Để thực hiện được điều đó Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã đồng ý cho tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh
Trang 1TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành: Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2012- 2016
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành: Lâm nghiệp Lớp : K44 – LN Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2012- 2016 Giảng viên hướng dẫn: TS LÊ SỸ HỒNG
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Khóa luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và sửa
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 05 năm 2016
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên
TS Lê Sỹ Hồng Nguyễn Thanh Tuyến
Giảng viên phản biện
(ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu biết để mỗi sinh viên có thể vận dụng được những gì mà mình đã được học và làm quen với thực tiễn, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và tích lũy được những kinh nghiệm cần thiết sau này
Để thực hiện được điều đó Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp – Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã đồng ý cho tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng NAA (1- Naphthalene Acetic Acid) đến khả năng hình thành cây hom Tùng La Hán
(Podocarpus macrophyllus) tại vườn ươm trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trong suốt thời gian thực tập, bằng niềm say mê nhiệt tình và sự cố gắng bản thân cùng với sự nhiệt tình giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, đặc biệt là thầy giáo TS Lê Sỹ Hồng, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi đề tài này và cán bộ vườn ươm Khoa Lâm Nghiệp đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt thời quá trình hoàn thiện bản khóa luận này
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới tất cả sự giúp đỡ quý báu đó
Do thời gian và trình độ có hạn, nên bản khóa luận này sẽ còn nhiều thiếu sót Rất mong sự góp ý của các thầy cô và các bạn sinh viên để bản khóa luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2016 Sinh viên
Nguyễn Thanh Tuyến
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí
nghiệm ở định kỳ theo dõi khi dù ng thuốc kích thích sinh
trưởng NAA 28 Bảng 4.2: Các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí
nghiệm khi dù ng thuốc kích thích sinh trưởng NAA 30 Bảng 4.3: Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của cây hom cây Tùng
La Hán ở cuối thí nghiệm khi dù ng thuốc kích thích sinh trưởng NAA 34 Bảng 4.4: Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng về chỉ số ra
rễ của hom cây Tùng La Hán khi dù ng thuốc kích thích sinh
trưởng NAA ANOVA 36 Bảng 4.5: Bảng sai dị từng cặp |xi - xj| cho chỉ số ra rễ của hom cây
Tùng La Hán khi dùng thuốc kích thích sinh trưởng NAA 36 Bảng 4.6.Tỷ lệ ra chồi của cây hom Tùng La Hán ở các công thức thí
nghiệm 37 Bảng 4.7: Bảng tổng hợp kết hợp kết quả về chỉ số ra chồi của cây hom
cây Tùng La Hán ở đợi cuối thí nghiệm khi dù ng thuốc kích
thích sinh trưởng NAA 42 Bảng 4.8 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chỉ số ra chồi của cây
Tùng La Hán ANOVA 44 Bảng 4.9: Bảng sai dị từng cặp|xi - xj|| cho chỉ số ra chồi của hom cây
Tùng La Hán khi dùng thuốc kích thích sinh trưởng NAA 44
Trang 6
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Tỷ l ệ sống của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí
nghiệm khi dù ng thuốc NAA 28 Hình 4.2 Biểu đồ chỉ tiêu tỷ lệ hom ra rễ cây Tùng La Hán ở các công
thức thí nghiệm khi dù ng thuốc NAA 30 Hình 4.3 Biểu đồ chỉ tiêu số rễ TB/hom cây Tùng La Hán ở các công
thức thí nghiệm khi dù ng thuốc NAA 31 Hình 4.4 Biểu đồ chỉ tiêu chiều dài rễ TB/hom cây Tùng La Hán ở các
công thức thí nghiệm khi dù ng thuốc NAA 32 Hình 4.5 Biểu đồ chỉ tiêu chỉ số ra rễ cây Tùng La Hán ở các công thức
thí nghiệm khi dù ng thuốc NAA 33 Hình 4.6.Tỉ lệ chồi của các công thức thí nghiệm giâm hom cây Tùng La
Hán (%) 38 Hình 4.7 Số chồi trung bình/hom của các công thức thí nghiệm giâm
hom cây Tùng La Hán (cái) 39 Hình 4.8 Chiều dài chồi trung bình/hom của các công thức thí nghiệm
giâm hom cây Tùng La Hán (cm) 40 Hình 4.9 Chỉ số ra chồi của cá cong thức thí nghiệm giâm hom cây
Tùng La Hán 41
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
IBA INDOLE-3-BUTANIC ACID
CTTN Công thức thí nghiệm
Trang 8MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của giâm hom 4
2.1.1 Cơ sở tế bào học 5
2.1.2 Cơ sở di truyền học 5
2.1.3 Sự hình thành rễ của cây hom 6
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm 7
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 13
2.3 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 14
2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 15
2.4.1 Vị trí địa lý 15
2.4.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 15
2.5 Những thông tin về cây Tùng La Hán 16
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
Trang 93.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2.Phạm vi nghiên cứu 18
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18
3.4.3 Thu thập và xử lý số liệu 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 28
4.1 Kết quả về tỷ lệ sống của hom cây Tùng la hán dưới ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA 28
4.2 Kết quả về các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm khi dù ng thuốc kích thích sinh trưởng NAA 29
4.2.1 Kết quả về tỉ lệ ra rễ trung bình của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm 30
4.2.2 Kết quả về số rễ trung bình/ hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm 31
4.2.3 Kết quả về chiều dài rễ trung bình/ hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm 32
4.2.4 Kết quả về chỉ số ra rễ của cây hom Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm 33
4.3 Kết quả về tỷ lệ ra chồi của hom cây Tùng La Hán 37
4.3.1 Kết quả về tỉ lệ ra chồi trung bình của hom cây cây Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm 37
4.3.2 Kết quả về số chồi trung bình/hom của hom cây Tùng La Hán 39
4.3.3 Kết quả về chiều dài chồi trung bình/hom của hom cây Tùng La Hán 40
Trang 104.3.4 Kết quả về chỉ số ra chồi trung bình/hom của hom cây Tùng La
Hán 41
PHẦN 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Tồn tại, giải pháp và kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cây xanh có vai trò vô cùng to lớn trong cuộc sống của chúng ta Từ xa xưa đến nay, cuộc sống của loài người luôn gắn bó và không thể tách rời khỏi thiên nhiên Thế nên, bất kể ai khi đứng trước các yếu tố tạo nên thiên nhiên (nước, cỏ cây hoa lá, núi non…) đều cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng và thư thái, như tìm được chốn yên bình sau khoảng thời gian ồn ào vội vã của cuộc sống Cây xanh là để bảo vệ môi trường và cải thiện không gian sống quanh ta, ngoài các biện pháp giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì việc trồng và bảo vệ cây xanh có vai trò vô cùng quan trọng Bởi trước hết, hệ thống cây xanh có tác dụng cải thiện khí hậu vì chúng có khả năng ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn quá trình bốc hơi nước, giữ độ ẩm đất và độ ẩm không khí, kiểm soát gió và lưu thông gió
Cây xanh có tác dụng bảo vệ môi trường: hút khí CO2 và cung cấp O2, ngăn giữ các chất khí bụi độc hại Để phục vụ cho việc tạo cảnh quan, công tác giống đóng một vai trò không thể thiếu được trong trồng rừng, nhằm tái tạo, giúp cho sản xuất nghề rừng được lâu dài sớm phát huy công dụng phòng
hộ vào bảo vệ môi trường 6
Giống là một khâu quan trọng của rừng thâm canh, không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao 7
Những loài cây sau khi đã được chọn lọc, khảo nghiệm thì việc lựa chọn phương pháp nhân giống cực kỳ quan trọng trong việc duy trì những tình trạng tốt của loài cây Có rất nhiều cách tạo giống bằng nhiều phương pháp khác nhau như nuôi cấy mô t ế bào trong môi trường nhân tạo, nhân giống sinh dưỡng… Trong đó nhân giống bằng hom là một trong những công
cụ có hiệu quả nhất
Trang 12Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus) là loài cây có nguồn gốc ở
Trung Quốc, Nhật Bản, cây được nhập về Việt Nam và ngày càng phát triển rộng khắp.Tùng la hán là cây than mộc, có thể chịu hạn tốt, thích nhiệt độ nóng ẩm (nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt là trong khoảng từ 18-25oC) Tuy nhiên Tùng la hán là loài cây chịu lạnh kém Cây có chiều cao trung bình từ 7-10m, tối đa là 20m, cành nhánh nhiều, tán lá rộng Cây được trồng nhiều ở khuôn viên cây cảnh và có ý nghĩa rất lớn về mặt môi trường sinh thái ở những nơi công cộng vì vậy việc nghiên cứu nhân giống cho cây Tùng La Hán bằng phương pháp nào để cây sinh trưởng nhanh là việc làm cần thiết Giâm hom phương pháp duy trì được tính trạng của cây
mẹ Giâm hom là phương pháp dùng một đoạn ngon, thân hoặc rễ để tạo ra cây mới, gọi là cây hom Kết quả của giâm hom phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình như cách chăm sóc,…ngoài ra, nó còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: điều kiện ngoại cảnh, nhân tố nội tại, chất kích thích, giá thể,… Nhưng việc sử dụng loại thuốc nào, nồng độ bao nhiêu thích hợp với khả năng ra rễ của cây lại là một vấn đề cần được nghiên cứu Xuất phát từ
vấn đề trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA (1-Naphthalene Acetic Acid) đến sự hình thành cây
hom Tùng La Hán (Podocarpus macrophyllus) tại vườn ươm trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ NAA đến khả năng hình thành hom cây Tùng La Hán góp phần tạo cây giống phục vụ cho trồng cây làm đẹp cảnh quan, cải thiện môi trường sống
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được nồng độ chất kích thích ra rễ NAA phù hợp cho khả năng ra rễ, ra chồi của cây Tùng la hán, từ đó tìm ra nồng độ thích hợp nhất cho giâm hom cây Tùng la hán
Trang 131.4 Ý nghĩa của đề tài
- Trong học tập, nghiên cứu khoa học
+ Giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn
+ Kết quả của đề tài nghiên cứu làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong nghiên cứu, nhân giống loài cây Tùng La Hán
+ Thông qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân để thực hiện tốt công tác sau này
- Trong thực tế
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn cho công tác nhân giống loài cây Tùng La Hán bằng hom trên địa bàn Thái nguyên và một số nơi có điều kiện tương tự
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của giâm hom
Đối với thực vật nói chung, cây Tùng la hán nói riêng, để duy trì nòi giống của mình chúng đều phải thông qua cơ quan sinh sản, hoặc chúng có khả năng tái sinh từ các bộ phận của các cơ quan sinh dưỡng như: lá, chồi, thân, rễ Nếu đưa các bộ phận của chúng vào môi trường thích hợp nó sẽ phát triển thành rễ, mầm và hình thành cây con Phương pháp giâm hom Tùng la hán là sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân lá (cơ quan dinh dưỡng) để tái sinh ra cây mới
Ý nghĩa của nhân giống bằng hom
- Nhân giống hom là phương pháp truyền đạt các biến dị di truyền của cây mẹ cho cây hom
- Nhân giống hom là phương thức lưu giữ được ưu thế lai cho đời F1
- Nhân giống hom làm rút ngắn chu kỳ sinh sản, rút ngắn thời gian thực hiện chương trình cải thiện giống cây rừng
- Nhân giống hom là một phát triển nhân nhanh các loại quý hiếm đang bị khai thác cạn kiệt, là phương pháp phát triển bảo tồn nguồn gen cây rừng
- Nhân giống hom là phương thức nhân giống bổ sung cho các loại cây khó thu hái và bảo quản hạt
Các loại hom được dùng trong nhân giống:
Các loại hom được dùng trong nhân giống ở cây rừng có thể là thân cây non, cành, lá, rễ…
- Hom thân và hom cành là hom được cắt từ một phần của thân cây non, từ chồi vượt hoặc cành non của cây Một số loài như tre, luồng… hom giâm có thể là một đoạn thân, một đoạn thân có gốc, đoạn cành hoặc đoạn gốc
Trang 15cành sát thân Hom của các loài thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây Các loại cành giâm thường là cành non, cành hóa gỗ yếu, cành nửa hóa gỗ, cành hóa gỗ
- Hom rễ là loại hom được cắt từ rễ cây Mốt số loại cây có thể dùng rễ để giâm hom như Xoan, Long não, Lê, Hồng
Ngoài ra ở một số loài thực vật người ta có thể giâm hom từ lá (Thu hải đường, Sống đời) hoặc từ củ ( Khoai lang…) [3]
Trong các yếu tố trên thì chất lượng hom giống ngoài phụ thuộc vào kỹ thuật nuôi hom trên cây mẹ nó còn phục thuộc rất lớn vào bản chất di truyền của từng giống Trong thực tế, có những giống giâm hom rất đơn giản, tỷ lệ sống cao những cũng có những giống khi giâm hom rất khó ra rễ và điều này thường gặp trong quá trình chọn lọc giống
Đối với những giống tốt khó giâm cành có thể khắc phục bằng cách sử dụng chất kích thích sinh trưởng để giâm cành như: IAA, IBA hoặc NAA
2.1.1 Cơ sở tế bào học
Tế bào học là đơn vị cấu trúc cơ bản của cây rừng Trong đó tế bào có đầy đủ thông tin di truyền cho tất cả quá trình phát triển của cá thể sinh vật Đồng thời chất nguyên sinh của tế bào có kh ả năng thu nhận năng lượng và chất liệu từ môi trường để phục vụ cho quá trình sinh sản Như vậy có thể coi cây con được tạo bởi quá trình sinh sản sinh dưỡng chẳng qua là bản sao của cây mẹ mà thôi [3]
2.1.2 Cơ sở di truyền học
Dựa vào các đặc tính di truyền của cây mẹ truyền cho đời con nhờ quá trình nguyên nhiễm và nguyên phân, mà ta tiến hành dùng các cành, thân để giâm hom
Các loại cây khác nhau thì đặc điểm ra rễ khác nhau, các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ để chia làm 3 nhóm:
Trang 16Nhóm dễ ra rễ: Bao gồm các loài cây không c ần sử dụng chất kích thích vẫn có tỷ lệ ra rễ cao , nhóm này gồm 29 loài như: Đa, Sung, Tre, Nứa, Dương…
Nhóm khó ra rễ: Bao gồm các loài hầu như không ra rễ hoă ̣c là phải dùng chất kích thích ra rễ mà vẫn cho tỷ lệ ra rễ thấp , nhóm này gồm 26 loài như chi: Mâ ̣n mơ Ở nước ta, Bách tán cũng thuộc loài khó ra rễ
Nhóm ra rễ trung bình : Bao gồm các loài cây chỉ sử du ̣ng chất kích thích với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với tỉ lệ cao nhóm này g ồm 65 loài trong đó có các chi: Chi Thông, chi Sồi,…Tuy vậy, sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối, vì thế theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính là
Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom, cành: Gồm nhiều loài cây thuô ̣c ho ̣ Dâu tằm, một số loài thuộc họ Liễu, với những loài cây này khi giâm hom không cần sử dụng thuốc hom vẫn ra rễ bình thường
Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt: Khả năng ra rễ của hom giâm hạn chế bởi các mức độ khác nhau Những loài cây dễ ra rễ như Thông đỏ, 40-50 tuổi vẫn ra rễ 80-90% [4]
2.1.3 Sự hình thành rễ của cây hom
Rễ bất định là rễ ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của nó trong giâm hom và điều quan trọng là hình thành được rễ bất định Có hai rễ bất định là rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh
- Rễ tiềm ẩn: Là rễ có nguồn gốc tự nhiên trong thân, trong cành cây nhưng chỉ phát triển khi thân hoặc cành đó tách khỏi thân cây
- Rễ mới sinh: Chỉ được hình thành khi cắt hom
* Sự hình thành rễ bất định có thể chia ra làm ba giai đoạn:
- Các tế bào bị thương ở vết cắt chết đi và hình thành nên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt, vết thương bị bao bọc bởi một lớp keo Lớp bảo vệ này giúp mặt cắt khỏi bị thoát nước
Trang 17- Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành một lớp mô mềm được gọi là mô sẹo
- Các tế bào vùng thượng tầng hoặc vùng lân cận thượng tầng và libe bắt đầu hình thành rễ [2]
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm
2.1.3.1 Các nhân tố nội sinh:
* Đặc điểm di truyền của loài:
- Nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khả năng
ra rễ như nhau: Nanda (1970) chia các loài cây gỗ thành 3 nhón dựa theo khả năng ra rễ là:
+ Nhóm dễ ra rễ gồm 29 loài như một số loài thuộc các chi Ficussp, Moruss, Pophussp, Salixsp,…
+ Nhóm khó ra rễ gồm 26 loài như các chi Malussp, Prunussp, Pyrussp,…Thuộc họ Rosaceae, một số chi khác như Aesculussp, Bauhiniasp…
+ Nhóm có khả năng ra rễ trung bình bao gồm 65 loài trong đó có các chi Eucaluptussp, Quercussp, Grewiliasp, Taxassp, …
- Vì thế theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật làm hai nhóm chính + Nhóm sinh sản chủ yếu bằng cành, là nhóm loài cây thuộc họ Dâu tằm (Maraceae) như Dâu tằm, Đa, Sung, Dương… Một số loài thuộc họ Liễu (Salicaceae) như Dương, Liễu, …
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom giâm bị hạn chế ở các mức độ khác nhau [3]
* Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và các cá thể khác cũng có khả năng ra rễ khác nhau Nghiên cứu cho Bạch đàn trắng Caman (E.camaldulnsis) 4 tháng tuổi này đã thấy rằng trong lúc xuất xứ Katherine có
tỷ lệ ra rễ 95% thì xuất xứ Gilbert River chỉ có tỷ lệ ra rễ 50%, còn xuất xứ Nghĩa Bình chỉ ra rễ 35% (Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Đoàn Thị Bích, 1997) [3]
Trang 18* Tuổi cây mẹ lấy cành:
Khả năng ra rễ không những do tính di truyền quyết định mà còn phụ thuộc rất lớn vào tuổi cây mẹ lấy cành Thông thường cây chưa sinh sản hạt
dễ nhân giống bằng hom hơn khi cây đã sinh sản hạt, hom lấy từ cây tuổi non
dễ ra rễ hơn hom lấy từ cây tuổi già VD: Hom lấy từ các cây Mỡ 1 tuổi, 3 tuổi, 20 tuổi có khả năng ra rễ tương ứng là 98%, 47%, 0% (Lê Đình Khả, Hoàng Thành Lộc, Phạm Văn Tuấn, 1990)
Cây non không những có tỷ lệ ra rễ lớn mà thời gian ra rễ cũng ngắn hơn Khả năng ra rễ giảm xuống ở hom giâm của cây nhiều tuổi được giải thích là do tỷ lệ đường tổng số trên đạm tổng số (tỷ lệ đường/đạm) cao ở thân cây, nói cách khác là do hàm lượng đạm ở thân giảm xuống như trường hợp ở Quercusrobur (Liubinskii, 1957) Song có người cho rằng sở dĩ cây nhiều tuổi
ra rễ kém là do tính mềm dẻo của chúng bị giảm đi (Komisarow, 1964)
* Vị trí cành và tuổi cành:
Hom lấy từ các phần khác nhau trên thân sẽ có tỷ lệ ra rễ khác nhau Thông thường thì hom lấy từ cành ở tầng dưới rễ ra rễ hơn cành ở tầng trên, cành cấp 1 dễ ra rễ hơn cành cấp 2, cấp 3
Cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây Tuy nhiên khả năng ra
rễ cao của cành chồi vượt cũng thay đổi theo vị trí lấy hom
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ Thông thường cành nửa hóa gỗ (cành bánh tẻ) là loại cành thường cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, cành hóa gỗ yếu hoặc đã hóa gỗ thông thường cho tỷ lệ ra rễ kém hơn
Thí nghiệm của Dansin (1983) cho các loại cành có tuổi khác nhau của Buloo đã thu được kết quả như sau:
- Cành mùa đông tỷ lệ ra rễ 2,5%
- Cành hóa gỗ yếu tỷ lệ ra rễ 33,0%
- Cành nửa hóa gỗ tỷ lệ ra rễ 84,0%
- Cành đã hóa gỗ tỷ lệ ra rễ 3,2%
Trang 19Tuy vậy ảnh hưởng của mức độ hóa gỗ yếu đến tỷ lệ ra rễ cũng thay đổi theo loài cây
* Sự tồn tại lá trên hom:
Lá là cơ quan quang hợp để tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho cây, đồng thời là cơ quan thoát hơi nước để khuyếch tán tác dụng của các chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của hom Lá cũng có cơ quan điều tiết các chất điều hòa sinh trưởng ở hom giâm Vì thế, khi giâm hom nhất thiết phải để lại một số diện tích lá c ần thiết Không có lá thì hom không ra rễ Khi chuẩn bị hom giâm, hom phải có 1-2 lá và phải cắt bớt một phần phiến lá, chỉ để lại 1/3-1/2 diện tích phiến lá Martin và Quillet (1974) đã làm thí nghiệm cho cây Lim ba và thấy rằng để nguyên 2-4 lá trên thân thì tỷ lệ ra rễ là 63-75%, cắt một phần phiến là thì có tỷ lệ ra rễ 88-100%, cắt bỏ lá thì hom giâm hoàn toàn không ra rễ [3]
* Các chất điều hòa sinh trưởng:
Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì Auxin được coi là chất quan trọng nhất trong quá trình ra rễ của hom Song nhiều chất khác tác động cùng Auxin và thay đổi hoạt tính của Auxin cùng tồn tại một cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra rễ của chúng Trong đó quan trọng nhất là Khizocalin, đồng nhân tố ra rễ, các chất kích thích kìm hãm ra rễ (Tewari, 1993)
- Đồng nhân tố ra rễ (Hess, 1961) cho rằng có một số chất nội sinh điều phối hoạt tính của NAA gây nên khởi động ra rễ và gọi là đồng nhân tố
- Các chất kích thích ra rễ và kìm hãm ra rễ VD: Sesquiterpenic lactone được chiết tách từ lá cây Hướng dương, dicyliterpenic được chiết tách
từ cây Rau sam đều là những chất kích thích ra rễ cho Đậu xanh Một số chất kìm hãm Nhaxanthoxin, axit abscisic (ABA) và một số chất khác [3]
Trang 202.1.3.2 Các nhân tố ngoại sinh:
* Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành:
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành có ảnh hưởng rõ đến tỷ lệ ra
rễ của hom giâm, nhất là hom lấy từ những cây non Theo Enrght (1995) thì hom lấy từ cây 3 tuổi của các loài Picea abies, Pinusresinosa, P.strobus có bón phân hữu cơ và phân vô cơ đã có tỷ lệ ra rễ cao hơn so với hom lấy từ cây không được bón phân
Điều kiện chiếu sáng cho cây mẹ lấy cành cũng ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm Và điều kiện lấy hom ở xa nơi giâm hom cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng ra rễ và sinh trưởng của hom giâm [3]
* Thời vụ giâm hom:
Là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm Tỷ lệ
ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành và thời vụ giâm hom Một
số loài có thể giâm hom quanh năm, song nhiều loài cây có tính chất thời vụ
rõ rệt Theo Frison (1967) và Netserov (1967) thì mùa mưa là mùa giâm hom
có tỷ lệ ra rễ nhiều nhất ở nhiều loài cây, trong khi một số loài cây khác lại tỷ
lệ ra rễ nhiều hơn ở mùa xuân Hom được lấy trong các thời kỳ cây mẹ hoạt động sinh trưởng mạnh có tỷ lệ ra rễ cao hơn các thời kỳ khác 3
* Ánh sáng:
Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong ra rễ của hom giâm (Tewari, 1994) Không có ánh sáng và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không có hoạt động ra rễ
Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh thường kèm theo nhiệt độ cao nên làm giảm đáng kể tỷ lệ ra rễ Giâm hom cho Bạch đàn trắng E.Camaldulensis tại Ba Vì đã thấy rằng về mùa hè khi để trong nhà kính sau
23 ngày chỉ có tỷ lệ ra rễ 40% khi để dưới dàn che có tỷ lệ ra rễ là 54%, còn giâm hom trong lều nilon dưới dàn che đã có tỷ lệ 99,2% (Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Trần Cự, 1997)
Trang 21Chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm Theo kiomisasov (1964) thì ánh sáng tự nhiên là cần thiết cho ra rễ, còn ánh sáng đỏ và ánh sáng xanh làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm ở một số loại cây
Nói chung nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom nên cao hơn nhiệt
độ giá thể 2-30C 3
* Độ ẩm:
Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình giâm hom Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa vật chất trong cây đều cần nước Thiếu nước thì hom bị héo, nhiều nước quá thì hoạt động của men thủy giải tăng lên, quá trình quang hợp
bị ngừng trệ Khi giâm hom mỗi loài cây đều cần một độ ẩm thích hợp, làm mất độ ẩm của hom 15-20% thì hom hoàn toàn mất khả năng ra rễ Đối với nhiều loại cây độ ẩm giá thể thích hợp cho giâm hom là 50-70%
Trang 22Yêu cầu độ ẩm không thay đổi theo loài cây mà còn theo mức độ hóa
gỗ của hom giâm Để đảm bảo độ ẩm cho hom bắt buộc phải phun sương vừa làm tăng độ ẩm, vừa làm giảm nhiệt độ không khí, giảm sự bốc hơi của lá 3
* Giá thể giâm hom:
Các giá thể được dùng hiện nay chủ yếu là cát tinh , mùn cưa hoặc xơ Dừa băm nhỏ hoặc đất vườn ươm Khi giâm hom chỉ tạo ra rễ, sau đó mới cấy cây hom vào bầu thì giá thể thường là cát tinh, còn khi giâm hom trực tiếp vào bầu để tạo thành cây hom thì giá thể thường là mùn cưa để mục, xơ Dừa băm nhỏ, đất vườn ươm hoặc có thể trộn lẫn chúng với cát tinh Một giá thể giâm hom tốt là có độ thoáng khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài
mà không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt đồng thời phải sạch, không bị nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ PH khoảng 6-7 3
2.1.3.3 Ảnh hưởng của các chất kích thích ra rễ:
Các thuốc kích thích thường dùng là loại hoocmon thực vật như: IAA (Indole-3-acetic-acid); IBA (Idol-Butaric-acit); NAA (Napthalen-acetic-axid); TTG và 2,4D…
- Loại thuốc kích thích ra rễ: Loại thuốc khác nhau có tác dụng khác nhau đến khả năng ra rễ của hom Ta cần xem xét để chọn loại thuốc thích hợp nhất cho khả năng ra rễ của hom
- Nồng độ chất kích thích: Cùng loại thuốc kích thích nhưng nồng độ khác nhau có tác dụng khác nhau Nồng độ thuốc kích thích quá thấp sẽ bị thối rữa trước khi hình thành rễ
Nồng độ chất kích thích còn phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và mật
độ hóa gỗ của hom
Nếu nhiệt độ không khí cao cần phải xử lý nồng độ thuốc thấp hơn với bình thường và ngược lại
Hom chưa hóa gỗ hoặc gỗ yếu cần phải xử lý nồng độ thấp hơn so với hom già và ngược lại
Trang 23- Thời gian xử lý: Cùng loại thuốc, cùng nồng độ nhưng thời gian xử lý khác nhau sẽ cho tỷ lệ ra rễ khác nhau
Giữ nồng độ, thời gian, nhiệt độ không khí có mối quan hệ nhất định: Nồng độ thấp hơn thời gian xử lý lâu hơn và ngược lại, nhiệt độ không khí cao cần xử lý nồng độ thấp và thời gian ngắn hơn và ngược lại
- Phương pháp xử lý: Hom thường được xử lý bằng hai phương pháp: Ngâm phần gốc của hom vào dung dịch chất kích thích ra rễ Nếu nồng độ cao ngâm 5-10 s, nếu nồng độ thấp ngâm 3-6 h Chấm phần gốc của hom vào hóa chất kích thích dạng bột từ 0,5-1 cm [7]
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Công nghệ nhân giống bằng hom được nghiên cứu nhiều từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Tuy vậy, cho đến năm 1974, toàn thế giới chỉ có 3 chương trình nhân giống bằng hom Do hom chỉ cần một thời gian ngắn để ra
rễ và phát triển, phương pháp này đã nhanh chóng trở thành một công cụ quan trọng trong quản lý vườn ươm Từ đó số lượng chương trình đã tăng lên một cách đột ngột cùng với nhận thức về lợi ích tiềm tàng mà sự tăng trưởng và chất lượng gỗ mà phương pháp này mang lại Nhật Bản được xem như nhà sản xuất hom lớn nhất Năm 1985, nước này đã trồng 31 triệu cây được tạo từ hom và có kế hoạch tiếp tục theo hướng cải thiện khả năng kháng bệnh Ở Úc, mỗi năm cũng tạo ra hơn 10 triệu cây thông Radiata từ hom và dự định sẽ sản xuất toàn bộ cây con từ hom Họ đang chuẩn bị cho sự chuyển đổi này bằng cách xây dựng những vườn cây thụ phấn có kiểm soát cùng với các vườn ươm để nuôi dưỡng hom Để rút ngắn thời gian ra rễ, tăng tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ sống của hom, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến nhân giống bằng hom
đã được tiến hành Các yếu tố chính được xác định là: giá thể, độ ẩm, nhiệt
độ, ánh sáng và chất lượng nước tưới Để tạo ra môi trường lý tưởng cho giâm hom và một số cây trồng khác, các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào cấu trúc nhà kính /nhà lưới và công nghệ tưới Đi đầu trong lĩnh vực này là các nước như: Israel, Hà Lan, Mỹ
Trang 242.3 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Trước những thành tựu nhân giống cây rừng bằng phương pháp giâm hom, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã tìm ra những quy trình, phương pháp riêng cho việc giâm hom cho một số loài cây rừng phù hợp với điều kiện
tự nhiên của nước ta
Đầu tiên vào năm 1976, những thí nghiệm nhân giống bằng hom với một số loài cây như Thông, Bạch đàn được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy tại Phù Ninh – Phú Thọ
Những năm 1983-1984, các thử nghiệm nhân giống bằng hom được tiến hành tại viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam Nội dung nghiên cứu tập trung vào đặc điểm giải phẫu của hom, ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm của môi trường và xử lý hom bằng chất kích thích
Cùng năm 1984, Nguyễn Ngọc Tân đã giâm hom thành công loài cây
Mỡ từ cây non hoặc từ chồi gốc cây trưởng thành Ông cho biết tỷ lệ ra rễ là 40% ở hom chưa hóa gỗ hoặc cây Mỡ khi các hom này được xử lý với thuốc 2,4D nồng độ 50ppm trong 3 giây [9]
Và từ những năm 1990 trở lại đây, đã có rất nhiều những nghiên cứu về rất nhiều loài cây khác nhau tạo nên sự phong phú và đa dạng nguồn giống cây rừng Như các loài Bạch đàn (1990 - 1991), cây Sổ (Lạng Sơn 1990), Keo
lá tràm và Keo lai (1995), cây Bách xanh (1999), Pơmu (Lâm Đồng), Thông
- Đối với cây Bách xanh ở độ tuổi từ 2–10 tuổi lấy cành của cây trưởng thành hoặc đã qua tạo chồi Hom ra rễ 85–95% khi xử lý IBA 1% với giá thể bằng cát
Trang 25- Với cây Hồng từng giâm hom thành công ở các giai đoạn có độ tuổi khác nhau bằng chồi vượt của cây trưởng thành hoặc đã qua tạo chồi Hom ra
rễ đạt 80–85% khi xử lý bằng IBA 1,5% trên giá thể bằng cát
- Đối với cây Tùng La Hán có một số nghiên cứu sau:
Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của cây Tùng La Hán phục vụ trồng làm cây cảnh tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và địa bàn tỉnh Thái Nguyên
2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.4.1 Vị trí địa lý
Vườn ươm thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm cách trung tâm thành phố khoảng 3 km về phía Tây Căn cứ vào bản đồ địa lý của Thành Phố Thái nguyên thì vị trí vườn ươm như sau:
- Phía Bắc giáp phường Quán Triều
- Phía Nam giáp xã Quyết Thắng
- Phía Tây giáp xã Phúc Hà
- Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Đặc điểm địa hình
Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao Độ dốc trung bình 10-150, độ cao trung bình 50-70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Vườn ươm thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tương đối bằng phẳng
2.4.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ đặc điểm thời tiết, khí hậu của thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt mùa nóng ẩm và mùa khô lạnh
Trang 26Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22- 25 oC, chênh lệch giữa ngày và đêm khoảng 2-5 oC, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39 oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3 oC
Lượng mưa trung bình từ 1500-2000mm, độ ẩm không khí trung bình 82%, mùa mưa khoảng 86%, mùa khô khoảng 70%
2.5 Những thông tin về cây Tùng la hán
Tùng la hán thuộc họ La hán tùng (Podocarpus macrophyllus) Cây
Bonsai thân gỗ phát triển quanh năm Lá cây hình kim, lớn nhỏ dài ngắn khác nhau Lá mọc cách dạng ốc xoắn, bề mặt màu xanh đậm, mặt lưng nhạt hơn Cây có thể cao hơn 10m Dáng cây đẹp, cổ xưa phong nhã Lá cây lượn vòng, xanh tươi mạnh mẽ Tùng la hán là giống cây cảnh trồng ngoài vườn nổi tiếng của Trung Quốc
Tùng la hán là cây đơn tính Đầu mùa hè, cây đực nở hoa hình cọc có sợi màu trắng đục Hoa của cây cái có đài hoa to, bên dưới có bốn cái vẩy dạng tuyến Tháng 5 ra hoa, đến tháng 10 quả chín Quả chia làm hai phần, phần trên là hạt giống, hình cầu tròn màu xanh Phần dưới có màu tím nhạt Khi chín quả mỏng có dạng hình trụ, biến thành màu đen Ăn có vị chua thơm ngọt, hình dáng giống như pho tượng La Hán, nên có tên là Tùng la hán
Ở Việt Nam, cây mọc tự nhiên trong rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Hà Tây, Hòa Bình,Lào Cai,Hà Giang, và được trồng làm cảnh khắp nước Cây thường xanh, trong điều kiện tự nhiên có chiều cao trung bình 10-15 m, đường kính thân 20-30 cm; cành non dày đặc, mọc vòng; vỏ mỏng, màu vàng xám, nhẵn, bong thành từng sợi, vỏ trong màu nâu tối Lá mọc gần đối, dày dần ở đầu cành, hình bầu dục dài dạng lưỡi mác, dài 1,3-3,5 cm, rộng 0,3-0,5 cm, đầu có mũi tù, đáy hình nêm, mép phiến hơi uốn xuống phía mặt dưới, mặt trên màu lục, mặt dưới
Trang 27màu lục nhạt, gân chính nổi lên cả 2 mặt, cuống ngắn Thường thì lá non có màu xanh lá mạ, nhưng nhiều cây ở vùng Tây Bắc lá non có màu đỏ vỏ cua Hiện tượng này có thể là một thích ứng với điều kiện thời tiết cũng có thể là đặc điểm của giống Cây được nhân giống từ hạt hoặc giâm cành, ưa sáng toàn phần nhưng chịu rợp được, thích ẩm nhưng không chịu úng, cành dẻo, dễ uốn nắn nên dễ tạo dáng thế, rất thích hợp với việc tạo cây bonsai Cây cũng thường được trồng đất để trang trí những không gian hẹp vì cây có tán gọn Tùng la hán xanh quanh năm, là loài cây mang lại màu xanh tưoi mát, không khí trong lành cho môi trường [10]
Trang 28PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hom ngọn của cây Tùng La Hán (Podocarpus
macrophyllus) được lấy tại khuôn viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 2/2016 và kết thúc vào tháng 5/2016
Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường đại học Nông lâm Thái nguyên
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần giải quyết các nội dung sau:
- Đánh giá số hom sống theo định kì 30, 60, 90 ngày (cuối đợt thí nghiệm) ở các công thức thí nghiệm
- Nghiên cứu khả năng ra rễ của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm: Tỉ lệ ra rễ ; Số rễ; Chiều dài rễ; Chỉ số ra rễ
- Nghiên cứu khả năng ra chồi của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm: Tỉ lệ ra chồi; Số chồi; Chiều dài chồi; Chỉ số ra chồi
- Xác định nồng độ thuốc NAA có ảnh hưởng tốt nhất đến sự hình thành rễ của hom cây Tùng la hán
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Những tài liệu có sẵn về địa điểm
Trang 29nghiên cứu (điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu…), một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu (đặc điểm sinh vật học, sinh thái học…)
- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm Thí nghiệm được tiến hành với 5 công thức mỗi công thức được lặp lại 3 lần
Công thức I: Nồng độ NAA là 100ppm
Công thức II: Nồng độ NAA là 500ppm
Công thức III: Nồng độ NAA là 1000pmm
Công thức IV: Nồng độ NAA là 1500ppm
Công thức V: Công thức đối chứng không dùng thuốc
Mỗi lần lặp là 30 hom, như vậy mỗi công thức có 3 lần lặp là 90 hom Thí nghiệm tiến hành với 5 công thức có tổng số là 450 hom
Các công thức trong thí nghiệm đồng đều về các điều kiện thí nghiệm khác nhau về nồng độ thuốc
Các chỉ tiêu theo dõi: Số hom sống; số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ; số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài chồi (thu thập số liệu vào cuối đợt thí nghiệm)
Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên:
Sơ đồ bố trí thí nghiệm giâm hom ảnh hưởng của nồng độ thuốc
3.4.2 Công tác chuẩn bị giâm hom
* Trước khi giâm hom một tuần:
- Tiến hành dọn vệ sinh xung quanh luống chuẩn bị giâm hom
- Chuẩn bị giá thể: Cát tinh
Trang 30- Xử lí giá thể: Bằng cách dùng thuốc tím nồng độ 0,6% (6g/2lít nước) tưới xuống cát đã chuẩn bị trước khi cắm hom 12h Sau đó tưới bằng nước sạch rồi mới tiến hành cắm hom
- Làm vòm che: Trên luống giâm hom làm khung vòm che để phủ nilon Các thanh của vòm cách nhau 0,8m phía trên có lưới màu đen che ánh sáng làm giảm bức xạ của ánh sánh mặt trời còn 50%
* Vật tư phục vụ cho nghiên cứu:
- Kéo cắt hom, xô nhựa, thuốc xử lý giá thể, thuốc xử lý nấm, hom, thuốc kích thích, bình phun sương
- Hóa chất KMnO4với nồng độ 0,6% để xử lý giá thể trước khi giâm hom ( khoảng 12 giờ )
- Hóa chất vibenC xử lý nấm sau khi cắt hom
- Chuẩn bị thuốc kích thích ra rễ :
* Tiêu chuẩn của hom giâm:
- Hom được cắt vào buổi sáng sớm và được ngâm ngay vào nước sạch để tránh mất nước Hom được lấy là hom nửa hóa gỗ của cây mẹ sinh trưởng tốt không sâu bệnh
- Kỹ thuật cắt hom: Kích thước hom 4-6cm Hom giâm ở thời kỳ bánh
tẻ, không quá non, không quá già
Trên mỗi hom để từ 3-4 lá, đầu gốc được cắt vát tạo mặt tiếp xúc lớn với thuốc khi ta cầm chấm thuốc dạng lỏng, tạo mô sẹo lớn, để tạo rễ tối đa
Trang 31- Kỹ thuật cắm hom: Chiều sâu cắm hom 1,5-2cm Trong quá trình cắm hom tránh xây xát, dập hom, tác động vào hom đã cắm
* Chăm sóc:
Để đảm bảo độ ẩm không khí và giá thể giúp cho hom ra rễ, khi cấy cây xong phải tiến hành tưới nước ngay cho hom giâm dưới dạng sương mù sau
đó đậy vòm nilon (màu trắng) phủ kín đảm bảo độ ẩm cho hom
Sau đó làm khung phía trên được phủ bằng nilon đen để đảm bảo ánh sáng lọt xuống là 40-50% ánh sáng toàn phần
Thường xuyên tưới cho hom dưới dạng phun sương, ngày trời nắng khoảng 60 phút/lần Ngày trời giâm mát số lần tưới giảm đi Thời gian tưới khoảng 10-15 giây tùy độ ẩm trong vòm giâm và điều kiện thời tiết
3.4.3 Thu thập và xử lý số liệu
* Thu tập số liệu: Quá trình thực hiện thí nghiệm ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ đến sự hình thành rễ của hom cây Tùng La Hán, tôi tiến hành thu thập các chỉ tiêu về số hom sống theo định kỳ 30, 60, 90 ngày sau khi giâm hom và số hom ra chồi, số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ ở cuối đợt thí nghiệm
* Xử lý số liệu (Phương pháp nội nghiệp)
Từ các số liệu thu thập được, tiến hành tính toán các chỉ tiêu theo dõi:
Với phương pháp tính toán thông thường:
Từ các số liệu ngoại nghiệp tiến hành tính toán các chỉ tiêu theo các công thức sau: