Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu: "Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá Định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TẤN TÀI
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TẤN TÀI
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI – 2017
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG 6
1.1 Tổng quan về hành chính công 6
1.2 Nội dung tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công 25
1.3 Kinh nghiệm tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công 33
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỘNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 40
2.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công tại tỉnh Bình Dương40 2.2 Các giải pháp tăng cường tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công ở Việt Nam hiện nay 62
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 4HĐND : Hội đồng nhân dân
KH&CN : Bộ Khoa học và Công nghệ
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.1 Các điểm so sánh sự khác nhau giữa hành chính công và hành chính tư 10 Hình 1.2 Nội dung tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công 33 Hình 2.1 Tình hình tổng hợp thụ lý hồ sơ những tháng cuối năm 2016 47 Hình 2.2 Tổng hợp kết quả xử lý hồ sơ tỉnh Bình Dương năm 2016 47 Hình 2.3 Kết quả điều tra, khảo sát về thực trạng xây dựng kế hoạch tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh Bình
Dương giai đoạn 2010 – 2016 48 Hình 2.4 Kết quả điều tra, khảo sát về thực trạng tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn
2010 – 2016 50 Hình 2.5 Giao diện tra cứu hồ sơ, đăng ký nhận kết quả tại nhà Trung tâm Hành chính công tỉnh Bình Dương 54 Hình 2.6 Kết quả điều tra, khảo sát về thực trạng kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2010 – 2016 55 Hình 2.7 Kết quả điều tra, khảo sát về thực trạng đánh giá kết quả tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh Bình
Dương giai đoạn 2010 – 2016 57
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hành chính công (HCC), hay còn gọi là hành chính nhà nước, là lĩnh vực hoạt động gắn liền với hoạt động của nhà nước, là tiến trình mà theo đó các nguồn lực công và nhân sự được tổ chức và phối hợp để thiết kế, thực hiện và quản lý các chính sách công của các quốc gia Hành chính công là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là sự tác động có tổ chức và là sự điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước tới các quá trình xã hội và hành vi của con người thông qua việc các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành
Hành chính công có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoả mãn nhu cầu hợp pháp của công dân, từ đó xây dựng và phát triển đất nước Vì vậy, việc tổ chức và hoạt động dịch
vụ hành chính công sao cho hiệu quả tối ưu là rất cần thiết và quan trọng đối với bất
cứ quốc gia hay địa phương nào, nhất là trong điều kiện cải cách nền hành chính hiện nay Trong thời kỳ hội nhập phát triển kinh tế hiện nay, công cuộc cải cách hành chính là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết để thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp lấy dân làm gốc Cải cách hành chính đã và đang là vấn đề mang tính toàn cầu ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển Cải cách hành chính được xem là động lực mạnh mẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển dân chủ và mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, quá trình cải cách hành chính được tiến hành đồng thời với quá trình đổi mới đất nước Quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam được khởi đầu từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 Từ những yêu cầu đổi mới của tình hình kinh tế - xã hội của thập niên
80, Đại hội VI đã chỉ đạo tiến hành một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, đây là một công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành chính nhà nước trong thời kỳ mới,
có nhiều vấn đề phải vừa làm, vừa tìm tòi rút kinh nghiệm Vì vậy, việc hình thành quan niệm và những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính cũng
Trang 7như việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo không ngừng, là một quá trình nhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới
Vấn đề cải cách hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã trở thành một vấn đề hết sức cấp bách và trọng yếu của đất nước trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo Trải qua nhiều năm cùng với những bước đi và lộ trình khác nhau công cuộc cải cách hành chính cũng đã thu được những thành tựu đáng kể, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, có thể nhận thấy quá trình cải cách hành chính còn nhiều hạn chế, nền hành chính vẫn trì trệ chưa đáp ứng được các đòi hỏi của sự phát triển xã hội
Tỉnh Bình Dương là một trong những tỉnh xác định được tầm quan trọng của công tác tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công nên trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu góp phần hoàn thiện tổ chức và hoạt động dịch vụ công trong tỉnh Tuy nhiên, bên cạnh đó, những thiếu xót là không tránh khỏi Đó là những hạn chế liên quan đến các nội dung tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công, nhân sự thực hiện hành chính công, quy trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công … và nhiều vấn đề liên quan khác Đứng trước những điều này đòi hỏi phải đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động dịch
vụ hành chính công tại Bình Dương trong những năm tới
Trên cơ sở nhìn nhận thực tế khách quan tại tỉnh Bình Dương và mong muốn
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công tại Bình Dương trong những năm tới, tác giả lựa chọn đề tài "Tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công từ thực tiễn tỉnh Bình Dương" làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, để tăng cường năng lực quản lý của nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập
Trang 8kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương cải cách hành chính một cách mạnh mẽ, toàn diện Cải cách hành chính nhằm góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả Trên cơ sở đó làm cho bộ máy nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng
và tổ chức tốt việc điều hành, quản lý đất nước thông suốt, tạo điều kiện cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Đây là việc làm không đơn giản, đòi hỏi trong quá trình cải cách hành chính phải tính toán kỹ lưỡng, lựa chọn chính xác tập trung giải quyết từng bước các vấn đề để tạo sự chuyển biến vững chắc theo chiều sâu, đồng thời phải làm sao cải cách hành chính vừa là nền tảng và cũng vừa là động lực để phát triển đất nước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chức
và hoạt động dịch vụ hành chính công từ thực tiễn tỉnh Bình Dương
Để thực hiện được mục đích trên, tác giả đề ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện xuyên suốt đề tài, bao gồm:
- Tổng hợp cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
- Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công tại tỉnh Bình Dương những năm gần đây
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động dịch
vụ hành chính công trong những năm tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công tại tỉnh Bình Dương
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt nội dung: Công tác tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
tại tỉnh Bình Dương
Trang 9- Về mặt thời gian: Nghiên cứu thực trạng những năm gần đây (2010-2016)
và giải pháp cho những năm tới (đến năm 2020)
- Về mặt không gian: Nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Bình Dương
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu tổng hợp khác nhau, trong đó
có các phương pháp được sử dụng nhiều như: Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp, tham khảo ý kiến chuyên gia, tài liệu tham khảo…
Về phương pháp chính, luận văn sử dụng phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Trong đó, dữ liệu được thu thập thông qua kênh điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi đối với các đối tượng nghiên cứu là cán bộ thực hiện công tác hành chính công và người dân hưởng lợi ích từ các dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong những năm qua
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động dịch
vụ hành chính công, vì vậy, có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho các tác giả sau này nghiên cứu cùng đề tài Đó là ý nghĩa khoa học của luận văn
Bên cạnh đó, luận văn đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công từ thực tiễn tỉnh Bình Dương những năm gần đây, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động dịch
vụ hành chính công tại tỉnh Bình Dương trong những năm tới Vì vậy, luận văn có giá trị thực tiễn rất lớn đối với địa bàn tỉnh Bình Dương, trong quá trình hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện dịch vụ hành chính công trong thực tiễn
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về tổ chức và hoạt động dịch vụ
hành chính công
Trang 10Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công tại tỉnh
Bình Dương và các giải pháp tăng cường tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công ở Việt Nam hiện nay
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG DỊCH
VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG 1.1 Tổng quan về hành chính công
1.1.1 Hành chính công
1.1.1.1 Khái niệm hành chính công
Trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã để cập đến khái niệm hành chính công Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu: "Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá Định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ theo hướng bộ quản lý
đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm Vi toàn quốc, cung cấp dịch vụ công" [3, tr 133]
"Hành chính công là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là
sự tác động có tổ chức và là sự điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước tới các quá trình xã hội và hành vi của con người thông qua việc các cơ quan hành chính Nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoả mãn nhu cầu hợp pháp của công dân Hành chính công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc nhằm đạt được các mục tiêu của quốc gia một cách hữu hiệu nhất trong từng giai đoạn phát triển" [7, tr 6]
Tùy theo cách tiếp cận, chúng ta cũng có những cách hiểu, những định nghĩa khác nhau về hành chính công Cụ thể:
Theo phương diện chính trị, "Hành chính công là hoạt động liên quan đến xây dựng và thực thi chính sách công như tư vấn chính sách, xây dựng dự thảo Hành chính công cũng là người thực thi đầy đủ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước" [7, tr 10]
Theo phương diện pháp lý, "Hành chính công là luật tổng hành động đưa pháp luật vào đời sống, ban hành ra các văn bản dưới luật để thể hiện luật, triển khai các văn bản pháp luật của Nhà nước và biến các ý tưởng đó thành sản phẩm cụ thể" [7, tr 10]
Trang 12Theo cuốn sách “Hành chính học đại cương” thì hành chính công là "hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý công việc công của nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của công dân" [7, trang 10] Hành chính công là một dạng hoạt động nhằm thực hiện các nhiệm vụ công vì lợi ích và mục đích chung, được thực hiện theo luật công bởi các chủ thể của quyền lực công - các pháp nhân công quyền [20, tr.18]
1.1.1.2 Đặc trưng của hành chính công
- Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị: Nền hành chính trước hết
là phục vụ chính trị, thực hiện những nhiệm vụ chính trị do cơ quan quyền lực Nhà nước quyết định Hành chính nhà nước là trung tâm thực thi các quyết định của hệ thống chính trị
Nền hành chính Việt Nam luôn thực hiện các nhiệm vụ do Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề ra, ở đây nền hành chính mang đầy đủ bản chất của nước Việt Nam – Nhà nước của dân, do dân và vì dân hành chính nhà nước ở nước ta là yếu tố cấu thành hệ thống chính trị Trong hoạt động thực thi quản lý Nhà nước, hành chính nhà nước là yếu tố quan trọng quá trình hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước cả hệ thống chính trị
- Tính pháp quyền: Là phải đảm bảo nền hành chính hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Nhà nước Mọi hoạt động đều phải tuân thủ pháp luật và hành chính là thực thi quyền lực nên phải đi đầu trong việc tuân thủ pháp luật
Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và với tư cách là công
cụ của Nhà nước pháp quyền nên nền hành chính mang đậm tính pháp quyền, nghĩa
là tính cưỡng bức của Nhà nước, nó hoạt động theo quy tắc đòi hỏi mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công chức, đều phải nắm vững quyền lực, sử dụng đúng đắn quyền lực, đảm bảo đúng chức năng và thẩm quyền của mình khi thực thi công
vụ đồng thời phải nâng cao uy tín về chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ Kết hợp chặt chẽ yếu tố quyền lực và yếu tố uy tín
Trang 13- Tính liên tục, tương đối ổn định và thích ứng: Hành chính là phục vụ nhân dân mà công việc này phải làm hàng ngày, thường xuyên cho nên nền hành chính Nhà nước phải đảm bảo tính liên lục, ổn định để không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống nào Tuy vậy ngoài liên tục và ổn định ra thì chưa đủ, nó còn phải bao gồm tính thích ứng vì xã hội luôn phát triển, biến động Vì vậy nền hành chính cũng phải có những thay đổi để không bị lạc hậu và đáp ứng được yêu cầu đặt ra
- Nền hành chính ở Việt Nam khá ổn định và hiện nay đang liên lục đổi mới
để đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước, nó liên tục phát triển và ngày càng hoàn thiện
- Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao: Các hoạt động trong nền hành chính Nhà nước có nội dung phức tạp, đa dạng nên nó đòi hỏi rất cao đến các kiến thức xã hội và chuyên môn của các nhà hành chính Vì vậy tiêu chuẩn về kiến thức chuyên môn và năng lực quản lý phải trở thành một tiêu chuẩn cơ bản của côngchức
Ở Việt Nam hiện nay nền hành chính đã đang xây dựng những tiêu chuẩn rất
cơ bản và khá khắt khe đối với viên chức hành chính, họ chỉ là những viên chức hành chính nếu họ đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn đưa ra, vì vậy được lựa chọn
kỹ càng thì nền hành chính của nước ta trong tương lai sẽ có các viên chức có năng lực
- Tính hệ thống thức bậc chặt chẽ: Nền hành chính Nhà nước bao gồm một
hệ thống định chế theo thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ Trung ương đến địa phương, trong đó cấp dưới phục tùng cấp trên, nhận chỉ thị mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên Các cơ quan hoạt động trong phạm vi thẩm quyền được giao Tuy vậy, hệ thống này cũng có tính linh hoạt tương đối để không trở thành một hệ thống xơ cứng và quan liêu
Nền hành chính Việt Nam hình thành một hệ thống chặt chẽ từ Trung ương gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ đến địa phương bao gồm các Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan trực thuộc Các cơ quan ở địa phương phải chịu sự
Trang 14quản lý và kiểm tra của các cơ quan Trung ương, bên cạnh đó các cơ quan chuyên môn phải chịu sự quản lý song trùng
- Tính không vụ lợi: Hành chính Nhà nước có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công
và lợi ích công dân Mọi hoạt động trong hệ thống hành chính Nhà nước đều mang tính chất phục vụ chứ không theo đuổi mục đích lợi nhuận Vì vậy hành chính hoạt động phải vô tư, tận tâm, trong sạch
Tại Việt Nam, nền hành chính phục vụ hết mình cho công dân, nó không hề
vụ lợi và ngày nay đang đấu tranh để làm cho nền hành chính Việt Nam ngày càng trong sạch và vì lợi ích cộng đồng hơn nữa
- Tính nhân đạo: Xuất phát từ bản chất nhân đạo của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Vì vậy tất cả các hoạt động của nền hành chính đều vì con người và phục vụ cộng đồng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, không gây phiên hà cho nhân dân Hoạt động quản lý mang tính thuyết phục là chính, sự cưỡng bức chỉ
là biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo để mọi vi phạm phải được xử lý chứ không phải chỉ nhằm để trừng phạt
Nhà nước Việt Nam có bản chất là Nhà nước của nhân dân và do nhân dân,
vì dân vì vậy tôn trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân là xuất phát điểm của hệ thống lật, thể chế quy tắc, thủ tục hành chính Các công chức không được quan liêu, cửa quyền, hách dịch, gây phiên hà cho dân khi thi hành công vụ Mặt khác, hiện nay chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường nên nền hành chính càng đảm bảo tính nhân đạo để hạn chế tối đa mạt trái của nền kinh tế thị trường, thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển bền vững
Trang 151.1.1.3 Phân biệt hành chính công và hành chính tư
Hình 1.1 Các điểm so sánh sự khác nhau giữa hành chính công và hành chính tư
Hành chính công là một khái niệm để phân biệt với “hành chính tư” sự khác nhau căn bản ở đây nằm ở hai khái niệm “công” và ‘tư”, nhưng càng ngày 2 khái niệm Hành chính công mới đáp ứng được, hay hình thức liên doanh ngày càng được
áp dụng và nó đã đạt được hiệu quả cao nên việc phân biệt Hành chính công và Hành chính tư ngày càng trở nên khó khăn Tuy vậy, nó vẫn có những điểm khác nhau mang tính nguyên tắc đó là:
(1) Mục tiêu hoạt động: Đặc điểm nổi bật của bất kỳ một cơ quan Hành
chính công nào là hoạt động vì mục đích công cộng, lợi ích của cộng đồng, trong khi đó mục tiêu chủ yếu của hành chính tư là lợi nhuận, phục vụ mọi người vị động
cơ lợi nhuận
(2) Tính chính trị: Hành chính công vì tính chất chính trị của tổ chức, trong
mọi hoạt động của mình Hành chính công luôn mang màu sắc chính trị và bị các mục tiêu chính trị chi phối, gây ảnh hưởng Nhưng hành chính tư lại không hề có
Các điểm
so sánh sự khác nhau giữa hành chính công
và hành chính tư
(3) Tính quyền lực
(4)
Cơ sở pháp lý
(5) Quy mô
tổ chức hoạt động
(6) Tài chính hoạt động
(7) Chú thể
và khách thể
(8) Yêu cầu đối với đội ngũ những người tham gia hoạt động
Trang 16màu sắc chính trị, nó hoạt động mà không hề bị tác động bởi một động cơ chính trị nào
(3) Tính quyền lực: Hành chính công mang tính quyền lực Nhà nước, tính
mệnh lệnh cưỡng chế rất cao Hành chính tư không mang tính quyền lực Nhà nước tính cưỡng chế không cao
(4) Cơ sở pháp lý: Hành chính công có những thủ tục hết sức phức tạp, phải
tuân theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định, không được phá bỏ, nó luôn cứng nhắc, mang tính quan liêu, chậm chạp, hiệu quả hoạt động thấp Còn Hành chính tư cũng phải tuân theo một số quy tắc nhưng nó lại mềm dẻo và linh hoạt hơn rất nhiều và thủ tục thì đơn giản và dễ dàng thực hiện
(5) Quy mô tổ chức hoạt động: Quy mô của Hành chính công trên nguyên tắc
rất lớn, có thể bao trùm cả xã hội hay một lĩnh vực rộng lớn Nhưng Hành chính tư lại có quy mô linh hoạt, tuỳ vào từng tổ chức mà áp dụng quy mô
Hoạt động của Hành chính công chịu áp lực của xã hội và mọi quyết định của Hành chính công đều phù hợp và đáp ứng được lợi ích của cộng đồng, đó là sự đồng hành của Hành chính công với xã hội, nghĩa là mọi quyết định hay hoạt động của Hành chính công phải tham khảo ý kiến của công chúng, còn Hành chính tư không cần quan tâm đến điều này
(6) Tài chính hoạt động: hành chính công sử dụng mặt khối lượng lớn về vật chất và tài chính hoạt động nên sai sót của nó ảnh hưởng lớn đến kinh tế- xã hội
Tài chính hoạt động từ ngân sách Nhà nước Hành chính tư sử dụng khối lượng nhỏ tài chính vật chất sai sót ảnh hưởng ở phạm vi nhỏ, tài chính hoạt động tự có
(7) Chủ thể và khách thể của Hành chính công và Hành chính tư khác nhau
Chủ thể của Hành chính công là các cơ quan nhà nước, các cá nhân được uỷ quyền
và các chủ thể này có những đặc điểm là mang tính quyền lực Nhà nước, hoạt động rộng khắp trên các mặt của đời sống xã hội, quản lý thông qua các quyết định hành chính và hành vi hành chính Còn hành chính tư chủ thể của có thể là cá nhân hay tổ chức đứng ra thành lập tổ chức đó, chủ thể này chỉ có quyền lực tổ chức, chỉ có
Trang 17quyền quản lý trong phạm vi tổ chức, họ có thể quản lý tổ chức bằng nhiều biện pháp và hình thức mà pháp luật cho phép
(8) Yêu cầu đối với đội ngũ những người tham gia hoạt động: Kỹ năng cần
có đối với nhà hành chính lớn hơn rất nhiều so với nhà điều hành doanh nghiệp [7,
Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò
và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà nước hoặc
tư nhân đảm nhiệm
Khái niệm và phạm vi dịch vụ công sẽ biến đổi tùy thuộc vào bối cảnh của mỗi quốc gia Chẳng hạn, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vụ công, từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế - xã hội (tạo việc làm, quy hoạch, bảo vệ môi trường, và các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, bảo hiểm xã hội,…) Trong đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công là những
Trang 18hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân do các cơ quan nhà nước đảm nhiệm hoặc do các tổ chức cá nhân thực hiện theo những tiêu chuẩn, quy định của nhà nước Ở Pháp, khái niệm dịch vụ công được hiểu rộng, bao gồm các hoạt động phục vụ nhu cầu về tinh thần và sức khỏe của người dân (như giáo dục, văn hóa, y
tế, thể thao… thường được gọi là hoạt động sự nghiệp), các hoạt động phục vụ đời sống dân cư mang tính công nghiệp (điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường… thường được coi là hoạt động công ích), hay các dịch vụ hành chính công bao gồm các hoạt động của cơ quan hành chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch… mà
cả hoạt động thuyế vụ, trật tự, an ninh, quốc phòng…; còn ở Italia dịch vụ công được giới hạn chủ yếu ở hoạt động sự nghiệp (y tế, giáo dục) và hoạt động kinh tế công ích (điện, nước sạch, vệ sinh môi trường) và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu,
hộ tịch do cơ quan hành chính thực hiện
Ở Việt Nam, tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của nhà nước, mà không bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại giao,… qua đó nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ cho cộng đồng Điều quan trọng là chúng ta phải sớm tách hoạt động dịch vụ công (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạt động hành chính công quyền như chủ trương của Chính phủ đã đề ra nhằm xóa bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải cho bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội,
và nâng cao chất lượng của dịch vụ công phục vụ người dân Điều 22 của Luật Tổ chức chính phủ (2001) quy định: “Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực,…” Điều này không có nghĩa là nhà nước độc quyền cung cấp các dịch vụ công mà trái lại nhà nước hoàn toàn có thể xã hội hóa một số dịch vụ, qua đó trao một phần việc cung ứng một phần của một số dịch vụ, như ý tế, giáo dục, cấp thoát nước,… cho khu vực phi nhà nước thực hiện
Có thể thấy rằng khái niệm và phạm vi các dịch vụ công cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội Ngay cả khi nhà nước chuyển giao
Trang 19một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường
Từ những tính chất trên đây, “dịch vụ công” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng Theo đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động bah hành chính sách, pháp luật, toà án… cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công được hiểu là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng
* Đặc trưng cơ bản của dịch vụ công
- Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho lợi ích chung thiết yếu, các
quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân
- Thứ hai, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp cung ứng
hoặc uỷ nhiệm việc cung ứng) Ngay cả khi Nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho
tư nhân cung ứng thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các điểm khuyết của thị trường
- Thứ ba, là các hoạt động có tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng nhu cầu,
quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân
- Thứ tư, mục tiêu nhằm bảo đảm tính công bằng và tính hiệu quả trong cung
ứng dịch vụ
* Các loại dịch vụ công
Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành 3 loại, như sau:
Trang 20Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch vụ công cộng cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp Thí dụ, an ninh, giáo dục, phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội…
Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp, gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp thực hiện mà ủy nhiệm cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự đôn đốc, giám sát của nhà nước Thí dụ các công trình công cộng do chính phủ gọi thầu
có thể do các công ty tư nhân đấu thầu xây dựng
- Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân phối hợp thực hiện Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nước Như ở Trung Quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự phối hợp thực hiện
Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch
vụ công thành các loại sau:
- Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản
lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân, Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hay dịch vụ công Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước, Để thực hiện chức năng này, nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,…(Ở một số nước, dịch vụ hành chính công được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trong phạm vi dịch vụ công Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng có quan điểm như vậy) Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho cơ quan hành chính nhà nước Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước
- Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khỏe, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội,… Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là
Trang 21nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được hoặc không muốn làm nên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại dịch vụ công này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội
- Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai… chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện Có một số hoạt đọng ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải ở một số đô thị nhỏ, cung ứng nước sạch ở một số vùng nông thôn…
* Các đặc điểm của dịch vụ công
Các lại hình dịch vụ công có những đặc điểm chung cơ bản sau đây:
- Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính phục vụ lợi ích cộng đồng đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của nhà nước Từ đó, có thể thấy tính kinh tế, lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ công
- Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là hàng hóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm do tổ chức cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội bất kể sản phầm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật
- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là
đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước, Cũng có những dịch
vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận
- Từ góc độ kinh tế học, dịch vụ công là các hoạt động cung ứng cho xã hội một loại hàng hóa công cộng Loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho
Trang 22những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này
Ví dụ giáo dục đào tạo không chỉ đáp ứng nhu cầu cảu người đi học mà còn góp phần nâng cao mặt bằng dân trí và văn hóa của xã hội Đó là nguyên nhân khiến cho chính phủ có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong việc sản xuất hoặc đảm bảo cung ứng các loại hàng hóa công cộng
Với sự đa dạng của các loại hình dịch vụ công, của các hình thức cung ứng dịch vụ công, và những đặc điểm của dịch vụ công, có thể thấy rằng cung ứng loại dịch vụ này là một cách có hiệu quả không phải là một vấn đề đơn giản Nhà nước phải xác định rõ loại dịch vụ nào nhà nước cần giữ vai trò cung ứng chủ đạo, loại dịch vụ nào nhà nước về vấn đề này như thế nào Kinh nghiệm của nhiều nước những năm qua cho thấy rằng trong cung ứng dịch vụ công, nhà nước chỉ trực tiếp tục hiện những loại dịch vụ công mà khu vực phi nhà nước không thể làm được và không muốn làm Nếu nhà nước không chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công ở các lĩnh vực tích hợp cho khu vực phi nhà nước và cải cách việc cung ứng dịch v ụ công của các cơ quan nhà nước, thì hiệu quả cung ứng dịch vụ công về tổng thể sẽ
bị giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân và sự phát triển chung của toàn xã hội Điều cốt lõi là nhà nước phải cân nhắc, tính toán và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa lợi ích của nhà nước, của xã hội với lợi ích của tổ chức và cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ công
1.1.2.2 Dịch vụ hành chính công
* Khái niệm dịch vụ hành chính công
Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý
Đây là loại hình dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan nhà nước thành lập được
Trang 23ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước Để thực hiện chức năng này nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch…(ở một số nước, dịch vụ hành chính công được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trong phạm vi dịch vụ công Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng có quan điểm như vậy) Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước Phần lệ phí này mang tính chất
hỗ trợ cho ngân sách nhà nước
Hành chính công có liên quan đến mức độ thỏa mãn các nhu cầu công cộng của xã hội, liên quan đến tiến bộ kinh tế, xã hội của một quốc gia Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, tác dụng của hành chính công chủ yếu là tác dụng dẫn đường, tác dụng quản chế, tác dụng phục vụ và tác dụng giúp đỡ Nói về tác dụng quản chế, tức là nhà nước phát huy năng lực quản lý công cộng mang tính quyền uy, cưỡng chế để xử lý, điều hòa các quan hệ xã hội và lợi ích xã hội, đảm bảo cho xã hội vận hành tốt; còn về tác dụng giúp đỡ, đó chính là sự giúp đỡ của nhà nước đối với các địa phương nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn, như giúp đỡ người nghèo, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế…Việc cung ứng dịch vụ hành chính công còn tác dụng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khi cung cấp các dịch vụ này, nhà nước sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng nhận, thị thực…Tuy xét về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này chỉ là các loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại có tác dụng chi phối quan trọng đến các hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước Chẳng hạn, giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện việc nhà nước công nhận doanh nghiệp đó ra đời và đi vào hoạt động, điều này dẫn đến những tác dụng và kết quả đáng kể về mặt kinh tế- xã hội Ngoài ra, thông qua việc cung ứng dịch vụ công, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo quyền dân chủ và các quyền hợp pháp khác của công dân
Trang 24* Đặc trưng của dịch vụ hành chính công
Dịch vụ hành chính công có đặc trưng riêng, phân định nó với lọai dịch vụ công cộng khác:
- Việc cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm quyền và họat động của các cơ quan hành chính nhà nước – mang tính quyền lực pháp lý – trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức và công dân như cấp các lọai giấy phép, giấy khai sinh, công chứng, hộ tịch… Thẩm quyền hành chính pháp lý thể hiện dưới hình thức các dịch vụ hành chính công nhằm giải quyết các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, là họat động phục vụ công dân từ phía các cơ quan hành chính nhà nước Các họat động này không thể ủy quyền cho bất kỳ tổ chức nào ngòai cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện và chỉ có hiệu lực khi được cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện mà thôi Vì vậy, nhu cầu được cung ứng các dịch vụ hành chính công của người dân (khách hàng) không phải là nhu cầu tự thân của họ mà xuất phát từ các quy định có tính chất bắt buộc cùa Nhà nước Nhà nước bắt buộc và khuyến khích mọi người thực hiện các quy định này nhằm đảm bảo trật tự và an tòan xã hội, thực hiện chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội
- Dịch vụ hành chính công nhằm phục vụ cho họat động quản lý nhà nước Dịch vụ hành chính công bản thân chúng không thuộc về chức năng quản lý nhà nước, nhưng lại là họat động nhằm phục vụ cho chức năng quản lý nhà nước Vì vậy, hiện nay trong nghiên cứu khoa học pháp lý đã đặt ra vấn đề xung quanh việc tách bạch chức năng hành chính và chức năng quản lý trong họat động của cơ quan hành chính nhà nước
- Dịch vụ hành chính công là những họat động không vụ lợi, chỉ thu phí và lệ phí nộp ngân sách nhà nước (theo quy định chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Nơi làm dịch vụ không trực tiếp hưởng lợi từ nguồn thu này
- Mọi công dân và tổ chức đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ hành chính công với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền Nhà nước có trách nhiệm và nghĩa vụ phục vụ công dân trên nguyên tắc
Trang 25công bằng, bảo đảm sự ổn định, bình đẳng và hiệu quả của họat động quản lý xã hội
Từ những đặc trưng cơ bản nêu trên, chúng ta dễ dàng nhận diện các lọai hình cơ bản của dịch vụ hành chính công như sau:
Thứ nhất, họat động cấp các lọai giấy phép như giấy phép xây dựng, giấy
phép đào đường, giấy phép bãi xe, giấy phép đầu tư, giấy phép xuất nhập cảnh, giấy đăng ký kinh doanh và giấy chứng chỉ hành nghề…
Thứ hai, họat động cấp các lọai giấy xác nhận, chứng thực như xác nhận đủ
điều kiện hành nghề; cấp giấy khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn; chứng nhận bản sao, chữ ký; công chứng
Thứ ba, họat động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của nhà
Trên cơ sở phân tích, so sánh dịch vụ hành chính công với họat động quản lý nhà nước và với các lọai dịch vụ công trong các lĩnh vực phục vụ lợi ích công cộng,
có thể thấy dịch vụ hành chính công là những họat động giải quyết những công việc
cụ thể liên quan đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân được thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính – pháp lý của nhà nước
* Chức năng và nhiệm vụ của dịch vụ hành chính công
- Dịch vụ hành chính công gắn với chức năng phục vụ và quản lý của nhà nước
Dịch vụ hành chính công gắn với chức năng phục vụ và quản lý của nhà nước, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để phục vụ các quyền và nghĩa
vụ cơ bản của các tổ chức và công dân Trong những năm qua, Nhà nước ta đã chú
Trang 26trọng đổi mới và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công, coi đó là một khâu quan trọng trong việc thực hiện chương trình cả cách nền hành chính cả
về thể chế, thủ tục, tổ chức bộ máy và cán bộ Nhà nước đã bắt đầu áp dụng các phương tiện kỹ thuật điện tử, tin học để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công, như việc cung cấp thông tin về thể chế, tổ chức, đấu thầu các dự án chi tiêu công, đăng ký cấp phép kinh doanh, cấp phép đầu tư, hỏi đáp pháp luật hay đăng ký
xe máy…Nhìn chung việc cung ứng dịch vụ hành chính công có một số tiến bộ, nhưng không đều Người dân và doanh nghiệp được tạo thuận lợi và dễ dàng hơn trong một số việc cần giải quyết với cơ quan nhà nước, như đăng ký kinh doanh, làm thủ tục hộ tịch, tìm hiểu luật pháp….song còn gặp nhiều rắc rối, phiền hà trong nhiều lĩnh vực khác, như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất, cho thuê đất, cấp phép xây dựng nhà, công chứng, hộ khẩu….Người dân và doanh nghiệp vẫn tiếp tục là “nạn nhân” của tình trạng phiền nhiễu, bất hợp lý, chậm trễ, thiếu hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính các cấp
* Chủ trương xã hội hóa trong cung ứng dịch vụ hành chính công
“Cung ứng dịch vụ công”: từ cung ứng hiểu đầy đủ có nghĩa là cả sản xuất
và phân phối dịch vụ công (hoặc cung ứng và hưởng thụ dịch vụ công)
Tại Đại hội Đảng tòan quốc lần thứ VIII (1996), Đảng ta khẳng định: “Thực hiện phương châm xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, y
tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục và các mặt xã hội khác, hướng vào nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần và thể lực của nhân dân
Chủ trương này tiếp tục được khẳng định tại Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng, tại một số Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng, tại Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ và được cụ thể hóa tại nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước Đáng chú ý là:
+ Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa tạo cơ sở pháp lý cơ bản cho họat động xã hội hóa trong lĩnh vực này
Trang 27+ Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa và thể thao theo quy định cụ thể về chính sách khuyến khích xã hội hóa…
Nghị định 73 dành cả Chương III để quy định về quản lý tài chính của các cơ
sở ngòai công lập cung ứng dịch vụ công
- Thành tựu trong cung ứng dịch vụ hành chính công đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN)
Trong những năm qua, Việt Nam đã đẩy mạnh đổi mới tư duy trong quản lý
và tổ chức hoạt động KH&CN, gắn hoạt động KH&CN với sản xuất, kinh doanh, lấy hiệu quả làm mục tiêu và tiêu chí đánh giá hoạt động của các tổ chức KH&CN
và các nhà khoa học Đề án Đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành năm 2004, đã khẳng định rõ: “Đến năm 2010, tiếp tục đổi mới, tạo bước chuyển biến cơ bản trong quản lý KH&CN phù hợp với
cơ chế thị trường định hướng XHCN, với yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
và đặc thù của hoạt động KH&CN, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển bền vững với tốc độ nhanh của đất nước” Trong đề án này, một trong những quan điểm cần được quán triệt trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý KH&CN chính là việc đẩy mạnh xã hội hóa, tạo môi trường bình đẳng cho các tổ chức, các nhân họat động KH&CN Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng cũng tái khẳng định sự cần thiết xã hội hóa hoạt động KH&CN Dựa trên nền tảng chính sách đó, các cấp, các ngành trong thời gian qua đã tích cực thực hiện đổi mới công tác quản lý KH&CN với những kết quả nhất định…
Đảng và Nhà nước ta có chủ trương xã hội hóa cung ứng dịch vụ công Quá trình xã hội hóa trong một số lĩnh vực dịch vụ công được thực hiện trong 10 năm qua đã mang lại những kết quả tích cực, tuy nhiên cũng bộc lộ không ít hạn chế Hiện nay, Chính phủ và các cấp, các ngành đang tích cực đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa trong một số lĩnh vực dịch vụ công quan trọng như giáo dục và đào tạo, y
tế, văn hóa, thể dục thể thao, từ đó mở rộng ra các lĩnh vực khác tạo nên một đợt cải
Trang 28cách sâu rộng về cung ứng và quản lý dịch vụ công hỗ trợ đắc lực cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế- xã hội nói chung
- Cơ sở pháp lý của dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tại Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN)
1 Ngày 10 tháng 8 năm 2009, Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành Quyết định
số 1946/QĐ-BKHCN Về việc công bố bộ thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ KH&CN
2 Ngày 31 tháng 8 năm 2009, Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành Quyết định
số 1807/QĐ-BKHCN Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án 30 giai đoạn II - Rà soát thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ
3 Ngày 18 tháng 9 năm 2009 Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã ký Quyết định số 2042/QĐ-BKHCN công bố bổ sung các thủ tục hành chính (TTHC) thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ KH&CN
4 Cá nhân, tổ chức có thể tham gia rà soát thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua các Biểu mẫu rà soát thủ tục hành chính (Biểu mẫu số 3, 3a và 3b: Kèm theo Công văn số 173/CCTTHC ngày 30 tháng 7 năm 2009 của Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ) và gửi tới địa chỉ e-mail: tct30@most.gov.vn
1.1.3 Khái niệm tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tài liệu "Biên niên tiểu sử, tập 8" do NXB Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996 ngày 23-10-1962, tổ chức được hiểu là: "Tổ chức trước hết là con người" [12]
Theo đồng chí Lê Duẩn trong tài liệu "Mấy vấn đề về cán bộ và về tổ chức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa", ấn hành năm 1972 tại NXB Sự Thật, khái niệm
"tổ chức" được hiểu là:
“Tổ chức, nói rộng ra là cơ cấu tồn tại của sự vật, hiện tượng Sự vật và hiện tượng không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố
Trang 29thuộc nội dung Tổ chức, vì vậy, là thuộc tính của bản thân các sự vật và hiện tượng” [2, tr.28]
Xét về "tổ chức" với nghĩa là động từ thì "tổ chức" là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của tổ chức sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung của một cơ quan, đơn vị nào đó
Xét về nghĩa là danh từ thì "tổ chức" được hiểu là tập hợp nhiều người một cách có ý thức để hoàn thành các mục tiêu chung Một tổ chức luôn luôn có ba đặc điểm chung: Có nhiều người, các thành viên tham gia luôn ý thức về vai trò, nhiệm
vụ, quyền lợi và trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trong quá trình tham gia hoạt động của đơn vị, luôn có mục tiêu chung và cụ thể mà nhờ đó mà mọi người tự nguyện tham gia phấn đấu vì mục tiêu chung để đạt được mục tiêu riêng của mình
và ngược lại
Như vậy, có nhiều khái niệm, nhiều tài liệu khác nhau đề cập đến khái niệm
"tổ chức", tuy nhiên, nhìn chung, có thể hiểu, "tổ chức" là việc tập hợp nhiều người lại với nhau, xây dựng cơ cấu bộ máy làm việc, định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng người, từng bộ phận trong tổ chức, đưa ra khỏi tổ chức những người không phù hợp, bổ sung thêm người mới hay còn thiếu, đề ra chương trình, kế hoạch và cách thức hành động của các thành viên, để tổ chức hoạt động được nhịp nhàng, ăn khớp với nhau và đạt hiệu quả
Còn theo Từ điển Tiếng Việt (2010) định nghĩa hoạt động là “tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”, hoặc “thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể” [16, tr.586]
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu: Tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công là việc tập hợp nhiều người lại với nhau, xây dựng cơ cấu bộ máy làm việc, định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng người, từng bộ phận trong tổ chức, đưa ra khỏi tổ chức những người không phù hợp, bổ sung thêm người mới hay còn thiếu, đề ra chương trình, kế hoạch và cách thức hành động của các
Trang 30thành viên, để tổ chức hoạt động được nhịp nhàng, ăn khớp với nhau và đạt hiệu quả trong việc thực hiện những dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp phục vụ yêu cầu cụ thể của công dân và tổ chức dựa trên qui định của pháp luật
1.2 Nội dung tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
1.2.1 Xây dựng kế hoạch tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
Xây dựng kế hoạch tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công là nội dung đầu tiên của quá trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công Trong đó: Các cơ quan thực hiện tổ chức hoạt động dịch vụ hành chính công có trách nhiệm xây dựng các kế hoạch thực hiện công tác hành chính công, trong đó có các
kế hoạch về tài chính, kế hoạch về nhân sự, kế hoạch thực hiện hoạt động dịch vụ hành chính công, cũng như các kế hoạch khác nhằm đem lại hiệu quả tối ưu cho quá trình thực hiện hoạt động dịch vụ hành chính công trong các cơ quan Muốn xây dựng kế hoạch tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công phải dựa trên nguyên tắc hoạt động Nguyên tắc hoạt động là những tư tưởng chỉ đạo nền tảng cơ bản của một tổ chức, trong hoạt động quản lý các nhà quản lý đều phải tìm kiếm các nguyên tắc cần thiết nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức
Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, trong hoạt động quản lý Nhà nước trên cơ
sở nguyên tắc chỉ đạo đã được khẳng định qua thực tiễn của cách mạng Việt Nam là: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và Nhà nước quản lý” và có sự nghiên cứu,
áp dụng những thành tựu của hành chính học và kinh nghiệm hoạt động của nhiều nền hành chính trên thế giới, có thể đúc kết và rút ra các nguyên tắc sau đây của nền hành chính Việt Nam
- Nguyên tắc quan trọng nhất hiện nay của chúng ta là Đảng lãnh đạo toàn diện không chỉ hoạt động quản lý Nhà nước mà cả hoạt động của hành chính Nhà nước
- Nhân dân tham gia quản lý và giám sát sự hoạt động của hành chính Nhà nước theo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Trang 31Bộ máy hành chính nhà nước phải được tổ chức một cách gọn nhẹ gần dân nhất để giải quyết mọi công việc hàng ngày của dân một cách nhanh nhất, mọi hoạt động thuộc hành chính Nhà nước đều phục vụ nhân dân
- Tập trung dân chủ trong hoạt động hành chính nhà nước: Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa đơn nhất, nên nền hành chính Nhà nước ta phải đảm bảo tăng cường tính thống nhất và tập trung cao quyền lực vào Nhà nước trung ương, bên cạnh đó việc mở rộng tính dân chủ mạnh mẽ cho chính quyền địa phương
Tập trung dân chủ trong hoạt động hành chính nhà nước còn thể hiện thông qua cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở cũng như mối quan hệ trong việc thực hiện các quyết định hành chính Tính tập trung dân chủ không đối lập với tính thứ bậc (cấp trên, cấp dưới) trong hoạt động hành chính Nhà nước
- Hoạt động hành chính nhà nước phải tuân thủ pháp luật Nhà nước đã quy định, quản lý theo pháp luật và bằng pháp luật Nền hành chính có hiệu lực và hiệu quả phải đề cao và thể hiện đầy đủ nguyên tắc Nhà nước pháp quyền, luôn tuân thủ pháp luật, Nhà nước Việt Nam có sự phân định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của 3 loại cơ quan quản lý Nhà nước, có sự phân công, phối hợp, cân bằng, thống nhất giữa 3 loại cơ quan này
- Kết hợp quản lý theo ngành và theo lĩnh vực và theo lãnh thổ: yêu cầu quản
lý thống nhất theo ngành và lĩnh vực là nhằm vào yêu cầu phát triển thống nhất các mặt chiến lược, quy hoạch, phân bổ điều tra Yêu cầu quản lý thống nhất theo lãnh thổ là đảm bảo sự phát triển tổng thể các ngành, các lĩnh vực, các mặt hoạt động trên một đơn vị hành chính lãnh thổ nhằm thực hiện sự quản lý toàn diện Hai lĩnh vực quản lý này phải được kết hợp thống nhất theo luật pháp và dưới sự điều hành thống nhất của nền hành chính
- Nguyên tắc công khai: Đây là một nguyên tắc được nhiều nước vận dụng,
vì công khai trong hoạt động hành chính Nhà nước không chỉ là cách thức để mở
Trang 32rộng sự giám sát, tham gia của nhân dân mà còn là cách thức để hành chính Nhà nước tự hoàn thiện mình
- Phân biệt và kết hợp quản lý nhà nước với quản trị kinh doanh: Nhà nước nói chung và nền hành chính nói riêng không thực hiện chức năng kinh doanh và không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị Nhưng bên cạnh đó bộ máy hành chính vận dụng sáng tạo và kết hợp đúng mức những nguyên tắc quản lý kinh doanh vào các hoạt động hành chính Nhà nước về dịch vụ công cộng Và cũng là để nâng cao tính tự quản, khuyến khích các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, phát huy sáng tạo của công dân thì nên tách các đơn vị này ra khỏi nền hành chính
- Nguyên tắc kết hợp chế độ làm việc tập thể với chế độ một thủ trưởng: ở nước ta hiện nay đang tồn tại 2 loại hình cơ quan: Một là cơ quan thẩm quyền chung hoạt động theo chế độ tập thể, các cơ quan này phải đảm bảo việc tập thể thực sự, tránh việc dân chủ và tập thể hình thức Hai là cơ quan thẩm quyền riêng hoạt động theo chế độ một thủ trưởng quyết định, đối với loại cơ quan này thì thủ trưởng cơ quan phải biết phát huy sức mạnh tập thể và phong cách làm việc dân chủ
Nội dung này nhằm đảm bảo các hoạt động dịch vụ hành chính công được thực hiện đúng định hướng, được thực hiện với kế hoạch rõ ràng, không đi sai mục tiêu và vai trò của các hoạt động dịch vụ hành chính công
1.2.2 Triển khai tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
Triển khai tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công là nội dung thứ hai của quá trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công Nội dung này gắn liền với khâu xây dựng kế hoạch triển khai các hoạt động dịch vụ hành chính công, cũng như các khâu kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện hoạt động dịch vụ hành chính công Muốn tổ chức triển khai các hoạt động dịch vụ hành chính công với hiệu quả cao nhất, sự gắn kết giữa các khâu này cần được quan tâm, chú trọng
và triển khai nhanh gọn một cách hiệu quả
Triển khai tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công là việc cung ứng dịch vụ hành chính công cho các tổ chức, cá nhân có quyền pháp lý tại Việt Nam
Trang 33Do dịch vụ hành chính công có tác dụng chủ yếu là tác dụng dẫn đường, tác dụng quản chế, tác dụng phục vụ và tác dụng giúp đỡ Trong điều kiện ở Việt Nam đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của nhà nước là phát huy năng lực quản lý công cộng mang tính quyền uy, cưỡng chế để
xử lý, điều hòa các quan hệ xã hội và lợi ích xã hội, đảm bảo cho xã hội vận hành tốt không chệch hướng xã hội chủ nghĩa Mặt khác, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo sự công bằng, các chính sách an sinh xã hội trở thành động lực cho sự phát triển, tạo điều kiện khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Dịch vụ hành chính công còn có tác dụng giúp đỡ, là sự giúp đỡ của nhà nước đối với các địa phương nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn, như giúp
đỡ người nghèo, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế Những chính sách hỗ trợ cho 61 huyện nghèo, chương trình áo ấm mùa đông, tiếp sức đến trường, nâng cao năng lực khám chữa bệnh ở các tuyến và thực hiện chính sách xã hội, y tế toàn dân đã khẳng định sự vận hành của dịch vụ công góp phần thúc đẩy sự phát triển
Dịch vụ hành chính công ở nước ta gắn với chức năng phục vụ và quản lý của nhà nước, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để phục vụ các quyền
và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân Đảng và Nhà nước chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công, đây là một khâu quan trọng trong việc thực hiện chương trình cải cách nền hành chính cả về thể chế, thủ tục, tổ chức bộ máy và cán bộ “trong 30 năm đổi mới, Quốc hội đã ba lần sửa đổi và ban hành Hiến pháp, sửa đổi và ban hành trên 150 bộ luật và luật; Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành trên 70 pháp lệnh” Chính phủ và các địa phương đã
áp dụng các phương tiện kỹ thuật điện tử, tin học để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công, thể hiện trong việc cung cấp thông tin về thể chế, tổ chức, đấu thầu các dự án chi tiêu công, đăng ký cấp phép kinh doanh, cấp phép đầu tư, hỏi đáp pháp luật hay đăng ký xe máy Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đã tạo ra mô hình chính phủ điển tử, giảm chi phí cho các doanh nghiệp khi kê khai quyết toán thuế, thủ tục cấp phép đầu tư một cách nhanh gọn Giao ban trực tuyến của Chính phủ,
Trang 34các bộ, ban ngành từ trung ương cho đến địa phương đã tạo ra sự thay đổi từ phương pháp, cách thức xử lý công việc, tiếp thu ý kiến chỉ đạo một cách nhanh chóng và công khai, giảm chí phí hội họp
1.2.3 Kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
Kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công là nội dung thứ ba của quá trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công Nội dung này nhằm đảm bảo quá trình tổ chức triển khai hoạt động dịch vụ hành chính công được thực hiện đúng kế hoạch đã đề ra, đồng thời không đi sai lệnh mục tiêu, định hướng đã quy định
Kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công cần:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát hàng năm cho việc tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
- Thực hiện kiểm tra, giám sát theo chương trình, kế hoạch hoặc đột xuất đối với tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công các cấp
- Kiểm tra, giám sát việc chấp hành nội quy, quy chế làm việc, chấp hành kỹ luật, kỹ cương hành chính, đạo đức công vụ đối với tất cả cán bộ thực hiện tổ chức
Trang 35Cơ chế kiểm tra, đánh giá mới chủ yếu tập trung vào trách nhiệm vào cá nhân Kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức là công việc không thể thiếu nhưng không thể chỉ dựa vào đánh giá con người mà thay cho đánh giá tổ chức vì nhân tố con người luôn cần đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Một mặt, con người sinh ra
tổ chức, sinh ra cơ chế nhưng mặt khác lại phụ thuộc vào tổ chức, vào cơ chế Một suy luận tất yếu: khi một đơn vị yếu kém, không thể có người lãnh đạo xứng đáng nhận danh hiệu khen thưởng Cũng không thể có một tổ chức thật sự vững mạnh khi
có quá nhiều cá nhân trong tổ chức đó có những biểu hiện tiêu cực
1.2.4 Đánh giá kết quả thực hiện tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
Đánh giá kết quả thực hiện tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công là nội dung thứ tư của quá trình tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công Khâu đánh giá kết quả thực hiện nhằm đánh giá lại những kết quả đạt được, những hạn chế tồn tại cũng như những nguyên nhân của những kết quả và hạn chế của hoạt động dịch vụ hành chính công Từ đó, các đơn vị thực hiện hoạt động dịch vụ hành chính công có thể đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động dịch vụ hành chính công trong những giai đoạn tới
Việc phân tích, đánh giá tổ chức cần được tiến hành định kỳ, độc lập và song hành với quy trình đánh giá cán bộ, công chức
Mục đích của đánh giá tổ chức định kỳ nhằm kiểm tra một cách thường xuyên sự cần thiết, tính hữu dụng của tổ chức (mà trước đó đã được mô tả sơ bộ trong đề án tổ chức) và qua đó chứng minh hiệu quả vận hành của bộ máy hành chính Công việc này cho phép người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc cơ quan cấp trên có thẩm quyền nắm được các thông tin cần thiết và xác thực để kịp thời chấn chỉnh lề lối làm việc của tổ chức; xem xét điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ hoặc sắp xếp lại tổ chức; xem xét, đánh giá năng lực thực hiện chương trình, kế hoạch công tác hàng năm và khả năng bố trí ngân sách cho tổ chức; xem xét phương án định biên của tổ chức trong năm tiếp theo; xem xét phê duyệt các kế hoạch tuyển dụng, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; khen thưởng cá nhân
Trang 36và tổ chức v.v Những kết luận rút ra từ việc đánh giá tổ chức hàng năm hoặc theo từng giai đoạn cũng sẽ là những luận cứ xác thực và vô cùng quan trọng cho việc xây dựng cũng như thẩm định các đề án thành lập mới, tổ chức lại, giải thể các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập
Về mặt ý nghĩa, việc phân tích và đánh giá tổ chức định kỳ trước hết giúp cho việc đề cao vai trò và làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị các cấp, của các cơ quan chủ quản cấp trên và các chủ thể có liên quan
Nguyên nhân của những bất cập trong tổ chức là do cơ chế chung, do cá nhân trong tổ chức hay vì một lý do nào đó Đánh giá tổ chức định kỳ cũng là biện pháp quản lý tổ chức bộ máy có tính chuyên nghiệp, hiện đại, góp phần nâng cao trình độ kỹ năng chuyên môn, sự nhạy bén của đội ngũ làm công tác tham mưu về
tổ chức bộ máy các cấp
Hiện nay, việc tiến hành phân tích và đánh giá tổ chức không thiếu các cơ sở
để nghiên cứu, học tập trong nước và nước ngoài Đó chính là việc đánh giá cán bộ, công chức hàng năm, là việc đánh giá đảng viên và tổ chức cơ sở đảng (dù mức độ đánh giá còn thấp, ít nhiều mang tính hình thức)
* Các nội dung cần phân tích, đánh giá định kỳ đối với tổ chức
Xuất phát từ quan điểm về sự cần thiết phải thiết lập một cơ chế đánh giá tổng quát, toàn diện các khía cạnh của tổ chức, sẽ có rất nhiều nội dung cần được đánh giá Mỗi nội dung sẽ được cụ thể hoá thành các nhóm chỉ số để phân tích hiện trạng tổ chức (mức độ chi tiết của các chỉ số đánh giá của ngành Nội vụ có thể không đầy đủ bằng các nội dung đánh giá chuyên biệt của một số ngành) Có thể phân tích, đánh giá tổ chức định kỳ theo các nhóm chỉ số sau đây:
Trang 37- Vị trí pháp lý: trực thuộc cấp nào quản lý trực tiếp (có cơ quan phối thuộc hay không) và quan hệ với các cơ quan chịu sự quản lý; hạng tổ chức (nếu có)
- Mối quan hệ với tổ chức Đảng, đoàn thể của đơn vị: chính quyền, đảng, đoàn thể cùng thống nhất một cấp quản lý hoặc khác nhau về cấp quản lý (thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân)
2 Nhóm chỉ số về mức độ hợp lý, hoàn thiện mô hình và cơ cấu tổ chức bên trong:
- Bộ máy lãnh đạo (Thủ trương hay tập thể lãnh đạo): thực tế quan hệ giữa các thành viên trong ban hành đạo và với tổ chức đảng cùng cấp
- Bộ máy tham mưu hoặc tư vấn (chuyên trách hoặc kiêm nhiệm)
- Bộ máy thừa hành, thực thi, cung cấp dịch vụ (số lượng, loại hình tên gọi, phân công thực hiện nhiệm vụ)
3 Nhóm chỉ số về hiện trạng bố trí, sử dụng con người trong đơn vị
- Biên chế và cơ cấu công chức hiện tại và nhu cầu biên chế cho năm tiếp theo và trung hạn (3-5 năm tới): xu hướng tăng, giảm và nguyên nhân
- Kế hoạch bố trí sử dụng trong năm (số người cần tuyển mới, số về hưu, số cần luân chuyển vị trí hoặc điều động, số cần cử đi học dài hạn không đảm đương được nhiệm vụ thường xuyên, số dự phòng v.v.)
4 Nhóm chỉ số về cơ chế tài chính và mức chi tiêu tài chính cho đơn vị:
- Cơ chế tài chính (đang áp dụng cơ chế tài chính nào và số cấp đơn vị tài chính chịu sự quản lý trực tiếp): mức độ phù hợp với tính chất chức năng, nhiệm vụ của đơn vị
- Ngân sách hàng năm và kết quả thực hiện so với dự toán ngân sách, số kính phí cấp theo đầu người (so sánh với các đơn vị cùng loại trong ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn hoạt động)
5 Nhóm chỉ số về kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn hàng năm của đơn vị và mức độ đổi mới trong hoạt động:
Trang 38- Loại sản phẩm đầu ra (đề án, dự án, loại dịch vụ công được cung cấp và khối lượng hoàn thành theo kế hoạch năm hoặc chiến lược, kế hoạch dài hạn, số lượng được giao đột xuất): khả nãng hoàn thành
- Phương thức thực hiện nhiệm vụ (nhiệm vụ cần phối hợp bên ngoài; nhiệm
vụ không cần phối hợp)
- Mức độ đổi mới trong hoạt động: số sáng kiến cải tiến hoạt động nội bộ được áp dụng vào thực tiễn
6 Nhóm chỉ số về kết quả phản hồi của dý luận đối với tổ chức:
- Trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị (đối với lãnh đạo,
về thực hiện dân chủ trong cơ quan, về hiệu quả hoạt động v.v )
- Trong công luận, trong tổ chức và công dân có quyền và lợi ích liên quan
7 Các nhóm chỉ số đặc thù khác theo tính chất, địa bàn hoạt động của tổ chức hoặc mức độ phức tạp, mức độ dân chủ trong quản lý: số lượng đơn thư khiếu kiện (số vi phạm đã có kết luận), số cán bộ, công chức, viên chức bị kỹ luật
Tóm lại, nội dung tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công được tổng hợp trong hình dưới đây:
Hình 1.2 Nội dung tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
1.3 Kinh nghiệm tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
1.3.1 Kinh nghiệm tại Pháp
Hành chính công tại Pháp là một nền hành chính công truyền thống, theo mô hình tập trung, một nền hành chính trung thành, công bằng và trong sạch (trung
Nội dung tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
Đánh giá kết quả thực hiện tổ chức
và hoạt động dịch
vụ hành chính công
Trang 39thành với Nhà nước, công bằng trong phục vụ nhân dân và trong sạch trong tài chính)
Đặc điểm của hành chính công tại Pháp là: Tôn trọng những đặc điểm riêng, khác nhau và thống nhất những cái chung, nhấn mạnh đến hệ thống ngạch, bậc và đặc biệt chú ý đến quá trình quản lý công chức
Kinh nghiệm của Pháp trong tổ chức và hoạt động dịch vụ hành chính công
có thể được tóm lược trong các nội dung sau đây:
- Pháp chú trọng đến vấn đề hiện đại hoá nền hành chính và tiến hành cải cách tổ chức và nhân sự
- Những nội dung của công cuộc hiện đại hóa nền hành chính và tiến hành cải cách tổ chức nhân sự được xác định rõ ràng, cụ thể: Cải cách việc tuyển dụng công chức và đa dạng hoá công tác quản lý nhân sự, hình thức thi tuyển
- Quản lý công chức được thực hiện rất tốt tại Pháp Để trở thành công chức
và làm việc suốt đời cho Nhà nước tại Pháp thì phải qua thi tuyển Công chức làm việc không chỉ có pháp quy về chuyên môn mà còn được bảo đảm về pháp luật từ địa vị xã hội, vị trí, đến quyền lợi và nghĩa vụ Chế độ tuyển dụng công chức của nước Pháp có nguyên tắc rõ ràng, cụ thể dựa trên hai nguyên tắc: Nguyên tắc bình đẳng không phân biệt nam, nữ, thành phần xuất thân, khuynh hướng chính trị, tôn giáo, văn hoá; Nguyên tắc tuyển chọn loại ưu qua thi cử, thi cử được tiến hành công khai, với hình thức thi viết và thi vấn đáp Cơ quan tư pháp kiểm tra toàn bộ quá trình thi và tuyển dụng
- Pháp đã coi trọng việc đào tạo nghiệp vụ cho công chức Ngay từ những năm 1960 điều này đã được thể hiện rõ Các hình thức đào tạo công chức tại Pháp cũng rất đa dạng, gồm: đào tạo ban đầu cho người mới được tuyển dụng, đào tạo thi nâng ngạch và đào tạo thường xuyên Điểm đáng lưu ý là công chức trong 03 năm không được đào tạo, bồi dưỡng, thì có quyền đề nghị được đi đào tạo, bồi dưỡng và có quyền khiếu nại đề nghị giải thích vì sao không được đi đào tạo sau 03 năm làm việc Ngoài ra, để được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo trong công vụ công
Trang 40chức cũng phải qua thi tuyển, phải vào học trường hành chính và chỉ được bổ nhiệm vào chức vụ sau khi hoàn thành khóa học
1.3.2 Kinh nghiệm tại Hàn Quốc
Hàn Quốc, từ một quốc gia nông nghiệp, kém phát triển trong thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chỉ sau hơn 30 năm, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một “con hổ châu Á” và là một trong mười nền kinh tế phát triển nhất thế giới Một trong những nhân
tố giúp Hàn Quốc đạt được kết quả đó là vì Hàn Quốc thực hiện rất tốt công tác cải cách hành chính công
Kinh nghiệm tổ chức hiệu quả dịch vụ hành chính công tại Hàn Quốc có thể tóm lược trong 1 số nội dung sau:
Thứ nhất, Hàn Quốc đã khẩn trương nghiên cứu những bài học kinh nghiệm quốc tế để xây dựng Chương trình cải cách khu vực công, nhằm khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, tập trung trên bốn lĩnh vực chính: hợp tác, tài chính, lao động và khu vực công, trong đó xem việc tăng cường thúc đẩy cơ chế thị trường là nhiệm vụ trọng tâm, ngày khi nhận thấy rằng hành chính công của quốc gia cần phải được thay đổi và cải cách
Thứ hai, các cơ quan thực hiện công tác hành chính công được Hàn Quốc chú trọng đặc biệt trong vấn đề phân quyền cụ thể với những nhiệm vụ, chức năng
rõ ràng Hàn Quốc đã thành lập Uỷ ban đặc trách trực thuộc Tổng thống, chịu trách nhiệm lập kế hoạch ngân sách, cải cách Chính phủ
Thứ ba, Hàn Quốc đã đưa vào thử nghiệm nhiều ý tưởng cải cách mới, một trong số đó là chế độ lương, thưởng dựa theo đánh giá chất lượng hoạt động của từng cá nhân (hoàn toàn trái với cơ chế trả lương dựa theo cấp bậc kiểu truyền thống), tiến hành giảm biên chế, từng bước thực hiện việc thuê khoán dịch vụ công,
mở rộng phạm vi hoạt động của khu vực tư…
Thứ tư, cải cách hành chính công tại Hàn Quốc được tiến hành tại tất cả các đơn vị thuộc khu vực công, với trọng tâm là tái cơ cấu nhằm làm gọn nhẹ bộ máy,
áp dụng nguyên tắc cạnh tranh và nguyên tắc chất lượng thực thi công việc, đã xây