công hữu
Thứ hai, cần phải cải tạo giai cấp tiểu tư sản cùng với những tập quán,
những thói quen của giai cấp ấy, và địa vị kinh tế của giai cấp ấy theo con đường xã hội chủ nghĩa Mặc dù xác định sự tồn tại lâu dài của kinh tế tiểu nông, nhưng điều đó không có nghĩa là giai cấp vô sản để mặc họ, mà ngược lại, phải cải tạo họ, phải tiêu diệt cái cơ sở vô cùng rộng lớn và có cội rễ rất sâu và rất chắc cho sự duy trì và phục hồi lại chủ nghĩa tư bản trong cuộc đấu tranh ác liệt chống chủ nghĩa cộng sản Đó là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng theo F.Engels, thì “Nếu chúng ta xác định được lập trường của chúng ta đối với tiểu nông thì chúng ta sẽ có mọi tiêu điểm để xác định được thái độ của mình đối với những thành phần khác trong dân cư nông thôn.” Thấm nhuần tư tưởng của F.Engels, V.I.Lenin luôn nhắc nhở giai cấp vô sản là không được quên kẻ thù chủ yếu trong bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là giai cấp tiểu tư sản và tính tự phát tiểu tư sản, cùng với những tập quán,
Trang 16những thói quen, và địa vị kinh tế của giai cấp ấy Ông nói, nếu giai cấp vô sản xóa bỏ được chế độ tư hữu của người tiểu nông thì cũng có nghĩa là họ đã
“nhổ được những gốc rễ sâu xa hơn và dai dẳng hơn của những quan hệ cũ tiền xã hội chủ nghĩa, thậm chí tiền tư bản.” Khi đó, và chỉ có khi đó giai cấp
tư sản mới hết cơ sở để tái sinh và tồn tại
Về cải tạo sản xuất nhỏ, cả K.Marx, F.Engels và V.I.Lenin đều có chung quan niệm là phải lôi cuốn nông dân đi theo chủ nghĩa xã hội Các ông cho rằng, nếu giải phóng nông dân mà chỉ dừng lại ở việc đưa ruộng đất và tự do cho họ, thì đó mới chỉ là bước đầu; nhiệm vụ của giai cấp vô sản và chính đảng của nó còn lớn hơn, và khó khăn hơn nhiều Đó là phải xóa bỏ tư hữu, dẫn dắt nông dân xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, để không vì sự yếu đuối và thiếu năng lực cạnh tranh của họ mà bị phân hóa trong guồng máy tư
bản chủ nghĩa
Thứ ba, con đường cơ bản để cải tạo nông dân là tập hợp họ vào các
HTX Những người nông dân sau khi thoát khỏi chế độ bóc lột của chủ nghĩa
tư bản trở thành người nông dân tự do và được chia ruộng đất thuộc nhà nước Nhưng, sự thâm nhập của sản xuất hàng hóa vào nông nghiệp, sự cạnh tranh giữa nông dân, những cuộc đấu tranh giành đất đai, giành độc lập kinh tế… đã dẫn đến tình trạng phân hóa trong nông dân: giai cấp tư sản nông dân lấn át trung nông và nông dân nghèo Đó là vấn đề có tính quy luật Vì vậy, chừng nào người nông dân chưa trở thành những người lao động tập thể trong các HTX thì chừng đó vẫn còn nguy cơ đói nghèo và bị bóc lột Trong “Tuyên ngôn thành lập Hiệp hội công nhân Quốc tế,” K.Marx đã nhấn mạnh: muốn giải phóng nông dân, giải phóng quần chúng lao động, thì cần phải phát triển lao động hợp tác trên quy mô cả nước, bằng con đường kinh tế, chứ không phải bằng những biện pháp tội lỗi đối với nông dân Sau này V.I.Lenin làm rõ thêm: HTX là hình thức kinh tế quá độ thích hợp để chuyển từ sản xuất nhỏ
Trang 17sang sản xuất lớn, đưa những nhà sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội, do đó, đưa nông dân vào HTX là con đường duy nhất mang lại lợi ích cho họ, và cũng là con đường cơ bản nhất, dễ dàng nhất để cải tạo họ theo chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, do “những thói quen lâu đời, cố cựu, bất di bất dịch” đã ăn sâu vào tiềm thức của nông dân nên họ sẽ không sẵn sàng từ bỏ những lợi ích riêng để đi theo giai cấp công nhân trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Vì vậy, giai cấp vô sản phải lãnh đạo họ, đấu tranh với họ để gây ảnh hưởng tới họ và lôi cuốn họ tham gia HTX Chừng nào giai cấp vô sản tổ chức được toàn thể nông dân vào HTX, thì chừng đó họ mới thật sự đứng
vững được cả hai chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa
Thứ tư, trong quá trình cải tạo nông dân, cần có những bước đi thận
trọng, với những chính sách và biện pháp thích hợp Mặc dù tư tưởng của Chủ nghĩa Marx-Lenin là xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu trong chủ nghĩa xã hội, nhưng điều đó không có nghĩa là phải tiến hành quốc hữu hóa ngay một lúc tất cả các tư liệu sản xuất xã hội; mà ngược lại, có thể và cần phải sử dụng những giải pháp mềm dẻo, linh hoạt, thích hợp với tình hình
cụ thể ở mỗi giai đoạn cụ thể của cách mạng Tức là, việc xóa bỏ các thói quen, xóa bỏ địa vị kinh tế của thành phần sản xuất hàng hóa nhỏ, đưa những người sản xuất hàng hóa nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu, nhưng không phải bằng các biện pháp tước đoạt như đối với địa chủ, cũng không phải bằng những biện pháp lập pháp hay hành chính hấp tấp và thiếu thận trọng, và nhất là, không được “biến công cuộc hợp tác hóa thành một trò chơi ngu ngốc” để khiến cho nông dân phải phẫn nộ Đó là vì, tất cả điều đó chỉ sẽ gây thêm khó khăn cho bước quá độ, và do đó sẽ kéo dài thêm bước quá độ
đó mà thôi Ngược lại, giai cấp vô sản phải giúp đỡ nông dân, phải lôi kéo họ tham gia HTX bằng chính việc làm tốt đẹp của HTX Nói cách khác, HTX phải là tấm gương để nông dân nhìn vào đó mà đưa ra quyết định có tham gia
Trang 18HTX hay không Cho nên, như F.Engels đã khẳng định, là: “tấm gương của những HTX nông nghiệp đó sẽ chứng minh cho ngay cả những người cuối cùng trong đám nông dân có mảnh ruộng đất nhỏ, còn ngoan cố và có thể cho
cả một vài phú nông thấy rõ những điều lợi của nền kinh tế lớn, HTX quy mô lớn.” [51, tr 1-3]
1.1.1.2 Vai trò
Hiện nay kinh tế hợp tác không phải là khu vực chính để tạo ra nhiều lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế, nhưng là khu vực có vai trò, vị trí quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao động, tạo sự ổn định về chính trị - xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể là:
* Hợp tác xã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giúp nhau tăng sức cạnh tranh, khai thác các nguồn tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật để phát triển, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa các hộ sản xuất, xã viên với nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước;
* Hợp tác xã góp phần đưa tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị kỹ thuật hiện đại tới các thành phần kinh tế hộ nhỏ lẻ, tích tụ ruộng đất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới
* Hợp tác xã phát triển sẽ tạo ra nhiều việc làm, góp phần giải quyết công ăn, việc làm, tăng thu nhập và bảo đảm đời sống ổn định cho xã viên và người lao động, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội ở địa phương, là tiền
đề quan trọng để thực hiện dân chủ hoá và nâng cao văn minh ở nông thôn;
* Hợp tác xã phát huy tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau để vượt nghèo, góp phần làm giảm bớt những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường và ổn định xã hội ở nông thôn.[5, tr.10]
Trang 191.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã
HTX cũng giống như doanh nghiệp, về bản chất cũng là một phương thức liên minh của những cá nhân nhằm mục đích thực hiện những mục tiêu kinh doanh cụ thể Tuy nhiên, HTX và Doanh nghiệp có những khác biệt cơ bản như sau:
* Về nguyên tắc biểu quyết: Mỗi xã viên có một phiếu biểu quyết ngang
nhau không phụ thuộc vào mức độ góp vốn của xã viên là một nguyên tắc đặc thù riêng có trong mô hình tổ chức kinh tế HTX Nguyên tắc này đảm bảo quyền điều hành HTX được phân chia đều cho mọi xã viên, kể cả các xã viên yếu thế về kinh tế cũng có tiếng nói ngang bằng với những xã viên khác có điều kiện kinh tế tốt hơn Và như vậy, quyền điều hành hợp tác xã sẽ không bị rơi vào tay một hoặc một nhóm xã viên có khả năng tài chính có thể hướng hoạt động của HTX đi ngược lại lợi ích của các xã viên yếu thế khác
* Về mục tiêu hoạt động: Khác với các loại hình doanh nghiệp đang tồn
tại theo quy định của Luật doanh nghiệp, tuy đều được coi là pháp nhân có địa
vị pháp lý độc lập so với các xã viên đã tạo ra nó, nhưng giữa doanh nghiệp
và HTX lại có điểm rất khác biệt về lợi ích Doanh nghiệp có lợi ích độc lập của nó so với lợi ích của các thành viên góp vốn Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều có một mục tiêu đầu tiên và tiên quyết là tạo ra lợi ích cho bản thân doanh nghiệp chứ không phải là lợi ích của các thành viên góp vốn Lợi ích của các thành viên góp vốn chỉ được thể hiện gián tiếp thông qua việc phân chia lợi nhuận do kết quả sản xuất kinh doanh tốt của doanh nghiệp hoặc
do tăng giá trị của phần vốn góp trên thị trường chuyển nhượng
Trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, các cá nhân tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp không được phép đặt lợi ích của các thành viên góp vốn lên trên lợi ích của doanh nghiệp đó Doanh nghiệp được lập nên nhằm mục đích giao dịch với các đối tác không
Trang 20phải là các thành viên đã góp vốn lập ra doanh nghiệp để có thể đạt được mục đích tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp Trong trường hợp có giao dịch giữa doanh nghiệp và các thành viên góp vốn vào doanh nghiệp thì vẫn phải bảo đảm nguyên tắc của thị trường, có nghĩa là thành viên góp vốn vào doanh nghiệp không được phép có sự ưu tiên hơn, lợi ích nhiều hơn so với các đối tác bình thường khác của công ty Thậm chí, mọi giao dịch giữa doanh nghiệp với thành viên góp vốn của doanh nghiệp và những người có liên quan của thành viên góp vốn đều được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ hơn nhiều so với các giao dịch tương tự của doanh nghiệp với đối tác thông thường theo nguyên tắc kiểm soát giao dịch tư lợi được quy định trong Luật doanh nghiệp
Trong khi đó, chúng ta có thể thấy một điều trái ngược hẳn trong quan
hệ giao dịch giữa HTX với các xã viên Có thể nói rằng, hợp tác xã được các
xã viên tạo ra để thực hiện hoạt động kinh doanh như một cánh tay nối dài của hoạt động sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng của các xã viên, là công cụ của
xã viên trong việc hạn chế chi phí bỏ ra hoặc gia tăng giá trị nhận được Xuất phát từ nguyên lý đó, các giao dịch giữa HTX và những người góp vốn thành lập ra nó chiếm tỷ trọng chủ yếu trong các hoạt động của HTX, bởi vì đây chính là lý do để HTX được thành lập
Một điểm khác biệt căn bản nữa giữa HTX và doanh nghiệp, đó là HTX không có lợi ích riêng, độc lập với lợi ích của các xã viên Trong mọi hoạt động, HTX đều có một mục tiêu đầu tiên và tiên quyết là tạo ra lợi ích cho các
xã viên chứ không phải là lợi ích của chính HTX Do đó, lợi ích của các xã viên được thể hiện trực tiếp thông qua việc giao dịch với HTX, hưởng các ưu đãi về chi phí, giá mua, giá bán hay các lợi ích khác tốt hơn những đối tác không phải là xã viên khi thực hiện các giao dịch tương tự với HTX Chính vì trách nhiệm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho xã viên với chi phí phi thị trường nên lợi nhuận tích lũy được của hợp tác xã thường là không đáng kể Do đó,
Trang 21pháp luật của nhiều nước trên thế giới không đánh thuế thu nhập doanh nghiệp đối với HTX mà chỉ đánh thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập của các xã viên.[5, tr 18]
* Về nguyên tắc hoạt động: HTX cũng như các doanh nghiệp được tự
do đăng ký kinh doanh bất cứ ngành nghề nào giống như các doanh nghiệp, HTX được công nhận là tổ chức có tư cách pháp nhân giống như các công ty
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Ngoài ra, với mục đích tương trợ, giúp
đỡ giữa các xã viên tham gia HTX, cùng góp vốn, góp sức, cùng hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng hưởng lợi, cùng chịu trách nhiệm HTX còn có các nguyên tắc mang tính đặc trưng như tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, công khai
và cùng có lợi
* Về tính tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh: Tính tự chủ này
thể hiện kể từ khi doanh nghiệp hoặc HTX lựa chọn ngành nghề kinh doanh
để đăng ký thành lập cho đến khi đi vào hoạt động Không có bất cứ cá nhân hay tổ chức nào khác can thiệp vào việc lựa chọn nghành nghề kinh doanh của họ
* Về vốn góp: Tài sản của công ty được hình thành từ sự đóng góp của
các cổ đông (đối với công ty cổ phần), của các thành viên (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn), tài sản của HTX cũng được hình thành một phần từ sự đóng góp của các xã viên HTX Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ quan tâm duy nhất đến “đối vốn” mà không hề quan tâm đến vấn đề
“đối nhân”
* Về chế độ trách nhiệm hữu hạn: Đối với HTX, sau khi được thành
lập HTX cũng được coi là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng có quyền tự chủ và chịu trách nhiệm hữu hạn bằng tài sản của mình, trong phạm vi vốn góp của mình, cùng chịu trách nhiệm về các khoản nợ, rủi
ro, thiệt hại, các khoản lỗ của HTX
Trang 221.2 Cơ sở và căn cứ pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ của xã viên Hợp tác xã
1.2.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của xã viên
* Quyền của xã viên là những hành vi mà xã viên được làm hoặc không phải làm theo quy định của pháp luật hợp tác xã
* Nghĩa vụ của xã viên là những hành vi mà xã viên phải làm hoặc không được làm theo quy định của pháp luật hợp tác xã
1.2.2 Cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ của xã viên Hợp tác xã
1.2.2.1 Cơ sở kinh tế - xã hội
* Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chủ đạo: Đất nước ta đang
trong giai đoạn quá độ lên xã hội Xã hội chủ nghĩa với trình độ của Lực lượng sản xuất còn thấp cho nên khi xây dựng Quan hệ sản xuất phải dựa trên
nguyên tắc “phù hợp giữa trình độ của Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản
xuất”
* Nguyên lý kinh tế - chính trị: Nghị quyết số 13-NQ/TW của Đảng đã
xác định “Quá độ” là một quá trình hết sức lâu dài, trong giai đoạn này nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, nhưng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo, Phân phối thu nhập theo lao động và lấy lợi ích cá nhân làm động lực phát triển kinh tế
* Nguyên tắc hiến định: Khoản 2 điều 51 Hiến pháp 2013 khẳng định,
Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật
1.2.2.2 Cở sở pháp lý
a Cơ sở pháp lý quốc tế
* Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa:
Trang 23Dưới góc độ luật pháp quốc tế thì quyền kinh tế được thừa nhận trong
Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa Đây là nguồn
pháp lý quốc tế quan trọng làm cơ sở để xây dựng quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung và xã viên HTX nói riêng Công ước này buộc các quốc gia thành viên phải thừa nhận các quyền kinh tế với những nội dung được quy định từ điều 6 và điều 7 cơ bản như sau:
- Quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận;
- Quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc
* Khuyến nghị số 193 về khuyến trợ các Hợp tác xã, 2002:
Hội đồng quản trị Tổ chức lao động quốc tế triệu tập Hội nghị toàn thể tại Geneve, tại kỳ hợp lần thứ 90, ngày 03 tháng 06 năm 2003 Hội nghị đã thống nhất thông qua Khuyến nghị với những nội dung cơ bản sau:
- Công nhận tầm quan trọng của HTX trong vấn đề tạo việc làm, huy động các nguồn lực, tạo vốn đầu tư và sự đóng góp của HTX vào nền kinh tế,
- Cộng nhận rằng, các HTX được hoạt động trong tất cả các ngành trong nền kinh tế,
- Thuật ngữ “Hợp tác xã” chỉ một hiệp hội tự chủ của nhiều người tự nguyện hợp lại để thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng chung của mình về kinh
tế, xã hội và văn hóa thông qua một doanh nghiệp đồng sở hữu và được quản
lý một cách dân chủ
* Tuyên bố về quy định về Hợp tác xã 1995:
Tuyên bố về quy định về Hợp tác xã 1995 được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1995 với những nguyên tắc cơ bản như sau:
Trang 24- Tham gia tự nguyện và mở rộng: các HTX là các tổ chức tham gia tự nguyện và mở rộng để mọi người có thể sử dụng dịch vụ của mình và sẳn sàng nhận trách nhiệm xã viên mà không bị phân biệt giới tính, xã hội, nguồn gốc, chính kiến hay tôn giáo,
- Quản lý thành viên theo hình thức dân chủ: Các HTX là các tổ chức dân chủ, mỗi xã viên đều có quyền bầu như nhau (mỗi người một lá phiếu)
- Tham gia vào các hoạt động kinh tế,
- Tự chủ và độc lập,
- Giáo dục đào tạo và thông tin,
- Hợp tác giữa các Hợp tác xã,
- Quan tâm tới cộng đồng
b Cơ sở pháp lý quốc gia
Việt Nam là một nước với thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, với vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cộng sản việt nam về mọi mặt đời sống xã hội, cho nên những quan điểm, nghị quyết, chỉ thị,…của Đảng cộng sản việt nam cũng là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc nghiên cứu, phân tích để hoàn thiện pháp luật nói chung, pháp luật HTX nói riêng
* Nghị quyết số 13-NQ/TW:
Nghị quyết số 13-NQ/TW hội nghị lần thứ 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể đã xác định: “Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Để đạt được mục tiêu đó Nghị quyết đề ra một số nhiệm vụ cần làm, trong đó có một số nhiệm vụ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX là:
- Thống nhất nhận thức về các quan điểm phát triển kinh tế tập thể: Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác
Trang 25xã, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn (trừ một số lĩnh vực có quy định riêng); phân phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ; hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các thể nhân và pháp nhân,
cả người ít vốn và nhiều vốn, cùng góp vốn và góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và quản lý dân chủ
- Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của thành viên.[ 3 ]
* Chỉ thị số 20 – CT/TW:
Chỉ thị số 20 – CT/TW về tăng cường lãnh đạo thực hiện nghị quyết hội nghị trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Để tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra về phát triển kinh tế tập thể, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng chỉ đạo tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX), Nghị quyết Đại hội X về phát triển kinh tế tập thể, luật Hợp tác xã và các chính sách phát triển kinh tế tập thể đến các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế và đông đảo nhân dân [4]
* Kết luận số 56-KL/TW:
Kết luận số 56-KL/TW của Bộ chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Từ những vấn đề thực tiển tồn tại, Bộ chính trị đề ra một
số giải pháp như sau:
Trang 26Thống nhất và nâng cao nhận thức về bản chất, vai trò của kinh tế tập thể, hợp tác xã Phát triển kinh tế tập thể là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, đồng thời cũng là sự nghiệp hết sức khó khăn đòi hỏi phải kiên trì, xuất phát từ nhu cầu thực tế, phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng, miền, địa phương, tránh hình thức, gò ép hoặc buông lỏng Phải tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 và các luật khác
có liên quan, bảo đảm hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, do các thành viên tự nguyện thành lập nhằm tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản suất, kinh doanh, tạo việc làm, đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên, trên cơ sở bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi.[6]
1.3 Các yếu tố bảo đảm và vai trò của Điều lệ hợp tác xã trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ xã viên
1.3.1 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ xã viên
Để quyền và nghĩa vụ của xã viên hợp tác xã được thực thi trong cuộc sống thực tiễn, thì đòi hỏi phải có những yếu tố đảm bảo như sau:
* Luật hợp tác xã phải đồng bộ và đầy đủ: Yếu tố đầu tiên và quan
trọng nhất để các quyền và nghĩa vụ nói chung được thực hiện là nội dung hệ thống pháp luật phải đầy đủ và đồng bộ
* Phổ biến pháp luật hợp tác xã: Để xã viên hợp tác xã thực hiện được
quyền và nghĩa vụ của mình, thì họ phải nắm và hiểu được những quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật quy định như thế nào Như vậy, việc tuyên truyền và phổ biến pháp luật hợp tác xã cho xã viên cũng là điều kiện quan trọng trong việc thực thi pháp luật của xã viên hợp tác xã
* Chế tài đủ mạnh
* Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo công khai và dễ tiếp cận
Trang 271.3.2 Vai trò của Điều lệ hợp tác xã trong việc đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ của xã viên
* Định nghĩa: Điều lệ hợp tác xã là bản thỏa thuận giữa những xã viên
sáng lập hợp tác xã với nhau, dựa trên cơ sở pháp luật chung (luật hợp tác
xã, luật thuế, luật lao động,…) về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thành lập, hoạt động và giải thể hợp tác xã
Điều lệ được coi như bản “Hiến pháp” của hợp tác xã Khi có tranh chấp xảy ra, Điều lệ là căn cứ pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất được đưa ra
để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, khi Hợp tác
xã lập điều lệ phải dựa trên những nguyên tắc nhất định:
Thứ nhất, Điều lệ không được trái với qui định của pháp luật,
Thứ hai, Điều lệ là một Hợp đồng nhiều bên theo nguyên tắc tự nguyện,
thỏa thuận để quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc tổ chức, quản lý và điều hành hợp tác xã,
Thứ ba, Điều lệ hợp tác xã phải có đủ nội dung chủ yếu theo quy định
của luật hợp tác xã hiện hành
Như vậy, mối quan hệ giữa Điều lệ và Luật hợp tác xã trong việc quy định quyền và nghĩa vụ của xã viên là mối quan hệ bổ sung Trong đó Luật hợp tác xã là nồng cốt và khái quát, còn điều lệ mang tính chi tiết và phụ thuộc, nghĩa là Điều lệ phải phù hợp và không được trái với Luật hợp tác xã nói riêng và pháp luật có liên quan nói chung Như vậy, Điều lệ chỉ làm cho quyền và nghĩa vụ của xã viên được quy định chi tiết và phong phú thêm chứ không được trái với những quy định của pháp luật
1.4 Kinh nghiệm phát triển Hợp tác xã của các nước trên thế giới
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển Hợp tác xã ở các nước phát triển
* Kinh nghiệm của Hàn Quốc về phát triển Hợp tác xã: Ban đầu, HTX
ở Hàn Quốc hình thành tự phát trên cơ sở những hộ sản xuất có nhu cầu hợp
Trang 28tác với nhau với quy mô nhỏ lẻ Trên thực tế đó, chính phủ Hàn Quốc thiết lập
bộ máy quản lý HTX từ trung ương đến địa phương, với phương thức điều hành theo mệnh lệnh Khi thị trường hàng hóa, dịch vụ ngày càng phát triển, những HTX với quy mô nhỏ lẻ điều hành theo mệnh lệnh không còn phù hợp nữa, có nguy cơ tự tan rã Để khắc phục những yếu điểm đó từ năm 1969 đến
1974, Chính phủ đã thực hiện những cải cách căn bản, trao quyền cho xã viên nhiều hơn, tạo điều kiện để cho xã viên tự chủ, tự điều hành và tự chịu trách nhiệm, nhằm nâng cao quy mô kinh tế cho các HTX cơ sở và hình thành các
"HTX cơ sở - doanh nghiệp đa chức năng" Việc làm này của Chính phủ đã đem lại những kết quả thiết thực nhất định do các HTX cơ sở gần gũi hơn với nông dân, nắm rõ hơn nhu cầu của nông dân Các HTX cơ sở đã phát triển thành các doanh nghiệp đa chức năng
* Kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển Hợp tác xã: Là một cường
quốc kinh tế, Nhật Bản không chỉ thành công với nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu trong lĩnh vực công nghiệp mà còn có một khu vực nông nghiệp, nông thôn phát triển mạnh với mô hình HTX khá thành công HTX đầu tiên ở Nhật Bản được hình thành vào năm 1843 nhằm đáp ứng nhu cầu về tín dụng của người nông dân Sau chiến tranh thế giới thứ hai, HTX là nhân tố tích cực, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở Nhật Bản Đến nay, Nhật Bản có nhiều mô hình HTX, trong đó chủ yếu là HTX nông nghiệp và HTX tiêu dùng
- HTX tiêu dùng: Mô hình này ở Nhật Bản phát triển mạnh từ những năm 1960-1970 Theo pháp luật HTX Nhật Bản, xã viên trong HTX tiêu dùng được hưởng một số quyền lợi nhất định, được mua sản phẩm với giá rẻ hơn so với những người không phải xã viên Ngoài ra, xã viên HTX còn được ưu tiên tiếp cận sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của HTX trong trường hợp cung không
đủ cầu
Trang 29- HTX nông nghiệp: Đây là mô hình đem lại những thành công nhất định ở Nhật Bản Các HTX nông nghiệp thu hút được sự tham gia của hầu hết những người nông dân ở đất nước này và được tổ chức thành hệ thống 3 cấp: Các HTX nông nghiệp cơ sở, các liên hiệp và các liên đoàn quốc gia HTX nông nghiệp cơ sở có hai loại: HTX nông nghiệp đơn chức năng và HTX nông nghiệp đa chức năng Các HTX nông nghiệp đa chức năng chịu trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnh vực như cung cấp dịch vụ khoa học kỷ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi, giúp họ hoàn thiện kỹ năng quản lý hoạt động sản xuất, cung cấp nông cụ, tín dụng, mặt hàng nhu yếu phẩm cũng như giúp họ chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm cho hoạt động của họ Các HTX nông nghiệp đơn chức năng hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất
cụ thể như chế biến sữa, nuôi gia cầm và các nghề truyền thống khác Các HTX nông nghiệp Nhật Bản đã có bước phát triển mạnh, từ những đơn vị đơn
lẻ, quy mô nhỏ, hoạt động đơn điệu, mang nặng tính tự phát đã trở thành một mô hình năng động, hiệu quả và phát triển bền vững qua các thăng trầm của kinh tế quốc gia cũng như kinh tế thế giới
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển Hợp tác xã ở các nước đang phát triển
* Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển Hợp tác xã: Với nhiều
điều kiện tương đồng, mô hình HTX ở Trung Quốc có thể rút ra được những bài học giá trị đối với Việt Nam Mặc dù HTX ra đời khá sớm ở Trung Quốc với mô hình ban đầu là HTX cung tiêu (năm 1920) với các xã viên chủ chốt là nông dân nhưng các HTX chỉ phát triển mạnh sau khi nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa ra đời HTX cung tiêu với chức năng chính của HTX cung tiêu bao gồm: Cung ứng dịch vụ kinh doanh; Dịch vụ tiêu thụ nông sản; Khuyến nông; Kinh doanh bán lẻ; Chế biến nông sản và sản xuất
Trong một thời gian dài phát triển, mô hình HTX cung tiêu ở Trung Quốc đã có những đóng góp quan trọng vào những thành tựu tăng trưởng của
Trang 30đất nước cũng như trợ giúp cho nông dân Tuy nhiên, quá trình hoạt động cũng cho thấy, mô hình này đã bộc lộ những nhược điểm nhất định:
- Vi phạm nguyên tắc dân chủ: Theo quy định, số phiếu tính trên số xã viên chứ không dựa vào tỷ lệ vốn góp Tuy nhiên, trên thực tế, quyền điều hành và quyết định các công việc quan trọng của HTX do ban quản lý hoặc một nhóm người góp vốn quyết định
- Trong một số trường hợp, chính quyền còn can thiệp sâu vào các hoạt động của HTX Một số địa phương, chính quyền còn sử dụng HTX như một công cụ trong bộ máy quản lý
- Hiện tượng trá hình HTX để hưởng lợi, hưởng những chính sách ưu
đãi còn tồn tại ở nhiều địa phương
* Kinh nghiệm của Ấn Độ về phát triển Hợp tác xã: Ở Ấn Độ, tổ chức
HTX được ra đời rất sớm và chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế cũng như trong việc hỗ trợ các hộ sản xuất Nhận rõ vai trò của các HTX chiếm vị trí trọng yếu trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, Chính phủ Ấn Độ
đã thực hiện nhiều biện pháp thúc đẩy HTX phát triển như xúc tiến xuất khẩu, sửa đổi Luật HTX, tạo điều kiện cho các HTX tự chủ và năng động hơn, nhằm mở rộng và tận dụng lợi thế về quy mô của HTX
Là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển, mô hình HTX trong khu vực này thu hút được sự quan tâm của người dân Trên thực tế, nông dân
Ấn Độ coi HTX là phương tiện để tiếp nhận tín dụng, đầu vào và các nhu cầu cần thiết về dịch vụ Theo tinh thần của Luật HTX Ấn Độ, các HTX ở quốc gia này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự lực, dân chủ và đặt mục tiêu phục vụ xã viên lên hàng đầu Tạo điều kiện cho HTX hoạt động tự chủ và năng động, chấn chỉnh hệ thống tín dụng HTX, cung cấp thông tin cho nông dân về ích lợi của HTX, thiết lập mạng lưới thông tin hai chiều giữa những
Trang 31người nghèo nông thôn với các tổ chức HTX và bảo đảm trách nhiệm của các
liên đoàn HTX đối với các HTX xã viên
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
* Bài học về vai trò của Nhà nước trong phát triển HTX thông qua xây
dựng khung khổ pháp luật, ban hành chính sách: Kinh nghiệm phát triển
HTX ở một số quốc gia cho thấy, Nhà nước luôn đóng vai trò quyết định đến
sự phát triển của các HTX trong các giai đoạn phát triển khác nhau thông qua nhiều biện pháp trực tiếp và gián tiếp Sự hỗ trợ của nhà nước thể hiện trên các phương diện: tạo khuôn khổ luật pháp; hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn; tuyên truyền, giáo dục về HTX; trợ giúp đào tạo cán bộ HTX Bài học từ Trung Quốc cho thấy, Nhà nước thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ đối với HTX nhưng cần phát hiện và ngăn ngừa những doanh nghiệp trá hình HTX để hưởng ưu đãi Việc hỗ trợ nguồn tài chính cho các HTX cũng cần cân
nhắc bởi nó kéo theo sự ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ
* Bài học về tổ chức Hợp tác xã, tinh thần tự nguyện của xã viên: Sự tự
nguyện trong quản lý và vận hành HTX là yếu tố then chốt đảm bảo sự thành công của mô hình này Có thể HTX được thành lập ban đầu do ý chí của Chính phủ nhưng trong quá trình hoạt động, HTX phải được trả về đúng vị trí của nó, do những xã viên, người lao động điều hành và quản lý Sự tự nguyện trên nền tảng những tất yếu kinh tế, tôn trọng quy luật thị trường là nền tảng đảm bảo cho các HTX hoạt động hiệu quả Mục đích của HTX là gắn bó cùng nhau để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã viên và hoạt
động xã hội vì cộng đồng
* Bài học về mục tiêu thành lập và vị trí của nó trong nền kinh tế: Vị
trí, vai trò của các HTX luôn được nhấn mạnh trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của nhiều quốc gia Đây là lý do giải thích sự ra đời sớm của luật HTX ở nhiều quốc gia trên thế giới Mục tiêu cuối cùng của HTX là trợ giúp
Trang 32các hoạt động sản xuất - kinh doanh, nâng cao đời sống của các xã viên, song trước hết HTX phải là một tổ chức kinh tế, hay nói cách khác HTX phải hoạt động như một doanh nghiệp, sản xuất, kinh doanh có lãi trên thị trường để lấy
đó làm cơ sở thực hiện các mục tiêu hỗ trợ của mình Với việc kết hợp được yếu tố kinh tế với giá trị nhân văn, HTX có ở mọi quốc gia không phụ thuộc vào định hướng chính trị - xã hội của quốc gia đó Tuy nhiên, tùy theo mục tiêu sản xuất - kinh doanh, phục vụ cho cộng đồng, trình độ phát triển kinh tế
- xã hội, quan hệ sản xuất, điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ, từng thời kỳ mà hình thành các mô hình HTX thích hợp và HTX phải được tổ chức ở những khâu mà nó có thể làm tốt hơn hộ gia đình, tốt hơn tư nhân và các loại hình kinh tế khác Cái riêng của mỗi loại hình HTX là ở đó,
nó là cái sống động nhưng không phải là cái vĩnh cửu Cũng như mọi sự vật khác, các loại hình HTX xuất hiện, phát triển, tồn tại và tự đổi mới để sản
sinh ra các loại hình khác phù hợp với điều kiện mới
* Bài học về lĩnh vực hoạt động của các Hợp tác xã: Dường như nông
nghiệp là lĩnh vực phù hợp hơn cả đối với sự ra đời và hoạt động của các HTX Tuy nhiên, HTX ở nhiều quốc gia lại thành công trong những lĩnh vực ngoài nông nghiệp như tín dụng, nhà ở hay quản lý khai thác các công trình công cộng Như vậy, HTX không phụ thuộc vào một vài lĩnh vực nhất định
mà tùy vào cách thức tổ chức quản lý của HTX cũng như nhu cầu của các hộ gia đình, xã viên - những xã viên trong cộng đồng Có một điểm đáng lưu ý, đối với một số phân ngành hẹp trong lĩnh vực nông nghiệp như chăn nuôi, chăm sóc cây cối hình thức canh tác, chăn nuôi theo kiểu kinh tế hộ vẫn tồn tại và tỏ ra có ưu thế hơn so với việc tiến hành sản xuất nông nghiệp theo kiểu tập trung những người lao động để cùng sản xuất - kinh doanh Chính vì lý do
đó, tuy mô hình HTX nông nghiệp ở các nước rất đa dạng và phong phú, nhưng phổ biến là loại hình HTX làm dịch vụ cho các pháp nhân, thể nhân,
Trang 33những người có hoạt động kinh tế - xã hội độc lập Loại hình HTX nông nghiệp tập trung những người lao động để cùng sản xuất - kinh doanh không nhiều.[17, tr 46-66]
Kết luận chương 1
Tất cả những gì trình bài ở trên là cơ sở lý luận pháp luật nền tảng để làm căn cứ xem xét, phân tích, đánh giá và hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ của xã viên hợp tác xã trong bài luận văn này Nó là tiền đề lý luận pháp luật quan trọng để đưa ra những định hướng, cũng như những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật HTX nói chung, quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX nói riêng
Trang 34Chương 2 THỰC TIỂN THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SÓC TRĂNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Nội dung pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của xã viên
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của xã viên
* Khoản 4 điều 8 luật HTX 2012 quy định:
HTX, liên hiệp HTX có quyền cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm cho xã viên, hợp tác xã thành viên và ra thị trường nhưng phải bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ đối với xã viên, hợp tác xã thành viên
* Khoản 1 điều 14 và khoản 1 điều 15 luật HTX 2012 quy định:
Xã viên có quyền và nghĩa vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX, liên hiệp HTX theo hợp đồng dịch vụ
* Mục e khoản 1 điều 16 luật HTX 2012 cũng quy định:
Xã viên sẽ bị chấm dứt tư cách xã viên, nếu xã viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 03 năm Đối với hợp tác xã tạo việc làm, xã viên không làm việc trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 02 năm;
* Điều 5 Nghị định số 193/2013 của Chính phủ về cung cấp sản phẩm,
dịch vụ cho khách hàng không phải là xã viên quy định như sau:
1 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có quyền cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm cho xã viên, hợp tác xã thành viên và cho khách hàng không phải xã viên nhưng phải bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ đối với xã viên, hợp tác xã thành viên
Trang 352 Tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm mà hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho xã viên, hợp tác xã thành viên cho khách hàng không phải xã viên do điều lệ hợp tác xã quy định cụ thể nhưng không được vượt quá mức quy định sau đây:
a) Không quá 32% tổng giá trị cung ứng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã đối với lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp;
b) Không quá 50% tổng giá trị cung ứng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã đối với lĩnh vực phi nông nghiệp;
c) Đối với trường hợp hợp tác xã tạo việc làm, tiền lương trả cho người lao động không phải là xã viên với hợp đồng lao động không thời hạn không quá 30% tổng tiền lương của hợp tác xã chi trả cho tất cả người lao động trong hợp tác xã với hợp đồng lao động không thời hạn
3 Đối với lĩnh vực tín dụng, giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ mà hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho xã viên, hợp tác xã thành viên cho khách hàng không phải xã viên trình Chính phủ quyết định
4 Đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập sau khi Luật Hợp tác xã có hiệu lực thi hành, tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ hoặc việc làm mà hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho
xã viên, hợp tác xã thành viên cho khách hàng không phải xã viên phải bảo đảm theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều này
5 Đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập trước khi Luật Hợp tác xã có hiệu lực thi hành:
a) Trường hợp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã bảo đảm tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm mà hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
Trang 36cam kết cung ứng, tiêu thụ cho xã viên, hợp tác xã thành viên và cho khách hàng không phải xã viên theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều này thì tiếp tục hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác xã;
b) Trường hợp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chưa bảo đảm tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm mà hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho xã viên, hợp tác xã thành viên và cho khách hàng không phải xã viên theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều này thì phải tổ chức lại hoạt động để bảo đảm tỷ lệ được quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều này trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 hoặc thành lập doanh nghiệp để kinh doanh sản phẩm, dịch vụ, việc làm đó
2.1.2 Quyền được phân phối thu nhập
* Khoản 5 điều 7 luật HTX 2012 quy định:
Xã viên, HTX thành viên và HTX, liên hiệp HTX có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ Thu nhập của HTX, liên hiệp HTX được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của xã viên, HTX thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của xã viên đối với hợp tác xã tạo việc làm
* Điều 46 luật HTX 2012 quy định:
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối như sau:
1 Trích lập quỹ đầu tư phát triển với tỷ lệ không thấp hơn 20% trên thu nhập; trích lập quỹ dự phòng tài chính với tỷ lệ không thấp hơn 5% trên thu nhập;
2 Trích lập các quỹ khác do đại hội xã viên quyết định;
3 Thu nhập còn lại sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều này được phân phối cho xã viên, hợp tác xã thành viên theo nguyên tắc sau đây:
Trang 37a) Chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của xã viên, hợp tác
xã thành viên; theo công sức lao động đóng góp của xã viên đối với hợp tác
xã tạo việc làm;
b) Phần còn lại được chia theo vốn góp;
c) Tỷ lệ và phương thức phân phối cụ thể do điều lệ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quy định;
4 Thu nhập đã phân phối cho xã viên, hợp tác xã thành viên là tài sản thuộc sở hữu của xã viên, hợp tác xã thành viên Xã viên, hợp tác xã thành viên có thể giao thu nhập đã phân phối cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quản lý, sử dụng theo thỏa thuận với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
2.1.3 Quyền và Nghĩa vụ góp vốn
* Khoản 2 điều 15 luật HTX 2012 quy định:Xã viên có nghĩa vụ góp
đủ, đúng thời hạn vốn góp đã cam kết theo quy định của điều lệ
* Điểm g khoản 1 điều 16 luật HTX 2012 quy định:
Sẽ bị chấm dứt tư cách xã viên nếu tại thời điểm cam kết góp đủ vốn,
xã viên, hợp tác xã thành viên không góp vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ;
* Khoản 1,2,3 điều 17 luật HTX 2012 quy định:
1 Đối với hợp tác xã, vốn góp của xã viên thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ nhưng không quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã
2 Đối với liên hiệp hợp tác xã, vốn góp của hợp tác xã thành viên thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ nhưng không quá 30% vốn điều lệ của liên hiệp hợp tác xã
3 Thời hạn, hình thức và mức góp vốn điều lệ theo quy định của điều
lệ, nhưng thời hạn góp đủ vốn không vượt quá 06 tháng, kể từ ngày hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoặc kể từ ngày được kết nạp