Lựa chọn một mặt hàng Xuất khẩu của Việt Nam và đánh giá tình hình xuất khẩu mặt hàng đó sang một thị trường tiêu biểu trong thời gian qua.Theo Thống kê Hải Quan 2016 về Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2016 thì :Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng chủ yếu trong năm 2016 đạt gần 126,85 tỷ USD, chiếm 71,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó, lớn nhất là nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện (gần 34,32 tỷ USD); tiếp theo là hàng dệt may (hơn 23,84 tỷ USD), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (gần 18,96 tỷ USD),...Điện thoại và linh kiện: Kim ngạch nhập khẩu điện thoại và linh kiện trong tháng 122016 đạt gần 2,69 tỷ USD, giảm 17,9% so với tháng trước. Qua đó đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này năm 2016 đạt gần 34,32 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.Các thị trường nhập khẩu điện thoại từ Việt Nam trong năm 2016 chủ yếu gồm: thị trường EU (28 nước) với kim ngạch đạt gần 11,24 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước; Hoa Kỳ đạt kim ngạch hơn 4,3 tỷ USD, tăng 55,5%; Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đạt kim ngạch 3,83 tỷ USD, giảm 14,5%; thị trường ASEAN đạt gần 2,27 tỷ USD, tăng 6,2%; ...(Nguồn: Tổng cục Hải quan – ngày 17012016)Như vậy có thể thấy rằng tình hình sản xuất và xuất khẩu nhóm hàng Điện thoại và linh kiện ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam góp phần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu và phát triển kinh tế.Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, nhóm chúng tôi đã đi thảo luận đề tài “Lựa chọn một mặt hàng Xuất khẩu của Việt Nam và đánh giá tình hình xuất khẩu mặt hàng đó sang một thị trường tiêu biểu trong thời gian qua.” để có thể hiểu sâu sắc về thực trạng phát triển sản xuất và xuất khẩu nhóm hàng Điện thoại và linh kiện đồng thời đưa ra được 1 số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này tại Việt Nam.PHẦN NỘI DUNGI, TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU ĐIỆN THOẠI VÀ LINH KIỆN1.Đặc điểm, những nơi ở Việt Nam sản xuất mặt hàng điện thoại và linh kiệnCông ty TNHH Nokia Việt Nam trụ tại KCN VSIP Bắc Ninh. Với công nghệ về chuyển giao dây chuyền công nghệ sản xuất thiết bị điện thoại di động của Microsoft thì có khoảng 39 dây chuyền để sản xuất điện thoại di động thông minh. Ban đầu, Nokia Việt Nam chỉ định làm các dòng điện thoại cơ bản nhưng sau đó, định hướng này đã thay đổi khi nhu cầu sử dụng các dòng điện thoại thông minh của người Việt ngày càng tăng… Các sản phẩm chính được sản xuất tại đây sẽ là dòng điện thoai cao cấp nhất Lumia 630 và Lumia 530. LG Electronics Việt Nam với thị phần các sản phẩm điện tử dân dụng, thiết bị gia dụng luôn nằm trong nhóm dẫn đầu. Đặc biệt, Nhà máy LG Hải Phòng đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển của LG, chuyên sản xuất, lắp ráp các sản phẩm như TV, điện thoại di động, máy giặt, điều hòa, máy hút bụi, các thiết bị kỹ thuật số cho ô tô... cung cấp các sản phẩm công nghệ cao trong cả bốn mảng thiết bị nghe nhìn, thiết bị di động, thiết bị gia dụng và điện lạnh cho thị trường toàn cầu. Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Yên PhongBắc Ninh. Đây là nhà máy sản xuất ĐTDĐ có quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam và cũng là nhà máy sản xuất ĐTDĐ lớn thứ 2 trên thế giới của Samsung (chỉ sau nhà máy sản xuất điện thoại di động tại Hàn Quốc) với nhiệm vụ cung ứng các sản phẩm ĐTDĐ cho thị trường toàn cầu của Samsung. Từ tháng 72009 đến tháng 92010, năng lực sản xuất của SEV đã tăng hơn 6 lần từ 1 triệu sản phẩmtháng lên hơn 6 triệu sản phẩmtháng. Theo kế hoạch đến năm 2012, SEV sẽ cung ứng đến 100 triệu sản phẩmnăm cho các kênh phân phối của Samsung, trở thành một trong những nhà máy sản xuất ĐTDĐ hàng đầu thế giới của tập đoàn Samsung.Dây chuyền sản xuất ĐTDĐ tại SEV đầu tư và thử nghiệm với những công nghệ mới nhất, có tính linh hoạt cao, có thể dễ dàng thay đổi theo sản phẩm; từ máy tính bảng có thể chuyển sang sản xuất smartphone và ngược lại rất nhanh. Nhờ đặc tính này, năng suất sản xuất sẽ cao hơn và nhà máy có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của thị trường. Các công đoạn từ việc gắn các chip lên bản mạch chính đến cài đặt phần mềm, kiểm tra chức năng… đều được thực hiện theo một quy trình nghiêm ngặt, tự động hóa rất cao với những hệ thống tự động hiện đại phối hợp theo dây chuyền, được điều khiển từ hệ thống máy tính chủ. Kết thúc quá trình là khâu kiểm nghiệm chất lượng, thành phẩm được lựa chọn ngẫu nhiên để kiểm tra mức độ chịu nhiệt, chịu shock điện cao thế, độ va đập cơ học… để đảm bảo sản phẩm đến tay người tiêu dùng phải là những sản phẩm tốt nhất. Công ty TNHH đầu nối điện tử Kyocera Việt Nam tỉnh Hưng Yên, việc đầu tư của Kyocera sẽ tạo ra khả năng cung cấp ngay tại Việt Nam các linh kiện điện tử cho ngành công nghiệp lắp ráp, cũng như các loại vật tư, phụ liệu phục vụ cho ngành sản xuất linh kiện điện tử. Một hãng điện tử khác cũng nổi tiếng là Wintek của Đài Loan, chuyên sản xuất các sản phẩm màn hình cảm ứng tỉnh Bắc Giang rằng. Từ vốn đầu tư 1,2 tỷ USD, hãng Wintek sẽ có tổng vốn lên khoảng 2,4 tỷ USD, dự kiến sử dụng 51.000 lao động và các sản phẩm của nhà máy cũng sẽ được đa dạng hơn, từ màn hình hiển thị tinh thể lỏng (LCD), đến tấm cảm ứng (TP), rồi môđun hiển thị tinh thể lỏng (LCM)…Trong khi đó, ở Nghệ An, vào dịp cuối tháng 4, Ban quản lý Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An đã cấp giấy chứng nhận đầu tư Dự án Nhà máy Sản xuất linh kiện, thiết bị viễn thông Hitech BSE Việt Nam của Tập đoàn BSE (Hàn Quốc). Vốn đầu tư không lớn như hai dự án kể trên, chỉ khoảng 30 triệu USD và có thể sản xuất 250 triệu sản phẩmnăm.2.Tiêu chuẩn chất lượng, tình hình xuất khẩu chung của mặt hàng điện thoại và linh kiệnTiêu chuẩn chất lượng hàng điện thoại và linh kiệnĐối với mỗi thị trường, tiêu chuẩn chất lượng được quy định khác nhau. VD: Thị trường Châu Âu. Tương tự như linh kiện kim loại, đối với linh kiện điện – điện tử, yêu cầu về sự an toàn của sản phẩm và hàm lượng hóa chất là yêu cầu bắt buộc•CE Marking: Các sản phẩm điện–điện tử nói chung và sản phẩm điện thoại, linh kiện nói riêng sử dụng tại thị trường EU đều phải dán nhãn CE trước khi đưa ra thị trường nhằm đảm bảo rằng nó đáp ứng yêu của EU về an toàn, sức khỏe và mô trường. Đối với các sản phẩm linh kiện điện tử, việc dán nhãn CE Marking là không bắt buộc về mặt pháp lý tuy nhiên người mua (các công ty sản xuất lắp ráp) sẽ yêu cầu nhà cung cấp linh kiện phải tuân thủ các tiêu chuẩn nhất định để chắc chắn rằng sản phẩm cuối cùng sẽ tuân thủ và đạt yêu cầu để dán nhãn CE Marking. Các doanh nghiệp sản xuất linh kiện cũng có thể tự nguyện đăng ký dán nhãn CE như một phương pháp khẳng định chất lượng sản phẩm của mình.•Thiết kế sinh tháiEcoDesign: EU ban hành Chỉ thị về sản phẩm sử dụng năng lượng (Energy using Product – EuP). Chỉ thị này nhằm giảm việc tiêu thụ năng lượng của các linh kiện điện tử thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Mặt khác, nó cũng nhắm tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên cũng như giảm thiểu phát thải ra môi trường của các linh kiện điện tử thông qua hoạt động thiết kế sinh thái (Eco Design)•Hóa chất: Hàm lượng hóa chất trong sản phẩm công nghiệp được EU hạn chế và quy định rất nghiêm ngặt về. Đối với hầu hết các sản phẩm công nghiệp, quy định về hàm lượng hóa chất REACH được áp dụng. REACH cũng đưa ra các quy định về hàm lượng hóa chất trong sản phẩm và hạn chế việc sử dụng các hóa chất trong quá trình sản xuấtVề các yêu cầu mức chung của khách hàng EU, tương tự như sản xuất linh kiện kim loại, đối với sản xuất linh kiện điện tử, người mua mong muốn nhà cung cấp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến để đảm bảo và duy trì chất lượng sản phẩm ổn định. Vì vậy việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001; UL (Tiêu chuẩn an toàn toàn cầu) và VDE (tiêu chuẩn của Châu Âu với một số biến thể) thường được khách hàng yêu cầu và khuyến khích các nhà cung cấp áp dụng.Theo Thống kê Hải Quan 2016 về Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2016 thì :Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng chủ yếu trong năm 2016 đạt gần 126,85 tỷ USD, chiếm 71,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó, lớn nhất là nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện (gần 34,32 tỷ USD); tiếp theo là hàng dệt may (hơn 23,84 tỷ USD), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (gần 18,96 tỷ USD),...Điện thoại và linh kiện: Kim ngạch nhập khẩu điện thoại và linh kiện trong tháng 122016 đạt gần 2,69 tỷ USD, giảm 17,9% so với tháng trước. Qua đó đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này năm 2016 đạt gần 34,32 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.Các thị trường nhập khẩu điện thoại từ Việt Nam trong năm 2016 chủ yếu gồm: thị trường EU (28 nước) với kim ngạch đạt gần 11,24 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước; Hoa Kỳ đạt kim ngạch hơn 4,3 tỷ USD, tăng 55,5%; Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đạt kim ngạch 3,83 tỷ USD, giảm 14,5%; thị trường ASEAN đạt gần 2,27 tỷ USD, tăng 6,2%; ...(Nguồn: Tổng cục Hải quan – ngày 17012016)Như vậy có thể thấy rằng tình hình sản xuất và xuất khẩu nhóm hàng Điện thoại và linh kiện ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam góp phần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu và phát triển kinh tế.Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, nhóm chúng tôi đã đi thảo luận đề tài “Lựa chọn một mặt hàng Xuất khẩu của Việt Nam và đánh giá tình hình xuất khẩu mặt hàng đó sang một thị trường tiêu biểu trong thời gian qua.” để có thể hiểu sâu sắc về thực trạng phát triển sản xuất và xuất khẩu nhóm hàng Điện thoại và linh kiện đồng thời đưa ra được 1 số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này tại Việt Nam.PHẦN NỘI DUNGI, TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU ĐIỆN THOẠI VÀ LINH KIỆN1.Đặc điểm, những nơi ở Việt Nam sản xuất mặt hàng điện thoại và linh kiệnCông ty TNHH Nokia Việt Nam trụ tại KCN VSIP Bắc Ninh. Với công nghệ về chuyển giao dây chuyền công nghệ sản xuất thiết bị điện thoại di động của Microsoft thì có khoảng 39 dây chuyền để sản xuất điện thoại di động thông minh. Ban đầu, Nokia Việt Nam chỉ định làm các dòng điện thoại cơ bản nhưng sau đó, định hướng này đã thay đổi khi nhu cầu sử dụng các dòng điện thoại thông minh của người Việt ngày càng tăng… Các sản phẩm chính được sản xuất tại đây sẽ là dòng điện thoai cao cấp nhất Lumia 630 và Lumia 530. LG Electronics Việt Nam với thị phần các sản phẩm điện tử dân dụng, thiết bị gia dụng luôn nằm trong nhóm dẫn đầu. Đặc biệt, Nhà máy LG Hải Phòng đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển của LG, chuyên sản xuất, lắp ráp các sản phẩm như TV, điện thoại di động, máy giặt, điều hòa, máy hút bụi, các thiết bị kỹ thuật số cho ô tô... cung cấp các sản phẩm công nghệ cao trong cả bốn mảng thiết bị nghe nhìn, thiết bị di động, thiết bị gia dụng và điện lạnh cho thị trường toàn cầu. Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Yên PhongBắc Ninh. Đây là nhà máy sản xuất ĐTDĐ có quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam và cũng là nhà máy sản xuất ĐTDĐ lớn thứ 2 trên thế giới của Samsung (chỉ sau nhà máy sản xuất điện thoại di động tại Hàn Quốc) với nhiệm vụ cung ứng các sản phẩm ĐTDĐ cho thị trường toàn cầu của Samsung. Từ tháng 72009 đến tháng 92010, năng lực sản xuất của SEV đã tăng hơn 6 lần từ 1 triệu sản phẩmtháng lên hơn 6 triệu sản phẩmtháng. Theo kế hoạch đến năm 2012, SEV sẽ cung ứng đến 100 triệu sản phẩmnăm cho các kênh phân phối của Samsung, trở thành một trong những nhà máy sản xuất ĐTDĐ hàng đầu thế giới của tập đoàn Samsung.Dây chuyền sản xuất ĐTDĐ tại SEV đầu tư và thử nghiệm với những công nghệ mới nhất, có tính linh hoạt cao, có thể dễ dàng thay đổi theo sản phẩm; từ máy tính bảng có thể chuyển sang sản xuất smartphone và ngược lại rất nhanh. Nhờ đặc tính này, năng suất sản xuất sẽ cao hơn và nhà máy có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của thị trường. Các công đoạn từ việc gắn các chip lên bản mạch chính đến cài đặt phần mềm, kiểm tra chức năng… đều được thực hiện theo một quy trình nghiêm ngặt, tự động hóa rất cao với những hệ thống tự động hiện đại phối hợp theo dây chuyền, được điều khiển từ hệ thống máy tính chủ. Kết thúc quá trình là khâu kiểm nghiệm chất lượng, thành phẩm được lựa chọn ngẫu nhiên để kiểm tra mức độ chịu nhiệt, chịu shock điện cao thế, độ va đập cơ học… để đảm bảo sản phẩm đến tay người tiêu dùng phải là những sản phẩm tốt nhất. Công ty TNHH đầu nối điện tử Kyocera Việt Nam tỉnh Hưng Yên, việc đầu tư của Kyocera sẽ tạo ra khả năng cung cấp ngay tại Việt Nam các linh kiện điện tử cho ngành công nghiệp lắp ráp, cũng như các loại vật tư, phụ liệu phục vụ cho ngành sản xuất linh kiện điện tử. Một hãng điện tử khác cũng nổi tiếng là Wintek của Đài Loan, chuyên sản xuất các sản phẩm màn hình cảm ứng tỉnh Bắc Giang rằng. Từ vốn đầu tư 1,2 tỷ USD, hãng Wintek sẽ có tổng vốn lên khoảng 2,4 tỷ USD, dự kiến sử dụng 51.000 lao động và các sản phẩm của nhà máy cũng sẽ được đa dạng hơn, từ màn hình hiển thị tinh thể lỏng (LCD), đến tấm cảm ứng (TP), rồi môđun hiển thị tinh thể lỏng (LCM)…Trong khi đó, ở Nghệ An, vào dịp cuối tháng 4, Ban quản lý Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An đã cấp giấy chứng nhận đầu tư Dự án Nhà máy Sản xuất linh kiện, thiết bị viễn thông Hitech BSE Việt Nam của Tập đoàn BSE (Hàn Quốc). Vốn đầu tư không lớn như hai dự án kể trên, chỉ khoảng 30 triệu USD và có thể sản xuất 250 triệu sản phẩmnăm.2.Tiêu chuẩn chất lượng, tình hình xuất khẩu chung của mặt hàng điện thoại và linh kiệnTiêu chuẩn chất lượng hàng điện thoại và linh kiệnĐối với mỗi thị trường, tiêu chuẩn chất lượng được quy định khác nhau. VD: Thị trường Châu Âu. Tương tự như linh kiện kim loại, đối với linh kiện điện – điện tử, yêu cầu về sự an toàn của sản phẩm và hàm lượng hóa chất là yêu cầu bắt buộc•CE Marking: Các sản phẩm điện–điện tử nói chung và sản phẩm điện thoại, linh kiện nói riêng sử dụng tại thị trường EU đều phải dán nhãn CE trước khi đưa ra thị trường nhằm đảm bảo rằng nó đáp ứng yêu của EU về an toàn, sức khỏe và mô trường. Đối với các sản phẩm linh kiện điện tử, việc dán nhãn CE Marking là không bắt buộc về mặt pháp lý tuy nhiên người mua (các công ty sản xuất lắp ráp) sẽ yêu cầu nhà cung cấp linh kiện phải tuân thủ các tiêu chuẩn nhất định để chắc chắn rằng sản phẩm cuối cùng sẽ tuân thủ và đạt yêu cầu để dán nhãn CE Marking. Các doanh nghiệp sản xuất linh kiện cũng có thể tự nguyện đăng ký dán nhãn CE như một phương pháp khẳng định chất lượng sản phẩm của mình.•Thiết kế sinh tháiEcoDesign: EU ban hành Chỉ thị về sản phẩm sử dụng năng lượng (Energy using Product – EuP). Chỉ thị này nhằm giảm việc tiêu thụ năng lượng của các linh kiện điện tử thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Mặt khác, nó cũng nhắm tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên cũng như giảm thiểu phát thải ra môi trường của các linh kiện điện tử thông qua hoạt động thiết kế sinh thái (Eco Design)•Hóa chất: Hàm lượng hóa chất trong sản phẩm công nghiệp được EU hạn chế và quy định rất nghiêm ngặt về. Đối với hầu hết các sản phẩm công nghiệp, quy định về hàm lượng hóa chất REACH được áp dụng. REACH cũng đưa ra các quy định về hàm lượng hóa chất trong sản phẩm và hạn chế việc sử dụng các hóa chất trong quá trình sản xuấtVề các yêu cầu mức chung của khách hàng EU, tương tự như sản xuất linh kiện kim loại, đối với sản xuất linh kiện điện tử, người mua mong muốn nhà cung cấp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến để đảm bảo và duy trì chất lượng sản phẩm ổn định. Vì vậy việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001; UL (Tiêu chuẩn an toàn toàn cầu) và VDE (tiêu chuẩn của Châu Âu với một số biến thể) thường được khách hàng yêu cầu và khuyến khích các nhà cung cấp áp dụng.
Trang 1Điện thoại và linh kiện: Kim ngạch nhập khẩu điện thoại và linh kiện trong tháng12/2016 đạt gần 2,69 tỷ USD, giảm 17,9% so với tháng trước Qua đó đưa kim ngạchnhập khẩu nhóm hàng này năm 2016 đạt gần 34,32 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳnăm trước.
Các thị trường nhập khẩu điện thoại từ Việt Nam trong năm 2016 chủ yếu gồm: thịtrường EU (28 nước) với kim ngạch đạt gần 11,24 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳnăm trước; Hoa Kỳ đạt kim ngạch hơn 4,3 tỷ USD, tăng 55,5%; Tiểu Vương Quốc Ả RậpThống Nhất đạt kim ngạch 3,83 tỷ USD, giảm 14,5%; thị trường ASEAN đạt gần 2,27 tỷUSD, tăng 6,2%;
(Nguồn: Tổng cục Hải quan – ngày 17/01/2016)
Như vậy có thể thấy rằng tình hình sản xuất và xuất khẩu nhóm hàng Điện thoại vàlinh kiện ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam góp phần không nhỏ vào kim ngạchxuất khẩu và phát triển kinh tế
Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, nhóm chúng tôi đã đi thảo luận đề tài “Lựa chọn một mặt hàng Xuất khẩu của Việt Nam và đánh giá tình hình xuất khẩu mặt hàng đó sang một thị trường tiêu biểu trong thời gian qua.” để có thể hiểu sâu sắc về
thực trạng phát triển sản xuất và xuất khẩu nhóm hàng Điện thoại và linh kiện đồng thờiđưa ra được 1 số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này tại ViệtNam
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
I, TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU ĐIỆN THOẠI VÀ LINH KIỆN
1 Đặc điểm, những nơi ở Việt Nam sản xuất mặt hàng điện thoại và linh kiện
Công ty TNHH Nokia Việt Nam trụ tại KCN VSIP Bắc Ninh Với công nghệ vềchuyển giao dây chuyền công nghệ sản xuất thiết bị điện thoại di động của Microsoftthì có khoảng 39 dây chuyền để sản xuất điện thoại di động thông minh Ban đầu,Nokia Việt Nam chỉ định làm các dòng điện thoại cơ bản nhưng sau đó, định hướngnày đã thay đổi khi nhu cầu sử dụng các dòng điện thoại thông minh của người Việtngày càng tăng… Các sản phẩm chính được sản xuất tại đây sẽ là dòng điện thoai caocấp nhất Lumia 630 và Lumia 530
LG Electronics Việt Nam với thị phần các sản phẩm điện tử dân dụng, thiết bị giadụng luôn nằm trong nhóm dẫn đầu Đặc biệt, Nhà máy LG Hải Phòng đóng vai tròthen chốt trong chiến lược phát triển của LG, chuyên sản xuất, lắp ráp các sản phẩmnhư TV, điện thoại di động, máy giặt, điều hòa, máy hút bụi, các thiết bị kỹ thuật sốcho ô tô cung cấp các sản phẩm công nghệ cao trong cả bốn mảng thiết bị nghenhìn, thiết bị di động, thiết bị gia dụng và điện lạnh cho thị trường toàn cầu
Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Yên Phong-Bắc Ninh Đây là nhàmáy sản xuất ĐTDĐ có quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam và cũng là nhà máy sảnxuất ĐTDĐ lớn thứ 2 trên thế giới của Samsung (chỉ sau nhà máy sản xuất điện thoại
di động tại Hàn Quốc) với nhiệm vụ cung ứng các sản phẩm ĐTDĐ cho thị trườngtoàn cầu của Samsung Từ tháng 7/2009 đến tháng 9/2010, năng lực sản xuất của SEV
đã tăng hơn 6 lần từ 1 triệu sản phẩm/tháng lên hơn 6 triệu sản phẩm/tháng Theo kếhoạch đến năm 2012, SEV sẽ cung ứng đến 100 triệu sản phẩm/năm cho các kênhphân phối của Samsung, trở thành một trong những nhà máy sản xuất ĐTDĐ hàngđầu thế giới của tập đoàn Samsung.Dây chuyền sản xuất ĐTDĐ tại SEV đầu tư và thửnghiệm với những công nghệ mới nhất, có tính linh hoạt cao, có thể dễ dàng thay đổitheo sản phẩm; từ máy tính bảng có thể chuyển sang sản xuất smartphone và ngượclại rất nhanh Nhờ đặc tính này, năng suất sản xuất sẽ cao hơn và nhà máy có thể
Trang 3nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của thị trường Các công đoạn từ việc gắn các chip lênbản mạch chính đến cài đặt phần mềm, kiểm tra chức năng… đều được thực hiện theomột quy trình nghiêm ngặt, tự động hóa rất cao với những hệ thống tự động hiện đạiphối hợp theo dây chuyền, được điều khiển từ hệ thống máy tính chủ Kết thúc quátrình là khâu kiểm nghiệm chất lượng, thành phẩm được lựa chọn ngẫu nhiên để kiểmtra mức độ chịu nhiệt, chịu shock điện cao thế, độ va đập cơ học… để đảm bảo sảnphẩm đến tay người tiêu dùng phải là những sản phẩm tốt nhất
Công ty TNHH đầu nối điện tử Kyocera Việt Nam tỉnh Hưng Yên, việc đầu tư củaKyocera sẽ tạo ra khả năng cung cấp ngay tại Việt Nam các linh kiện điện tử chongành công nghiệp lắp ráp, cũng như các loại vật tư, phụ liệu phục vụ cho ngành sảnxuất linh kiện điện tử
Một hãng điện tử khác cũng nổi tiếng là Wintek của Đài Loan, chuyên sản xuất cácsản phẩm màn hình cảm ứng tỉnh Bắc Giang rằng Từ vốn đầu tư 1,2 tỷ USD, hãngWintek sẽ có tổng vốn lên khoảng 2,4 tỷ USD, dự kiến sử dụng 51.000 lao động vàcác sản phẩm của nhà máy cũng sẽ được đa dạng hơn, từ màn hình hiển thị tinh thểlỏng (LCD), đến tấm cảm ứng (TP), rồi mô-đun hiển thị tinh thể lỏng (LCM)…
Trong khi đó, ở Nghệ An, vào dịp cuối tháng 4, Ban quản lý Khu kinh tế Đông NamNghệ An đã cấp giấy chứng nhận đầu tư Dự án Nhà máy Sản xuất linh kiện, thiết bịviễn thông Hitech BSE Việt Nam của Tập đoàn BSE (Hàn Quốc) Vốn đầu tư khônglớn như hai dự án kể trên, chỉ khoảng 30 triệu USD và có thể sản xuất 250 triệu sảnphẩm/năm
2 Tiêu chuẩn chất lượng, tình hình xuất khẩu chung của mặt hàng điện thoại
và linh kiện
Tiêu chuẩn chất lượng hàng điện thoại và linh kiện
Đối với mỗi thị trường, tiêu chuẩn chất lượng được quy định khác nhau VD: Thịtrường Châu Âu Tương tự như linh kiện kim loại, đối với linh kiện điện – điện tử, yêucầu về sự an toàn của sản phẩm và hàm lượng hóa chất là yêu cầu bắt buộc
Trang 4 CE Marking: Các sản phẩm điện–điện tử nói chung và sản phẩm điện thoại, linh kiện
nói riêng sử dụng tại thị trường EU đều phải dán nhãn CE trước khi đưa ra thị trườngnhằm đảm bảo rằng nó đáp ứng yêu của EU về an toàn, sức khỏe và mô trường Đốivới các sản phẩm linh kiện điện tử, việc dán nhãn CE Marking là không bắt buộc vềmặt pháp lý tuy nhiên người mua (các công ty sản xuất lắp ráp) sẽ yêu cầu nhà cungcấp linh kiện phải tuân thủ các tiêu chuẩn nhất định để chắc chắn rằng sản phẩm cuốicùng sẽ tuân thủ và đạt yêu cầu để dán nhãn CE Marking Các doanh nghiệp sản xuấtlinh kiện cũng có thể tự nguyện đăng ký dán nhãn CE như một phương pháp khẳngđịnh chất lượng sản phẩm của mình
Thiết kế sinh thái/EcoDesign: EU ban hành Chỉ thị về sản phẩm sử dụng năng
lượng (Energy using Product – EuP) Chỉ thị này nhằm giảm việc tiêu thụ năng lượngcủa các linh kiện điện tử thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng Mặtkhác, nó cũng nhắm tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên cũng như giảmthiểu phát thải ra môi trường của các linh kiện điện tử thông qua hoạt động thiết kếsinh thái (Eco Design)
Hóa chất: Hàm lượng hóa chất trong sản phẩm công nghiệp được EU hạn chế và quy
định rất nghiêm ngặt về Đối với hầu hết các sản phẩm công nghiệp, quy định về hàmlượng hóa chất REACH được áp dụng REACH cũng đưa ra các quy định về hàmlượng hóa chất trong sản phẩm và hạn chế việc sử dụng các hóa chất trong quá trìnhsản xuất
Về các yêu cầu mức chung của khách hàng EU, tương tự như sản xuất linh kiện kimloại, đối với sản xuất linh kiện điện tử, người mua mong muốn nhà cung cấp áp dụng hệthống quản lý chất lượng tiên tiến để đảm bảo và duy trì chất lượng sản phẩm ổn định Vìvậy việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001; UL (Tiêu chuẩn an toàn toàncầu) và VDE (tiêu chuẩn của Châu Âu với một số biến thể) thường được khách hàng yêucầu và khuyến khích các nhà cung cấp áp dụng
Trang 5 Nhãn năng lượng: Nhãn năng lượng là một tập hợp các xếp hạng việc sử dụng
hiệu quả năng lượng từ A tới G, trong đó hạng A là hiệu quả nhất và hạng G làkém hiệu quả nhất Nhằm cập nhật những tiến bộ trong hiệu quả năng lượng, Liênminh Châu Âu đã ban hành thêm các mức hiệu quả năng lượng mới trên nhãnnăng lượng là A+, A++ và A+++ Nhãn đưa ra từng mức đánh giá riêng về nănglượng cho từng loại sản phẩm như tủ lạnh, máy sấy, máy giặt, máy rửa bát… Đốivới sản phẩm linh kiện, nhà sản xuất lắp ráp sản phẩm cuối cùng là người có tráchnhiệm đảm bảo rằng các sản phẩm được dán nhãn đúng
Tình hình xuất khẩu chung của điện thoại và linh kiện ở Việt Nam
Trang 6Qua bảng số liệu cho thấy, Hàn Quốc là thị trường chủ lực, đạt kim ngạch cao nhất229,5 triệu USD tăng 24,73% so với tháng 12/2016, tuy nhiên so với cùng kỳ năm 2016,Hàn Quốc đã vượt qua Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE) để trở thành thị trườngxuất khẩu lớn nhất đối với mặt hàng điện thoại và linh kiện Cụ thể, tháng 1/2016, xuấtkhẩu điện thoại và linh kiện sang Hàn Quốc đạt 229,6 triệu USD, tăng tới 125,6 triệuUSD so với cùng kỳ 2016, tương đương mức tăng 107,7% Trong khi đó ở thị trườngUAE, kim ngạch xuất khẩu điện thoại rơi từ con số 365 triệu USD trong tháng 1/2016xuống 228,5 triệu USD trong tháng 1 vừa qua, tương đương mức sụt giảm 37,4%.
Hết tháng 1/2017, điện thoại và linh kiện tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu lớn nhấtcủa Việt Nam với trị giá kim ngạch đạt 2,329 tỷ USD, tăng 2,6% so với cùng kỳ 2016.Ngoai 2 thị trường lớn là Hàn Quốc và UAE, tháng 1 vừa qua còn ghi nhận nhữngthị trường xuất khẩu lớn trên 100 triệu USD của mặt hàng điện thoại gồm: Hoa Kỳ đạt206,8 triệu USD; Áo đạt 163,3 triệu USD; Italia đạt 144,8 triệu USD; Hồng Kông đạt112,3 triệu USD
Trang 7Đáng chú ý, xuất khẩu điện thoại và linh kiện sang thị trường Thụy Điển so vớitháng cuối năm 2016 giảm nhất, giảm 68,39%.
II, TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LINH KIỆN-ĐIỆN THOẠI SANG THỊ TRƯỜNG EU
1 Tổng quan thị trường EU và nhu cầu mặt hàng linh kiện- điện thoại
Thị trường EU:
EU là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, nhất là kinh
tế, thương mại và đầu tư Hiện nay, EU là một trong 3 thị trường quan trọng nhất đối vớixuất khẩu của Việt Nam Đặc biệt, về mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện Là mộtthị trường khá khó tính nhưng lớn, ở đó hàng hoá, sức lao động, vốn và dịch vụ được lưuchuyển hoàn toàn tự do
Tập quán tiêu dùng: EU là thị trường bao gồm 28 quốc gia, mỗi quốc gia trong khốinày lại có một đặc điểm tiêu dùng riêng Do đó bạn có thể thấy rằng thị trường EU có nhucầu rất đa dạng và phong phú về mọi mặt hàng Tuy nhiên hàng hoá được nhập khẩu vàothị trường này phải đảm bảo được đầy đủ về tiêu chuẩn chất lượng, nguồn gốc, mẫu mã
an toàn cao-đạt tiêu chuẩn châu âu (CE Marking) về mức độ an toàn của nó
Người tiêu dùng Châu Âu thường có thói quen và sở thích sử dụng các sản phẩm cónhãn hiệu nổi tiếng thế giới vì họ cho rằng: những nhãn hiệu nổi tiếng này thường gắnvới chất lượng sản phẩm và mức tin cậy cao, cho nên dùng những sản phẩm mang nhãnhiệu nổi tiếng sẽ rất an toàn về cả chất lượng lẫn độ an toàn cao
Từ đặc điểm trên, khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường này các doanh nghiệp Việt Namcần phải nắm bắt được nhu cầu của từng thành viên trong cộng đồng EU
Quan hệ thương mại Việt Nam – EU: EU là đối tác quan trọng hàng đầu của ViệtNam trong nhiều lĩnh vực, nhất là kinh tế, thương mại và đầu tư Hiện nay, EU là mộttrong 3 thị trường quan trọng nhất đối với xuất khẩu của Việt Nam Trong vòng 16 năm
Trang 8từ năm 2000 đến năm 2016, kim ngạch quan hệ thương mại Việt Nam – EU đã tăng 11lần, từ mức 4,1 tỷ USD năm 2000 lên 45,1 tỷ USD năm 2016; trong đó xuất khẩu củaViệt Nam vào EU tăng hơn 11 lần (từ 2,8 tỷ USD lên 34 tỷ USD) và nhập khẩu vào ViệtNam từ EU tăng hơn 8 lần (1,3 tỷ USD lên 11,1 tỷ USD) Trong năm 2016, tổng kimngạch xuất, nhập khẩu Việt Nam sang EU đã đạt 45,1 tỷ USD, tăng 8,93% so với cùng kỳnăm ngoái, trong đó xuất khẩu từ Việt Nam là 34 tỷ USD (tăng 9,8%); nhập khẩu vàoViệt Nam đạt 11,1 tỷ USD (tăng 6,1%) so với năm 2015.
Nhu cầu tại EU
Trang 9Tại thị trường EU, SamSung vẫn đang dẫn đầu thị trường điện thoại thông minh ở Châu
Âu ( chiếm 45% thị phần năm 2012) Còn Apple, thị phần smartphone tại Châu Âu chỉchiếm 14,4% Sở dĩ thị phần của apple ở khu vực này thấp là do họ không hợp tác chặtchẽ với các công ty viễn thông Châu Âu Thêm vào đó, việc bị hạn chế iPhone ở Nam Âu
và Đông Âu cũng là nguyên nhân ảnh hưởng khá lớn Như vậy, kể từ thời điểm đó đếnnay SamSung vẫn là smartphone dẫn đầu tại thị trường EU
2 Tình hình xuất khẩu linh kiện-điện thoại của Việt Nam sang thị trường EU
2.1.1 Tình hình xuất khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam sang EU
Năm 2015
- Theo nguồn tin Tổng cục Hải quan, năm 2015, điện thoại các loại và linh kiện là
nhóm hàng dẫn đầu về đóng góp vào tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 (tăng6,58 tỷ USD, chiếm 55,3% mức tăng xuất khẩu của cả nước)
- Trong đó tháng 12/2015, xuất khẩu của mặt hàng này 1,73 tỷ USD giảm 38% so
với tháng trước, đưa tổng trị giá xuất khẩu trong năm 2015 đạt 30,18 tỷ USD, tăng27,9% so với năm 2014, tương đương tăng 6,58 tỷ USD
- Những đối tác chính nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam
trong năm qua là EU với 10,11 tỷ USD, tăng 19,7 % và chiếm 33,5% tổng trị giáxuất khẩu nhóm hàng này của cả nước Tiếp theo là Tiểu Vương Quốc Ảrập thốngnhất 4,48 tỷ USD, tăng 23,3%; Hoa Kỳ 2,77 tỷ USD, tăng 78,9%; Đức 1,77 tỷUSD, tăng 30,4%… so với năm 2014
Năm 2016
Trang 10- Theo Tổng cục Hải quan, trong 2 tháng đầu năm 2016, Liên minh châu Âu (EU) nhập khẩu nhiều nhất điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam với 1,51 tỷ USD
- Xuất khẩu của mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 2/2016 đạt 2,44 tỷ USD, tăng 7,6 % so với tháng đầu năm 2016
- Tính đến hết tháng 2/2016, nhập khẩu mặt hàng này của cả nước đạt 4,71 tỷ USD,tăng 13% so với cùng kỳ năm 2015
- Trong tháng 6/2016 xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện đạt hơn 2,65 tỷUSD, giảm 9,1% so với tháng trước Tính đến hết tháng 6/2016 xuất khẩu nhómhàng này đạt gần 16,95 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 20,6%trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất 6 tháng/2015 và 6 tháng/2016 Nguồn: Tổng cục Hải quan.
- Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong 6 tháng đầu năm 2016 của Việt
Nam: thị trường EU (28 nước) với kim ngạch gần 5,28 tỷ USD, tăng 6,2% so vớicùng kỳ năm trước, chiếm 31,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nàycủa cả nước
Trang 11Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến tháng 10 năm 2016
- Kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện tháng 10 đạt kim ngạch gần 2,84 tỷ
USD, giảm 2,6% so với tháng trước, qua đó đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàngnày trong 10 tháng đạt hơn 28,33 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ
Trang 12- Thị trường nhập khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam là EU (28 nước) đạtkim ngạch hơn 8,97 tỷ USD,
- Xuất khẩu mặt hàng điện thoại và linh kiện của Việt Nam năm 2016 đạt gần 34,32
tỉ đô la Mỹ, trong đó thị trường các nước châu Âu và Mỹ nhập khẩu mặt hàng nàycủa Việt Nam nhiều nhất
- Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam có mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch hơn 34 tỉ
đô la Mỹ dù trong trong năm qua tập đoàn Samsung - nhà sản xuất điện thoại diđộng đóng góp rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam gặp
sự cố với sản phẩm Galaxy Note 7 hồi cuối tháng 10-2016 đã ảnh hưởng khánhiều tới hoạt động sản xuất - kinh doanh của Samsung ở Việt Nam Bởi lẽ hainhà máy sản xuất điện thoại tại Bắc Ninh và Thái Nguyên cung ứng khoảng 35%sản phẩm điện thoại di động của Samsung trên toàn cầu
Năm 2017
Biểu đồ: 10 Nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất quý I năm 2017 so với cùng kỳ 2016
Trang 13Nguồn: Tổng cục Hải quan
Điện thoại các loại và linh kiện: Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong tháng
3/2016 đạt 3,09 tỷ USD, tăng 31% so với tháng trước, nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàngnày trong quý I/2017 lên 7,77 tỷ USD, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm 2016
Trong đó EU nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam trong 3 tháng quavới 2,38 tỷ USD, giảm gần 6,1% và chiếm 30,6% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng nàycủa cả nước
2.1.2 Các công ty xuất khẩu điện thoại và linh kiện lớn nhất Việt Nam hiện nay
- Đóng góp chính cho sự tăng trưởng của các dòng sản phẩm này là các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Các tập đoàn đa quốc gia như Samsung,
LG, Intel, Canon, Nidec, Fujitsu, Brother, Panasonic, Renesas, trong mấy năm qua xây dựng nhà máy tại Việt Nam rồi xuất khẩu sản phẩm điện thoại, điện tử, máy tính, máy in và cung cấp linh phụ kiện sang các nước khác.