Xuất phát từ những lý do đó nên học viên chọn đề tài “Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THANH TÂM
QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khóa học: TS Lê Mai Thanh
Phản biện 1: ………
………
Phản biện 2:………
………
Luận văn này sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại: Học viện khoa học xã hội ……… giờ……….ngày
…… tháng ………năm
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các quốc gia trên thế giới đều tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được thỏa sức sáng tạo và thể hiện ý tưởng của mình ra cộng đồng Quyền tác giả (QTG) là một công cụ pháp lý quan trọng để bảo hộ sự sáng tạo Thông qua việc trao cho tác giả, chủ sở hữu (CSH) các quyền và lợi ích hợp lý, sẽ khuyến khích sáng tạo, phát triển và phổ biến các sáng tạo khoa học Như vậy, công chúng được tạo điều kiện
để được hưởng thụ, tiếp cận các sáng tạo đó Đối với Việt Nam, cần kích thích được hoạt động sáng tạo thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) nhất là ở các trường đại học Cần đẩy mạnh việc thương mại hoá các công trình NCKH của các giảng viên đại học và sinh viên
Có thể nói, chưa bao giờ vấn đề bảo hộ QTG đối với công trình NCKH trong trường đại học lại được quan tâm như thời gian gần đây Lý do là bởi trong thời đại công nghệ, việc vi phạm bản quyền các công trình NCKH trong trường đại học và sử dụng trái phép các tài sản trí tuệ này trở nên đa dạng và phức tạp Công tác bảo
hộ QTG của các trường đại học trong nhiều năm qua chưa được chú trọng, nhiều công trình NCKH của các cán bộ, giảng viên trong các trường đại học bị xâm hại
Chức năng chính của trường đại học là giáo dục, đào tạo và NCKH Nhưng hiện nay sở hữu trí tuệ (SHTT) một trong những vấn
đề không kém phần quan trọng của trường đại học là chuyển giao công nghệ, đưa các kết quả nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn sản
Trang 4NCKH, song tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHYD TP.HCM) hoạt động này vẫn chưa được nhà trường quan tâm
Vì vậy cần phải xây dựng một nền văn hóa SHTT, một quy chế về SHTT trong ĐHYD TP.HCM Xuất phát từ những lý do đó nên học viên chọn đề tài “Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.” làm đề tài Luận văn cao học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến quyền tác giả, Việt Nam đã có không ít đề tài nghiên cứu khoa hoc, luận văn thạc sĩ, bài viết nghiên cứu thể hiện qua các công trình như sau:
- Luận văn thạc sĩ “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp về quyền tác giả ở Việt Nam’, của tác giả Châu Huy Quang, Tp Hồ Chí Minh, 2003
- Luận văn thạc sĩ “ Bảo hộ quyền tác giả trong hợp đồng sử dụng tác phẩm theo pháp luật Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Hoàng Giao, 2004
- Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền liên quan đến quyền tác giả tại Việt Nam”, của tác giả Trương Thế Hào Kiệt, 2007
- Luận văn thạc sĩ “Bảo hộ quyền tác giả của tổ chức phát sóng truyền hình theo pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.”, của tác giả Phạm Như Gái 2011
- Luận văn thạc sĩ “ Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc được khai thác trên tàu bay.”, của tác giả Nguyễn Thị Hà Linh 2012
- Luận văn thạc sĩ “Giới hạn quyền tác giả theo hiệp định Trips
và pháp luật Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga, 2012
Trang 5- Luận văn thạc sĩ “ Pháp luật về quyền tác giả ở Việt Nam thực trạng và hướng hoàn thiện”, của tác giả Phạm Hùng,, 2012
Các đề tài NCKH
- Bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan ở Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Vũ Thị Hải Yến chủ nhiệm đề tài, , Hà Nội, 2010
- Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam, Viện Công nghệ phần mềm và Nội dung số Việt Nam, Tp Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, 2014
- Quyền tác giả trong hoạt động thư viện tại các trường đại học,
TS Lê Thị Nam Giang, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, 2016
Tuy nhiên, trên đây là những công trình, bài viết tiếp cận từ góc độ nghiên cứu chung về quyền tác giả, hoặc nghiên cứu QTG dưới góc độ khác, chưa có công trình nào nghiên cứu QTG dưới góc
độ đối với công trình NCKH trong trường đại học chính vì vậy, đề tài
“Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật
sở hữu trí tuệ từ thực tiễn Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.”
là đề tài tiếp cận từ đặc điểm thực tiễn ĐHYD TP.HCM để từ đó đưa
ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật QTG đối với công trình NCKH Việt Nam nói chung và công trình NCKH ở ĐHYD TP.HCM nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của Luận văn là xác định phương hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về QTG đối với công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM
Trang 63.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về quyền tác giả đối với công trình NCKH và cơ sở pháp luật của Việt Nam bảo hộ quyền này
Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về quyền tác giả đối với công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM
Trên cơ sở thực trạng nói trên Luận văn đề xuất phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về QTG đối với công trình NCKH nói chung, tại ĐHYD TP.HCM nói riêng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật về QTG đối với công trình NCKH thông qua thực tiễn tại ĐHYD TP.HCM
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật làm phương pháp luận nghiên cứu về QTG đối với công trình NCKH
- Để đạt được mục đích nghiên cứu, thì các phương pháp NCKH chuyên ngành đều được áp dụng như: phương pháp phân tích
- tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra…
Trang 76 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hệ thống hóa lý luận chung về QTG đối với công trình NCKH
Qua thực trạng về QTG đối với công trình NCKH tại Đại học
Y Dược Tp.HCM đưa ra kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả về QTG đối với công trình NCKH
7 Cơ cấu của luận văn
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu luận văn có cơ cấu gồm :
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung có 3 chương :
- Chương 1: Những vấn đề pháp lý về quyền tác giả đối với
công trình nghiên cứu khoa học
- Chương 2: Thực trạng quyền tác giả đối với công trình
nghiên cứu khoa học qua thực tiễn tại Đại học Y Dược TP.HCM
- Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
về quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học
Trang 8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1 Khái niệm và đặc điểm QTG đối với công trình NCKH
1.1.1 Khái niệm quyền tác giả đối với công trình NCKH
Quyền tác giả (QTG) hiểu một cách đơn giản là những quyền
mà pháp luật thừa nhận và bảo hộ đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả (CSH QTG) cũng như các chủ thể khác được phép sử dụng các công trình NCKH Vậy, Quyền tác giả đối với công trình NCKH
là tập hợp các quyền được pháp luật thừa nhận gồm quyền nhân thân
và quyền tài sản của tác giả, CSH QTG hoặc chủ thể được phép sử dụng công trình NCKH do mình sáng tạo hoặc sở hữu và được định hình dưới dạng vật chất nhất định không phụ thuộc vào thủ tục đăng
ký bảo hộ hoặc đã công bố hay chưa công bố
1.1.2 Đặc điểm quyền tác giả đối với công trình NCKH
Là tính lãnh thổ triệt để, tính vô hình cũng như tính hữu hạn trong thời hạn bảo hộ của quyền tài sản Quyền tác giả chỉ được công nhận khi công trình NCKH là sản phẩm của lao động trí tuệ, sáng tạo mới, có một phần công lao của tác giả (không đơn thuần chỉ là sao chép từ các nguồn đã biết) và có tính chất duy nhất
Quyền tác giả có thể bị giới hạn về thời gian theo quy định của pháp luật QTG có thể bị giới hạn về không gian, QTG có thể bị giới hạn về phạm vi QTG có thể không được thừa nhận, bảo hộ đối với một số công trình NCKH vi phạm đạo đức, trật tự công cộng…[7, tr 47- 48]
Trang 9Phải đảm bảo tính nguyên gốc điều đó không có nghĩa là đòi hỏi ý tưởng của công trình NCKH phải mới mà là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra Tính nguyên gốc không có nghĩa là không có tính kế thừa [26, tr 50]
1.2 Hình thức và tiêu chí xác lập QTG đối với công trình NCKH
1.2.1 Hình thức xác lập QTG đối với công trình NCKH
Quyền tác giả được xác lập một cách tự động nghĩa là QTG được phát sinh một cách mặc nhiên từ thời điểm công trình NCKH
đó được thể hiện dưới hình thức khách quan mà người khác có thể nhận biết được mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục đăng ký nào
1.2.2 Tiêu chí xác lập QTG đối với công trình NCKH
Để được bảo hộ QTG, công trình NCKH phải có tính nguyên gốc, phải được định hình dưới một dạng vật chất nhất định, bất chấp các yếu tố sáng tạo của chúng, chất lượng hay giá trị khoa học
1.3 Nội dung và thực thi quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học
1.3.1 Nội dung QTG đối với công trình NCKH
Quyền nhân thân: gồm có quyền nhân thân không gắn liền với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản Các quyền nhân thân không gắn với tài sản là: quyền được đặt tên công trình NCKH; đứng tên tác giả trong công trình NCKH khoa học;
Quyền công bố công trình NCKH hoặc cho phép người khác công bố công trình NCKH đây là quyền nhân thân duy nhất gắn với các quyền tài sản và có thể chuyển giao
Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của công trình NCKH, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc công trình NCKH dưới
Trang 10- Trường hợp trích dẫn hợp lý các công trình NCKH vì mục đích giảng dạy, NCKH; Trường hợp sau khi công trình NCKH được công bố, những người khác làm phái sinh, có những thay đổi, sáng tạo mới về nội dung, hình thức thể hiện hay truyền đạt so với ban đầu [5,tr.35],[45]
Quyền tài sản là tập hợp các quyền nhằm bảo vệ lợi ích được khai thác, tham gia vào quá trình sử dụng và khai thác các giá trị kinh
tế công trình NCKH của tác giả
Tác giả không đồng thời là CSH QTG thì quyền nhân thân gồm: các quyền nhân thân không gắn với tài sản và không thể chuyển giao và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của công trình NCKH, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc công trình NCKH dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả
Quyền tài sản của tác giả không đồng thời là CSH QTG: Được hưởng nhuận bút; Được hưởng thù lao khi công trình NCKH được sử dụng; Nhận giải thưởng đối với công trình NCKH mà mình
Việc giới hạn thể hiện trong những trường hợp nhất định thì
cá nhân, tổ chức khác có quyền sử dụng công trình NCKH được công
Trang 11bố mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ thể quyền khi sử dụng công trình NCKH được công bố (điều 25,
26 Luật SHTT)
1.3.2 Thực thi quyền tác giả đối với công trình NCKH
Pháp luật hiện hành của nước ta quy định ba loại phương thức được áp dụng để thực thi QTG Cụ thể là phương thức dân sự, phương thức hành chính và phương thức hình sự
1.4 Cơ sở pháp lý bảo hộ quyền tác giả
1.4.1 Pháp luật Việt Nam
Theo PLVN, bảo hộ QTG được điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:pháp luật chuyên ngành Luật
Sở hữu trí tuệ, pháp luật liên quan và một số nghị định thông tư liên quan đến QTG
Trang 12Chương 2 THỰC TRẠNG QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TỪ THỰC TIỄN
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM
2.1 Đặc điểm, yêu cầu bảo hộ QTG công trình NCKH
Nghiên cứu khoa học (NCKH) cũng là công cụ quan trọng để định hướng cho công tác giáo dục Ở Việt Nam phần lớn NCKH không xuất phát từ trường đại học Đây được xem là điểm yếu của các trường đại học trong việc đóng góp vào sáng tạo tri thức
2.1.1 Đặc điểm các công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM
Đặc điểm các công trình NCKH như: đề tài NCKH, đề cương, đề án, báo cáo, tham luận… tại ĐHYD TP.HCM chủ yếu là nghiên cứu mô tả thuần túy nên chưa thể đào sâu phân tích về bệnh
lý, lâm sàng, chẩn đóan bệnh hay nghiên cứu thuốc thảo dược nên giá trị khoa học không cao không ứng dụng được trên thực tế, làm hạn chế khả năng thương mại Về bài giảng, sách giáo trình, sách chuyên khảo đây là những công trình NCKH được hình thành theo hình thức đặt hàng hoặc thực hiện nghĩa vụ lao động của nhà trường nên CSH vẫn là nhà trường, nhưng việc phân định quyền và nghĩa vụ của tác giả và CSH không rõ ràng chồng lấn xâm phạm lẫn nhau
2.1.2 Các yêu cầu bảo hộ QTG đối với công trình NCKH
Nhu cầu về SHTT nói chung QTG nói riêng tại ĐHYD có thể được xem xét dưới nhiều góc độ: Nâng cao nhận thức về hoạt động bảo hộ SHTT nói chung QTG nói riêng đối với công trình NCKH tại trường; Khai thác các tiềm năng SHTT nói chung QTG nói riêng tại trường hướng tới chuyển giao công nghệ cho đơn vị có nhu cầu
Trang 13Lực lượng thanh tra, kiểm tra hoạt động về SHTT nói chung, QTG nói riêng trong nhà trường chưa được hình thành.việc tổ chức tham mưu, tư vấn đăng kí QTG và hỗ trợ hướng dẫn bảo vệ QTG chưa có đơn vị phòng ban nào đảm trách
2.2 Thực trạng xác lập QTG đối với công trình NCKH
Công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM thuộc quyền sở hữu nhà trường vì đây là đơn vị hành chính sự nghiệp, nhà nước cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu từ ngân sách nhà nước và công trình NCKH được sáng tạo ra theo nhiệm vụ được giao nên trường là đơn
vị tiến hành các hoạt động xác lập QTG và lưu giữ bảo vệ chứng cứ phát sinh QTG
2.3 Thực trạng khai thác QTG đối với công trình NCKH
Các công trình NCKH bao gồm:Công trình NCKH, giáo trình, bài giảng… của giảng viên, nghiên cứu viên;Công trình NCKH, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ… của người học (bao gồm sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh)
Đối với trường hợp có sử dụng ngân sách Nhà nước, QTG đối với công trình NCKH được phân định:
– Quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả bao gồm đặt tên cho công trình NCKH, đứng tên đối với công trình NCKH và bảo vệ sự toàn vẹn của công trình NCKH
– Quyền nhân thân có thể chuyển giao thuộc của Trường bao gồm quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố công trình NCKH và toàn bộ nhóm quyền tài sản đối với công trình NCKH Như vậy quyền cho phép xuất bản, sao chép, quyền cho dịch công trình NCKH … thuộc về Trường chứ không thuộc về tác giả Ở ĐHYD TP.CHM với đặc điểm CSH QTG là nhà trường Nhưng trên
Trang 14ứng xử nhầm lẫn khi tác giả không đồng thời là CSG QTG lại có hành vi như thể mình là CSH QTG và ngược lại khi CSH QTG không đồng thời là tác giả lại hành động như thể mình là tác giả
2.4 Thực trạng thực thi QTG đối với công trình NCKH
Tại ĐHYD TP.HCM nhu cầu thực thi QTG xuất phát từ nguyên nhân sau: Ý thức bảo hộ cũng như vấn đề thực thi QTG rất kém;Không nắm rõ giới hạn QTG trong việc cho phép sinh viên sử dụng giáo trình bài giảng dùng vào mục đích học tập Vấn đề trả thù lao và xin phép khi tái bản sách giáo trình
Chế tài đối với vi phạm còn chưa có và người vi phạm không nhận thức được hành vi của mình cũng như chủ thể quyền không muốn khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc quyền yêu cầu chấm dứt khắc phục hậu quả.[50]
Cũng như Hiệp định TRIPs, pháp luật hiện hành của nước ta quy định các loại phương thức được áp dụng để thực thi QTG Cụ thể
là phương thức tự bảo vệ QTG (phương thức dân sự), bảo vệ QTG thông qua các cơ quan quản lý nhà nước (phương thức hành chính), bảo vệ QTG thông qua các cơ quan tư pháp (phương thức hình sự)
Kết luận chương 2
Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO khoảng 1/3 các hoạt động nghiên cứu khoa học ở các nước công nghiệp được tiến hành bởi các viện và trường đại học Vì vậy cần nhận thức rõ thực trạng những ảnh hưởng của SHTT cũng như hành vi xâm phạm quyền tác giả đến quá trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM để từ đó định hướng phát triển cho hoạt động NCKH, bảo vệ QTG góp phần thương mại hóa kết quả NCKH có ứng dụng cao kích thích hoạt động NCKH Việc bảo hộ và thực thi QTG thành công sẽ thúc đẩy hoạt đông NCKH đồng thời bảo vệ QTG tránh bị xâm phạm tràn lan như hiện nay