Từ việc phân tích vấn đề án treo và thi hành án, có thể đưa ra khái niệm thi hành án treo như sau: Thi hành án treo là việc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của luật t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Phạm Mạnh Hùng Các nội dung nghiên cứu, số liệu, kết quả và các trích dẫn trong luận văn đảm bảo tin cậy, chính xác, trung thực và chưa từng được công bố Nếu phát hiện có bất kì gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Dương Sơn Tùng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP VỀ ÁN TREO VÀ THI HÀNH ÁN TREO 6
1.1 Khái niệm án treo và thi hành án treo 6
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về án treo và thi hành án treo 10
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THI HÀNH ÁN TREO VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN TREO TẠI TÌNH HƯNG YÊN 16
2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về thi hành án treo 16
2.2 Thực tiễn thi hành án treo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 32
Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHÁC NÂNG CAO HIỂU QUẢ THI HÀNH ÁN TREO 47
3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về án treo 47
3.2 Những giải pháp khác nâng cao hiệu quả thi hành án treo 52
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
T Trang
Bảng 2.1: Số lượng các bị cáo được hưởng án treo trên địa bàn
tỉnh Hưng Yên từ năm 2011 đến năm 2016……… ………
3
34 Biểu đồ 2.2: So sánh tình hình áp dụng án treo giữa các năm từ
năm 2011 đến năm 2016………
3
35
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự
ĐKTT : Điều kiện thử thách
HĐXX : Hội đồng xét xử
LTHAHS : Luật thi hành án hình sự
UBND : Ủy ban nhân dân
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TGTT : Thời gian thử thách
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bộ luật hình sự nước ta đã quy định một hệ thống hình phạt và các biện pháp khác có tính chất hình sự rất phong phú và đa dạng để
áp dụng đối với người phạm tội Một trong những biện pháp được áp dụng nhiều trong thực tiễn là án treo
Án treo là một chế định pháp lý hình sự, liên quan đến chấp hành hình phạt Việc áp dụng chế định này có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội Án treo không phải là hình phạt mà chỉ là biện pháp “Miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện” Có thể nói việc Tòa án cho bị cáo được hưởng án treo là “tạm thời”, nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt tù, nếu hết thời gian thử thách mà người bị được hưởng án treo không phạm tội mới nữa thì người được hưởng án treo không buộc phải chấp hành hình phạt tù
Chế định án treo là sự thể chế hóa chủ trương, chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta Mục đích của việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội là giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của chủ nghĩa xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có nghĩa là hoàn trả cho xã hội con người đã trở lên vô hại, không còn nguy cơ tái phạm Trong một số trường hợp, sẽ có hiệu quả cao hơn mà không cần bắt người phạm tội phải chấp hành hình phạt Tuy nhiên, để vận hành tốt chế định án treo, ngày 17/6/2010, Quốc Hội khóa XII đã thông qua Luật thi hành án hình sự mới và
có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2011 [17] Đây là một bước tiến lớn trong công tác thi hành án hình sự nói chung và thi hành án treo nói riêng, đã đạt được nhiều thành tích đáng kể cũng như phát huy được hiệu quả trong thực tiễn áp dụng
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án treo đối với người phạm tội chưa đạt được kết quả mong muốn Tại địa bàn tỉnh Hưng Yên, việc thi hành án treo đã đạt được nhiều hiệu quả tích cực Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và gặp
Trang 7những khó khăn, vướng mắc Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên ngày càng tăng, cùng với đó việc cho người phạm tội được hưởng án treo cũng tăng theo Hiện nay số người phạm tội được hưởng án treo là tương đối lớn Tuy nhiên việc thi hành, giám sát, giáo dục đối với người được hưởng án treo ở một số nơi còn chưa chặt chẽ Việc phối hợp giữa Tòa án với cơ quan thực hiện giám sát, giáo dục và gia đình người được hưởng án treo nhiều nơi còn lỏng lẻo, mang tính hình thức, chưa thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình theo pháp luật, dẫn tới việc quản lý, giám sát, giáo dục chưa hiệu quả, làm cho việc thi hành án treo không đạt được mục đích
Chính vì thế, việc nghiên cứu một cách sâu rộng và toàn diện về việc thi hành án treo tại địa bàn tỉnh Hưng Yên là cần thiết, góp phần nâng cao, hoàn thiện
để việc thi hành án treo đạt được hiệu quả cao Do đó, tác giả lựa chọn đề tài:
“Thi hành án treo từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” làm luận văn thạc sĩ luật học của
mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc áp dụng án treo và thi hành án treo mang đậm tính nhân đạo của Nhà nước Ở nước ta, vấn đề này đã có nhiều công trình nghiên cứu về án treo và thi hành án treo Nghiên cứu chế định án treo được đề cập trong một số cuốn sách, như giáo trình Luật hình sự của Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội Một số cuốn sách
chuyên khảo như “Án treo trong Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Học, Trường Đại học Luật Hà Nội, xuất bản năm 1996, “Chế định án treo trong
Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Văn Luật do Nhà xuất bản Tư pháp ấn
hành năm 2007…
Một số luận văn đã nghiên cứu về chế định án treo như: “Án treo trong
Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Nhuận; “Án treo và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Hải Dương” của tác giả Phạm Thanh Phương năm 2014;
“Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
của tác giả Lê Văn Luật năm 2005 cũng phân tích sâu về việc thi hành án treo
Trang 8Một số bài viết được đăng trên trang website hoặc một số tạp chí như Tòa
án nhân dân, Tạp chí Luật học, Tạp chí Kiểm sát cụ thể như sau:
- Một số suy nghĩ về chế định án treo, Tạp chí Tòa án nhân dân số
01/1991, của tác giả Nguyễn Khắc Công
- Sự cần thiết của việc áp dụng án treo đối với người phạm tội, Tạp chí
Tòa án nhân dân số 6/1994, của tác giả Lê Văn Dũng
- Một số suy nghĩ về Nghị định 61/2000/NĐ-CP về thi hành hình phạt tù
cho hưởng án treo, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2001 của tác giả Phạm Bá Thát
- Nhân thân người phạm tội và việc áp dụng biện pháp án treo, Tạp chí
Tòa án nhân dân số 6/1990, của tác giả Vũ Thế Đoàn
- Một số vấn đề về tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được
hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách, Tạp chí Kiểm sát, số
03/2005 của tác giả Lê Văn Luật
- Án treo và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Tòa án nhân dân số 7/2007 của tác
giả Đỗ Văn Chỉnh
- Điều kiện thử thách của án treo và hậu quả pháp lý của việc vi phạm
điều kiện thử thách của án treo theo luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số
2/1999, của tác giả Phạm Thị Học
- Chế định án treo và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt nam,
Tạp chí Tòa án nhân dân số 02/2005, của tác giả Lê Cảm
- Một số vấn đề về tổng hợp hình phạt tù với án treo, Tạp chí Tòa án nhân
dân tối cao, số 2/2012 của tác giả Đinh Văn Quế
Các cuốn giáo trình, các công trình nghiên cứu và các bài viết nêu trên đã phần nào làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn án treo trong luật hình sự Việt Nam Một số công trình nghiên cứu đã phân tích rõ những kết quả đạt được và hạn chế trong quá trình vận hành pháp luật thi hành án đối với người được hưởng
án treo tại một số địa phương Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào dưới góc độ chuyên sâu lý giải những kết quả đạt được và nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện pháp luật đối với người được hưởng án treo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn “Thi hành án treo từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” nhằm làm sáng tỏ hơn cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn của việc thi hành án treo, đánh giá thực trạng thi hành án treo tại tỉnh Hưng Yên, những kết quả và hạn chế của việc thi hành án treo Qua đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thi hành án treo, đảm bảo phát huy hiệu quả việc thi hành án treo trong thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hưng Yên
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn có nhiệm vụ phân tích, làm rõ các khái niệm, vai trò, tính chất
và ý nghĩa của án treo và thi hành án treo; trình tự thủ tục thi hành án treo; quyền
và nghĩa vụ của người bị kết án; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thi hành
Luận văn phân tích những kết quả và hạn chế trong thực trạng thi hành án treo tại tỉnh Hưng Yên từ năm 2011 đến năm 2016, nguyên nhân và những giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án treo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thi hành án treo từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu kết quả việc thi hành án treo ở tỉnh
Hưng Yên từ năm 2011 đến năm 2016
- Về không gian: Luận văn được nghiên cứu, khảo sát trên địa bàn của
Trang 105.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên các phương pháp như: Phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tiễn
Để có được số liệu về thực tiễn thi hành án treo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, tác giả đã nghiên cứu hồ sơ tài liệu tại Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan chịu trách nhiệm giám sát, quản lý và giáo dục người bị kết án ở tỉnh Hưng Yên Trên cơ sở đó thực hiện phân tích, tổng hợp và so sánh để làm rõ thực tiễn thi hành án treo tại Hưng Yên
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là đề tài đầu tiên tại địa bàn tỉnh Hưng Yên đề cập đến vấn đề thi hành án treo Luận văn sẽ là một tư liệu tham khảo có giá trị trong việc xây dựng pháp luật Việt Nam, tìm ra giải pháp để khắc phục những khiếm khuyết trong thực tiễn thi hành án treo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, từ đó góp phần vào công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì Luận văn gồm 03 chương là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp về án treo và thi hành án treo
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thi hành án treo và thực tiễn thi hành án treo tại tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật và các giải pháp khác nâng cao hiệu quả thi hành án treo
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP
VỀ ÁN TREO VÀ THI HÀNH ÁN TREO
1.1 Khái niệm án treo và thi hành án treo
1.1.1 Khái niệm án treo
Án treo là một chế định ra đời từ rất sớm Trên thế giới mỗi quốc gia đều
có những quy định khác nhau về chế định này Ví dụ như ở Pháp, Bỉ và một số nước khác coi án treo là việc hoãn hoặc miễn chấp hành hình phạt
Từ các quy định pháp luật về án treo của các Bộ luật hình sự của nước ta
từ trước cho đến nay đều không có quy định nào nêu ra khái niệm của án treo Tuy nhiên, Cơ quan có thẩm quyền của nước ta đã ban hành một số văn bản giải thích về án treo Cụ thể:
- Tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985 quy định [20]: “Theo Điều 44 Bộ luật hình sự thì án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Tức là căn cứ vào nhân thân của người bị kết án và những tình tiết giảm nhẹ, Tòa án sẽ miễn cho người bị kết án không phải chấp hành hình phạt tù nếu trong thời gian thử thách người đó không phạm tội mới Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải quyết định thời gian phạt tù đúng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo rồi mới cho hưởng án treo chứ không được nâng cao thời hạn tù án treo vì cho đó là hình phạt nhẹ, và phải tuyên rành rọt là bị cáo bị phạt mấy năm tù nhưng cho hưởng án treo, chứ không được tuyên là mấy năm tù án treo
Án treo chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho nên không phải là một hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù Vì vậy, sự giải thích trước đây của Tòa án nhân dân tối cao coi án treo là hình phạt nhẹ hơn (trong bản hướng dẫn
về thủ tục xét xử về hình sự kèm theo Thông tư số 19/TATC ngày 02-10-1974 và
Trang 12trong Lời tổng kết hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân năm 1976) không còn phù hợp với Bộ luật hình sự.”
- Tại Nghị quyết số 01-HĐTP ngày 18/10/1990, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985 quy định [21]: “Án treo là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá 5 năm, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần phải bất chấp hành hình phạt tù.”
- Tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 60 BLHS về án treo quy định [23]: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt
tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá
3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù.”
Như vậy, quan điểm thống nhất hiện nay đều coi án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Điều kiện đó là người được
hưởng án treo chỉ được miễn chấp hành hình phạt nếu trong thời gian thử thách, người bị kết án không phạm tội mới Nếu vi phạm điều kiện trên, người bị kết án
sẽ phải chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo nữa
Việc cho người phạm tội được hưởng án treo không chỉ thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng trong chính sách pháp luật hình sự của nước ta mà án treo còn thể hiện được tính công bằng, tính giáo dục, phòng ngừa cao Nó thể hiện rõ phương châm trừng trị kết hợp với cải tạo giáo dục trong chính sách pháp luật hình sự của nước ta Việc thi hành án nhưng cho người phạm tội được tự do của chế định án treo giúp giảm thiểu các yếu tố như chi phí, nhân lực, cơ sở vật chất
so với tội phạm bị giam giữ Tuy nhiên nếu Tòa án áp dụng án treo quá linh hoạt hoặc quá lạm dụng thì nó không phát huy được tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm
Trang 13Người phạm tội được hưởng án treo không phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam, họ vẫn được làm ăn sinh sống trong cộng đồng xã hội tuy nhiên trong thời gian thử thách, người phạm tội bị hạn chế một phần quyền tự do của mình đã được quy định cụ thể trong luật định Cụ thể, người đó phải chịu sự giám sát, quản lý của cơ quan nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú, nếu như người phạm tội vi phạm điệu kiện đã được ấn định trong thời gian thử thách thì họ phải chịu hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên trong bản án còn nếu họ không vi phạm điều kiện được ấn định trong thời gian thử thách thì họ sẽ không phải chấp hành hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên trong bản
án Như vậy, bản chất pháp lý của án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, điều kiện đó là trong thời gian thử thách, người bị kết án không phạm tội mới Nếu vi phạm điều kiện trên, người bị kết án sẽ phải chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo nữa
Án treo có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Án treo là một chế định pháp lý độc lập thể hiện tính nhân đạo, tính giáo dục cao của pháp luật hình sự nhà nước ta Nó là một biện pháp tác động có tính chất giáo dục giúp người phạm tội tự cải tạo bản thân, không những thế nó còn góp phần xã hội hóa giáo dục người phạm tội
- Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được chấp hành hình phạt đối với người được hưởng án treo là trong thời gian thử thách, người bị kết án không phạm tội mới
- Người được hưởng án treo phải chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền nơi người đó làm việc hoặc tại chính quyền địa phương nơi người đó cư trú trong thời gian thử thách do Tòa án quyết định
1.1.2 Khái niệm thi hành án treo
Hiện nay, có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm thi hành án Tuy nhiên, tựu chung lại thì có hai quan điểm cơ bản như sau:
Trang 14- Quan điểm thứ nhất : Thi hành án là một giai đoạn của tố tụng vì có xét
xử thì phải có thi hành án cho nên thi hành án dựa trên cơ sở của công tác xét xử
Do đó hoạt động thi hành án gắn liền với hoạt động xét xử, dựa trên kết quả xét
xử của Tòa án, cụ thể nó là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử
- Quan điển thứ hai: Thi hành án là hoạt động hành chính – Tư pháp Theo quan điểm này thì quá trình tố tụng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau nhưng các giai đoạn đó lại có sự liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất
và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng cho nên bản án, Quyết định của Tòa án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng Sau đó
để thực hiện các phán quyết của Tòa án trên thực tế, cơ quan thi hành án phải phối hợp với các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương để thực hiện đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thi hành Như vậy có thể coi thi hành án là hoạt động hành chính – tư pháp
Theo tác giả, để có thể xác định chính xác nhất về khái niệm thi hành án thì cần phải tìm hiểu những đặc trưng cơ bản nhất của thi hành án để từ đó đưa ra những nhận định chính xác nhất về thi hành án Thi hành án có những đặc trưng
cơ bản sau đây:
- Thi hành án là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án Không
có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động thi hành án cho nên thi hành án dựa trên kết quả xét xử của Tòa án
- Thi hành án là hoạt động có tính chấp hành Thi hành án phải hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ do pháp luật quy định
- Trong thi hành án, cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền áp dụng phương pháp giáo dục, thuyết phục phải kết hợp với phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc Điều này có ý nghĩa tác động trực tiếp đến đối tượng thi hành án
để họ tự giác thi hành hoặc dùng các biện pháp buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án
Trang 15Từ những nhận định trên, có thể hiểu: Thi hành án là việc của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong thi hành bản án, quyết định của Tòa án đưa bản
án, quyết định của Tòa án ra thi hành trên thực tế nhằm bảo đảm hiệu lực của bản
án, quyết định đó
Từ việc phân tích vấn đề án treo và thi hành án, có thể đưa ra khái niệm thi hành án treo như sau: Thi hành án treo là việc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của luật thi hành án hình sự áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục có tính chất cưỡng chế đối với người bị kết án đã được Tòa án tuyên phạt
tù nhưng cho hưởng án treo trong thời gian thử thách nhằm bảo đảm hiệu lực của
án treo
Ở nước ta hiện nay, án treo là một chế định thật sự cần thiết, nó phần nào giúp nhà nước giải quyết được các vấn đề nêu trên như giảm tải được gánh nặng của những người áp dụng hình phạt tù lên nhà nước, không chỉ có tính răn đe mà còn có tính cải tạo, giáo dục người phạm tội Hơn nữa nó vẫn đảm bảo được tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật nước ta
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về án treo và thi hành án treo
1.2.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 đến trước khi ban hành Bộ luật hình
sự năm 1985
Trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời, chế định án treo được quy định lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 33C của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành ngày 13/9/1945 Trong Sắc lệnh số 33C có nêu
rõ quy định về án treo: “Nếu có những lý do chính đáng khoan hồng vì ít tuổi, vì biết hối quá, vì lầm lẫn, v.v , thì toà án có thể cho tội nhân được hưởng án treo Nghĩa là bản án làm tội tuyên lên, nhưng không thi hành; nếu trong năm năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Toà án quân sự làm tội một lần nữa về việc mới thì bản án đã tuyên sẽ huỷ đi, coi như là không có; nếu trong hạn năm năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước Toà án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành” [15]
Trang 16Sau Sắc lệnh số 33C thì ngày 14/02/1946 Sắc lệnh số 21/SL của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành để thay thế sắc lệnh số 33C [14] Tại Điều 10 sắc lệnh số 21/SL này quy định về án treo và thi hành án treo như sau: “Khi phạt tù, Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những
lý do đáng khoan hồng, bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên, tội nhân không bị Tòa án quân sự làm tội một lần nữa về tội mới thì bản án đã tuyên sẽ bị hủy đi, coi như không có Nếu trong 5 năm ấy tội nhân bị kết án một lần nữa trước một Tòa án quân sự thì bản án sẽ đem thi hành” [14]
Sắc lệnh số 21/SL ban hành quy định về án treo có một số thay đổi về nội dung và câu chữ so với Sắc lệnh số 33C Tại Sắc lệnh số 33C quy định “Toà
án có thể cho tội nhân được hưởng án treo, nghĩa là bản án làm tội tuyên lên, nhưng không thi hành” Nhưng trong Sắc lệnh số 21/SL, pháp luật quy định “Khi phạt tù, Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng, bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành…” Như vậy, thay đổi này đã cho thấy sự rõ ràng hơn, nghĩa là bản án tuyên đối với người được hưởng
án treo không phải là “không khi hành” mà là “tạm đình chỉ việc thi hành” Ngoài ra, các nội dung trong quy định về án treo tại hai Sắc lệnh này đều tương đối giống nhau
1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Cùng với sự phát triển của xã hội, để đáp ứng những yêu cầu mới thì Luật hình sự cũng được hoàn thiện Đánh dấu sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam, ngày 01/01/1986 Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam chính thức có hiệu lực Theo quy định mới thì án treo và thi hành án treo được quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự năm 1985 Cụ thể Điều 44 quy định như sau:
“1 Khi xử phạt tù không quá 05 năm, căn cứ vào thân nhân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét không cần phải bắt chấp hành hình
Trang 17phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến 05 năm
2 Toà án giao người bị án treo cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để theo dõi, giáo dục
3 Người bị án treo có thể phải chịu thêm một số hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định quy định ở Điều 23 và Điều 28
4 Nếu người bị án treo đã chấp hành được một nửa thời gian thử thách và
có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm theo dõi, giáo dục, Toà án có thể rút ngắn thời gian thử thách
5 Nếu trong thời gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới và bị xử phạt tù thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định ở khoản 2 Điều 42.”
Ngày 21/12/1999, Bộ luật hình sự mới được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000 Tại bộ luật này, án treo được quy định tại Điều 60 cụ thể như sau:
“1 Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm
2 Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho
cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người
đó thường trú để giám sát và giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó
3 Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này
Trang 184 Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách
5 Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này.”
Quy định về án treo tại Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn giữ được 05 khoản như Bộ luật năm 1985 nhưng đã được sửa đổi và bổ sung cho chính xác hơn về mặt ngữ nghĩa Như thay đổi cụm từ “theo dõi” thành “giám sát”, “người bị án treo” thành “người được hưởng án treo”, riêng Khoản 5 luật cũ được sửa đổi như sau: Bãi bỏ cụm từ “người bị án treo phạm tội mới và bị phạt tù hoặc phạm tội mới do cố ý” thành “đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách”
Sau đó ngày 01/10/2007, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
đã hướng dẫn thực hiện Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 về án treo tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP Nghị quyết này quy định cụ thể hơn về các điều kiện cho người bị xử phạt tù được hưởng án treo; hướng dẫn tính thời điểm bắt đầu thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo; hướng dẫn ấn định thời gian thử thách; quy định rõ hơn về các điều kiện rút ngắn thời gian thử thách và mức rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo; hướng dẫn xác định cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; hướng dẫn giải quyết trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; ngoài ra Nghị quyết này đã bổ sung quy định trong trường hợp người được hưởng án treo trước đó bị tạm giam, quy định như sau: “Đối với người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì chỉ cho hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù” Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP sau khi được ban hành đã giúp cho các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện thi hành án treo đạt được hiệu quả cao hơn, giải quyết được những vướng mắc gặp phải trước đó
Trang 19Ngày 06/11/2013, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có Nghị Quyết số 01/2013/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 Tại Nghị quyết này đã có nhiều thay đổi và bổ sung so với Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP Cụ thể Nghị quyết số 01/2013/HĐTP thay đổi, bổ sung về những điều kiện để cho người phạm tội được hưởng án treo như ở Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP quy định điều kiện để người phạm tội được hưởng án treo là bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì còn Nghị quyết số 01/2013-HĐTP quy định chỉ cho người được hưởng án treo khi họ bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết này bổ sung thêm quy định về những trường hợp không cho hưởng án treo và đưa ra những lưu ý cần thiết khi xem xét, quyết định cho người bị kết án được hưởng án treo; Ngoài
ra Nghị quyết bổ thêm sung những quy định mới về tổng hợp hình phạt khi người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách và bổ sung quy đinh
về trường hợp người được hưởng án treo bị đưa ra xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP như sau: “Trường hợp một người đang được hưởng án treo mà sau đó lại phát hiện trước khi được hưởng án treo họ đã thực hiện một tội phạm khác, thì Tòa án xét xử, quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và không cho hưởng án treo một lần nữa Người phạm tội đồng thời phải chấp hành hai bản án Việc thi hành án trong trường hợp này do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định tại Điều 5 của Luật thi hành án hình sự.”
Trải qua hơn 15 năm Bộ luật hình sự năm 1999 ban hành và có hiệu lực,
để đáp ứng với điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta ngày càng phát triển, để bắt kịp với thời đại và phù hợp với điều kiện hiện nay, Bộ luật hình sự năm 2015 đã được ban hành, nhằm đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm tại Việt Nam Tại Bộ luật này, án treo được quy định tại Điều 65 [9] Nếu so với Điều 60 BLHS
Trang 20năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì chế định về án treo quy định tại Điều
65 BLHS năm 2015 có nội dung đầy đủ, bao quát hơn
Kết luận chương 1
Án treo là một chế định pháp lý, là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù
có điều kiện do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án Chế định án treo ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của luật hình sự Việt Nam từ những ngày đầu thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân Trải qua quá trình sửa đổi, bổ sung, chế định án treo được quy định mới nhất và cụ thể nhất hiện nay tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 61 đến Điều 70 của Luật thi hành án hình sự năm 2010 Hoạt động thực hiện pháp luật là quá trình đưa pháp luật vào đời sống, áp dụng những quy định trong văn bản vào hiện thực, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của những bản án mà Tòa án tuyên Thực hiện tốt pháp luật thi hành án nói chung
và thi hành án đối với người được hưởng án treo nói riêng giúp cho người phạm tội có cơ hội cải tạo, trở thành người có ích và đồng thời là kênh tuyên truyền, giáo dục pháp luật Để thực hiện tốt được những quy định pháp luật của chế định
án treo cần hiểu rõ bản chất và ý nghĩa của án treo Chương 1 của Luận văn đã phân tích một cách khái quát về án treo trong luật hình sự Việt Nam, bao gồm: Khái niệm án treo, khái niệm thi hành án treo, lịch sử lập pháp của Việt Nam về
án treo và thi hành án treo qua từng giai đoạn, từ sau cách mạng tháng 8 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 và sau khi có Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi có Bộ luật hình sự năm 1999
Trang 21Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THI HÀNH ÁN TREO VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN TREO
TẠI TỈNH HƯNG YÊN
2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về thi hành án treo
2.1.1 Quyết định thi hành án treo và thủ tục thi hành án treo
Thứ nhất, về thẩm quyền, nội dung quyết định thi hành án treo và thủ tục của quyết định thi hành án treo:
Trong hoạt động thi hành án treo, Tòa án có nhiệm vụ ra quyết định thi hành án treo Theo quy định tại Khoản 1 Điều 61 Luật thi hành án hình sự năm
2010, quyết định thi hành án phải ghi rõ họ tên người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành;họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được hưởng án treo; hình phạt bổ sung; Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo Trong thời hạn 03 ngày làm việc , kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Tòa
án phải gửi quyết định đó cho: Người được hưởng án treo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hay cấp quân khu nơi người đó cư trú hay làm việc, Sở tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án
có trụ sở
Tòa án phải gửi quyết định thi hành án cho người được hưởng án treo để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ và để người đó nắm bắt được các hình phạt mình phải chịu để thực hiện theo quyết định đó Tòa án gửi quyết định thi hành án treo cho Cơ quan thi hành án hình sự để bắt đầu thực hiện các thủ tục, trình tự thi hành quyết định thi hành án của người được hưởng án treo Sau khi nhận được quyết định thi hành án của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền phải triệu tập người được hưởng án treo và làm các thủ tục cần thiết trong thi hành quyết định thi hành án treo Song song, Tòa án phải gửi quyết định đó cho Viện
Trang 22kiểm sát để Viện kiểm sát nắm bắt được tình hình và kiểm sát quyết định thi hành
án có đúng quy định của pháp luật hay không, đồng thời Viện kiểm sát thực hiện trách nhiệm của mình trong việc kiểm sát thi hành án của người được hưởng án treo Còn về Sở tư pháp nơi Tòa án ra quyết định thi hành án có trụ sở, Tòa án gửi quyết định cho Sở tư pháp để Sở tư pháp thực hiện tốt chức năng theo dõi thi hành pháp luật của mình và xử lý, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp của người được hưởng án treo
Thứ hai, về thẩm quyền và trình tự, thủ tục thi hành quyết định thi hành
án treo
Sau khi Tòa án ra quyết định thi hành án treo thì trong thời hạn 03 ngày làm việc Tòa án phải gửi quyết định đó cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hay Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó cư trú, làm việc; người được hưởng án treo; Viện kiểm sát cùng cấp; Sở tư pháp nơi Tòa án ra quyết định thi hành án có trụ sở theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 61 Luật thi hành án hình sự Việc thi hành quyết định thi hành án treo này được quy định tại Điều 62 Luật thi hành án hình sự năm 2010
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu có nhiệm vụ triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện hợp pháp của người được hưởng án treo là người chưa thành niên đến trụ sở cơ quan thi hành án để ấn định thời gian cho người được hưởng án treo phải có mặt tại Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nơi người đó cư trú, làm việc và cam kết việc chấp hành án, lập hồ sơ thi hành án Về Hồ sơ thi hành án treo được quy định rõ trong Khoản 1 Điều 62 Luật thi hành án hình sự bao gồm: Bản án đã có hiệu lực pháp luật; Quyết định thi hành án treo; Cam kết của người được hưởng
án treo, đối với người được hưởng án treo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết của người đó phải có sự xác nhận của người đại diện hợp pháp và các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án treo.
Trang 23Tiếp đó,trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện hợp pháp của người được hưởng án treo thì cơ quan thi hành
án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải giao
hồ sơ thi hành án cho Uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao nhiệm
vụ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo theo đúng quy định của pháp luật
Sau đó, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ thi hành án và phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người được hưởng án treo Trong quá trình thi hành án treo, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội, người trực tiếp được giao giám sát, giáo dục người được hưởng
án treo phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo đúng quy định của luật thi hành án hình sự năm 2010
Đối với người được hưởng án treo, trong thời gian thử thách người đó phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 64 Luật thi hành án hình sự năm 2010 Trong thời gian thử thách, cứ ba tháng một lần người
đó phải nộp bản tự nhận xét của mình về việc chấp hành pháp luật cho người được phân công trực tiếp giám sát mình để người giám sát, giáo dục bổ sung vào hồ sơ thi hành án treo
Trước khi hết thời gian thử thách 3 ngày, Uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để xem xét và cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách Giấy chứng nhận phải gửi cho người được hưởng án treo, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn
vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở
Tư pháp nơi tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở
Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc thi hành án treo
Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp Trong hoạt động kiểm sát thi hành án đối với người bị kết án phạt tù cho hưởng án treo, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong việc thi
Trang 24hành án treo nhằm đảm bảo các bản án, quyết định đó được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời theo quy định tại Điều 141 luật thi hành án hình sự năm
2010 và Điều 25, 26 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014 Khi thực hiện nhiệm vụ trong thi hành án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
- Yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới ra quyết định thi hành
án treo đúng quy định pháp luật, hoặc Tòa án tự kiểm tra việc thi hành án treo và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân; yêu cầu Tòa án cung cấp
hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc thi hành án treo
- Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án treo của cơ quan thi hành án, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan và việc giải quyết kháng cáo, khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án treo;
- Tham gia việc xét giảm thời gian thử thách của án treo, xóa án tích;
- Kháng nghị với tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức, đơn vị có vi phạm trong việc thi hành án treo, yêu cầu chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong thi hành án nếu có
2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc được quy định tại Điều 63 Luật Thi hành
án hình sự năm 2010 như sau:
“1 Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; b) Phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;
c) Yêu cầu người được hưởng án treo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
d) Biểu dương người được hưởng án treo có nhiều tiến bộ hoặc lập công;
Trang 25đ) Giải quyết cho người được hưởng án treo được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;
e) Phối hợp với gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hưởng án
treo làm việc, học tập trong việc giám sát, giáo dục người đó;
g) Lập hồ sơ đề nghị xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách gửi cơ quan có thẩm quyền đề nghị quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật này;
h) Nhận xét bằng văn bản và lưu vào sổ theo dõi về quá trình chấp hành
án của người được hưởng án treo khi người đó chuyển đi nơi khác;
i) Thực hiện thống kê, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền
về kết quả thi hành án;
k) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo theo quy định của pháp luật;
l) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án treo theo quy định của Luật này
2 Trưởng Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được quy định tại khoản 1 Điều này
3 Đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các Điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i Khoản 1 Điều này.”
Với những nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc được quy định tại Điều 63 Luật thi hành án hình sự, đã giúp cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội tăng cường hiệu quả công tác giám sát, giáo dục người được hưởng án treo Với những nhiệm vụ, quyền hạn trên, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội sẽ bảo đảm cho Quyết định thi hành án của Tòa án được thi hành trên thực tế một cách chính xác nhất Trong quá trình thi hành Quyết định thi hành án treo, Ủy ban nhân dân,
Trang 26đơn vị quân đội đã tham gia với tư cách là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn trực tiếp thi hành án hoặc có tư cách là cơ quan phối hợp trực tiếp với cơ quan thi hành
án hình sự
Sau khi tiếp nhận hồ sơ thi hành án treo của người được hưởng án treo thì
cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục phải lập tức phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người đó; trong thời gian thử thách, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục sử dụng những quyền hạn của mình để yêu cầu người đó thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình được quy định tại Luật thi hành án hình sự, nếu người
đó vi phạm những nghĩa vụ của mình trong thời gian thử thách thì cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục có quyền kiểm điểm bằng văn bản người đó Ngược lại nếu người đó có những tiến bộ hoặc lập công thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục phải kịp thời biểu dương, khen thưởng người đó, tạo động lực cho họ tiếp tục tiến bộ hơn nữa, nếu thấy người đấy có tiến bộ và có đủ điều kiện để rút ngắn thời gian thử thách thì Cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục lập hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách gửi cho Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 66 Luật thi hành án hình sự năm 2010 Ngoài ra để nâng cao hiệu quả hơn việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, Cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục phải phối hợp với gia đình người được hưởng án treo để nắm bắt được tình hình chấp hành án của người đó tốt nhất Cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo phải thực hiện thống
kê, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án
Trong các trường hợp cụ thể, Luật thi hành án hình sự năm 2010 có những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tổ chức được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo để giải quyết các trường hợp đó Cụ thể: Nếu người được hưởng án treo phải vắng mặt ở nơi cư trú, làm việc thì Cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục có quyền giải quyết cho người đó được vắng mặt ở nơi cư trú, nơi làm việc theo Điểm đ khoản 1, Khoản 2 Điều 63 Luật thi hành án hình sự; bảo đảm cho người được hưởng án treo được làm việc và học tập theo Điều 65 Luật thi hành án hình sự; thực hiện việc kiểm điểm người được hưởng án treo khi
Trang 27người đó vi phạm nghĩa vụ của mình quy định trong Luật thi hành án hình sự, trường hợp này được quy định tại Điều 67 luật thi hành án hình sự; khi người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc thì Cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó phải báo ngay cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển hồ sơ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó đến cư trú hay làm việc để giám sát, giáo dục họ
Ngoài những nghĩa vụ của người được hưởng án treo quy định trong Luật thi hành án hình sự thì Cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục không được đặt thêm nghĩa vụ, hạn chế nào khác cho người được hưởng án treo
2.1.3 Nghĩa vụ, quyền hạn của người được hưởng án treo và trách nhiệm của gia đình người được hưởng án treo
Các nghĩa vụ của người được hưởng án treo trong thời gian thử thách được quy định tại Điều 64 Luật thi hành án hình sự như sau:
- Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
- Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục
- Trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng
- Ba tháng một lần trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phải nộp bản tự nhận xét về việc chấp hành pháp luật cho người trực tiếp giám sát, giáo dục; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 03 tháng đến 06 tháng, thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó
Trang 28Quyền của người được hưởng án treo được quy định tại Điều 65 Luật thi hành án hình sự năm 2010 như sau:
“1 Người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được
bố trí công việc bảo đảm yêu cầu giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà mình đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật
2 Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được Uỷ ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện để người đó tìm việc làm
3 Người được hưởng án treo được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở
đó
4 Người được hưởng án treo thuộc đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì vẫn được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.”
Đây là những quy định giúp cho người được hưởng án treo có thể tiếp tục sinh sống, học tập và làm việc trong cộng đồng xã hội và đảm bảo cho những quyền lợi của người được hưởng án treo không bị mất Một số quyền lợi như chế
độ bảo hiểm xã hội, chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng, được tạo công ăn việc làm theo quy định của pháp luật
Trách nhiệm của gia đình người được hưởng án treo được quy định tại Điều 70 Luật thi hành án hình sự năm 2010 như sau:
“1 Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và người được phân công trong việc giám sát, giáo dục người
Trang 29được hưởng án treo; thông báo kết quả chấp hành án của người được hưởng án treo với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục khi có yêu cầu
2 Bồi thường thiệt hại và thực hiện các nghĩa vụ dân sự khác do người được hưởng án treo là người chưa thành niên gây ra theo bản án, quyết định của Tòa án
3 Phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục.”
Các thành viên trong gia đình người bị kết án là những người có quan hệ thân thiết, gần gũi với người đó, họ tạo nên môi trường sống hẹp có thể ảnh hưởng đến khuynh hướng xử sự của người bị kết án, vì vậy họ cũng có trách nhiệm trong việc giáo dục người bị kết án Mặt khác,chính do tính chất quan hệ giữa họ và người bị kết án nên họ là những người có khả năng tác động đến quá trình rèn luyện, tu dưỡng của người đó Xuất phát từ lý do đó, gia đình người bị kết án có trách nhiệm được quy định tại Điều 70 Luật thi hành án hình sự năm 2010 là thật
sự cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả của việc thi hành án treo
2.1.4 Thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
Thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo được quy định tại Điều 66 Luật thi hành án hình sự năm 2010 và được hướng dẫn thi hành tại Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC của Bộ công an, Bộ quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành ngày 14/8/2012 về hướng dẫn rút ngắn thời gian thử thách của án treo
Khi người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ trong quá trình chấp hành án, thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình và đáp ứng đầy đủ các điều kiện để rút ngắn thời gian thử thách theo quy định tại Khoản 4 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, Thủ trưởng đơn vị quân đội nơi người đó làm việc tổ chức cuộc họp để lập hồ sơ và đề nghị Cơ quan thi hành án hình sự
Trang 30Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó làm việc xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách cho người được hưởng án treo
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách thử thách của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội thì cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo và chuyển hồ sơ đó cho Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú, Tòa án quân sự nơi người đó làm việc xem xét và quyết định việc rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo Sau
đó Cơ quan thi hành án hình sự sẽ sao gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện kiểm sát việc rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo Theo quy định tại Khoản 1 Điều 66 Luật thi hành án hình sự, Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của Cơ quan thi hành án hình sự gồm có:
- Bản sao bản án Đối với trường hợp xét rút ngắn thời gian thử thách từ lần thứ hai, thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án treo;
- Văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của Ủy ban nhân dân cấp
xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo Theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC, văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
có nội dung sau: Căn cứ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách cho người được hưởng án treo; họ tên, năm sinh, nơi cư trú của người được hưởng án treo; tội danh, thời hạn phạt tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách; số bản án hình sự,
số quyết định thi hành án hình phạt tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách đã chấp hành, thời gian thử thách còn lại; tóm tắt quá trình phạm tội của người được hưởng án treo, mối quan hệ gia đình (bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con), nhận xét của
cơ quan thi hành án hình sự về việc chấp hành nghĩa vụ của người được hưởng án treo; đề nghị mức rút ngắn thời gian thử thách;
Trang 31- Trường hợp được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người được hưởng án treo lập công;
- Trường hợp đã được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có bản sao quyết định rút ngắn thời gian thử thách
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú, Tòa án quân sự nơi người đó làm việc phải thành lập Hội đồng xét rút ngắn thời gian thử thách của án treo và phân công Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách Hội đồng xét rút ngắn thời gian thử thách gồm ba thẩm phán, nếu Tòa án không có đủ ba thẩm phán thì phải có hai thẩm phán cùng một hội thẩm và Kiểm sát viên của Viện kiểm sát cùng cấp theo đúng quy định của pháp luật Về địa điểm phiên họp, Hội đồng có thể mở phiên họp tại trụ sở của Tòa án hoặc trụ sở tại cơ quan thi hành án
đã lập hồ sơ đề nghị
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Tòa án có thẩm quyền phải ấn định ngày mở phiên họp xét rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên tham gia phiên họp này
Về thời hạn mở phiên họp xét rút ngắn thời gian thử thách không được quá 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách Trong trường hợp nếu Tòa án có thẩm quyền thấy hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách còn thiếu những tài liệu cần thiết hay những vấn đề chưa rõ thì Tòa án có thể yêu cầu cơ quan thi hành án bổ sung và làm rõ thêm, lúc này thời hạn phiên họp sẽ được tính từ ngày Tòa án nhận được tài liện bổ sung hay văn bản
về vẫn đề cần làm rõ của cơ quan thi hành án theo đúng quy định tại khoản 2 Điều
66 Luật thi hành án hình sự năm 2010
Trang 32Trong quá trình tiến hành phiên họp xét rút ngắn thời gian thử thách của Tòa án có thẩm quyền, trình tự, thủ tục phiên họp đó được hướng dẫn cụ thể tại Khoản 4 Điều 6 của Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC như sau: đầu tiên một thành viên của Hội đồng trình bày Hồ sơ đề nghị, tiếp sau đó đại diện Viện kiểm sát sẽ phát biểu ý kiến, sau cùng Hội đồng thảo luận và đưa ra quyết định cho việc rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo
Về quyền hạn của Hội đồng xét rút ngắn thời gian thử thách được quy định rõ tại Khoản 5 Điều 6 Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC Cụ thể như sau:
- Hội đồng có thể chấp nhận toàn bộ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo, trong trường hợp sau khi chấp nhận toàn bộ đề nghị thì thời gian thử thách còn lại không quá một tháng thì Hội đồng có thể quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại của người được hưởng án treo
- Hội đồng có thể chấp nhận một phần đề nghị rút ngắn thời gian thử thách
- Hội đồng có thể không chấp nhận đề nghị rút ngắn thời gian thử thách Sau khi ra quyết định rút ngắn thời gian thử thách , trong thời hạn 03 ngày làm việc Tòa án có thẩm quyền phải gửi quyết định đó cho người được rút ngắn thời gian thử thách; Viện kiểm sát cùng cấp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; Tòa
án đã ra quyết định cho người phạm tội được hưởng án treo; Sở tư pháp nơi Tòa
án đã ra quyết định có trụ sở theo đúng quy định tại Khoản 3 Điều 66 Luật thi hành án hình sự năm 2010
Trong trường hợp, Viện kiểm sát phát hiện thấy có sai phạm trong quá trình xét rút ngắn thời gian thử thách thì Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Về thời hạn kháng nghị, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày , của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười năm ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định đó
Trang 33Việc rút ngắn thời gian thử thách đã được pháp luật Việt Nam quy định rất rõ, đảm bảo cho quyền lợi của người được hưởng án treo khi họ có những tiến
bộ trong quá trình chấp hành án treo của mình Quy định này tạo động lực cho người được hưởng án treo tự cải tạo, giáo dục chính bản thân mình để sớm trở thành công dân có ích cho xã hội
2.1.5 Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, kiểm điểm người được hưởng án treo và bổ sung hồ sơ án treo
Về việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi
cư trú hoặc nơi làm việc:
Giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự năm 2010 như sau:
“1 Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm
vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú
để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp
2 Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc trong phạm vi quân khu thì đơn vị quân đội có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án cho đơn vị quân đội nơi người được hưởng án treo đến làm việc để giám sát, giáo dục
Trang 34Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc ngoài phạm
vi quân khu thì cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp nơi người được hưởng án treo đến làm việc để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án quân sự khu vực
và Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo đến làm việc
Trường hợp người được hưởng án treo không tiếp tục làm việc trong quân đội thì cơ quan cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục chuyển hồ
sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật này.”
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, theo Căn cứ tại Điểm b Khoản 1 Điều 4, Thông tư 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 của Bộ Công
an quy định [3]:
“1 Người dưới đây, trong thời gian bị hạn chế quyền tự do cư trú thì tạm thời chưa được giải quyết thủ tục thay đổi nơi cư trú (trừ trường hợp có sự đồng ý cho thay đổi nơi cư trú bằng văn bản của cơ quan đã áp dụng biện pháp đó):
b) Người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang
án có thẩm quyền trả lời đồng ý bằng văn bản thì người đó mới được thay đổi nơi
cư trú và tiếp tục thực hiện thay đổi nơi cư trú như theo Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự năm 2010
Trang 35Trường hợp người được hưởng án treo chịu sự giám sát, giáo dục của đơn
vị quân đội nơi người đó làm việc muốn thay đổi nơi làm việc thì người đó phải
có sự đồng ý của đơn vị quân đội nơi người đó làm việc và làm theo đúng quy định Khoản 2 Điều 69 Luật thi hành án hình sự năm 2010
* Về việc kiểm điểm người được hưởng án treo:
Điều 67 Luật thi hành án hình sự năm 2010 quy định:
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 64 của Luật này và đã bị nhắc nhở từ hai lần trở lên mà tiếp tục
vi phạm nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự thì Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục phải phối hợp với cơ quan, tổ chức, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở tổ chức họp tại cộng đồng dân cư nơi người được hưởng án treo cư trú, làm việc để kiểm điểm người đó; trường hợp người được hưởng án treo đang làm việc tại đơn vị quân đội thì việc kiểm điểm được thực hiện tại đơn vị quân đội nơi người đó làm việc Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ thi hành án treo và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu”
Như vậy, nếu người được hưởng án treo vi phạm các nghĩa vụ của mình được quy định trong Điều 64 Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc phải kiểm điểm người đó bằng văn bản và lưu vào hồ sơ thi hành án, sau đó báo cáo lên cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền Tuy nhiên quy định không có đủ sức răn đe đối với người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ của mình trong thời gian thử thách cho nên Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định mới để giải quyết trường hợp này như sau [9]: “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.”