1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn đại học y dược thành phố hồ chí minh

85 665 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học Quyền tác giả QTG hiểu một cách đơn giản là những quyền mà pháp luật thừa nhận và bảo hộ đối với tác giả, chủ sở hữu quyền

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH TÂM

QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC

Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THANH TÂM

QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC

Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Luật Kinh Tế

Mã số : 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ MAI THANH

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM KẾT

Tôi: Lê Thị Thanh Tâm

Học viên Cao học - Khóa VI.1 (2015 - 2017)

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, dữ liệu và một số kiến thức của các tác giả khác trong luận văn này được

sử dụng trung thực, có đầy đủ nguồn dữ liệu đáng tin cậy theo quy trình của một công trình khoa học Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 5

1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 5

1.1.1 Khái niệm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 5

1.1.2 Đặc điểm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 7

1.2 Hình thức và tiêu chí xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 9

1.2.1 Hình thức xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 9 1.2.2 Tiêu chí xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 10 1.3 Nội dung và thực thi quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 11 1.3.1 Nội dung Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 11

1.3.2 Thực thi quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 20

1.4 Cơ sở pháp lý về bảo hộ quyền tác giả 23

1.4.1 Pháp luật Việt Nam 23

1.4.2 Pháp luật quốc tế 25

Chương 2 THỰC TRẠNG QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 27

2.1 Đặc điểm các công trình nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và các yêu cầu bảo hộ quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 27

2.1.1 Đặc điểm các công trình nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 28

2.1.2 Các yêu cầu bảo hộ quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 31

Trang 5

2.2 Thực trạng xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh 342.3 Thực trạng khai thác quyền của chủ sở hữu, của tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh 362.4 Thực trạng thực thi quyền quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh 43

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC 53

3.1 Định hướng, hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 53

3.1.1 Bảo hộ quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học trên cơ sở

cân bằng lợi ích của chủ sở hữu công trình khoa học và sự thụ hưởng của xã hội 53 3.1.2 Bảo hộ quyền tác giả đáp ứng các điều ước quốc tế mà Việt Nam là

thành viên 58

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học 60

3.2.1 Kiến nghị cụ thể sửa đổi bổ sung pháp luật quyền tác giả đối với công

trình nghiên cứu khoa học 62 3.2.2 Kiến nghị nâng cao năng lực cơ chế thực thi quyền tác giả đối với công

trình nghiên cứu khoa học 64

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CƯ Berne Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và

nghệ thuật năm 1886

ĐHYD TP.HCM Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Hiệp định TRIPs Hiệp định TRIPs về những khía cạnh liên quan tới

thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Luật SHTT Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 số 50/2005/QH11 ngày

29 tháng 11 năm 2005, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009

Nghị định

100/2006/NĐ- CP

Nghị định số 100/2006/NĐ-CP/2006 ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan được sửa đổi

bổ sung bằng Nghị định số 85/2011/NĐ-CP/2011 ngày 20/9/2011 của chính phủ

Nghị định

105/2006/NĐ- CP

Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT được sửa đổi bổ sung Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các quốc gia trên thế giới đều tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được thỏa sức sáng tạo và thể hiện ý tưởng của mình ra cộng đồng Quyền tác giả (QTG) là một công cụ pháp lý quan trọng để bảo hộ sự sáng tạo Thông qua việc trao cho tác giả, chủ sở hữu (CSH) các quyền và lợi ích hợp lý, sẽ khuyến khích sáng tạo, phát triển

và phổ biến các sáng tạo khoa học Như vậy, công chúng được tạo điều kiện để được hưởng thụ, tiếp cận các sáng tạo đó Đối với Việt Nam, cần kích thích được hoạt động sáng tạo thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) nhất là ở các trường đại học Cần đẩy mạnh việc thương mại hoá các công trình NCKH của các giảng viên đại học và sinh viên

Có thể nói, chưa bao giờ vấn đề bảo hộ QTG đối với công trình NCKH trong trường đại học lại được quan tâm như thời gian gần đây Lý do là bởi trong thời đại công nghệ, việc vi phạm bản quyền các công trình NCKH trong trường đại học và sử dụng trái phép các tài sản trí tuệ này trở nên đa dạng và phức tạp Công tác bảo hộ QTG của các trường đại học trong nhiều năm qua chưa được chú trọng, nhiều công trình NCKH của các cán bộ, giảng viên trong các trường đại học bị xâm hại

Chức năng chính của trường đại học là giáo dục, đào tạo và NCKH Nhưng hiện nay sở hữu trí tuệ (SHTT) một trong những vấn đề không kém phần quan trọng của trường đại học là chuyển giao công nghệ, đưa các kết quả nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh Đây là một phần không thể thiếu trong công tác NCKH, song tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHYD TP.HCM) hoạt động này vẫn chưa được nhà trường quan tâm

Vì vậy cần phải xây dựng một nền văn hóa SHTT, một quy chế về SHTT trong ĐHYD TP.HCM Xuất phát từ những lý do đó nên học viên chọn đề tài

“Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ

từ thực tiễn Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài Luận văn cao học

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Liên quan đến quyền tác giả, Việt Nam đã có không ít đề tài nghiên cứu khoa hoc, luận văn thạc sĩ, bài viết nghiên cứu thể hiện qua các công trình như sau:

- Luận văn thạc sĩ “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp về quyền tác giả ở Việt Nam’, của tác giả Châu Huy Quang, Tp Hồ Chí Minh, 2003

- Luận văn thạc sĩ “ Bảo hộ quyền tác giả trong hợp đồng sử dụng tác phẩm theo pháp luật Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Hoàng Giao, 2004

- Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền liên quan đến quyền tác giả tại Việt Nam”, của tác giả Trương Thế Hào Kiệt, 2007

- Luận văn thạc sĩ “Bảo hộ quyền tác giả của tổ chức phát sóng truyền hình theo pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.”, của tác giả Phạm Như Gái 2011

- Luận văn thạc sĩ “ Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc được khai thác trên tàu bay.” của tác giả Nguyễn Thị Hà Linh 2012

- Luận văn thạc sĩ “Giới hạn quyền tác giả theo hiệp định TRIPs và pháp luật Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga, 2012

- Luận văn thạc sĩ “ Pháp luật về quyền tác giả ở Việt Nam thực trạng và hướng hoàn thiện”, của tác giả Phạm Hùng,, 2012

Các đề tài NCKH

- Bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan ở Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Vũ Thị Hải Yến chủ nhiệm đề tài, Hà Nội, 2010

- Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam, Viện Công nghệ phần mềm và Nội dung số Việt Nam, Tp Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Tp

Trang 9

trình nào nghiên cứu QTG dưới góc độ đối với công trình NCKH trong trường đại học chính vì vậy, đề tài “Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học theo pháp luật sở hữu trí tuệ từ thực tiễn Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.” là đề tài tiếp cận từ đặc điểm thực tiễn ĐHYD TP.HCM để từ đó đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật QTG đối với công trình NCKH Việt Nam nói chung

và công trình NCKH ở ĐHYD TP.HCM nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu của Luận văn là xác định phương hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về QTG đối với công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về quyền tác giả đối với công trình NCKH và cơ sở pháp luật của Việt Nam bảo hộ quyền này

Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về quyền tác giả đối với công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM

Trên cơ sở thực trạng nói trên Luận văn đề xuất phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về QTG đối với công trình NCKH nói chung, tại ĐHYD TP.HCM nói riêng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật về QTG đối với công trình NCKH thông qua thực tiễn tại ĐHYD TP.HCM

Trang 10

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật làm phương pháp luận nghiên cứu về QTG đối với công trình NCKH

- Để đạt được mục đích nghiên cứu, thì các phương pháp NCKH chuyên ngành đều được áp dụng như: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Hệ thống hóa lý luận chung về QTG đối với công trình NCKH

Qua thực trạng về QTG đối với công trình NCKH tại Đại học Y Dược Tp.HCM đưa ra kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả về QTG đối với công trình NCKH

7 Cơ cấu của luận văn

Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu luận văn có cơ cấu gồm:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

1.1.1 Khái niệm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

Quyền tác giả (QTG) hiểu một cách đơn giản là những quyền mà pháp luật thừa nhận và bảo hộ đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả (CSH QTG) cũng như các chủ thể khác được phép sử dụng các công trình NCKH QTG cho phép các chủ thể quyền được độc quyền khai thác các công trình NCKH chống lại việc sao chép bất hợp pháp Ví dụ, tác giả đồng thời là CSH một công trình NCKH được làm chủ thành quả lao động trí tuệ của mình, được bảo đảm quyền nhân thân, độc quyền công bố, xuất bản công trình NCKH của mình Việc sao chép, phổ biến nội dung của công trình NCKH mà không có sự đồng ý của tác giả đồng thời là CSH QTG là xâm phạm QTG.[31 tr.49]

Quyền tác giả là độc quyền của tác giả, của CSH QTG đối với công trình NCKH của mình QTG là quyền mà pháp luật cho phép người đã sáng tạo ra công trình NCKH dùng để bảo vệ các sáng tạo của mình Quyền này bảo vệ các quyền lợi

cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả, CSH QTG trong mối liên quan với công trình NCKH này QTG thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất [50] QTG không cần phải đăng ký, tự động phát sinh từ thời điểm công trình NCKH được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, bất kể công trình NCKH đã công

bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký và thuộc về tác giả khi công trình NCKH được ghi giữ lại ít nhất một lần trên một phương tiện lưu trữ (việc đăng ký công trình NCKH theo thủ tục luật định không có giá trị thiết lập, chỉ có giá trị làm giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh của người đăng ký công trình NCKH trong trường hợp có tranh chấp, nếu không có chứng cứ ngược trở lại)

Trang 12

Quyền tác giả là một trong các nội dung của quyền SHTT, là một chế định tương đối quan trọng Việc quy định và hoàn thiện hơn QTG hiện nay là việc làm cần thiết thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với hoạt động sáng tạo khoa học ngay trong Điều 62 Hiến Pháp 2013 đã khẳng định cho thấy sự quan tâm của nhà nước đối với hoạt động SHTT nói chung QTG nói riêng

Đối tượng của QTG là những công trình NCKH - thành quả lao động trí óc Trong thời đại mà sự phát triển bùng nổ như vũ bão về hoạt động công nghệ thông tin, thì các phương tiện truyền thông đa dạng trở thành công cụ chủ yếu để chuyển tải kiến thức, thành tựu đến khắp nơi trên thế giới đây là vấn đề khó khăn, phức tạp trong công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người sáng tạo và tạo điều kiện khuyến khích cho hoạt động NCKH QTG là một quyền năng rất quan trọng có liên quan thiết thực đến lợi ích của những người sáng tạo khoa học nói riêng và tác động đến cả xã hội nói chung.[2],[20]

Luật SHTT khoản 2 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”, tại điều 18 quy định: “Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm”, (tác phẩm trong luận văn là công trình NCKH) của chủ thể với tư cách là tác giả hoặc CSH QTG Như vậy, QTG được trao cho, nếu chủ thể là cá nhân thì có thể đóng vai trò là tác giả hoặc CSH hoặc cả hai Còn chủ thể là tổ chức thì có QTG với

tư cách là CSH [24, tr.18] Với điều kiện công trình NCKH là sự tư duy độc lập, là

hệ thống ý tưởng và cụ thể hóa ý tưởng dưới hình thức nhất định Luật bảo vệ những ý tưởng được vật chất hóa, những hành vi sáng tạo xuất phát từ ý tưởng của kết quả nghiên cứu đó cũng được thừa nhận Pháp luật về QTG bảo vệ sự thể hiện kết quả nghiên cứu, không bảo vệ những ý tưởng

Quyền tác giả là quyền dân sự cụ thể (quyền tài sản và quyền nhân thân) của chủ thể quyền đối với công trình NCKH Công trình NCKH được sáng tạo ra thể hiện dưới hình thức khách quan và được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, theo

đó quan hệ về QTG được xác lập

Trang 13

Một là, chủ thể của QTG (có thể là một cá nhân hay tập thể tác giả) là người trực tiếp sáng tạo toàn bộ hoặc một phần công trình NCKH và CSH QTG có những quyền nhất định đối với công trình NCKH khi đã được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định

Hai là, đối tượng của QTG là các công trình NCKH do tác giả sáng tạo ra bằng lao động trí tuệ

Ba là, nội dung QTG là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể quyền Các quyền này phát sinh từ khi công trình NCKH đó được pháp luật ghi nhận và bảo hộ

Vậy, Quyền tác giả đối với công trình NCKH là tập hợp các quyền được pháp luật thừa nhận gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, CSH QTG hoặc chủ thể được phép sử dụng công trình NCKH do mình sáng tạo hoặc sở hữu và được định hình dưới dạng vật chất nhất định không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký bảo hộ hoặc đã công bố hay chưa công bố

1.1.2 Đặc điểm quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

Ngoài các đặc điểm chung của quyền SHTT là tính lãnh thổ triệt để, tính vô hình cũng như tính hữu hạn trong thời hạn bảo hộ của quyền tài sản này, QTG đối với các công trình NCKH còn những đặc điểm riêng sau:

Quyền tác giả chỉ được công nhận khi công trình NCKH là sản phẩm của lao động trí tuệ, sáng tạo mới, có một phần công lao của tác giả (không đơn thuần chỉ là sao chép từ các nguồn đã biết) và có tính chất duy nhất Đối tượng của QTG là công trình NCKH phải là sự sáng tạo, luôn mang tính sáng tạo trực tiếp từ con người cụ thể mang dấu ấn cá nhân thông qua hoạt động trí não, kinh nghiệm bản thân và các yếu tố hổ trợ khác tạo ra thành quả chính là công trình NCKH và được thể hiện dưới hình thức nhất định Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo khoa học và khi cá nhân tạo ra công trình NCKH đó phải do tác giả trực tiếp thực hiện hoạt động lao động trí tuệ của mình mà không phải sao chép từ công trình NCKH của người khác, ( khoản

3 điều 14 luật SHTT) Cá nhân làm các công việc hỗ trợ đóng góp ý kiến hoặc cung cấp phương tiện kỹ thuật, tư liệu, cung cấp tài chính, đưa ra ý tưởng để người khác sáng tạo không phải là tác giả

Trang 14

Quyền tác giả có thể bị giới hạn về thời gian theo quy định của pháp luật như: quyền công bố, phổ biến công trình NCKH cũng như quyền cho người khác hoặc không cho người khác sử dụng công trình NCKH của tác giả đồng thời là CSH QTG đối với công trình NCKH và chỉ được bảo hộ trong thời hạn suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết QTG có thể bị giới hạn về không gian, một công trình NCKH có thể được bảo hộ ở nước ngoài, nhưng không được bảo hộ

ở Việt Nam vì không đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ theo pháp luật Việt Nam (PLVN), hoặc ngược lại, một công trình NCKH có thể được bảo hộ ở Việt Nam, nhưng không được bảo hộ ở nước ngoài vì không đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ theo pháp luật nước ngoài QTG có thể bị giới hạn về phạm vi như quyền của tác giả đồng thời là CSH QTG có thể bị giới hạn trong trường hợp người khác sử dụng công trình NCKH nhằm mục đích trích dẫn để bình luận hoặc minh họa trong nghiên cứu của họ mà không làm sai lệch ý của tác giả QTG có thể không được thừa nhận, bảo hộ đối với một số công trình NCKH vi phạm đạo đức, trật tự công cộng…[7, tr 47- 48]

Phải đảm bảo tính nguyên gốc điều đó không có nghĩa là đòi hỏi ý tưởng của công trình NCKH phải mới mà là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra Tính nguyên gốc không có nghĩa là không có tính kế thừa [26, tr 50] nhưng mang đặc trưng riêng biệt có tính sáng tạo với tính cách riêng của tác giả

là công trình nghiên cứu được tác giả sáng tạo độc lập

Quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện công trình NCKH Pháp luật về QTG chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng công trình NCKH khi nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định, mà không bảo hộ ý tưởng sáng tạo khoa học, không bảo hộ nội dung ý nghĩa gíá trị của ý tưởng khoa học Sự định hình của một công trình NCKH được hiểu là khi công trình NCKH xác nhập trên một đối tượng vật chất nào đó, ở trạng thái đủ ổn định hoặc bền vững để có thể nhận biết trực tiếp, thông qua các giác quan của con người hoặc gián tiếp thông qua máy móc thiết bị hỗ trợ mà con người có thể sao chép, nhân bản công trình NCKH và truyền đạt cho người khác [7, tr.32]

Trang 15

Hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động QTG được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra công trình NCKH của tác giả, không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục nào QTG không được bảo hộ một cách tuyệt đối mà có giới hạn Chủ thể khác được phép sử dụng công trình NCKH được bảo hộ nếu việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh, không ảnh hưởng đến việc sử dụng, khai thác bình thường của công trình NCKH, không xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tác giả và CSH QTG [45]

1.2 Hình thức và tiêu chí xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

1.2.1 Hình thức xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

Quyền tác giả được xác lập một cách tự động nghĩa là QTG được phát sinh một cách mặc nhiên từ thời điểm công trình NCKH đó được thể hiện dưới hình thức khách quan mà người khác có thể nhận biết được mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục đăng ký nào QTG được bảo hộ tự động bất chấp các yếu tố chất lượng hay giá trị của một công trình NCKH, ví dụ như: một công trình NCKH của sinh viên được bảo hộ QTG đầy đủ và cũng không cần đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn nào về độ chính xác hay số điểm của công trình nghiên cứu đó

Về nguyên tắc, nhà nước bảo hộ các công trình NCKH mà không có sự phân biệt về hình thức, ngôn ngữ thể hiện của công trình NCKH và cũng không có sự phân biệt về chất lượng, giá trị và mục đích sử dụng của công trình NCKH đó, giá trị hoặc ý nghĩa khoa học của công trình NCKH được đánh giá theo cách chủ quan của mỗi cá nhân, có thể có sự khác biệt giữa những người đánh giá và ngay cả đối với một người thì sự đánh giá đó cũng có thể thay đổi theo thời gian hoàn cảnh khách quan, trạng thái tâm lý

Vì Quyền tác giả được pháp luật bảo vệ ngay từ khi công trình NCKH hình thành dù có đăng ký hay không đăng ký, điều đó có nghĩa là công trình NCKH không đăng ký bảo hộ và có đăng ký bảo hộ đều có cơ chế bảo hộ giống nhau Do việc thực thi QTG ở Việt Nam trong thời gian qua chưa có hiệu quả, có rất nhiều

Trang 16

trường hợp công trình NCKH bị chiếm đoạt, khó khăn trong việc xác định CSH QTG thực sự, nên việc đăng ký QTG hiện nay được coi là một cơ chế hỗ trợ không bắt buộc để bảo vệ QTG, nghĩa là CSH QTG có thể lựa chọn việc đăng ký, điều này không ảnh hưởng đến quyền được bảo hộ của CSH QTG Việc đăng ký chỉ mang ý nghĩa xác nhận đối với công trình NCKH, chứ không có ý nghĩa chứng minh QTG thuộc về người đăng ký, người đứng tên trong Giấy chứng nhận, vì nếu có cá nhân,

tổ chức khác có bằng chứng, chứng minh được việc người đã đăng kí đứng tên không phải CSH QTG, thì người đăng ký, đứng tên đó cũng không được bảo hộ QTG đối với công trình NCKH CSH QTG có thể đăng ký bảo hộ QTG tại cục bản quyền, dù không bắt buộc thì vẫn nên đăng ký bảo hộ Trong trường hợp khi phát sinh tranh chấp QTG, tác giả, CSH QTG phải có nghĩa vụ chứng minh quyền của mình đối với công trình NCKH đó, tức phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ, chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của mình Văn bằng bảo hộ QTG là một căn cứ hợp pháp, là cơ sở tốt nhất, là bằng chứng rõ ràng nhất chứng minh quyền sở hữu của tác giả, của CSH QTG đối với công trình NCKH mà họ sáng tạo ra hoặc sở hữu

Tại khoản 1 điều 49 luật SHTT quy định: “ Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan nộp đơn và hồ sơ kèm theo (sau đây gọi chung là đơn) cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ

sở hữu quyền liên quan” Việc QTG được bảo hộ hay không, không phụ thuộc vào việc nộp đơn Công trình NCKH được bảo hộ kể từ thời điểm được định hình Hơn nữa, thủ tục đăng ký QTG không quá phức tạp và chi phí nhỏ so với lợi ích thiết thực mang lại Do vậy, khi sáng tạo ra công trình NCKH, đặc biệt các công trình NCKH có giá trị kinh tế, thương mại cao, có nhiều khả năng bị xâm phạm, thủ tục nộp đơn đăng kí là cần thiết

1.2.2 Tiêu chí xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

Để được bảo hộ QTG, công trình NCKH phải có tính nguyên gốc Khái niệm

“nguyên gốc” là khái niệm rất quan trọng nhưng không được quy định cụ thể trong

Trang 17

luật mà được hiểu tính nguyên gốc liên quan đến hình thức thể hiện ý tưởng chứ không liên quan đến bản thân ý tưởng hay ý nghĩa bên trong nó Tính nguyên gốc

có nghĩa là công trình NCKH được sáng tạo ra một cách độc lập, trực tiếp từ lao động tri thức, thể hiện phong cách riêng của tác giả và không sao chép từ bất kỳ một công trình NCKH nào khác Việc bảo hộ QTG chỉ được áp dụng đối với những đóng góp mang tính nguyên gốc của công trình NCKH và không được áp dụng với bất cứ yếu tố nào vay mượn từ công trình NCKH khác.Việc phân định công trình NCKH gốc thì chính tác giả hoặc người có chuyên môn sâu về lĩnh vực liên quan mới có thể thực hiện được

Để được bảo hộ QTG, công trình NCKH phải được định hình dưới một dạng vật chất nhất định, bất chấp các yếu tố sáng tạo của chúng, chất lượng hay giá trị khoa học Công trình NCKH không được bảo hộ dưới dạng ý tưởng chỉ bảo hộ cách thức thể hiện ý tưởng dưới một dạng cụ thể (khoản 1 điều 6 luật SHTT) mà thông qua đó công chúng biết đến sự tồn tại của các công trình NCKH đó bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp

1.3 Nội dung và thực thi quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

1.3.1 Nội dung Quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

Nội dung QTG bao gồm các quyền của các chủ thể như tác giả, CSH QTG

và các chủ thể được phép khai thác quyền tác giả QTG đối với công trình NCKH là một tập hợp các quyền của các chủ thể quyền đối với công trình NCKH do họ sáng tạo ra hoặc sở hữu, các quyền này được pháp luật bảo hộ và thừa nhận gồm: quyền nhân thân được quy định tại điều 19 Luật SHTT, Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ –

CP và quyền tài sản được quy định tại điều 20 Luật SHTT, Điều 23 Nghị định số 100/2006/NĐ – CP

Quyền nhân thân gồm có quyền nhân thân không gắn liền với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản Các quyền nhân thân không gắn với tài sản là những quyền gắn liền với các giá trị nhân thân của tác giả và không thể chuyển giao không thể thừa kế và được bảo hộ vô thời hạn, thậm chí, có hệ thống pháp luật còn

Trang 18

quy định những quyền này không thể khước từ được, chỉ có tác giả mới có đặc quyền này cho dù tác giả đồng thời hoặc không đồng thời là CSH QTG, bao gồm các quyền:

Một là, quyền được đặt tên công trình NCKH, có ý nghĩa trong việc cá biệt

hóa công trình NCKH thông qua đó thường phản ảnh nội dung ý tưởng của tác giả giúp công chúng dễ dàng tiếp cận với ý đồ của tác giả trong công trình NCKH và không có ý nghĩa pháp lý với việc bảo hộ QTG vì công trình NCKH có thể bảo hộ khi nó không có tên và quyền đặt tên không áp dụng cho trường hợp tác giả dịch công trình NCKH từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác Quyền đặt tên cho công trình NCKH là quyền nhân thân chỉ thuộc về tác giả của công trình NCKH kể cả khi

tác giả sáng tạo ra công trình NCKH theo nhiệm vụ được giao hay theo hợp đồng

Hai là, đứng tên tác giả trong công trình NCKH khoa học Nếu như ví công

trình NCKH là đứa con tinh thần của tác giả thì các quyền nhân thân này cũng tương tự quyền của cha mẹ được đặt tên cho con, nhận con và bảo vệ con cái Để khẳng định công trình NCKH là kết quả hoạt động sáng tạo của mình tác giả thường đứng tên trên công trình NCKH đó (có thể dùng tên thật hoặc bút danh) Việc ghi tên trên công trình NCKH được công bố có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định chủ thể được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với công trình NCKH Kể cả trong trường hợp tác giả không đề tên thật hoặc bút danh trên công trình NCKH đã được công bố ( khuyết danh) thì quyền này vẫn thuộc về tác giả và tác giả có thể chứng minh tư cách chủ thể của mình bất cứ thời điểm nào Tác giả có quyền yêu cầu được nêu tên hoặc bút danh khi công trình NCKH được sử dụng [ 5, tr.34]

Quyền nhân thân không gắn liền với tài sản ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín

và danh dự của tác giả, tồn tại một cách độc lập đối với quyền tài sản, gắn liền với tác giả kể cả khi quyền sử dụng, định đoạt công trình NCKH đã được chuyển giao Sau khi tác giả chết, việc bảo vệ các quyền này được thực hiện thông qua Nhà nước hoặc cộng đồng nhân dân (điều 27 luật SHTT và điều 26 Nghị định số100/2006/NĐ-CP)

Trang 19

Ba là, quyền công bố công trình NCKH hoặc cho phép người khác công bố công trình NCKH đây là quyền nhân thân duy nhất gắn với các quyền tài sản và có thể chuyển giao quy định tại khoản 3 điều 19 luật SHTT Thực chất, quyền này không hoàn toàn là quyền nhân thân mà là quyền tài sản, vì thông qua việc công bố công trình NCKH của mình, tác giả thu được những lợi ích kinh tế nhất định.Vì vậy, quyền này thuộc về tác giả, nếu tác giả đồng thời là CSH QTG và thuộc về CSH QTG, nếu tác giả không đồng thời là CSH QTG và quyền này chỉ đươc bảo hộ

có thời hạn trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết, có thể được chuyển giao và có thể được thừa kế Tuy nhiên, quyền được nhận giải thưởng đối với công trình NCKH của mình không chỉ mang ý nghĩa vật chất, mà cả yếu tố tinh thần trong đó yếu tố tinh thần nổi trội hơn, vì vậy quyền này thuộc về tác giả đồng thời hay không đồng thời là CSH QTG [7, tr.51]

Bốn là, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của công trình NCKH, không cho người

khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc công trình NCKH dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả, bảo vệ sự toàn vẹn công trình NCKH tránh bị sai lệch nội dung kể cả việc làm tăng giá trị công trình NCKH Trong các quyền nhân thân không thể chuyển giao thì quyền bảo vệ sự toàn vẹn của công trình NCKH được coi là quan trọng nhất và trong thực tiễn nó cũng thường bị xâm phạm nhất Công trình NCKH là một thể thống nhất thể hiện nội dung, tư tưởng của tác giả vì vậy, việc sửa chữa, cắt xén công trình NCKH dưới bất kỳ hình thức nào có thể làm ảnh hưởng đến giá trị nội dung cũng như giá trị khoa học của công trình NCKH, làm sai lệch, thậm chí bóp méo tư tưởng, chủ ý mà tác giả muốn thể hiện trong công trình NCKH của họ Vì vậy, không có chủ thể nào khác ngoài tác giả có quyền thay đổi nội dung của công trình NCKH kể cả trong trường hợp việc thay đổi nhằm làm tăng giá trị khoa học, giá trị thực tiễn của công trình NCKH, trừ trường hợp tác giả cho phép.Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số ngoại lệ của quyền này:

-Trường hợp trích dẫn hợp lý các công trình NCKH vì mục đích giảng dạy, NCKH không bị coi là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của công trình NCKH

Trang 20

- Trường hợp sau khi công trình NCKH được công bố, những người khác làm phái sinh, có những thay đổi, sáng tạo mới về nội dung, hình thức thể hiện hay truyền đạt so với ban đầu cũng không được coi là xâm phạm quyền bảo vệ sự vẹn toàn của công trình NCKH [5,tr.35],[45]

Cụm từ “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” tại khoản 4 Điều

19 Luật SHTT có thể làm cho quyền bảo vệ sự toàn vẹn của công trình NCKH được hiểu là nếu một người thực hiện hành vi sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc công trình NCKH của người khác nhưng lại chứng minh được là hành vi đó không gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả hoặc chứng minh là hành vi đó đã làm cho công trình NCKH có giá trị hơn thì không vi phạm Để tránh việc hiểu như vừa phân tích thì tại khoản 3 điều 22 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP đã quy định:

“Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy định tại khoản 4 điều 19 của Luật SHTT là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm trừ trường hợp có thỏa thuận với tác giả”

Quyền tài sản của tác giả tại điều 20 Luật SHTT là một bộ phận của QTG Quyền tài sản là tập hợp các quyền nhằm bảo vệ lợi ích được khai thác, tham gia vào quá trình sử dụng và khai thác các giá trị kinh tế công trình NCKH của tác giả.Trong trường hợp tác giả đồng thời là CSH QTG, thì phạm vi các quyền tài sản của tác giả sẽ rộng hơn so với trường hợp tác giả không đồng thời là CSH QTG Các quyền tài sản của tác giả đồng thời là CSH QTG có thể chuyển giao cho người khác thông qua các giao dịch pháp lý hoặc thông qua thừa kế và có thể bị tịch biên

để thi hành nghĩa vụ Các quyền tài sản này đều được bảo hộ có thời hạn (trong thời gian tác giả còn sống và 50 năm sau khi tác giả chết)

Tác giả đồng thời là CSH QTG được độc quyền sử dụng các công trình NCKH của mình, được cấm mọi hành vi sử dụng công trình NCKH của mình thông qua người thứ ba Điều này cũng có nghĩa tác giả đồng thời là CSH QTG là người

có quyền cho phép người khác sử dụng công trình NCKH của mình và hưởng lợi ích phân chia từ việc cho người khác sử dụng công trình NCKH đó và thường được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng sử dụng công trình NCKH

Trang 21

Khái niệm “sử dụng” ở đây được hiểu là việc khai thác giá trị kinh tế của công trình NCKH bằng một hoặc nhiều hành vi sử dụng khác nhau (tùy thuộc vào loại hình công trình NCKH ) như: nhân bản, phổ biến, triển lãm, thuyết trình… Trường hợp tác giả đồng thời là CSH QTG tự khai thác giá trị kinh tế của công trình NCKH thì tác giả đồng thời là CSH QTG thu lợi ích từ hoạt động sử dụng đó Trong trường hợp tác giả đồng thời là CSH QTG cho người thứ ba khai thác các giá trị kinh tế của công trình NCKH, thì tác giả đồng thời là CSH QTG có quyền được hưởng một phần giá trị kinh tế của công trình NCKH thu được từ các hoạt động sử dụng, tức là được hưởng thù lao, nhuận bút, lợi ích kinh tế từ việc khai thác giá trị kinh tế của công trình NCKH thông qua người thứ ba

Vì các quyền được hưởng nhuận bút, hưởng thù lao và những lợi ích vật chất khác là hệ quả của quyền cho người khác sử dụng công trình NCKH của mình, nên pháp luật của nhiều nước quy định quyền được độc quyền sử dụng công trình NCKH, cho hoặc không cho người khác sử dụng công trình NCKH là quyền tài sản PLVN quy định quyền này là quyền tinh thần (quyền nhân thân) nhưng lại áp dụng cách điều chỉnh như các quyền tài sản, tức là quyền này có thể chuyển giao được và chỉ được bảo hộ có thời hạn

Đối với trường hợp tác giả không đồng thời là CSH QTG thì quyền nhân thân của tác giả hẹp hơn so với trường hợp tác giả đồng thời là CSH QTG gồm: các quyền nhân thân không gắn với tài sản và không thể chuyển giao và quyền bảo vệ

sự toàn vẹn của công trình NCKH, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc công trình NCKH dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự

và uy tín của tác giả

Quyền tài sản của tác giả không đồng thời là CSH QTG:

Được hưởng nhuận bút; Được hưởng thù lao khi công trình NCKH được sử dụng; Nhận giải thưởng đối với công trình NCKH mà mình là tác giả Người có nghĩa vụ trả nhuận bút trong trường hợp này là CSH QTG bất kể CSH QTG trực tiếp sử dụng công trình NCKH hay cho phép người thứ ba sử dụng công trình NCKH và CSH QTG có thu được tiền sử dụng công trình NCKH từ người thứ ba

Trang 22

hay không, thì CSH QTG vẫn luôn là người có nghĩa vụ trả tiền nhuận bút cho tác giả.Trường hợp công trình NCKH được khai thác theo nhiều cách thức sử dụng khác nhau, thì tác giả được hưởng nhuận bút từ tất cả các hành vi sử dụng theo thỏa thuận với CSH QTG trên cơ sở các quy định Trường hợp công trình NCKH được trao giải thưởng, thì tác giả trực tiếp nhận giải thưởng (kể cả danh hiệu lẫn tiền thưởng, nếu có) từ cơ quan tổ chức trao giải thưởng, không qua người trung gian là CSH QTG vì giải thưởng chứa đựng yếu tố tinh thần chiếm ưu thế cao hơn yếu tố vật chất, nên quyền này thuộc về tác giả

Trường hợp CSH QTG không đồng thời là tác giả có quyền nhân thân ít hơn

so với trường hợp CSH QTG đồng thời là tác giả gồm: Quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến công trình NCKH do mình sở hữu và quyền cho hoặc không cho người khác sử dụng công trình NCKH mà mình sở hữu Quy định này mang tính chất bổ trợ, tức là nó chỉ được áp dụng nếu các bên không thỏa thuận Nếu các bên có thỏa thuận khác, thì áp dụng theo thỏa thuận của các bên

Chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả có quyền tài sản: được hưởng lợi ích vật chất từ việc sử dụng công trình NCKH tại điều 36 luật SHTT quy định: “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn

bộ các quyền tài sản quy định tại điều 20 của Luật này” CSH QTG có độc quyền hoặc cho phép người khác thực hiện quyền này và sẽ được hưởng lợi ích từ việc cho phép người khác thực hiện quyền đó gồm:

- Làm công trình NCKH phái sinh như: dịch, phóng tác, biên soạn, chú giải tuyển chọn…Người không phải là CSH QTG khi làm công trình NCKH phái sinh phải trả tiền nhuận bút, thù lao …cho CSH QTG gốc

- Quyền sao chép công trình NCKH tại khoản 10 điều 4 Luật SHTT: “là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kì phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện

tử ’’ Quyền sao chép thuộc QTG một lần nữa được hướng dẫn tại khoản 5 điều 1 Nghị định số 85/2011/NĐ-CP theo đó “quyền sao chép quyền tác giả là một trong các quyền tài sản độc quyền thuộc quyền tác giả, do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho

Trang 23

phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kì phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử” Nếu như trước đây, sao chép thường được hiểu là việc làm các bản sao dưới các hình thức vật chất hữu hình như văn bản, đĩa…thì quy định này đã mở rộng phạm vi quyền sao chép đến cả các hình thức điện tử Quy định này hoàn toàn phù hợp với khái niệm sao chép trong điều 9 Công ước Berne (CƯ Berne) “tác giả được hưởng độc quyền cho phép sao in các tác phẩm đó dưới bất kì hình thức nào’’.[32]

Quyền sao chép có một số đặc điểm:

Một là, quyền sao chép theo đúng nghĩa là việc làm bản sao công trình NCKH ở bất kỳ hình thứ vật chất nào, không phụ thuộc vào việc hành vi đó được thực hiện ở đâu, khi nào, những bản sao sẽ được đưa ra công chúng hay không Bên cạnh đó hành vi sao chép không đòi hỏi phải có một số lượng bản sao nhất định để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng Sao chép có thể là hành vi chỉ làm một bản sao công trình NCKH Như vậy, sao chép khác với công bố công trình NCKH Tuy nhiên, cũng có những trường hợp hai quyền năng này được thực thi đồng thời với nhau.Trong hoạt động xuất bản, thông thường quyền công bố công trình NCKH được thực hiện đồng thời với quyền sao chép [45], [2]

Hai là, pháp luật về QTG không quy định cụ thể những phương thức sao chép công trình NCKH mà thừa nhận sao chép công trình NCKH là bất kỳ hình thức tái tạo lại công trình NCKH trên những vật thể nhất định, trong đó có thể hình thức bản in hoặc thông qua truyền thông kỹ thuật số như CD-ROM, ghi chép dữ liệu vào máy tính, tạo ra công trình NCKH trên không gian 2 chiều, không gian 3 chiều …

Ba là, sao chép công trình NCKH chỉ là việc tái tạo ra một lần nữa công trình NCKH ở dạng hình thức mà nó đã được tạo ra lần đầu tiên mà còn có thể là việc tái tạo ra công trình NCKH ở dạng hình thức khác Luật SHTT chỉ đặt ra một số ngoại

lệ đối với quyền sao chép (điều 25 Luật SHTT) như tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy của cá nhân hay sao chép một bản để lưu trữ trong thư viện (việc sao chép này cũng không áp dụng đối với chương trình máy tính) Như

Trang 24

vậy, hành vi sao chép ngoài những trường hợp nêu trên dù thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào (có thể là bản in, sao chép lên đĩa, thông qua các phương tiện kĩ thuật

số, ghi chép vào dữ liệu máy tính ….) thực hiện ở đâu, các bản sao có được phát hành đến công chúng hay không … đều có thể bị xem là hành vi xâm phạm QTG

- Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao công trình NCKH; Quyền phân phối công trình NCKH được coi là một trong những phương thức sử dụng công trình NCKH một cách độc lập Phân phối công trình NCKH là việc đưa những vật thể hiện hoặc sao chép công trình NCKH vào giao lưu dân sự thông qua các hợp đồng như mua bán, trao đổi, tặng cho… Đối tượng phân phối có thể là bản gốc hoặc bản sao của công trình NCKH

- Quyền truyền đạt công trình NCKH đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác

Pháp luật về quyền tác giả ghi nhận những đóng góp về khoa học của tác giả, CSH QTG bằng cách dành cho họ những độc quyền khai thác, sử dụng những thành quả sáng tạo, đầu tư của họ Tuy nhiên những độc quyền đó cũng có khả năng ngăn cản sự tiếp cận khoa học của đông đảo công chúng, và vô hình chung kìm hãm các giao lưu dân sự liên quan tới loại quyền tài sản đặc biệt này Nhằm hài hòa lợi ích của chủ thể QTG và lợi ích cộng đồng trong việc tiếp cận, sử dụng công trình NCKH PLVN quy định các ngoại lệ của độc quyền hay còn gọi là các hạn chế của QTG đối với một số hành vi sử dụng, khai thác QTG Việc giới hạn thể hiện trong những trường hợp nhất định thì cá nhân, tổ chức khác có quyền sử dụng công trình NCKH được công bố mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ thể quyền khi sử dụng công trình NCKH được công bố (điều 25, 26 Luật SHTT) Tuy nhiên, việc sử dụng quyền này phải tuân theo những điều kiện và cách thức hợp lý

do Luật SHTT và văn bản khác liên quan quy định Do đó, bên cạnh việc quy định độc quyền sao chép cho CSH, pháp luật còn quy định những hạn chế QTG đối với quyền sao chép sao cho phù hợp với khoản 2 điều 9 CƯ Berne quy định: “Luật pháp quốc gia thành viên có quyền cho phép sao in tác phẩm trong một vài trường hợp

Trang 25

đặc biệt, miễn là sự sao in đó không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm hoặc không gây thiệt hại bất chính cho những quyền lợi hợp pháp của tác giả”

Các trường hợp sử dụng công trình NCKH đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút thù lao theo quy định tại điều 25 Luật SHTT gồm:

- Tự sao chép nhằm mục đích NCKH, giảng dạy của cá nhân hoặc sao chép

để lưu trữ trong thư viện Việc sao chép này là sao chép không quá một bản Thư viện không được sao chép và phân phối bản sao công trình NCKH tới công chúng

kể cả bản sao kỹ thuật số Tuy nhiên, nếu người mượn sách của thư viện sau đó tự sao chép một bản để phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy được xác định là hợp pháp Quy định này nhằm mục đích phổ biến công trình NCKH đến công chúng thông qua hoạt động giảng dạy, NCKH, sử dụng có hiệu quả các tài sản trí tuệ của nhân loại, song việc khai thác không nhằm mục đích thương mại (Phi lợi nhuận).Việc xác định thế nào là “mục đích thương mại”còn mơ hồ vì sao chép hoặc sao chụp (photocopy) bán lại để thu lợi nhuận trực tiếp ( bán giá thấp hơn giá bìa thì người sao chụp lẫn người sử dụng đều có lợi ) Về lợi cá nhân, có thể thu lợi nhuận gián tiếp như cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục đã thu toàn bộ tiền của người học, có nghĩa vụ phải cung cấp tài liệu cho người học nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả tiền QTG hoặc tài liệu xuất bản mà lại sao chụp sách cho người học hoặc đánh máy lại in để sao chụp cho người học sử dụng nhằm giảm chi phí Trường hợp này cũng được xác định là có mục đích lợi nhuận mang tính chất gián tiếp.Trong thực tế, nhiều trường hợp sao chụp bán cho người học thấp hơn giá in trên bìa hoặc phát miễn phí cho người học là xâm phạm QTG, có mục đích thương mại (trực tiếp hoặc gián tiếp) Quy định của Luật SHTT và Nghị định hướng dẫn “tự sao chép” nghĩa là người cần nghiên cứu, giảng dạy sao chép một bản phục vụ cho chính mình Khi ý thức thực thi bảo hộ QTG kém thì việc xác định mục đích sử dụng rất khó minh bạch cần phải quy định cụ thể rõ ràng hơn về vấn đề sao chép cho mục đích cá nhân

- Trích dẫn hợp lý để bình luận hoặc minh họa trong công trình NCKH của mình hoặc để viết báo dùng trong ấn phẩm định kỳ hoặc để giảng dạy trong nhà trường, mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại [45]

Trang 26

Tuy nhiên, hạn chế QTG chỉ được thực hiện nếu thỏa mãn điều kiện khi hành vi đó không gây thiệt hại bất chính cho những quyền lợi hợp pháp của tác giả, CSH QTG không phương hại đến việc khai thác bình thường của công trình NCKH

1.3.2 Thực thi quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

Công ước Berne là công ước quốc tế về bản quyền lâu đời nhất Nó tạo nên yếu tố nền tảng và tương tác với các công ước và hiệp ước khác đặc biệt là Hiệp định TRIPs, Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC), các Hiệp ước về Internet (WCT, WPPT) Vì vậy, việc tiếp cận với CƯ Berne và các công ước, hiệp ước quốc

tế khác về bản quyền để có nhận thức đúng, hiểu biết đầy đủ, làm cơ sở cho hoạt động thực thi, khai thác các lợi ích bản quyền trên phạm vi toàn cầu là yêu cầu tất yếu của quá trình hội nhập.Việt Nam có tìm thấy lợi ích hài hòa đặt ra tại CƯ Berne

và các công ước, hiệp ước quốc tế khác về QTG trong quá trình thực thi, hội nhập hay không, điều đó tuỳ thuộc nhiều ở sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức phi chính phủ liên quan, đặc biệt là các tổ chức và cá nhân khai thác, sử dụng công trình NCKH (đến nay có 168 nước là thành viên của Công ước)[51]

Công ước Berne là công ước đầu tiên và là công ước nền tảng về QTG Các thủ tục bảo hộ QTG đối với các công trình NCKH cũng chưa được quy định trong công ước này

Quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được thắt chặt giữa các quốc gia thì xuất hiện nhiều vấn đề liên quan đến hàng giả và vi phạm bản quyền liên quan đến SHTT Đó trở thành một vấn đề rất quan trọng trong giao dịch thương mại trên cơ

sở sản phẩm được thương mại hóa trên thị trường TRIPs là một hiệp định đa phương, nằm trong hệ thống các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới Việc gia nhập WTO đồng nghĩa với việc bị ràng buộc bởi nghĩa vụ thi hành TRIPs [53]

Hiệp định TRIPs là văn bản “xương sống của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Hiệp định TRIPs bao gồm những nguyên tắc toàn diện nhất về thực thi quyền SHTT trên phạm vi toàn thế giới So với CƯ Berne cũng như nhiều công ước quốc tế khác về quyền SHTT, Hiệp định TRIPs thể hiện bước phát triển rất rõ ràng

Trang 27

dành phần III với 21 điều (từ Điều 41 đến Điều 61) quy định về thực thi quyền SHTT Các quy định này được xây dựng trên nguyên tắc tối thiểu và dành quyền quy định cụ thể cho các quốc gia thành viên Cùng với các quy định linh hoạt nhưng

cụ thể và cơ chế đảm bảo thực thi, Hiệp định TRIPs thực sự là công cụ hữu hiệu trong việc đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn cầu Theo quy định của Hiệp định, để đảm bảo thực thi quyền SHTT, quốc gia thành viên có thể áp dụng ba loại thủ tục là dân sự, hành chính và hình sự Các biện pháp cụ thể mà các quốc gia thành viên được áp dụng bao gồm: biện pháp khẩn cấp tạm thời, bồi thường thiệt hại, tiêu huỷ tang vật và kiểm soát hàng giả tại biên giới Tuy nhiên, các thủ tục đó phải được áp dụng bình đẳng, công bằng, không được phức tạp, tốn kém, tránh tạo ra hàng rào cản trở hoạt động thương mại hợp pháp và chống lại sự lạm dụng các thủ tục đó (khoản 1, 2, Điều 41 Hiệp định TRIPs) [33]

Hệ thống hành chính và hệ thống tòa án là bộ máy thực thi quyền tác giả Ngoài các cơ quan quản lý nhà nước còn các tổ chức dịch vụ, các tổ chức tư vấn tập thể cũng góp phần vào việc thực thi quyền tác giả đối với công trình NCKH Thay

vì tác giả tự quản lí quyền của mình - quản lí cá nhân trong nhiều trường hợp không hiệu quả bằng quản lí tập thể với tư cách là người sáng tạo, tác giả cần ưu tiên đầu

tư thời gian, vật chất, kể cả địa điểm thuận lợi cho lao động tư duy của mình Vì vậy, sự khai thông và thay thế cho quản lí cá nhân bằng quản lí tập thể là cách thức thỏa đáng Sự xuất hiện của giải pháp có lợi – quản lí tập thể cho cả người sáng tạo

và nhà sử dụng, cũng như nhu cầu của công chúng về việc được hưởng thụ sớm các công trình NCKH là lời giải của những mâu thuẫn “Quản lí tập thể” là kinh nghiệm lịch sử của nhân loại, bắt nguồn từ các nước có nền công nghiệp bản quyền phát triển, đã mở đường để đạt được sự hài hòa về lợi ích trong quan hệ giữa Người sáng tạo – Nhà sử dụng – Công chúng hưởng thụ [14],[42]

Pháp luật hiện hành của nước ta quy định ba loại phương thức được áp dụng

để thực thi QTG Cụ thể là phương thức dân sự, phương thức hành chính và phương thức hình sự

Trang 28

Phương thức dân sự

Tác giả, CSH QTG được quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền của mình khi bị xâm hại; tranh chấp về QTG được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (tại điều 44 Nghị định 100/NĐ-CP/2006 )

Thủ tục tố tụng dân sự cho phép tác giả, CSH QTG của công trình NCKH được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận quyền của mình; buộc người có hành vi xâm phạm QTG chấm dứt hành vi xâm phạm và buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại

Phương thức hành chính

Phương thức này ghi nhận trong Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và Nghị định 131/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 16/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan; Đối với phương thức hành chính, các biện pháp bảo vệ quyền của chủ thể bị xâm phạm QTG rất phong phú Cụ thể bao gồm: phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh; tịch thu tang vật, phương tiện xâm phạm hành chính; buộc loại bỏ các yếu tố xâm phạm trên sản phẩm, hàng hoá, phương tiện kinh doanh; buộc bồi thường thiệt hại do xâm phạm hành chính gây ra; buộc tiêu huỷ hàng hoá xâm phạm có chất lượng kém gây thiệt hại cho sức khoẻ con người Trong đó, hình thức xử phạt chính là phạt tiền [49] Trong số các biện pháp hành chính, Biện pháp kiểm soát biên giới là biện pháp quan trọng [21] Nghị định 131/2013/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một

số hành vi vi phạm; điều chỉnh mức phạt tiền, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả để phù hợp với thực tiễn và các quy định mới của Luật Xử

lý vi phạm hành chính 2012 Mức xử phạt, hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Nghị định đủ sức giáo dục và răn đe

Phương thức hình sự

Khi hành vi xâm phạm QTG của cá nhân, tổ chức là hành vi nguy hiểm cho

xã hội thì cá nhân, tổ chức đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Thông thường, hành vi xâm phạm QTG bị xử lý hình sự nếu trước đó đã bị xử lý hành chính

Trang 29

Khi bị xử lý hình sự, chủ thể xâm phạm QTG có thể bị phạt tiền, cảnh cáo, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định hoặc bị cấm hành nghề nhất định trong một thời gian và hình phạt cao nhất họ có thể phải gánh chịu là phạt tù

Trong hệ thống các cơ quan đảm bảo thực thi quyền SHTT nói chung, QTG nói riêng, bên cạnh các cơ quan nhà nước, cần phải kể đến vai trò của các tổ chức quản lý tập thể như: Trung tâm QTG trong các lĩnh vực khác nhau Tuy việc bảo hộ QTG ở nước ta đã được chú trọng nhưng tình hình vi phạm vẫn còn rất cao đòi hỏi chúng ta cần phải nổ lực nhiều hơn nữa Tình trạng vi phạm QTG như chiếm đoạt QTG hay mạo danh tác gỉả hoặc sử dụng mà không được sự đồng ý của tác giả CSH QTG, không trả tiền nhuận bút thù lao, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin thì việc sao chép photocopy trên mạng là rất phổ biến

1.4 Cơ sở pháp lý về bảo hộ quyền tác giả

1.4.1 Pháp luật Việt Nam

Theo PLVN, bảo hộ QTG được điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm:

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009;

Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Pháp lệnh Quảng cáo cũng có một số điều khoản quy định về QTG, nhằm tăng cường quản lí ở các lĩnh vực đặc biệt quan trọng này;

Luật Hải quan 2005 đã có quy định các biện pháp bảo hộ tại biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến SHTT;

Luật xử lý phạt vi phạm hành chính 2012;

Luật công nghệ thông tin 2006;

Luật chuyển giao công nghệ 2006;

Luật Đầu tư 2005;

Trước thời điểm Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 có hiệu lực, BLDS 2005 bao gồm một số điều khoản quy định về SHTT trong đó có QTG nhưng trong thực tế không được áp dụng bới Luật SHTT đã phát huy hiệu quả điều chỉnh của nó BLDS

2015 không còn điều khoản nào quy định liên quan đến SHTT cũng như QTG;

Trang 30

Bộ luật hình sự 2015 đã được thông qua nhưng do trục trặc kỹ thuật nên đã

bị lùi thời hạn có hiệu lực để sửa đổi nên hiện tại vẫn áp dụng BLHS 2009 (sửa đổi

bổ sung);

Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; được sữa đổi bổ sung bởi Nghị định số 85/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 20/9/2011;

Nghị định 131/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 16/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan; Nghị định gồm

4 chương, 43 điều sửa đổi, bổ sung một số hành vi vi phạm; điều chỉnh mức phạt tiền, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả để phù hợp với thực tiễn và các quy định mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;

Nghị định 18/2014/NĐ-CP quy định về chế độ nhuận bút trong báo chí và xuất bản ngày 14/3/2014 của chính phủ;

Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản

lý nhà nước về SHTT được sửa đổi bổ sung Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010;

Thông tư số 29/2009/TT-BTC ngày 10/02/2009 của Bộ tài chính quy định về mức thu, chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền tác giả quyền liên quan;

Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL ngày 19/6/2012 quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trung gian trong việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng Internet và mạng viễn thông;

Thông tư số 15/2012/TT-BVHTTDL ngày 13/12/2012 hướng dẫn hoạt động giám định quyền tác giả, quyền liên quan;

Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ tài chính quy định về kiểm tra giám sát tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ kiểm soát hàng giả hàng hóa xâm phạm

sở hữu trí tuệ;

Trang 31

1.4.2 Pháp luật quốc tế

Ngoài các quy định của PLVN, việc bảo hộ QTG đối với các công trình NCKH còn có thể được điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế đa phương, song phương quan trọng mà Việt Nam đã là thành viên trong lĩnh vực này như:

Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1886 (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26/10/2004);

Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 11/01/2007);

Hiệp định giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả ngày 27/6/1997;

Hiệp định thương mại (BTA) giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày 13/7/2000;

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh Việt Nam chưa gia nhập một số điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh QTG, trực tiếp điều chỉnh vấn đề bảo hộ QTG trong môi trường số: Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả (WCT, có hiệu lực

từ ngày 06/3/2002) được ký kết nhằm làm rõ một số quy định của CƯ Berne về bảo

hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật trong môi trường số, ví dụ làm rõ hơn về quyền sao chép, quyền truyền đạt tác phẩm trong môi trường số Đồng thời, Công ước này cũng bổ sung thêm một số quyền của tác giả, quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc bảo hộ QTG trong môi trường số [20],[2]

Mặc dù PLVN còn một số điểm chưa thực sự phù hợp với quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, nhưng đánh giá một cách khách quan, pháp luật SHTT

và các văn bản pháp luật liên quan của Việt Nam cũng được coi là phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Và trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên với quy định của PLVN, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam cũng như Điều 5 Luật SHTT Việt Nam khẳng định nguyên tắc cho phép áp dụng quy định của điều ước quốc tế Điều này thực sự đã tạo được cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ QTG

Trang 32

nói riêng, quyền SHTT nói chung tại Việt Nam Cho đến nay, các quy định của PLVN về QTG cơ bản phù hợp với các Công ước Quốc tế về QTG, đặc biệt là với Hiệp định TRIPs và CƯ Berne Việt Nam phải đầu tư nhiều nguồn lực mới bảo đảm thi hành tốt các cam kết trong khuôn khổ TRIPs và các điều ước đa phương, song phương mà Việt Nam là thành viên

Sự hội nhập quốc tế làm cho các quốc gia xích lại gần nhau hơn về mọi lĩnh vực, trong đó có pháp luật Sự phát triển của khoa học, công nghệ làm cho QTG trở thành vấn đề toàn cầu Nhờ có hệ thống viễn thông hiện đại, các công trình NCKH

có thể được chuyển tải từ phía bên này sang phía bên kia của thế giới Công nghệ thông tin giúp con người khai thác hiệu quả những thành quả sáng tạo thể hiện dưới dạng các công trình NCKH, đồng thời chính công nghệ thông tin cũng tạo ra nhiều

cơ hội hơn cho sự vi phạm QTG [43,tr.80]

Kết luận chương 1

Quyền tác giả là một trong các bộ phận cấu thành nên quyền SHTT Pháp luật của các quốc gia, các điều ước quốc tế đều đã quan tâm nhiều đến việc bảo hộ quyền tác giả nhằm ngăn chặn tình trạng vi phạm bản quyền có xu hướng ngày càng gia tăng không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả ở những nước phát triển

Những vấn đề lý luận về QTG, bảo hộ QTG nói chung đối với công trình NCKH nói riêng được trình bày trong chương này sẽ là những tiền đề cho việc đánh giá thực trạng về quyền tác giả đối với công trình NCKH tại Đại học Y Dược Tp.HCM tại chương 2 và sẽ gợi mở cho những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về QTG ở Việt Nam nói chung và QTG đối với công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM nói riêng trong bối cảnh hội nhập toàn cầu tại chương 3

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC Y DƯỢC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Đặc điểm các công trình nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và các yêu cầu bảo hộ quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học (NCKH) cũng là công cụ quan trọng để định hướng cho công tác giáo dục Ở Việt Nam phần lớn NCKH không xuất phát từ trường đại học Đây được xem là điểm yếu của các trường đại học trong việc đóng góp vào sáng tạo tri thức NCKH có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học vì không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những tri thức mới, phục vụ cho sự phát triển của nhân loại Chỉ thị 296/CT-TTg cũng nêu rõ “Nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả công tác NCKH ở các trường đại học, góp phần tích cực nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” [34]

Thực tiễn trong các trường đại học, cao đẳng hoạt động NCKH là con đường hiệu quả nhất để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phát triển năng lực sư phạm của mỗi người làm công tác giảng dạy và giáo dục NCKH là một trong hai tiêu chí chính để đánh giá chất lượng của nhà trường trong việc nâng cao, đảm bảo chất lượng của quá trình đào tạo Mối quan hệ giữa đào tạo và NCKH là mối quan

hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết có tác dụng tương hỗ, thúc đẩy nhau cùng phát triển

Theo quyết định 64/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giảng viên mỗi năm phải đảm bảo 900 giờ giảng dạy, 500 giờ NCKH PGS và giảng viên chính là 900 giờ giảng dạy, 600 giờ NCKH GS và giảng viên cao cấp là 900 giờ giảng dạy, 700 giờ NCKH [3] ĐHYD TP HCM NCKH được xem là nhiệm vụ bắt buộc và là một tiêu chí đánh giá lao động của giảng viên NCKH là một trong hai nhiệm vụ quan trọng của giảng viên đại học - là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ phát triển kinh tế -xã

Trang 34

hội tại khu vực phía nam và cả nước Hằng năm với số lượng lớn các đề tài NCKH

có giá trị thực tiễn, hệ thống giáo trình và sách chuyên khảo y khoa nhằm phục vụ cho việc giảng dạy và NCKH SHTT là một phần không thể thiếu trong công tác NCKH, song tại ĐHYD, hoạt động này vẫn chưa được quan tâm đúng mức vẫn còn khá mới cán bộ, giảng viên và sinh viên chưa có điều kiện tiếp cận và chưa có sự hiểu biết đầy đủ về hoạt động SHTT Do đó các kết quả nghiên cứu, các sản phẩm trí tuệ của cá nhân và tập thể nhà trường bị xâm phạm đã làm thất thoát đi một lượng lớn về tài sản trí tuệ cho nhà trường, cũng như các nhà sáng tạo khoa học

2.1.1 Đặc điểm các công trình nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trong những năm qua, hoạt động NCKH của ĐHYD TP.HCM được đầu tư với khoản kinh phí hằng năm từ nguồn ngân sách nhà nước Hoạt động NCKH đã góp phần bồi dưỡng đội ngũ, nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa NCKH với giảng dạy và hoạt động NCKH của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Chất lượng hoạt động NCKH, thái

độ tham gia của giảng viên phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức trong hoạt động NCKH của giảng viên họ đều nhận thức rằng hoạt động NCKH giữ một vai trò rất quan trọng.Về động cơ, mục đích khi tham gia NCKH của giảng viên là để nâng cao trình độ chuyên môn, phục vụ công tác giảng dạy là ứng dụng lý luận vào thực tiễn giảng dạy, nâng cao và mở rộng tầm hiểu biết, phát hiện những tri thức mới trong chuyên môn và hình thành thói quen làm việc khoa học Mặt khác, đối với họ, động

cơ NCKH còn là khoa học, là tri thức, phục vụ cho lòng đam mê, cho khoa học và cho nghề nghiệp Đặc biệt, trong các tiêu chuẩn xét công nhận các chức danh giáo

sư, phó giáo sư, các công trình NCKH là một thành phần rất quan trọng, tổng điểm công trình từ bài báo, sách, giáo trình chiếm tỷ lệ lớn

Trong những năm trở lại đây, mặc dù kinh phí cho NCKH được cải thiện đáng kể nhưng vẫn rất nhỏ so với nhu cầu nghiên cứu, trang thiết bị nghiên cứu còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu, khiến cho việc thực hiện hoạt động NCKH của giảng viên gặp khó khăn Hơn nữa, chưa có một chính sách thực sự động viên, tạo động lực cho giảng viên nghiên cứu, vấn đề xâm phạm QTG ngày càng phổ biến

Trang 35

Trên thực tế giảng viên thích đi dạy hơn Các đề tài NCKH không được cán bộ giảng viên chú trọng Chưa kể công trình NCKH bị xâm phạm QTG, sao chép công khai…nên việc thương mại hóa kết quả NCKH không được ứng dụng cao trên thực

tế

Có thể phân chia NCKH: nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu cơ bản thì ĐHYD TP.HCM thuộc dạng nghiên cứu cơ bản 82.5% là chủ yếu, còn một ít ở khoa Dược và khoa Y học Cổ truyền nghiên cứu thực nghiệm trên xúc vật 5.2% và nghiên cứu ứng dụng 12,3% [30] Sự có mặt của nghiên cứu y học Việt Nam trên trường quốc tế rất hạn chế vì phần lớn chỉ công bố trên tạp chí y học trong nước Hàng năm, tại ĐHYD Tp.HCM có khoảng hơn 400 đề tài NCKH nhưng

số lượng kết quả đề tài NCKH ứng dụng trong thực tế nhằm khai thác thương mại hầu như hiếm ĐHYD TP.HCM là đơn vị hành chính sự nghiệp công lập sử dụng nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho công tác NCKH nên CSH QTG vẫn thuộc về nhà trường, sản phẩm của hoạt động NCKH là hết sức đa dạng về cả nội dung và hình thức thể hiện như : bài giảng, sách giáo trình, sách chuyên khảo, đề tài NCKH,

đề cương, đề án, báo cáo, tham luận, phần mềm… liên quan đến lĩnh vực y khoa và các lĩnh vực khác…, nhưng vấn đề bảo hộ QTG ít được quan tâm nên khả năng thương mại hóa lại không phát huy, càng hiếm thấy được công bố trên tạp chí y học quốc tế

Đặc điểm các công trình NCKH như: đề tài NCKH, đề cương, đề án, báo cáo, tham luận… tại ĐHYD TP.HCM chủ yếu là nghiên cứu mô tả thuần túy nên chưa thể đào sâu phân tích về bệnh lý, lâm sàng, chẩn đóan bệnh hay nghiên cứu thuốc thảo dược nên giá trị khoa học không cao không ứng dụng được trên thực tế, làm hạn chế khả năng thương mại Về bài giảng, sách giáo trình, sách chuyên khảo đây là những công trình NCKH được hình thành theo hình thức đặt hàng hoặc thực hiện nghĩa vụ lao động của nhà trường nên CSH vẫn là nhà trường, nhưng việc phân định quyền và nghĩa vụ của tác giả và CSH không rõ ràng chồng lấn xâm phạm lẫn nhau Mặc dù đây là những công trình NCKH có giá trị kinh tế rất cao vì đó là những công trình NCKH được hình thành bởi đội ngũ cán bộ giảng viên uy tín với

Trang 36

bề dày kinh nghiệm trong ngành y dược thuộc trường đại học hàng đầu các tỉnh phía nam nói riêng và cả nước nói chung, vấn đề bảo hộ QTG bị lãng quên làm cho QTG

bị xâm phạm phổ biến và rộng khắp, làm giảm khả năng thương mại, giảm tinh thần đam mê khoa học, gây thiệt hại kinh tế cho nhà trường Nhiều nguyên nhân đã được đưa ra để lý giải cho hiện trạng này như: thiếu thiết bị hiện đại, thiếu đầu ra cho các kết quả nghiên cứu, văn bản hướng dẫn không đồng bộ Các văn bản pháp quy quản lý hoạt động NCKH của các trường đại học, cao đẳng chưa được ban hành đầy đủ và kịp thời SHTT nói chung, QTG nói riêng vẫn còn khá mới với giảng viên, sinh viên tại ĐHYD Tp HCM Những quy định hướng dẫn chi tiết cụ thể về QTG chưa được ban hành tại ĐHYD TP.HCM Điều này dẫn đến tình trạng xâm phạm quyền SHTT, đặc biệt là QTG trong trường vẫn còn phổ biến Việc thương mại hoá các kết quả nghiên cứu của các giảng viên và sinh viên ở trường còn hạn chế do công tác QTG trong trường ĐHYD TP.HCM nhiều năm qua chưa được chú

ý, chưa có chính sách khuyến khích, chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi, tham mưu, tư vấn và hướng dẫn cho những nhà NCKH cũng như nhà trường trong việc bảo vệ và khai thác quyền QTG Tất cả điều đó làm hạn chế hoạt động NCKH của giảng viên ĐHYD TP.HCM và hạn chế khả năng bảo hộ QTG và làm hạn chế luôn khả năng thương mại các kết quả NCKH đó

Vấn đề nhận thức QTG nhà trường với tư cách là CSH QTG và người nghiên cứu với tư cách là tác giả hầu như không hiểu gì về quyền và nghĩa vụ của mình hoặc là biết không đầy đủ về đặc quyền của mình nên khi bị xâm phạm không yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hoặc kiện đòi bồi thường….hơn nữa, các chủ thể quyền còn cố tình xâm phạm quyền lẫn nhau vì không có chế tài ràng buộc nên vẫn vô tư

vi phạm trong hoạt động khai thác bảo hộ QTG Thực tế đề tài NCKH trong trường chủ yếu là để đối phó, để hoàn thành nhiệm vụ trong trường chứ chưa thật sự có định hướng thương mại các kết quả nghiên cứu và chưa ý thức được trong việc bảo

hộ, thực thi QTG

Trang 37

2.1.2 Các yêu cầu bảo hộ quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học

QTG đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ NCKH và chuyển giao công nghệ, các nhà khoa học cần phải "sống" bằng kết quả nghiên cứu, bằng công nghệ do mình tạo ra Tình trạng vi phạm quyền QTG gây ra tâm lý chán nản, mất động lực cho người nghiên cứu và làm ảnh hưởng đến việc phát triển công nghệ, kinh tế của trường [1, tr 9-17] Kinh nghiệm quốc tế trong việc bảo hộ quyền SHTT cho thấy, tại các quốc gia mà trình độ nhận thức của công chúng về SHTT càng cao thì tình trạng vi phạm quyền SHTT càng thấp và đó là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng về kinh tế – xã hội

Các chuyên gia của tổ chức SHTT thế giới (WIPO) đã đưa ra nhận định rằng SHTT là một “công cụ có khả năng” phát triển kinh tế và tạo ra của cải chưa được

sử dụng với hiệu quả tối ưu tại tất cả các nước, đặc biệt là trong thế giới đang phát triển.[44]

Nhu cầu về SHTT nói chung QTG nói riêng tại ĐHYD có thể được xem xét dưới nhiều góc độ:

- Nâng cao nhận thức về hoạt động bảo hộ SHTT nói chung QTG nói riêng đối với công trình NCKH tại trường

- Khai thác các tiềm năng SHTT nói chung QTG nói riêng tại trường hướng tới chuyển giao công nghệ cho đơn vị có nhu cầu

SHTT liên quan đến các chương trình giảng dạy trong các trường đại học Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã và đang triển khai công tác đào tạo nâng cao hiểu biết của xã hội về SHTT theo 3 nội dung chính: đào tạo đội ngũ cán bộ phụ trách SHTT; đào tạo SHTT ở các trường đại học và tổ chức các chương trình nâng cao nhận thức về SHTT cho cộng đồng [8]

Thực tiễn tại ĐHYD TP.HCM hiện nay cho thấy những hiểu biết của đại đa

số giảng viên, sinh viên, học viên về lĩnh vực SHTT còn quá ít ỏi và khiêm nhường Chưa có đội ngũ cán bộ chuyên trách, chưa hình thành bộ phận chức năng về SHTT dẫn đến thiếu các hoạt động, các chương trình nhằm nâng cao nhận thức, tuyên truyền về vấn đề bảo hộ SHTT trong nhà trường

Trang 38

Trong thời gian gần đây, nhiều hành vi xâm phạm QTG trong các lĩnh vực biên soạn giáo trình, luận văn, luận án, NCKH xảy ra ở một số trường đã gây bức xúc trong giới khoa học và dư luận xã hội như vấn đề luận văn, luận án, bài báo cáo được rao bán công khai với giá bèo trên các trang mạng Việc thiếu dẫn nguồn, không ghi chú, trích dẫn tài liệu trong các công trình nghiên cứu đã xảy ra từ nhiều năm nay.Về việc sao chép giáo trình, bài báo, báo cáo khoa học …trên thực tế khi dịch vụ in ấn phát triển để đáp ứng, thì nhu cầu về sao chép đã phát triển và phổ biến Sao chép có thể là hành vi chỉ làm một bản, và quyền này chỉ thuộc về CSH QTG độc quyền thực hiện Tuy nhiên trên thực tế quyền này bị xâm phạm nghiên trọng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của CSH QTG

Tại ĐHYD TP.HCM, sinh viên tự do, vô tư sử dụng sách, giáo trình, tài liệu học tập photocopy do trường làm CSH mà không có sự cho phép của nhà trường Xung quanh trước các cổng trường thậm chí ngay trong khuôn viên nhà trường tại các tiệm photocopy tài liệu luôn luôn sẵn sàng, mọi lúc, mọi nơi, với tất cả những tài liệu, sách, giáo trình học tập, tham khảo, thậm chí đề cương ôn tập, đề thi các năm trước, đáp án, ngân hàng câu hỏi… phục vụ cho thi cử đều được photocopy bán giá cạnh tranh rất công khai, nhộn nhịp đây là hành vi xâm phạm QTG ngay trước mặt tác giả, CSH QTG mà không bị một chế tài nào ràng buộc, nhà trường – CSH QTG thì buông xuôi đứng ngoài cuộc vì chưa có quy định cụ thể nào trong nhà trường về việc sử dụng sách photocopy thuộc trường sở hữu còn tác giả thì bất lực vì chính CSH còn không can thiệp thì tác giả không có tư cách gì lên tiếng điều

đó đã làm mất một phần không nhỏ về thù lao nhuận bút của tác giả hơn nữa, chưa

có đơn vị, phòng ban chuyên trách nào trong nhà trường đại diện hỗ trợ pháp lý, tư vấn cho việc bảo hộ QTG trước hành vi bị xâm phạm và phân chia lợi ích khi khai thác quyền này Ví dụ: Trường hợp giảng viên khi lên lớp ngay buổi đầu tiên, thường giới thiệu các đầu sách tham khảo và giáo trình bài giảng cho sinh viên, học viên, nhưng chưa kịp giới thiệu thì đã thấy không ít trong lớp học, xuất hiện sách photocopy, thậm chí cả sách của chính tác giả là giảng viên của buổi học hôm đó [54], điều đó đã làm giảm đi nhiệt huyết NCKH, viết sách, cống hiến tri thức cho xã

Trang 39

hội, vì cống hiến của họ bị xem thường, bị xâm phạm trầm trọng Nếu như không giải quyết triệt để, thấu tình, đạt lý thì nguồn tri thức sẽ bị lụi tàn Trường hợp này

có thể xem là nhằm mục đích nghiên cứu không? Vì học tập cũng là hình thức nghiên cứu Đối với một số nước quy định sao chép cho mục đích giảng dạy trong việc photocopy phát cho sinh viên là hợp pháp (điều 107 Luật bản quyền Hoa Kỳ [11])

Xuất bản được coi là “bà đỡ” của công trình NCKH công bố dưới hình thức xuất bản phẩm [13, tr.16] Việc in ấn mà không có văn bản đồng ý của tác giả và CSH QTG diễn ra thường xuyên, tình trạng “xào xáo”, sao chép từ tài liệu, sách báo của nhau ngay trong chính giới làm công tác NCKH, sưu tầm, biên soạn, tuyển chọn Hành vi xâm hại QTG trường hợp này thường thể hiện trong các loại hình sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu giảng dạy, sách tham khảo, đọc thêm, công trình NCKH từ điển, thuật ngữ và các loại sách tra cứu khác hoặc trường hợp dịch sách không xin phép tác giả…ngoài ra còn có trường hợp nhà xuất bản đã sửa chữa, thay đổi nội dung, hình thức công trình NCKH khi xuất bản mà không được sự đồng ý của tác giả là đã vi phạm nghiêm trọng quyền bảo vệ sự vẹn toàn công trình NCKH của tác giả được pháp luật bảo vệ, ngay cả các tác giả cũng sao chép nội dung của nhau biến tấu thành cái mới, nhưng không phải mới, trong trường hợp trích dẫn quên ghi tên tác giả gốc và dẫn nguồn, tự biến thành hiển nhiên của mình làm cho vấn đề thực thi bảo hộ QTG kém hiệu quả Mặt khác, các tác giả còn bị xâm hại quyền cho phép khai thác, sử dụng công trình NCKH trong việc bị in quá số lượng cho phép dẫn đến quyền được hưởng nhuận bút của tác giả cũng bị ít nhiều ảnh hưởng

Thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước bằng pháp luật về QTG Đây là hoạt động nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh trên thực tế Nhưng lực lượng thanh tra, kiểm tra hoạt động về SHTT nói chung, QTG nói riêng trong nhà trường chưa được hình thành Về nhận thức vai trò vị trí của QTG trong NCKH chưa cao, việc tổ chức tham mưu, tư vấn đăng kí QTG và hỗ trợ hướng dẫn bảo vệ QTG chưa có đơn vị

Trang 40

phòng ban nào đảm trách nên hành vi xâm phạm ngày càng nhiều và công khai đồng thời gây khó khăn cho tác giả, CSH trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, gây thiệt hại hoang man mất lòng tin và giảm nhiệt huyết trong công tác NCKH cống hiến cho xã hội nguồn tri thức mới

2.2 Thực trạng xác lập quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Công trình NCKH cần được ghi nhận và xác lập QTG một cách kịp thời và đầy đủ Mặc dù việc xác lập QTG là tự động, việc nộp đơn để được cấp giấy chứng nhận đăng ký QTG không phải là thủ tục bắt buộc tuy nhiên đăng ký để tránh phải mất thời gian, công sức, chi phí để chứng minh ai là CSH QTG Theo điều 10 quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT [6] là “đăng ký để giảm thiểu nghĩa vụ chứng minh” thì việc đăng ký QTG này là việc nên làm nhất là khi thủ tục đăng ký QTG tương đối đơn giản và không yêu cầu thẩm định về mặt nội dung [27, tr.268]

Công trình NCKH tại ĐHYD TP.HCM thuộc quyền sở hữu nhà trường vì đây là đơn vị hành chính sự nghiệp, nhà nước cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu từ ngân sách nhà nước và công trình NCKH được sáng tạo ra theo nhiệm vụ được giao nên trường là đơn vị tiến hành các hoạt động xác lập QTG và lưu giữ bảo

vệ chứng cứ phát sinh QTG Việc nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký QTG không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả Tuy nhiên, đây lại là thủ tục cần thiết Việc đăng ký không phải nhằm mục đích xác lập quyền mà

có những lợi ích sau[22,tr.4]:

Một là, trường hợp các chủ thể quyền thực hiện việc đăng ký các quyền của mình tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại

Hai là, thông tin liên quan đến đăng ký QTG, được ghi nhận và công bố công khai trên “Niên giám đăng ký quyền tác giả Việt Nam’’ hàng năm, và được đưa lên website của Cục bản quyền tác giả Thông tin về QTG, được công bố công khai rất thuận tiện cho việc tra cứu, liên hệ để khai thác, sử dụng công trình NCKH, tránh được những hành vi khai báo gian dối Qua thông tin đăng ký, công chúng còn được tiếp cận với kho tài sản trí tuệ của nhân loại, phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu,

Ngày đăng: 30/05/2017, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quản Tuấn An, (2009), Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn cao học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Quản Tuấn An
Năm: 2009
2. Nguyễn Thị Quế Anh (2008), Nhu cầu về đào tạo sở hữu trí tuệ trong các trường đại học ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật (số 24), tr.9-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu về đào tạo sở hữu trí tuệ trong các trường đại học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Anh
Năm: 2008
3. Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo (2009), Bảo hộ QTG và quyền liên quan ở Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ QTG và quyền liên quan ở Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
Năm: 2009
4. Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo (2008), Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo về Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo về Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên
Tác giả: Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
Năm: 2008
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT ngày 29/12/2008 cuả Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về quản lý hoạt động SHTT trong cơ sở giáo dục và đại học đã được ban hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT ngày 29/12/2008 cuả Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về quản lý hoạt động SHTT trong cơ sở giáo dục và đại học đã được ban hành
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
6. Bộ Tư Pháp (2005), Bình luận về quyền tác giả theo Pháp luật Việt Nam, NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận về quyền tác giả theo Pháp luật Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2005
7. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), Báo cáo số 64/BC-BVHTTDL ngày 13/4/2012 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổng kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 64/BC-BVHTTDL ngày 13/4/2012 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổng kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2012
8. Cục Bản quyền tác giả (2000), Luật Quyền tác giả, quyền liên quan Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quyền tác giả, quyền liên quan Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Tác giả: Cục Bản quyền tác giả
Năm: 2000
9. Cục Bản quyền tác giả (2005), Bảo hộ Quyền tác giả, quyền liên quan ở Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ Quyền tác giả, quyền liên quan ở Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Cục Bản quyền tác giả
Năm: 2005
10. Cục bản quyền tác giả (2006), Tổng hợp số liệu đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan kèm theo báo cáo tổng kết từ 2006-2010 của Cục bản quyền tác giả, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp số liệu đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan kèm theo báo cáo tổng kết từ 2006-2010
Tác giả: Cục bản quyền tác giả
Năm: 2006
11. Cục Bản quyền tác giả (2012), Báo cáo tổng kết công tác năm 2012, kết quả thực hiện nhiệm vụ 5 năm (2007-2012), chương trình công tác năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2012, kết quả thực hiện nhiệm vụ 5 năm (2007-2012), chương trình công tác năm 2013
Tác giả: Cục Bản quyền tác giả
Năm: 2012
12. Cục Bản quyền tác giả (2015), Báo cáo tổng kết năm 2015, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2015
Tác giả: Cục Bản quyền tác giả
Năm: 2015
13. Cục Sở hữu trí tuệ (2005), Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Chính sách, Pháp luật và Áp dụng, NXB (bản dịch), Cục Sở hữu trí tuệ phát hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Chính sách, Pháp luật và Áp dụng
Tác giả: Cục Sở hữu trí tuệ
Nhà XB: NXB (bản dịch)
Năm: 2005
14. Chính phủ (2008), kỷ yếu Hội nghị tổng kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỷ yếu Hội nghị tổng kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
15. Vũ Mạnh Chu (1997), Đổi mới và hoàn thiện pháp luật xuất bản theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB, Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và hoàn thiện pháp luật xuất bản theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Vũ Mạnh Chu
Năm: 1997
16. Vũ Mạnh Chu (2009), Bài viết Kiến thức cơ bản phổ thông về quyền tác giả, quyền liên quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài viết Kiến thức cơ bản phổ thông về quyền tác giả, quyền liên quan
Tác giả: Vũ Mạnh Chu
Năm: 2009
17. Lê Thị Nam Giang (2009), nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội trong bảo hộ quyền SHTT , ta ̣p chí khoa học pháp lý, (sô ́ 02), tr.1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội trong bảo hộ quyền SHTT
Tác giả: Lê Thị Nam Giang
Năm: 2009
18. Lê Thị Nam Giang (2010), Tư pháp Quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp Quốc tế
Tác giả: Lê Thị Nam Giang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2010
19. Nguyễn Bích Hà (2015), Những vấn đề pháp lý và thực tiễn bảo hộ quyền tác giả trên Internet theo quy định của điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề pháp lý và thực tiễn bảo hộ quyền tác giả trên Internet theo quy định của điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Năm: 2015
20. Trần văn Hải, (2009), Chương trình máy tính nên được bảo hộ là đối tượng nào của quyền SHTT, Tạp chí hoạt động khoa học, Bộ khoa học và Công nghệ, (số 597) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình máy tính nên được bảo hộ là đối tượng nào của quyền SHTT
Tác giả: Trần văn Hải
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm