Xuất phát từ đòi hỏicủa thực tiễn hoạt động quân sự liên quan đến tính tích cực hoạt động nghềnghiệp của sĩ quan trẻ; trên cơ sở khái quát các công trình nghiên cứu về nhucầu thành đạt n
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận
án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án
Bùi Minh Đức
Trang 2TT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT
11 Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp NCTĐNN
12 Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp quân sự NCTĐNNQS
Trang 3Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU THÀNH ĐẠT NGHỀ
NGHIỆP CỦA SĨ QUAN TRẺ QUÂN ĐỘI NHÂN
1.1 Lý luận về nhu cầu và nhu cầu thành đạt 341.2 Cấu trúc và các mặt biểu hiện nhu cầu thành đạt nghề
nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam 551.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thành đạt nghề
nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam 67
3.1 Thực trạng mức độ nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của
sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam 953.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu thành đạt
nghề nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam 1273.3 Biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao nhu cầu thành đạt
nghề nghiệp cho Sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam 139
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 41.2 Biểu hiện mặt nhận thức NCTĐNN của SQT 61
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến NCTĐ theo quan điểm B Weiner 67
3.2 Mối quan hệ giữa các nhóm SQT có thời gian mang quân hàm sĩ
3.5 độ mặt hành vi NCTĐNNMối quan hệ giữa các nhóm SQT chức vụ khác nhau về mức
110 3.6 Kiểm định phương sai mức độ NCTĐNN của SQT ở các nhómkhác nhau 1133.7 Đánh giá của CBSQ và tự đánh giá của SQT về mức độ
122 3.11 Bảng ma trận xoay và hệ số ma trận thành phần của nội dungcác nhân tố ảnh hưởng tới NCTĐNN của SQT
128 3.12 Mức độ ảnh hưởng của nhóm yếu tố chủ quan quan đếnNCTĐNN của SQT
132 3.13 Mức độ ảnh hưởng của nhóm yếu tố khách quan đến NCTĐNNcủa SQT
136 3.14 Mức độ mặt nhận thức NCTĐNN của hai nhóm SQT trước tác độngthực nghiệm 1503.15 Mức độ mặt nhận thức NCTĐNN của hai nhóm SQT sau tác độngthực nghiệm 153
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 53.3 Mặt hành vi NCTĐNN của SQT thể hiện qua các item 107 3.4 Mức độ mặt hành vi NCTĐNN của SQT khác nhau chức vụ 110
3.6 Tự đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của SQT 115
3.7
Phân bố các phương án tự đánh giá mức độ hoàn thành
nhiệm vụ xây dựng tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng ở
đơn vị của SQT
116
3.8 Ảnh hưởng của mức độ NCTĐNN đến mức độ hoàn thành
chức, nhiệm vụ trong các nhóm SQT có chức vụ khác nhau 1253.9 Phân bố lựa chọn của SQT về yếu tố trình độ nắm vững tri
3.10
3.11 Mặt nhận thức NCTĐNN của SQT nhóm ĐVTN trước và sau tác
3.12 Mặt nhận thức NCTĐNN của SQT nhóm ĐVĐC với hai lần đo
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
3.1 Tương quan giữa các nội dung mặt nhận thức NCTĐNN của SQT 98 3.2 Tương quan giữa các nội dung mặt thái độ NCTĐNN của SQT 105 3.3 Tương quan giữa các nội dung mặt hành vi NCTĐNN của SQT 109 3.4 Tương quan giữa các mặt biểu hiện và NCTĐNN của SQT 112 3.5 Tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến NCTĐNN của SQT 130
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về luận án
Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp là một vấn đề khoa học đã được các nhà
Tâm lí học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Nhu cầu thành đạt
nghề nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam là luận án tiến sĩ
Tâm lí học được nghiên cứu độc lập đầu tiên ở Việt Nam Xuất phát từ đòi hỏicủa thực tiễn hoạt động quân sự liên quan đến tính tích cực hoạt động nghềnghiệp của sĩ quan trẻ; trên cơ sở khái quát các công trình nghiên cứu về nhucầu thành đạt nghề nghiệp của các nhà Tâm lí học ở ngoài nước và trong nước;kết hợp trao đổi, thống nhất với tập thể cán bộ hướng dẫn và tiến hành xin ýkiến chuyên gia, tác giả đi đến chọn lọc, kế thừa những điểm phù hợp vớihướng nghiên cứu đề tài, từ đó xây dựng kế hoạch, triển khai nghiên cứu vàhoàn thiện luận án Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra khái niệm nhu cầu thành đạtnghề nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời xác địnhcấu trúc nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ, những yếu tố tâm lýảnh hưởng đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ, đánh giá thựctrạng và đề xuất một số biện pháp tâm lý - xã hội phát triển nhu cầu thành đạtnghề nghiệp cho sĩ quan trẻ Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa to lớnđối với bản thân tác giả và góp phần tích cực vào phát triển nhu cầu thành đạtnghề nghiệp cho sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam
2 Lí do lựa chọn đề tài
Xây dựng đội ngũ cán bộ là một nội dung then chốt của sự nghiệp xây
dựng quân đội nhân dân cách mạng “chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại” [16, tr.234] Trong giai đoạn hiện nay, trạng thái sẵn sàng chiến đấu và
chiến thắng chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao đòi hỏi đội ngũ sĩ quanquân đội nói chung, sĩ quan trẻ nói riêng không ngừng nỗ lực phát triển, hoànthiện các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp quân sự, đảm bảo hoàn thànhxuất sắc các nhiệm vụ được giao Một yếu tố quan trọng giúp sĩ quan quân
Trang 7đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các điều kiện khó khăn, gian khổ
chính là nhu cầu thành đạt nghề nghiệp Bởi, nếu lịch sử là lịch sử của nhu
cầu thì nhu cầu thành đạt nghề nghiệp là nguồn gốc thúc đẩy tính tích cực,
quy định chiều hướng phát triển, tính chất hoạt động và điều chỉnh hành vicủa con người trong lĩnh vực nghề nghiệp
Đội ngũ sĩ quan trẻ là lực lượng nòng cốt đảm bảo sự chuyển tiếpliên tục, vững chắc các thế hệ cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựngquân đội Trải qua quá trình học tập, rèn luyện tại các nhà trường quân sự
và thực tiễn công tác ở đơn vị họ đã tích lũy được hệ thống tri thức, kỹ xảo,
kỹ năng nghề nghiệp phong phú, trở thành các phẩm chất, năng lực nghềnghiệp và phát huy chúng trong thực tiễn công tác, tạo nên những thànhtích góp phần vào sự phát triển của đơn vị, Quân đội Tuy nhiên, hiện nayvẫn còn một bộ phận không nhỏ sĩ quan trẻ tự ý thức về nghề nghiệp quân
sự và khát vọng vươn lên thành đạt nghề nghiệp quân sự có mặt còn hạnchế Chẳng hạn, có hiện tượng sĩ quan trẻ nhận thức chưa đúng đắn, chưasâu sắc về đối tượng của nhu cầu thành đạt nghề nghiệp quân sự, như đồngnhất nó với đạt tới vị trí cao trong tổ chức, hay được thăng quân hàm đúng,trước niên hạn, trong khi ít quan tâm đến tích lũy tri thức, kinh nghiệm;dẫn tới thái độ với nghề nghiệp còn chưa phù hợp như: chưa nỗ lực họctập, rèn luyện phát triển trình độ chuyên môn, hoàn thiện kỹ xảo, kỹ năngnghề nghiệp; thiếu kiên trì khi thực hiện nhiệm vụ, chưa coi trọng vai tròcủa sáng tạo trọng thực hiện chức trách, nhiệm vụ; ít quan tâm thiết lập,duy trì và phát triển các mối quan hệ với đồng chí, đồng đội; ít áp dụng trithức mới vào thực tiễn, dẫn tới hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụchưa cao Vì vậy, để xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ có đủ phẩm chất và nănglực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới, phải quan tâm phát triểnnhu cầu thành đạt nghề nghiệp cho họ
Trang 8Mặt khác, việc nghiên cứu nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của nhiều đốitượng khác nhau đã được thực hiện ở nước ngoài và ở Việt Nam Tuy nhiên,các công trình nghiên cứu chỉ mới thực hiện ở các đối tượng khách thể thuộccác lĩnh vực dân sự, chưa có đề tài nghiên cứu về nhu cầu thành đạt nghềnghiệp của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nói chung, trong quân độinói riêng và đặc biệt chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu nhu cầu thànhđạt nghề nghiệp của đội ngũ sĩ quan trẻ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xuất phát từ cơ sở lý luận, thực tiễn ở trên, tác giả chọn nghiên cứu đề
tài: “Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân
lý - xã hội nhằm góp phần nâng cao nhu cầu thành đạt nghề nghiệp cho họ
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ
- Khảo sát đánh giá thực trạng nhu cầu thành đạt nghề nghiệp và các yếu
tố ảnh hưởng đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ
- Đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao nhu cầu thành đạt nghềnghiệp cho sĩ quan trẻ
- Tổ chức thực nghiệm tác động nâng cao nhu cầu thành đạt nghề nghiệpcủa sĩ quan trẻ
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu, giả thuyết khoa học
* Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện, mức độ và yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu thành đạt nghềnghiệp của sĩ quan trẻ
Trang 9* Khách thể nghiên cứu
Cán bộ sĩ quan, sĩ quan trẻ và hạ sĩ quan trong Quân đội nhân dânViệt nam
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Trên cơ sở lý luận của Tâm lý học hoạt động về
NCTĐNN, luận án tập trung nghiên cứu thực trạng mức độ nhu cầu thành đạtnghề nghiệp của sĩ quan trẻ
Phạm vi khách thể: Luận án nghiên cứu khảo sát cán bộ sĩ quan, sĩ
quan trẻ và hạ sĩ quan ở các đơn vị: fBB302 – Quận khu 7, lữ 139 – Binhchủng Thông tin liên lạc, lữ 170/ Vùng 1- Quân chủng Hải quân
Phạm vi thời gian: Luận án được tiến hành nghiên cứu từ tháng 11 năm
2013 đến tháng 11 năm 2016
* Giả thuyết khoa học
Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân ViệtNam đang phát triển ở mức độ cao, thể hiện thống nhất, chặt chẽ trên ba mặtnhận thức, thái độ và hành vi của họ với nhu cầu thành đạt nghề nghiệp Tuynhiên, mặt nhận thức nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ phát triểnchưa cao bằng các mặt thái độ và hành vi Nếu áp dụng biện pháp tâm lý – xãhội nâng cao được mức độ mặt nhận thức nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩquan trẻ thì sẽ phát triển được mức độ nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của họ
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận án được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nguyên tắc phương pháp luận củaTâm lí học như: nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng về hình thành
và phát triển các hiện tượng tâm lí; nguyên tắc thống nhất giữa tâm lí, ý thức
và hoạt động; và phương pháp tiếp cận: hoạt động - giá trị - nhân cách như sợichỉ đỏ xuyên suốt quá trình nghiên cứu luận án
Trang 10Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng: Tâm lý người mang bản
chất xã hội - lịch sử, bị quy định bởi yếu tố xã hội Nghiên cứu nhu cầu thànhđạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ phải tôn trọng tồn tại khách quan, phải nhìnthấy những yếu tố mang tính chất quyết định từ trong điều kiện xã hội - lịch
sử, tức là từ các đặc điểm, môi trường hoàn cảnh xã hội cụ thể với các quan hệ
xã hội mà các sĩ quan trẻ tham gia; đồng thời phải tính đến cả những nhân tốsinh vật, cơ thể,… Việc hiểu rõ nguyên nhân quyết định của tâm lí giúp nhàgiáo dục có thể chủ động tạo ra hay thay đổi các điều kiện hình thành, hoặc cảitạo nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ Như vậy nguyên tắc quyếtđịnh luận duy vật các hiện tượng tâm lí đã vạch ra con đường cho mọi tácđộng sư phạm đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ
Nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động: Tâm lý con
người là sản phẩm của hoạt động, được biểu hiện ra trong hoạt động và làthành phần tất yếu của hoạt động, đóng vai trò định hướng và điều khiển hoạtđộng, đồng thời thông qua hoạt động, tâm lý - ý thức con người được nảysinh, hình thành và phát triển Tâm lý - ý thức và hoạt động của con ngườithống nhất với nhau trong mối quan hệ biện chứng Do đó, khi nghiên cứunhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ cần nhìn nhận nó được hìnhthành phát triển và biểu hiện thông qua hoạt động, thông qua hai quá trìnhxuất tâm và nhập tâm Dẫn tới, để nghiên cứu nhu cầu thành đạt nghề nghiệpcủa sĩ quan trẻ cần thông qua các hoạt động cụ thể của họ, phải qua các biểuhiện bên ngoài (nhận thức, thái độ, hành vi, ) để biết được thế giới bên trongcủa nhu cầu thành đạt nghề nghiệp đó Đồng thời, nguyên tắc này định hướngcho việc xây dựng tính tích cực cho sĩ quan trẻ, tạo ra những điều kiện sống
và hoạt động giúp sĩ quan trẻ phát triển nhu cầu thành đạt nghề nghiệp đápứng cho yêu cầu của hoạt động quân sự
Trang 11Phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách: Đặt hoạt động của
con người vào trường của quy luật giá trị; động cơ, mục đích của hoạt độngđều gắn liền với hệ giá trị, định hướng giá trị, thước đo giá trị của xã hội,cộng đồng, gia đình, nhóm và bản thân từng người Cụ thể, cần coi nhu cầuthành đạt nghề nghiệp là một giá trị nhân cách người sĩ quan trẻ Trong đó,nhu cầu thành đạt nghề nghiệp phải gắn liền với khát khao đạt tới hệ giá trịnghề nghiệp quân sự, hệ giá trị này là kết tinh của giá trị dân tộc và giá trị thờiđại, phản ánh chuẩn mực giá trị của xã hội, của Quân đội cách mạng, gia đình
và bản thân sĩ quan trẻ
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của Tâm lí họcnói chung và Tâm lí học quân sự nói riêng, bao gồm:
Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các công trình nghiên cứu
có liên quan đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhândân Việt Nam nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra bằng bảng hỏi; quan
sát; phỏng vấn; phương pháp thảo luận nhóm; phương pháp chuyên gia; phântích chân dung tâm lý điển hình, phương pháp thực nghiệm
Nhóm phương pháp phân tích số liệu bằng thống kê toán học: Sử dụng
phần mềm SPSS 20.0 để xử lí số liệu điều tra, khảo sát, thực nghiệm và hiểnthị kết quả nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận án
Hệ thống hóa lý luận về NCTĐNN theo hai hướng các nghiên cứutrong nước và ngoài nước, xây dựng được bộ khái niệm công cụ phục vụ chonghiên cứu luận án, bao gồm: NCTĐ, NCTĐNN của SQT Chỉ ra cấu trúctâm lý NCTĐNN của SQT gồm ba thành tố nhận thức, thái độ và hành vi; cácyếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành, phát triển NCTĐNN của SQT
Trang 12Kết quả khảo sát chỉ ra NCTĐNN của SQT đang ở mức độ cao Ba thành
tố cấu thành của NCTĐNN đều ở mức độ cao và có tương quan thuận, chặt vớinhau Trong đó, mức độ nhận thức NCTĐNN thấp hơn hai thành tố còn lại
SQT có quân hàm khác nhau; thời gian mang quân hàm sĩ quan khácnhau hay ngạch sĩ quan (chính trị hoặc chỉ huy) đều không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê về mức độ NCTĐNN; Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức
độ NCTĐNN giữa những SQT có chức vụ khác nhau
Có mối tương quan thuận, chặt giữa NCTĐNN và mức độ hoàn thànhchức trách, nhiệm vụ của SQT Tuy nhiên, mức độ hoàn thành chức trách,nhiệm vụ không tạo ra sự khác biệt về NCTĐNN trong các nhóm SQT cóngạch sĩ quan khác nhau; chức vụ khác nhau, nhưng tạo ra sự khác biệt giữacác SQT có cấp bậc khác nhau
NCTĐNN của SQT bị chi phối bởi hai nhóm yếu tố: chủ quan và kháchquan Trong nhóm yếu tố chủ quan, Quan niệm của SQT về thành đạt NNQS
có hệ số ảnh hưởng cao nhất tới nhóm yếu tố chủ quan
Kết quả thực nghiệm kiểm định biện pháp chỉ ra nếu giáo dục nâng caonhận thức về hệ GTNNQS cho SQT thì sẽ phát triển được NCTĐNN ở họ
7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa lí luận của luận án
Luận án bổ sung, làm phong phú thêm lý luận Tâm lí học về nhu cầu thành
đạt, nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam
Xác định cấu trúc nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ và cácbiểu hiện cơ bản của nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ
Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩquan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam
Trang 13* Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc phát triển nhu cầu thành đạtnghề nghiệp của sĩ quan trẻ, góp phần phát triển chất lượng đội ngũ sĩ quantrẻ Quân đội nhân dân Việt Nam
Luận án là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu về nhucầu thành đạt nghề nghiệp nói chung và nghiên cứu, giáo dục, quản lý sĩ quantrẻ trong Quân đội nói riêng
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, kết luận, kiếnnghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được trình bày thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quantrẻ Quân đội nhân dân Việt Nam
Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu thực tiễn
Trang 14TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:
NHU CẦU THÀNH ĐẠT NGHỀ NGHIỆP CỦA SĨ QUAN TRẺ
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài về nhu cầu thành đạt
NCTĐ là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ khá sớm trong lịch
sử phát triển của Tâm lý học nước ngoài Các công trình nghiên cứu vềNCTĐ thể hiện tập trung trên một số hướng chính dưới đây:
1.1 Một số nghiên cứu về bản chất, nguồn gốc, cơ chế vận hành của nhu cầu thành đạt
H.A Murray (1938), người đầu tiên nghiên cứu về NCTĐ, chịu ảnhhưởng từ tư tưởng Phân tâm học cho rằng, mọi nhu cầu đều bắt nguồn từ vôthức, kể cả NCTĐ H.A Murray coi NCTĐ là nhu cầu tiềm tàng, thứ phát,loại nhu cầu không thể hiện tự do bên ngoài mà thể hiện dưới dạng tiềm ẩnxuất hiện trong quá trình tương tác với người khác [85]
Theo hướng nghiên cứu trên, D.C McClelland (1953) quan niệm, NCTĐnhư một sự thúc đẩy vô thức để hoạt động trở nên hoàn hảo hơn, đạt tới tiêuchuẩn cao hơn và nội dung của nó hình thành từ cuộc sống, dưới ảnh hưởng củacác tình huống, hoàn cảnh sống, kinh nghiệm sống của chủ thể và giáo dục của
nhà trường Trong cuốn Động cơ thành đạt (The Achievement Motive), tác giả
coi động cơ thành đạt chính là NCTĐ, và con người có ba nhu cầu nổi bật, cóquan hệ khăng khít với nhau: quyền lực, quan hệ và thành đạt [73]
Tiếp nối nghiên cứu của H.A Murray và D.C McClelland, J.W.Atkinson (1960) [dẫn theo 97] đã xây dựng một cách tiếp cận mới về NCTĐ qua
Thuyết giá trị mong đợi (Expectancy-Value Theory) Theo ông, NCTĐ là sự lựa
chọn giữa hai khuynh hướng muốn đạt được thành tích và sợ thất bại Độ mạnhcủa NCTĐ chịu ảnh hưởng chính bởi hai khuynh hướng này Ngoài ra, NCTĐ bị
Trang 15chi phối bởi sự kỳ vọng về khả năng thành công của cá nhân và giá trị khuyếnkhích hay niềm tự hào của một người khi họ nghĩ về việc đạt được thành tích
H Heckhausen (1967), trong tác phẩm Quá trình động cơ và hành động
(Motivation und Handeln) đã tiếp cận hoạt động và tâm lý nhận thức khi nghiêncứu NCTĐ Ông coi, NCTĐ như một kết cấu tư duy khi chủ thể nhận thức vềhiện thực NCTĐ gồm toàn bộ những thôi thúc, đam mê, khuynh hướng, mongmuốn của chủ thể trong một hoàn cảnh nhằm đạt được mục đích đề ra Đồngthời, nó như một hệ thống tự đánh giá với ba tiêu chí: sự khác biệt về khuynhhướng thành công hay thất bại; mức độ kỳ vọng và kiểu đặc tính nhân cách [82]
A.N Leonchiep (1971), chủ thuyết hoạt động trong Tâm lý học, [dẫn theo40] đã phân tích về nguồn gốc và con đường hình thành NCTĐ Ông cho rằng,nhu cầu nói chung, NCTĐ nói riêng có nguồn gốc nảy sinh từ hoạt động thựctiễn Mỗi hoạt động được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ có cấu trúc thứ bậckhác nhau NCTĐ là nhu cầu tạo ý nhân cách của các hành động, thể hiện mongmuốn, nguyện vọng đạt được mục đích của cá nhân, mang tính xã hội
Chủ trương xây dựng cách tiếp cận hệ thống - động lực để nghiên cứuNCTĐ, M.Sh Magomed-Eminov (1987) cho rằng, cần nhìn nhận NCTĐ nhưmột quá trình điều khiển, điều chỉnh hoạt động của chủ thể với một tình huốngthực tế, cụ thể Theo đó, NCTĐ diễn ra như một quá trình mang tính trọn vẹn,điều khiển, điều chỉnh hoạt động trong suốt quá trình nó diễn ra Do đó, NCTĐnhư một hệ thống chức năng với các quá trình cảm xúc và nhận thức thốngnhất, tích hợp với nhau, điều khiển hoạt động tới sự thành đạt [107], [108]
B Weiner (1984) cho rằng, yếu tố nhận thức có vai trò quan trọng ảnhhưởng đến NCTĐ Nhận thức dẫn tới sự thành công hay thất bại do: Vị trí nhậnthức (quan hệ của chủ thể đối với điều kiện, hoàn cảnh), sự ổn định của nhậnthức (độ ổn định của tâm thế hướng tới thành công hay thất bại theo thời gian)
và năng lực điều khiển nhận thức của chủ thể NCTĐ bị quy định bởi nhận thức
Trang 16của cá nhân về những nguyên nhân thành công hay thất bại Khi tâm thể thất bạikhông đủ cơ sở, không đủ mạnh mẽ nghĩa là cá nhân đó có NCTĐ [94], [95]
Phát triển hướng nghiên cứu của B Weiner, tác giả C.S Dweck (2008),
trong Thuyết nhận thức xã hội cho rằng nhận thức của chủ thể về những phẩm
chất của mình, đặc biệt là nhận thức về trí tuệ của bản thân, có một ý nghĩa lớnlao với NCTĐ của chủ thể Bà cho rằng, NCTĐ là một phẩm chất của nhâncách, một kết cấu nhận thức của nhân cách có liên quan chặt chẽ với việc hoànthành mục đích hành động trên cơ sở những năng lực hiện có của cá nhân [74],[75]
Tóm lại, có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất, nguồn gốc, cơ chế
vận hành của NCTĐ Cùng coi NCTĐ bắt nguồn từ bản năng vô thức, H.AMurray cho rằng NCTĐ tiềm tàng, hình thành từ các mối quan hệ; D.C.McClelland tập trung khẳng định nguồn gốc nội dung của NCTĐ từ cuộcsống với các mối quan hệ xã hội; J.W Atkinson đưa ra khuynh hướng hướngđến thành công và tránh thất bại A.N Leonchiep cho rằng, NCTĐ có nguồngốc nảy sinh từ hoạt động thực tiễn M.Sh Magomed-Eminov coi NCTĐ làmột quá trình điều khiển hoạt động, chứa đựng yếu tố xúc cảm và nhận thứcthống nhất và tích hợp với nhau H Heckhausen lần đầu tiên đề ra và nhấnmạnh nguồn gốc nhận thức, vấn đề giá trị trong NCTĐ, điều này được củng
cố và phát triển bởi B Weiner và C.S Dweck
1.2 Một số nghiên cứu về cấu trúc của nhu cầu thành đạt
Trong hệ thống các lý thuyết về NCTĐ (need for achievement theories)
khá phong phú và đa dạng, các nhà Tâm lý học nước ngoài đều hướng tới xâydựng cấu trúc NCTĐ Có nhiều mô hình cấu trúc NCTĐ khác nhau, dưới đây
là một số mô hình cấu trúc tiêu biểu:
Mô hình cấu trúc NCTĐ của J.W Atkinson
Trang 17J.W Atkinson coi NCTĐ là một thuộc tính bền vững của nhân cách, biểuhiện trong sự nỗ lực để đạt được thành công Đồng thời, nó cũng là một hình tháinăng động, khi bắt đầu hoạt động nó phối hợp với yếu tố giá trị và xác suất thànhđạt Từ đó, ông đề xuất mô hình cấu trúc NCTĐ với ba thành phần [71], [73]:
Động cơ thành đạt: Khuynh hướng của nhân cách, tính chất riêng biệtcủa cá nhân khi hướng tới thành đạt Hai động cơ rõ nhất lí giải nguyên nhânchủ thể muốn đạt được thành công hay né tránh thất bại
Kỳ vọng thành đạt: Xác suất chủ quan của sự thành đạt Kỳ vọng nàybao gồm xác suất về mức độ thành công, niềm tin về ý nghĩa của công việc
Kỳ vọng thành đạt chịu ảnh hưởng bởi sự hiểu biết về khả năng của bản thân;
sự phức tạp của nhiệm vụ; niềm tin vào thành công
Giá trị của sự thành đạt (mức độ hấp dẫn, ý nghĩa): Giá trị (chủ quan)
và hấp dẫn của sự thành đạt trong một hoạt động cụ thể là một yếu tố quantrọng xác định NCTĐ NCTĐ và hành vi thỏa mãn nó phụ thuộc vào phạm vihoạt động, sự hấp dẫn và giá trị của mục tiêu
Nhìn chung, cấu trúc NCTĐ của J.W Atkinson là mô hình cấu trúcNCTĐ được đề xuất sớm nhất Trong đó, yếu tố giá trị được đề cập lại nhiềutrong các cấu trúc NCTĐ được đề xuất sau này Tuy vậy, quan niệm về haiđộng cơ đối lập trong NCTĐ của ông gây ra sự hoài nghi cho một số nhà tâm
lý học, bởi chúng có tính chất loại trừ nhau [dẫn theo 118]
Mô hình cấu trúc NCTĐ của M.Sh Magomed-Eminov
M.Sh Magomed-Eminov (1987), trong luận án: “NCTĐ: cấu trúc và
cơ chế” [107], [108] cho rằng, NCTĐ là một quá trình mang tính trọn vẹn,
điều khiển hoạt động trong suốt quá trình nó diễn ra Đồng thời, NCTĐ là một
hệ thống chức năng tích hợp với nhau giữa tình cảm, nhận thức và các quátrình hoạt động Do đó, cấu trúc NCTĐ được đề xuất gồm 4 khối:
Khối phát động NCTĐ: đóng vai trò thôi thúc, khởi phát một hoạt độnghay còn gọi là khối khởi đầu
Trang 18Khối các quá trình lựa chọn mục tiêu và các hành động tương ứng làquá trình lựa chọn mục đích và tiến hành hành động phù hợp.
Khối quy định và kiểm soát những ý định thực hiện hành động: Điềuchỉnh việc thực hiện hành động, kiểm tra thực hiện các mong muốn, dự định
Khối đánh giá: Các quá trình nhằm kết thúc hành động hoặc thay thếbằng một hành động khác
Cấu trúc tâm lý NCTĐ của M.Sh Magomed-Eminov là một quá trình nảysinh, phát triển của NCTĐ với bốn khối kế tiếp nhau trong Tuy kế thừa quanđiểm của Atkinson về hai yếu tố hướng tới sự thành đạt và tránh thất bại, tuy vậy
ở đây chúng không loại trừ nhau, cùng nhau chi phối NCTĐ của chủ thể
Mô hình cấu trúc NCTĐ của T.O Gordeeva
Phân tích của các lý thuyết hiện đại về hoạt động nảy sinh nhu cầu, trên
cơ sở cách tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách, Т.О Gordeeva (2002)
trong nghiên cứu: “NCTĐ: lý thuyết, nghiên cứu, vấn đề” [102], [103] cùng
với các cộng sự (Manuchina, Shatalova) đã đưa ra một mô hình cấu trúcNCTĐ với 4 khối chức năng riêng có tác động qua lại với nhau:
Khối giá trị - mục tiêu: Hệ thống các mục tiêu và giá trị quy định cácquá trình của NCTĐ (hoạt động, nhận thức, cảm xúc) Một hệ thống các động
cơ (với ý nghĩa là nguyên nhân thúc đẩy), mục đích và giá trị, kích hoạt quátrình nhận thức, tình cảm và hành vi của các hoạt động trong NCTĐ Khốinày đặc trưng bởi: mức độ quan trọng của việc đạt được đối tượng; mức độquan trọng khát khao bên trong và đòi hỏi từ bên ngoài; các mục tiêu của chủthể và giá trị của chúng
Khối nhận thức: Kiểm soát các quá trình và kết quả hoạt động Nộidung của nó bao gồm: Biểu tượng về trách nhiệm cá nhân khi thành công haythất bại; niềm tin vào khả năng hoàn thành công việc; kỳ vọng thành công
Trang 19Khối cảm xúc: Những trải nghiệm hài lòng với những nỗ lực của cánhân hướng tới sự thành đạt và những trải nghiệm các phản ứng cảm xúc của
cá nhân khi gặp khó khăn hay thất bại
Khối hành vi: Tính kiên định của nhân cách theo thời gian dành choviệc giải quyết nhiệm vụ; Cường độ của các nỗ lực bản thân trong giải quyếtnhiệm vụ; Cách thức vượt qua khó khăn, trở ngại, tích cực thích ứng, không
né tránh; Lựa chọn nhiệm vụ với mức độ khó vừa phải
Từ việc mô tả cấu trúc của NCTĐ gồm bốn khối như trên, tác giả nhấnmạnh giá trị của mục tiêu cần đạt tới là đối tượng của NCTĐ và NCTĐ là mộtquá trình thống nhất giữa nhận thức - cảm xúc (tình cảm) - hành vi Tuy vậy, theocác tác giả sau này, khó có thể tách bạch giữa hai khối: Giá trị - mục tiêu và nhậnthức, bởi suy cho cùng, giá trị - mục tiêu chính là biểu tượng của chủ thể về mụctiêu và giá trị của nó [103]
Mô hình cấu trúc NCTĐ của O.S Vindeca
O.S Vindeca (2010) trong luận án tiến sĩ mang tên: “Cấu trúc và mối
quan hệ về khía cạnh tâm lý của NCTĐ” [100] đã đề cập tới cấu trúc củaNCTĐ Theo tác giả, cấu trúc NCTĐ gồm ba thành phần:
Nhu cầu thích ứng và vượt trội: Nhu cầu thích ứng thể hiện ham muốnđạt được thành công nhằm nhận được sự đánh giá cao ở những người khác,phù hợp với hệ giá trị, các chuẩn mực, quy định của bản thân và xã hội Nhucầu vượt trội mong muốn đổi mới để vượt qua những quy định, những thànhtích đã đạt được, những khuôn khổ nhận thức của xã hội
Sự ổn định và mất ổn định của tình cảm: NCTĐ gắn liền với các thuộctính riêng, ổn định của lĩnh vực tình cảm Trong đó, cảm thấy hạnh phúc, hàilòng khi nghĩ đến thành công, đạt được mục đích hay dằn vặt, không hạnhphúc khi gặp thất bại hoặc nghĩ về thất bại là những nội dung quan trọng
Trang 20Yếu tố giới tính: Sự phản ánh những phẩm chất của chủ thể mangNCTĐ Những phẩm chất mang tính bẩm sinh, di truyền hay có nguồn gốc từphân công lao động xã hội nhìn từ góc độ giới tính.
Trong cấu trúc NCTĐ của O.S Vindeca, yếu tố tình cảm vẫn đóng vaitrò quan trọng, bên cạnh đó, lần đầu tiên các phẩm chất thuộc về giới tínhđược đề cập trong NCTĐ, đây là những điểm nhấn của quan niệm này
Mô hình cấu trúc NCTĐNN của E.V Cooverckia
E.V Cooverckia (1998) trong nghiên cứu “Tự đánh giá nghề nghiệp
trong sự phát triển NCTĐNN của cán bộ công chức” [105], đã coi NCTĐNN
như là biểu tượng của chủ thể về chất lượng thực hành nghề nghiệp, nhữngđòi hỏi quan trọng trong nghề nghiệp Bà coi mối quan hệ giữa tự nhận thức
về bản thân, về nghề nghiệp với những đòi hỏi thực tế của nghề nhằm đạt tới
sự thành đạt là “Tôi - nghề nghiệp” Theo nữ tác giả, cấu trúc chức năng củaquá trình phát triển của NCTĐNN bao gồm 4 giai đoạn:
1 NCTĐNN chịu ảnh hưởng của thái độ tiêu cực ứng với thực tế vàhình ảnh lý tưởng "Tôi - nghề nghiệp”
2 Lập kế hoạch cho sự thay đổi trong hệ thống NCTĐNN, thực hiệntrên cơ sở hình ảnh lý tưởng "Tôi - nghề nghiệp"
3 Thực hiện những thay đổi này
4 Đảm bảo các hệ thống mới của NCTĐNN thành lập trên cơ sở thái độtích cực, phù hợp với thực tế và hình ảnh lý tưởng của "Tôi - nghề nghiệp"
Có thể nhận thấy, đây là một mô hình cấu trúc khác biệt so với các môhình cấu trúc về NCTĐ được đề xuất sớm hơn Điều này phản ánh cách tiếpcận của tác giả, coi cấu trúc NCTĐNN như một quá trình phát triển gắn liềnvới tự đánh giá về “Tôi - nghề nghiệp”, đồng thời cho thấy sự phát triển trongnghiên cứu NCTĐ nói chung và NCTĐNN nói riêng
Trang 21Tóm lại, qua các nội dung trên cho thấy, có nhiều quan điểm, cách tiếp
cận khác nhau khi đề xuất mô hình cấu trúc NCTĐ Xuyên suốt các mô hìnhcấu trúc NCTĐ đó, các thành tố: giá trị, mục tiêu, cảm xúc, tình cảm, nhậnthức, hành vi,… nổi lên là những yếu tố quan trọng Đặc biệt, quan điểm cấu
trúc NCTĐ của tác giả T.O Gordeeva với bốn khối cơ động là quan điểm
nhận được sự đồng thuận của nhiều nhà nghiên cứu hơn cả Theo chúng tôi,đây là một quan điểm cần kế thừa, vận dụng vào xây dựng cấu trúc NCTĐNNcủa SQT QĐNDVN
1.3 Một số nghiên cứu về phương pháp đo đạc nhu cầu thành đạt
NCTĐ được nghiên cứu trong Tâm lý học như một yếu tố khởi nguồn chohành vi và tính tích cực hoạt động Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhàTâm lý học không chỉ tạo nên nhưng lý thuyết về NCTĐ mà còn xây dựng đượccác công cụ để đo đạc chúng Có hai xu hướng chính trong đo đạc NCTĐ
* Đo đạc NCTĐ bằng TAT (Thematic Apperception Test)
TAT là một phương pháp đo NCTĐ được H.A Murray công bố vàonăm 1935 (cùng với Christina Morgan), được hoàn thiện hơn vào năm 1943.TAT dựa trên tư tưởng của học thuyết Phân tâm coi phóng chiếu như một cơchế tự vệ tâm lý, gán những xung động lo âu cho một người khác Theo cáctác giả, NCTĐ ngầm ẩn, tiềm tàng và thông qua tưởng tượng là cách thức tốtnhất để nghiên cứu cặn kẽ nó [120]
Tài liệu của TAT bao gồm 20 bức tranh, trong đó có 4 bức tranh vềNCTĐ Chủ thể được quan sát mỗi bức tranh trong vòng 20 giây và mô tả vềbức tranh dưới dạng một câu chuyện với nội dung đáp ứng 4 vấn đề:
1 Tình hình hiện tại (Ai và điều gì đang diễn ra trong hình ảnh?)
2 Suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật (Các nhân vật đang suy nghĩ gì?mong muốn và cảm giác của họ?)
Trang 223 Đứng trước sự kiện (Điều gì đã xảy ra trước đó? Điều gì đã dẫn đếntình hình hiện nay?)
4 Kết quả (Làm thế nào để câu chuyện kết thúc? Điều gì sẽ diễn ra tiếptheo, các nhân vật sẽ làm gì?)
Việc tính điểm dựa trên sự phân tích nội dung của các câu chuyện Nộidung chứa đựng các yếu tố thành đạt như mục tiêu tích cực, sự nỗ lực, cóphương pháp phấn đấu, sẽ được điểm số cao Chỉ số NCTĐ được tính bằngtổng số điểm của từng câu chuyện [dẫn theo 54], [117]
D.C McClelland đã cải tiến phương pháp đo NCTĐ với TAT Trong
đó, ông đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ phụ thuộc giữa NCTĐ với điều kiệnmôi trường giáo dục và trưởng thành của nhân cách Ông đề ra phương pháp
đo cường độ NCTĐ trong các yếu tố tình huống Cùng với Atkinson,McClelland sử dụng TAT để đo nhu cầu tránh thất bại nhằm đánh giá kết hợp
Phát triển TAT, E.T Sokolova (1980), đã chỉnh sửa, thích ứng và soạn
ra được bộ test đo nhu cầu thành tích cho thiếu niên ở Liên xô năm 1980 Bộtest này sử dụng 20 ảnh, tiến hành 2 lần đo, mỗi lần 10 ảnh Test có thể đoNCTĐ trong các mối quan hệ với cảm xúc nhằm đạt được mục đích của cáchành động tự nhận lỗi, né tránh trừng phạt, mức độ xâm kích Tuy vậy,phương pháp đo đạc, chấm điểm cơ bản giống TAT bản truyền thống [111]
Nhìn chung, xu hướng sử dụng TAT có ưu thế khi đo đạc sự thay đổi
về NCTĐ của nghiệm thể theo thời gian thông qua các câu chuyện, có thểkhơi gợi được những nhu cầu tiềm ẩn của họ Tuy vậy, TAT không có tiêu chí
cụ thể cho việc tính điểm, bị ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan, cảm tính củangười chấm điểm; chỉ đo được những nhu cầu tiềm ẩn, còn các NCTĐ bộc lộtrong đời sống sẽ gặp khó khăn Sử dụng TAT tốn nhiều thời gian, hiệu quảthấp khi số lượng khách thể lớn và đòi hỏi người sử dụng, nhà nghiên cứuphải có kinh nghiệm trong phân tích, đánh giá và lượng hóa [dẫn theo 3]
* Đo đạc NCTĐ bằng bảng hỏi và phương pháp trắc nghiệm khác
Trang 23Trên cơ sở những hạn chế của TAT, nhiều tác giả tìm kiếm các phươngpháp nhằm đo đạc khách quan, chính xác, định lượng các vấn đề của NCTĐ.
Trong xu hướng này, bảng đo cường độ các NCTĐ của A.L Edwards(1959) là một trong những phép đo đạc được đề xuất đầu tiên Bảng đo baogồm các câu hỏi được định sẵn, mỗi câu hỏi xây dựng theo kiểu cặp cực(khẳng định - phủ định) với các chỉ số về mức độ NCTĐ Cấu trúc của bảnggồm 15 nhu cầu trong đó có NCTĐ Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, cácnội dung của bảng đo chưa phản ánh bao quát về NCTĐ với ý nghĩa là nhu cầuquan trọng thúc đẩy sự thành công của con người trong các lĩnh vực hoạt động[76]
A Mehrabia (1976), dựa trên lý thuyết của J.W Atkinson, đã xây dựng
bộ công cụ (trắc nghiệm) đo hai yếu tố NCTĐ và nỗi sợ thất bại với hai phiênbản cho nam giới và nữ giới Kết quả xử lý sẽ thể hiện sự khác biệt cá nhân vềmức độ hình thành NCTĐ hoặc nhu cầu tránh thất bại, mức độ kỳ vọng, phảnứng xúc cảm lên thành công hay thất bại, sự khác nhau về xu hướng nhâncách, mức độ phụ thuộc vào các quan hệ liên nhân cách Phương pháp nàykhá hiệu quả trong việc định lượng được các nội dung nghiên cứu, dễ thựchiện với lượng mẫu lớn Tuy vậy, quan điểm này lặp lại hạn chế cũ khi táchbạch và loại trừ nhau giữa NCTĐ và nhu cầu tránh thất bại [81]
Khắc phục hạn chế của bộ công cụ trên, M.Sh Magomed-Eminov quanniệm, trong mỗi cá nhân hướng tới thành đạt có cả NCTĐ và nhu cầu tránh thấtbại Từ đó, ông xây dựng bảng trắc nghiệm đo NCTĐ và nhu cầu tránh thất bạinhằm phát hiện mức độ và sự nổi trội của nhu cầu này so với nhu cầu kia Tácgiả khuyến khích sử dụng cho học sinh phổ thông và sinh viên Trong đó, phiênbản A (32 câu hỏi) dành cho nam, phiên bản B (30 câu hỏi) dành cho nữ với bamức trả lời, xung quanh các nội dung thuộc tính cách, ý kiến, tình cảm [107]
Trên cơ sở đồng nhất hai thuật ngữ NCTĐ và động cơ thành đạt, T.Elechka [dẫn theo 54] đã xây dựng và sử dụng một trắc nghiệm gồm 41 mệnh
Trang 24đề để đo NCTĐ Trong đó, mỗi mệnh đề có hai phương án trả lời và dựa vàotổng số điểm của các câu trả lời để giải thích về mức độ cao hay thấp củaNCTĐ ở mỗi cá nhân theo tiêu chí sẵn có, với 4 mức độ Kết quả nghiên cứuNCTĐ được khuyến khích phân tích cùng với các kết quả của hai trắc nghiệm
"chẩn đoán nhu cầu tránh thất bại" và "chẩn đoán chấp nhận rủi ro"
Y.M Orlova (1978)cho rằng NCTĐ được xác định bởi trình độ phát triểncủa tự đánh giá của nhân cách Do đó, trình độ tự đánh giá càng cao và phù hợpthì nhân cách càng tích cực đề ra mục đích hành động Từ quan điểm đó, bà đãxây dựng bộ trắc nghiệm đo NCTĐ nhằm làm rõ mức độ tự đánh giá và tính tíchcực đề ra mục đích của hành động Cụ thể, trắc nghiệm này gồm 22 mệnh đề chotrường hợp A và 23 mệnh đề cho trường hợp B, với thang trả lời “có” hoặc
“không”, mỗi câu trả lời đúng được “1” điểm Tổng số điểm của mỗi trường hợp
sẽ được đối chiếu với bảng phân loại gồm 5 mức độ khác nhau [dẫn theo 101] Nhóm tác giả: Zinta S Byrne, Rose A Mueller-Hanson, Joe MCardador, George C Thornton, Heinz Schuler, Andreas Frintrup, Shaul Fox(2003) đã xây dựng bảng hỏi AMI nhằm đo dạc động cơ thành đạt và NCTĐ.Thang đo AMI bao gồm 17 yếu tố, mỗi yếu tố gồm 10 mệnh đề, để tìm hiểu
sự khác biệt văn hóa của NCTĐ ở các quốc gia khác nhau như Đức, Mỹ,Israel và một số nước khác [72]
Nhìn chung, sử dụng bảng hỏi là một xu hướng có ý nghĩa rất lớn trongnghiên cứu NCTĐ, bởi cùng một lúc có thể nghiên cứu trên số lượng khách thểlớn, có thể dùng các phép toán thống kê một cách thuận lợi, không mất nhiềuthời gian, công sức của nhà nghiên cứu đồng thời nghiên cứu được những biểuhiện bên ngoài của NCTĐ Tuy nhiên, sử dụng bảng hỏi khó quan sát tực tiếptoàn bộ những thái độ, hành vi của tất cả khách thể của nghiên cứu
Tóm lại, nghiên cứu NCTĐ hiện nay có hai xu hướng sử dụng phương
pháp đo đạc, mỗi nhóm phương pháp có những ưu điểm và những điểm hạnchế còn tồn tại Kế thừa những ưu điểm và khắc phục hạn chế của các phương
Trang 25pháp đo đạc NCTĐ trên, chúng tôi tiến hành xây dựng bộ bảng hỏi đo đạccứu NCTĐNN của SQT QĐNDVN.
1.4 Một số nghiên cứu về sự hình thành, phát triển nhu cầu thành đạt
* Nghiên cứu, đề xuất các công thức, chương trình hình thành, phát triển NCTĐ
H Heckhausen (1967) cho rằng chương trình phát triển NCTĐ nhằmhình thành nên những nhân cách luôn nâng cao tự đánh giá sẽ gồm 3 phần [82]:
1, xây dựng định hướng tâm lý khi không thành đạt, mô tả các trải nghiệm, cácứng xử khi không thành đạt để định hướng cho học sinh 2, Thực hành thửnghiệm các vai trò, vị thế của các cá nhân thành đạt và hình thành các đặc tínhnguyên nhân cho từng cá nhân có NCTĐ 3, Chương trình tập huấn thực hiệncác hành động hình thành NCTĐ và củng cố chúng trong các bài tập đóng vai
K.A Abulkhanova-Clavskia (1999) quan niệm, sự hình thành NCTĐcủa cá nhân là hệ quả của sự hình thành chiến lược sống tích cực, hình thànhcác kiểu hành vi hướng tới đạt được những mục đích Từ đó ông xây dựngmột chiến lược nhằm hình thành, phát triển NCTĐ Nội dung của chiến lượcsống tích cực bao gồm: Chủ thể biết chọn phương thức sống; Chủ thể có kỹnăng giải quyết mâu thuẫn giữa cái tôi muốn và tôi có; Có khả năng sáng tạo,phát hiện, tạo ra những điều kiện để tự thể hiện [98]
L.M Mitina (2002), dựa trên hướng nghiên cứu của K.A Clavskia, nhấn mạnh phẩm chất cạnh tranh của những người thành đạt và chorằng, những người có NCTĐNN sẽ có năng lực cạnh tranh lớn trong lĩnh vựcnghề nghiệp Đặc trưng này thể hiện ra ở xu hướng nhân cách, ở tay nghề pháttriển cao, sự mềm dẻo trong hành vi ứng xử Bà đề ra cơ chế 4 giai đoạn hìnhthành phẩm chất thành đạt của nhân cách: 1, hình thành động cơ; 2, phát triểnnhận thức; 3, rèn luyện cảm xúc; 4, thực hiện hành vi [109]
Trang 26Abulkhanova-Đi sâu nghiên cứu sự phát triển của nhu cầu thành tích trong học tập(NCTĐ), E.E Luxnhicova (1995) đã chỉ ra các chức năng của NCTĐ của họcsinh: nhận thức; cảm xúc; tích hợp Theo tác giả, để hình thành được NCTĐcho học sinh trong dạy học, phải xây dựng được một hệ thống các điều kiện,phương tiện dạy học như là một tập hợp các yếu tố sư phạm có quan hệ thốngnhất với nhau Bà khẳng định, cơ chế chủ yếu của sự hình thành và phát triểnNCTĐ chính là cơ chế đề ra mục đích của nhân cách [106]
Tiếp theo E.E Luxnhicova, M Vorwerg (1997) [88], xem NCTĐ là một
hệ thống các tự đánh giá Tác giả đã xây dựng chương trình phát triển NCTĐcho học sinh gồm 3 giai đoạn: 1, Làm cho người học trải nghiệm những thấtbại trong hoạt động 2, Làm cho người học trải nghiệm những mong muốnthành công, nhận thức được các nguyên nhân của thành công 3, Đưa ngườihọc vào những bài tập tình huống với kịch bản sẽ thành công
O.A Sôrôkin (2013), theo hướng nghiên cứu trên, đi sâu tìm hiểu sự pháttriển NCTĐ của sinh viên Đại học Quản lý Quốc gia Ozenburg (Nga) Theo tácgiả, để phát triển NCTĐ của sinh viên cần hình thành ở họ một hệ thống cácnhu cầu định hướng nghề nghiệp và một loạt kỹ năng tương ứng Do đó,chương trình đào tạo cần chứa đựng các nhiệm vụ và cách giải quyết Nhiệm vụ
đó chứa đựng các tình huống của hoạt động nghề nghiệp tương lai và khi giảiquyết thành công sẽ phát triển nhân cách nghề cho sinh viên [dẫn theo 119]
* Nghiên cứu về các phẩm chất, bí quyết của người thành đạt và con đường đi đến thành công
Stephen R.Covey (2000) quan niệm rằng, để đạt được sự thành đạt cầnrèn luyện để hình thanh 7 thói quen: Tiên phong hành động; Luốn nhắm tớimục tiêu; Cái gì trước làm trước; Lối suy nghĩ “phải chiến thắng”; Hiệp lực;Hiểu người trước rồi hiểu ta; Luôn luôn trau dồi [51]
Trang 27David Niven (2006), trong cuốn Bí quyết của thành công [9], đã chỉ ra
những chân lý của sự thành công Theo tác giả thành công của một đời ngườikhông phụ thuộc nhiều vào những gì mà cá nhân đạt được Thành công là làmviệc hết mình, sống trọn vẹn với niềm tin và tình yêu cuộc sống Để đạt được
sự thành công cần: Xác định mục tiêu cụ thể, hãy làm tốt từ những việc nhỏ;Làm việc, học hỏi bằng sự say mê; Hãy ước mơ và dám thực hiện; Biết chia
sẻ và quan tâm đến người khác,…
David Joseph Schwartz (2012), trong cuốn Bí quyết thành đạt trong
đời người [10], đã đề cập hệ phương pháp để đạt được những mục đích lớn
trong công việc, trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè và xã hội, thành đạttrong cuộc sống Những phương pháp đó bao gồm: Hãy tin vào thành công;Không sợ thất bại; Xây dựng lòng tự tin và chấm dứt nỗi sợ hãi; Suy nghĩ vàước mơ một cách sáng tạo; Luôn chủ động; Luôn thể hiện thái độ tốt; Có suynghĩ lạc quan; Biến thất bại thành thắng lợi; Bám sát mục đích
Ngoài ra, các tác giả khác tập trung vào mô tả chân dung tâm lý củanhững người thành công trong các lĩnh vực khác nhau như: chính trị gia,thương gia, nhà khoa học,… và con đường đạt đến thành công của họ như lànhững bài học cho thế hệ trẻ nhằm hình thành khát vọng thành công
Tóm lại, nghiên cứu sự hình thành, phát triển NCTĐ đã được quan tâm
từ nhiều góc độ Trong đó, các tác giả quan tâm xây dựng, đề xuất công thức,chương trình hình thành, phát triển NCTĐ với nhóm khách thể như học sinh,sinh viên trong hoạt động học tập, nghiên cứu Mặt khác, do nhu cầu xã hội,hiện nay đang phát triển mạnh mẽ hướng nghiên cứu, chia sẻ về các phẩm chất,
bí quyết và con đường đi đến thành công của người thành đạt như những chìakhía giúp thế hệ trẻ, những người mới vào nghề phát triển NCTĐ của mình
Trang 282 Những công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam
Nhu cầu là một lĩnh vực được các nhà Tâm lý học trong nước quan tâmnghiên cứu với nhiều công trình khác nhau, tuy nhiên số lượng công trìnhnghiên cứu về NCTĐ còn khá khiêm tốn Các nghiên cứu liên qua đếnNCTĐNN của SQT tập trung ở các hướng dưới đây
2.1 Các nghiên cứu lý luận về nhu cầu thành đạt
Lý luận về nhu cầu nói chung, được các tác giả trong nước quan tâm,nghiên cứu từ khá sớm Điển hình như nghiên cứu của các tác giả: PhạmMinh Hạc, Lê Đức Phúc [28], Lê Khanh, Trần Trọng Thủy [25], Nguyễn ThịKim Quý [48],… Các tác đã nghiên cứu nhu cầu xung quanh những vấn đề:khái niệm, bản chất, vai trò, phân loại nhu cầu, mối quan hệ giữa nhu nhu cầu
và động cơ,… Dựa trên lập trường Tâm lý học hoạt động, các tác giả cho rằngnhu cầu nảy sinh từ hoạt động, là một thành tố trong xu hướng nhân cách,khởi nguồn của tính tích cực hoạt động của con người Đặc biệt, một số tácgiả đã bàn về lý thuyết NCTĐ, điển hình như:
Trần Anh Châu (2006), trong bài báo Giới thiệu một số nghiên cứu về
động cơ thành đạt [4], từ quá trình nghiên cứu lý thuyết NCTĐ, động cơ thành
đạt của các tác giả H.A Murray, D.C McClelland, J.W Atkinson;Heckhausen, đã đi đến khẳng định, người có NCTĐ mạnh mẽ cộng với ít lo sợthất bại sẽ có động cơ thành đạt lớn và ngược lại, người có NCTĐ thấp cộng vớinỗi lo sợ thất bại lớn sẽ có động cơ thành đạt thấp; Người có NCTĐ cao thườngchọn những việc thực tế, có độ khó vừa phải Tác giả còn chỉ ra rằng, cảm xúcđóng vai trò quan trọng trong các nghiên cứu về động cơ thành đạt, NCTĐ
Lê Văn Hảo (2015), trong cuốn Tâm lý học xuyên văn hóa (viết cùng
Knud S.Larsen) [31] đã đề cập đến sự khác biệt trong quan niệm về NCTĐ ở
Trang 29một số nền văn hóa khác nhau Theo tác giả, NCTĐ được coi như một thuộc tính
cá nhân quan trọng của các xã hội theo xu hướng cá nhân Sự thành đạt do quanniệm của cá nhân, được đánh giá bởi chính chủ thể, tạo nên giá trị cho chính chủthể Ngược lại, trong các nền văn hóa theo xu hướng cộng đồng, yếu tố chủ yếuthúc đẩy cái tôi là phản hồi của nhóm Sự thành đạt được đánh giá bởi tập thể vàthành đạt là tạo nên những đóng góp đáng kể cho nhóm, xã hội
Nhìn chung, nghiên cứu lý luận về NCTĐ so với các lĩnh vực khác củanhu cầu còn khá khiêm tốn, các nghiên cứu lý luận về NCTĐ cũng dường nhưchưa được đề cập đến một cách đầy đủ
2.2 Nghiên cứu thực tiễn về nhu cầu thành đạt, động cơ thành đạt
Một số nghiên cứu về NCTĐ, động cơ thành đạt
Lê Thị Thanh Hương (2001) với nghiên cứu “Động cơ thành đạt trong
nghiên cứu khoa học của cán bộ nghiên cứu thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia” [36], đã đưa ra quan niệm về sự thành đạt, đánh
giá về động cơ thành đạt trong nghề nghiệp, phân tích môi trường làm việc vàmức độ thỏa mãn của cán bộ nghiên cứu ở một số khía cạnh
Đinh Đức Hợi (2008) khi nghiên cứu “Động cơ thành đạt của sinh viên
Đại học sư phạm Thái Nguyên” [34] cho rằng, việc nhận thức về các tiêu chí
của một sinh viên thành đạt là khá tốt Khi đánh giá về một sinh viên thànhđạt, các sinh viên đánh giá cao sự thừa nhận, tôn trọng của người khác, có khảnăng học tập tốt và có đóng góp cho khoa, cho trường Theo tác giả, các yếu
tố ảnh hưởng đến động cơ thành đạt của sinh viên bao gồm nhóm các yếu tốchủ quan và nhóm các yếu tố khách quan; các yếu tố chủ quan chiếm ưu thế
Lã Thị Thu Thủy (2007) trong nghiên cứu NCTĐNN của trí thức trẻ [54]
đã tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận về NCTĐNN của trí thức trẻ một cáchcông phu Bên cạnh xây dựng khung lý luận về NCTĐNN của trí thức trẻ đượcđánh giá cao, tác giả đã Việt hóa, thích ứng và sử dụng trắc nghiệm T Êlerka
Trang 30đối với tri thức trẻ Từ đó, phân tích, đánh giá thực trạng NCTĐNN của trí thứctrẻ thông qua 6 mong muốn cụ thể Bên cạnh phân tích các yếu tố tác động đếnNCTĐNN của trí thức trẻ, tác giả đã tìm hiểu xu hướng phát triển NCTĐNN
và đề xuất một số biện pháp nâng cao NCTĐNN cho trí thức trẻ
Tiếp nối hướng nghiên cứu NCTĐ, Lã Thị Thu Thủy (2012), trong
nghiên cứu về Động cơ thành đạt của công nhân đã tập trung vào các khía
cạnh: khát vọng đạt thành tích, nỗ lực thành đạt, sự cạnh tranh trong công việc
và tính mạo hiểm trong công việc Kết quả nghiên cứu cho thấy, công nhân cókhát vọng thành tích trong công việc, tuy nhiên khát vọng cạnh tranh và tínhmạo hiểm không thể hiện rõ trong nghiên cứu của tác giả [54, tr.23-33]
Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa NCTĐ, động cơ thành đạt với các yếu tố tâm lý khác
Võ Thị Ngọc Châu (1999) đã nghiên cứu “NCTĐ và quan hệ của nó
với tính tích cực nhận thức của sinh viên hai trường Đại học Sư phạm và Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh” [5] Theo tác giả, NCTĐ, nhu
cầu thành tích, có tác động mạnh đến tính tích cực nhận thức của sinh viên
về nhiều vấn đề học tập và đời sống; cần có những tác động đến NCTĐ,tính tích cực cho sinh viên Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một
số biện pháp giáo dục NCTĐ và tính tích cực nhận thức cho sinh viên
Trong công trình nghiên cứu “Tác động của gia đình đến động cơ thành
đạt của thanh niên”, Lưu Song Hà (2008) cho rằng, giáo dục gia đình có ảnh
hưởng nhất định đến sự phát triển động cơ thành đạt của thế hệ trẻ Cách ứng xửcủa cha mẹ trong giáo dục con cái tác động đáng kể đến động cơ thành đạt củathanh niên Nếu cha mẹ thường xuyên quan tâm, chăm lo, yêu cầu cao và dạy dỗtinh thần trách nhiệm với công việc, ý chí vươn lên trong cuộc sống thì ở các concủa họ sẽ hình thành, phát triển động cơ thành đạt ở mức độ cao hơn [23]
Trang 31Lê Thị Thanh Hương (2012), trong bài báo Mối tương quan giữa thành
đạt và định hướng quản lý doanh nghiệp của doanh nhân đã chỉ ra rằng, động
cơ hay khát vọng thành đạt và nỗ lực thành đạt của doanh nhân được thể hiệnkhá rõ trong định hướng quản lý, điều hành doanh nghiệp của họ Tuy nhiênhiện nay các doanh nhân ở trong nước đang chú trọng đến khía cạnh quản lýhơn khía cạnh lãnh đạo, điều này sẽ kìm hãm khả năng sáng tạo của nhânviên, công nhân, dẫn tới sẽ kìm hãm xu hướng thành đạt của họ [37, tr.9-21]
2.3 Các nghiên cứu liên quan đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt nam trong quân đội
Chu Thanh Phong (1998), trong luận án “Cơ sở tâm lý của việc củng cố,
phát triển xu hướng nghề nghiệp quân sự cho phi công tiêm kích thuộc lực lượng không quân Việt Nam” [47] quan niệm, nhu cầu NNQS là cơ sở khách
quan của xu hướng NNQS Trong các yếu tố cấu thành xu hướng nghề nghiệpcủa phi công tiêm kích, hệ thống động cơ, bao gồm cả động cơ NNQS đóng mộtvai trò vô cùng quan trọng Hệ thống mục đích trong xu hướng NNQS là mụctiêu khái quát cho sự phấn đấu trong quá trình hoạt động NNQS của từng phicông
Lại Ngọc Hải (2002), cùng các cộng sự, trong tác phẩm “Định hướng
giá trị nhân cách đội ngũ SQT QĐNDVN” [59] đã phân tích những đặc và
thực trạng định hướng giá trị nhân cách đội ngũ SQT, những nhân tố ảnhhưởng, những giải pháp cơ bản nhằm định hướng giá trị nhân cách đúng đắncho đội ngũ SQT Theo tác giả, định hướng giá trị nhân cách của SQT cần tậptrung vào các nhóm giá trị: giá trị chính trị tư tưởng, giá trị văn hóa, đạo đứclối sống và GTNN Trình độ học vấn, trình độ đào tạo, năng lực chuyên mônnghiệp vụ quân sự, xu hướng NNQS,… là những biểu hiện của GTNNQS
Liên quan đến tính tích cực trong hoạt động quân sự, Lê Duy Tuấn
(2011), trong luận án “Cơ sở tâm lý của tính tích cực học tập ở học viên đào tạo
Trang 32sĩ quan quân đội” [62] cho rằng, nguồn gốc tính tích cực học tập ở học viên là
nhu cầu học tập, đó là học tập để nắm vững tri thức khoa học, hình thành kỹ xảo,
kỹ năng nghề nghiệp quân sự, học tập để trở thành sĩ quan quân đội có đủ phẩmchấ, năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Nhu cầu học tập sẽ tạo nên các động cơ học tập, được cụ thể hóa ở mụcđích học tập, là lực thúc đẩy các hành động học tập
Nguyễn Văn Sơn (2012), trong luận án “Quá trình hình thành động cơ
nghề nghiệp của học viên sĩ quan ở nhà trường quân đội hiện nay” [50] quan
niệm, quá trình hình thành động cơ nghề nghiệp của học viên đào tạo sĩ quan quânđội gồm 3 bước: Hình thành hệ thống các nhu cầu cơ bản của nghề nghiệp; Tìmkiếm đối tượng để thỏa mãn nhu cầu nghề nghiệp của mình; Xác lập lí do chiếmlĩnh và thực hành NNQS Tác giả quan niệm, quá trình hình thành động cơ, là quátrình hình thành, phát triển và hiện thực hóa nhu cầu nghề nghiệp của học viên
Hoàng Văn Thanh (2014), trong tác phẩm “Cơ sở tâm lý hình thành xu
hướng nghề nghiệp quân sự của người sĩ quan quân đội” [51], coi xu hướng
nghề nghiệp là một thuộc tính đóng vai trò thúc đẩy, định hướng hoạt độngcủa người sĩ quan đáp ứng nhu cầu của hoạt động NNQS Xu hướng NNQScủa người sĩ quan quân đội được cấu thành bởi hệ thống động cơ giữ vị tríchủ đạo và những mục đích quan trọng nhất, có quan hệ mất thiết với nhau vàđược hình thành căn bản trong quá trình đào tạo ở nhà trường Theo tác giả,
để SQT có thể tự phát triển, hoàn thiện thuộc tính này sau khi tốt nghiệp, cầnquan tâm hình thành nó một cách vững chắc từ khi còn là học viên sĩ quan
Tóm lại, NCTĐ là một vấn đề không mới đối với Tâm lý học Việt
Nam Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu trên cả bình diện lý luận
và thực tiễn về NCTĐ ở Việt Nam còn khá khiêm tốn Các nghiên cứu thựctiễn về NCTĐ, động cơ thành đạt đang tập trung ở ba hướng chính Thứ nhất,
lý giải nguồn gốc, bản chất của NCTĐ, động cơ thành đạt của học sinh phổ
Trang 33thông, cán bộ nghiên cứu khoa học, thanh niên, NCTĐNN của trí thức trẻ,…Thứ hai, một số nghiên đi theo hướng lí giải mối quan hệ tác động giữa các yếu
tố tâm lý khác đến NCTĐ, động cơ thành đạt Điển hình như tác động của giađình đến động cơ thành đạt; mối quan hệ giữa NCTĐ và tính tích cực nhậnthức,… Thứ ba, liên quan đến vấn đề NCTĐNN của SQT, đã có các công trìnhnghiên cứu thực tiễn về xu hướng nghề nghiệp, động cơ nghề nghiệp, về tínhtích cực trong hoạt động nghề nghiệp, về định hướng giá trị nhân cách của cáccác nhóm khách thể là sĩ quan (bao gồm SQT), học viên nhà trường quân đội
3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố
Nhìn chung, các nhà tâm lý học ngoài nước đã nghiên cứu về NCTĐvới nhiều cách tiếp cận, lý thuyết đa dạng, trên các lĩnh vực, đối tượng khácnhau Các nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn đã chỉ ra khái niệm, bản chất, cơchế nảy sinh hình thành, phát triển của NCTĐ, NCTĐNN; cấu trúc và cácphương pháp đo đạc NCTĐ, NCTĐNN; những nội dung xung quanh của conđường hình thành, phát triển NCTĐ, NCTĐNN Các nghiên cứu này đã chochúng tôi cái nhìn toàn diện về NCTĐ, động cơ thành đạt trong tâm lý họctrên thế giới Từ đó giúp chúng tôi so sánh đối chiếu với các nghiên cứu vềNCTĐ, động cơ thành đạt trong nước và hướng nghiên cứu của đề tài luận án
Ở trong nước, các nhà tâm lý học đã có một số công trình nghiên cứu lýluận và thực tiễn về NCTĐ Các nghiên cứu thực tiễn về NCTĐ có phần nổitrội hơn về số lượng so với các nghiên cứu lý luận và tập trung làm rõ NCTĐ,động cơ thành đạt; mối quan hệ của chúng với các yếu tố tâm lý khác ở một
số đối tượng, ở một số lĩnh vực hoạt động Trong đó, một số nhà Tâm lý họcquân sự Việt Nam đã có những nghiên cứu về các vấn đề liên quan đếnNCTĐNN của SQT như: xu hướng, động cơ nghề nghiệp, tích cực hoạt động
Trang 34nghề nghiệp, định hướng giá trị nhân cách cho SQT Từ kết quả nghiên trên,giúp chúng tôi có sự so sánh, đối chiếu với các hướng nghiên cứu ngoài nước,qua đó tìm ra “khoảng trống” trong nghiên cứu về NCTĐNN trong bối cảnhTâm lý học Việt Nam, từ đó đi đến khẳng định tính mới mẻ của đề tài luận án.
Tóm lại, những kết quả của các công trình nghiên cứu về NCTĐ ở trên
là nguồn tại liệu vô cùng phong phú mà chúng tôi có thể khai thác, thamkhảo, kế thừa nhằm hoàn thiện luận án của mình Đồng thời, từ các kết quảnghiên cứu ở trên, cũng khẳng định chưa có công trình khoa học nào nghiêncứu về NCTĐNN của SQT trong QĐNDVN, đây vẫn là một khoảng trốngkhoa học để nghiên cứu sinh có thể lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đảm bảo
tính khoa học, độc lập, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Khi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của
sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam”, chúng tôi xác định những vấn đề
cần phải tập trung giải quyết:
Một là, về quan niệm NCTĐNN đã được các nhà Tâm lý học trong và
ngoài nước đề cập với nhiều quan điểm khác nhau Trong đó, xu hướng coiNCTĐNN là một thuộc tính tâm lý, một phẩm chất vững bền của nhân cáchcủa một số nhà Tâm lý học phương Tây, sẽ được chúng tôi lựa chọn và tiếptục nghiên cứu để luận giải, làm sáng tỏ quan điểm này trong nghiên cứuNCTĐNN của SQT
Hai là, trong các tác giả đề xuất mô hình cấu trúc NCTĐ, NCTĐNN,
T.O Gordeeva với cách tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách, tương đồng
với cách tiếp cận của luận án Từ đó, chúng tôi nghiên cứu, chọn lọc và kế thừacấu trúc NCTĐ với bốn khối: Giá trị - mục tiêu, nhận thức, xúc cảm và hành vicủa tác giả Bên cạnh đó, đồng quan điểm với một số nhà nghiên cứu khác, khicoi khối nhận thức trong cấu trúc trên bao gồm: Giá trị - mục tiêu Vì vậy,nhiệm vụ của luận án phải nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm xây dựng cấu trúc
Trang 35NCTĐNN của SQT theo hướng kế thừa, phát triển điểm phù hợp và khắc phụcđiểm chưa phù hợp của cầu trúc NCTĐ ở trên, từ đó xác định các biểu hiện củanó.
Ba là, để phát triển NCTĐNN của SQT, nhiệm vụ của luận án không
chỉ làm sáng tỏ vấn đề lý luận mà còn phải đi sâu nghiên cứu, khảo sát thực
tế, đánh giá thực trạng của nó Bởi các nghiên cứu liên quan đến NCTĐ,NCTĐNN trong nước và ở nước ngoài chưa đề cập đến thực trạng NCTĐNNcủa SQT trong Quân đội, vì vậy luận án cần tập trung sử dụng đa dạng cácphương pháp nghiên cứu làm rõ mức độ và tính chất thực trạng vấn đề này
Bốn là, NCTDDNN của SQT chịu tác động của nhiều yếu tố khác
nhau Do đó, cần thiết phải có sự tìm hiểu, phân tích về các yếu tố ảnh hưởngđến NCTĐNN của SQT, qua đó xác định một số biện pháp tâm lý – xã hộiphát triển NCTĐNN cho SQT Đồng thời, để kiểm định tính khả thi, hiệu quảcủa các biện pháp đã đề ra, luận án cần tiến hành thực nghiệm kiểm định với
ít nhất một biện pháp bất kỳ nhằm chứng minh việc sử dụng biện pháp sẽ cótác động phát triển NCTĐNN cho SQT QĐNDVN
Trên đây là những nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu mà luận án cần tiếptục đi sâu nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các nhàTâm lý học trong và ngoài nước về NCTĐNN
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU THÀNH ĐẠT NGHỀ NGHIỆP
CỦA SĨ QUAN TRẺ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1.1 Lý luận về nhu cầu và nhu cầu thành đạt
1.1.1 Một số vấn đề lý luận về nhu cầu
1.1.1.1 Khái niệm nhu cầu
Nhu cầu là một vấn đề cơ bản trong Tâm lý học Tuy có nhiều quanniệm khác nhau về nhu cầu, nhưng nhìn chung, các tác giả đều coi nhu cầu làđòi hỏi tất yếu, khách quan để con người tồn tại và phát triển Nhu cầu là
Trang 36nguồn gốc, nguyên nhân của tính tích cực hoạt động, có khả năng điều khiểnhành vi, xác định xu hướng tư duy, tình cảm, lý trí của con người Nhu cầu bắtnguồn từ chính hoạt động thực tiễn của con người Khi những thiếu thốn,những đòi hỏi của điều kiện, hoàn cảnh được cá nhân phản ánh và thúc đẩy cánhân vươn tới tìm kiếm và chiếm lĩnh đối tượng để thỏa mãn nhu cầu
Tùy vào đối tượng thỏa mãn mà nhu cầu có thể ở dạng những hammuốn; những đòi hỏi hoặc những khát khao cháy bỏng nhằm chiếm đối tượng
đó Hoặc theo trình độ phát triển, nhu cầu có thể mới chỉ ở dạng “trạng thái cótính chất nhu cầu” [40] hoặc nhu cầu là sự đòi hỏi đã trở thành những đặcđiểm ổn định, một phẩm chất nhân cách giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩyhành vi Về điều này, D.N Uznetze đã khẳng định, nhu cầu là một thuộc tínhtâm lý đặc trưng, giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi [dẫn theo24]; hay theo H.A Murray quan niệm, trong trường hợp bộc lộ dưới dạngnhững đặc điểm, nhu cầu mang tính chất ổn định và trở thành những phẩmchất của nhân cách [85]
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi quan niệm nhu cầu con người là
một thuộc tính tâm lý ổn định, một phẩm chất của nhân cách biểu hiện ở sự
đòi hỏi tất yếu của cá nhân về một cái gì đó (vật chất hay tinh thần) cần được thỏa mãn để chủ thể tồn tại và phát triển
Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng: Đối tượng của nhu cầu là cái mà con
người đòi hỏi phải có để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình Tính tất yếucần được thỏa mãn của nhu cầu xuất hiện khi chủ thể nhận thức được đầy đủ ýnghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết ở đối tượng nhu cầu đối với mình Khi chủthể chưa phát hiện ra điều đó ở sự vật, hiện tượng thì nó vẫn chưa trở thành đốitượng của nhu cầu Có thể khẳng định, nhận thức đầy đủ của chủ thể là mộtđiều kiện tiên quyết để một sự vật, hiện tượng nào đó trở thành đối tượng củanhu cầu Khi nhận thức của chủ thể về sự vật hiện tượng còn chung chung, chưađầy đủ thì nhu cầu còn chưa có đối tượng; khi đó chưa có một nhu cầu đích
Trang 37thực (A.N Leonchiep) Khi ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của sự vật,hiện tượng đối với chủ thể được chính chủ thể nhận thức rõ ràng, đầy đủ (kể cảphương thức để đạt được nó) đó là lúc chủ thể có một nhu cầu đích thực A.N.Leonchiep gọi đó là lúc “nhu cầu gặp được đối tượng” Hiện tượng này làmxuất hiện ở chủ thể một sức mạnh tâm lý thúc đẩy chủ thể thực hiện hành độnglấy đối tượng của nhu cầu làm mục tiêu vươn tới, chiếm lĩnh Nói cách khác đốitượng của nhu cầu trở thành cái định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành độngcủa chủ thể nhằm chiếm lĩnh nó, thỏa mãn nhu cầu.
Nhu cầu bao giờ cũng có phương thức thỏa mãn: Thông qua nhận thức,
đối tượng của nhu cầu dần được phản ánh đầy đủ trong đầu chủ thể dưới hìnhthức biểu tượng Để thỏa mãn nhu cầu của mình, chủ thể phải tìm được cáchthức, con đường (phương pháp) hiện thực hóa đối tượng nhu cầu, phươngthức thỏa mãn nhu cầu Mối quan hệ của phương thức thỏa mãn với đối tượngcủa nhu cầu, là mối quan hệ giữa nội dung và phương pháp “Nội dung nàothì phương pháp ấy”; “Phương pháp là sự vận động nội tại của nội dung” -Hêghen lúc sinh thời đã khẳng định như vậy Vận dụng ý tưởng đó vàotrường hợp cụ thể này, có thể khẳng định: Muốn chỉ ra phương thức thỏa mãnnhu cầu, đòi hỏi chủ thể phải phân tích, tìm hiểu bản chất đối tượng nhu cầu
ấy, đồng thời phân tích, tìm hiểu mối quan hệ của đối tượng nhu cầu này vớinhững hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của chủ thể trong bối cảnh trình độ pháttriển xã hội đương thời mà chủ thể là thành viên Bằng cách đó, chủ thể sẽdần dần phát hiện ra phương thức thỏa mãn nhu cầu thích hợp Vì vậy, trênbình diện lý luận, có thể khẳng định: Sự vận động, phát triển của nhu cầu bịquy định bởi sự vận động, phát triển của đối tượng và phương thức thỏa mãnnhu cầu đó Ngược lại, sự vận động, phát triển của đối tượng và phương thứcthỏa mãn nhu cầu lại quy định sự vận động, phát triển của bản thân nhu cầu.Nghiên cứu sự vận động, phát triển của nhu cầu trong một lĩnh vực nào đó
Trang 38chính là nghiên cứu sự vận động, phát triển của đối tượng và phương thứcthỏa mãn nhu cầu trong lĩnh vực ấy.
Nhu cầu sinh ra từ hoạt động: Đề cập tới nhu cầu là đề cập tới đối
tượng của nó Đối tượng của nhu cầu hàm chứa nội dung tâm lý của nhu cầu.Thoạt đầu, nhờ hoạt động nhận thức của chủ thể, đối tượng của nhu cầu (nộidung tâm lý của nhu cầu) dần dần xuất hiện đầy đủ trong đầu chủ thể dướidạng biểu tượng Sau đó, nhờ hoạt động thực tiễn của chủ thể, đối tượng củanhu cầu được hiện thực hóa, tồn tại trực quan trước mọi người, có tác dụngkích thích, định hướng, thúc đẩy hoạt động làm nảy sinh nhu cầu mới Quan
hệ giữa hoạt động và nhu cầu, do đó, là mối quan hệ sinh thành lẫn nhau trongquá trình vận động, phát triển của chúng Có thể biểu diễn mối quan hệ nàygiữa hoạt động và nhu cầu bằng một sơ đồ theo chu kỳ (A.N Leonchiep), nhưsau: Hoat động→Nhu cầu→Hoạt động Sơ đồ này khẳng định hoạt động làđiểm xuất phát làm nảy sinh nhu cầu, và khi nhu cầu vừa được sinh ra, ngaylập tức, trở thành tiền đề làm nảy sinh hoạt động mới Trong bối cảnh đó,người ta nói tới nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động Nhìnchung, mối quan hệ giữa hoạt động và nhu cầu là mối quan hệ sinh thành lẫnnhau, trong đó hoạt động là điểm xuất phát, nhu cầu là nguồn gốc của tínhtích cực hoạt động Sự vận động, phát triển của mối quan hệ này trong thựctiễn cuộc sống là nguồn gốc của sự vận động, phát triển tâm lý, nhân cáchmỗi người nói riêng, và sự vận động, phát triển xã hội nói chung
Sự vận động, phát triển của nhu cầu: Nhu cầu của con người luôn vận
động, phát triển đồng thời với sự vận động, phát triển của xã hội loài người: xéttrên bình diện cá thể phát sinh, nhu cầu của con người về những cái cần phải cóluôn vận động, phát triển không ngừng từ thấp đến cao Con người thỏa mãnnhu cầu ấy bằng phương thức tự sản xuất ra đối tượng có khả năng thỏa mãnnhu cầu của mình Trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội (đồng thời là
Trang 39trình độ phát triển của bản thân xã hội), là yếu tố quyết định sự thỏa mãn nhucầu của con người Trình độ phát triển nền sản xuất càng cao thì nhu cầu củacon người càng được thỏa mãn đầy đủ, và ngược lại Trong ngữ cảnh đó, người
ta nói đến sự quy định của trình độ phát triển xã hội đối với trình độ phát triểnnhu cầu con người Tuy nhiên sự quy định này không theo một chiều Sau khiđược sinh ra từ nền sản xuất xã hội, đến lượt nó, nhu cầu lại kích thích, thúcđẩy nền sản xuất xã hội phát triển lên một trình độ mới Mối quan hệ giữa nhucầu và sự phát triển xã hội có tính chu kỳ này là mối quan hệ sinh thành lẫnnhau trong quá trình vận động, phát triển không bao giờ dừng lại
Quá trình hình thành, phát triển nhu cầu ở mỗi người khác nhau làkhông giống nhau Do trình độ nhận thức về đối tượng của nhu cầu vàphương thức chiếm lĩnh đối tượng, thỏa mãn nhu cầu ở mỗi người là khácnhau, đồng thời số lượng và tính chất các nhu cầu của các chủ thể cũng khácnhau Nội dung đối tượng thỏa mãn nhu cầu và phương thức chủ thể lựa chọn
để chiếm lĩnh nó phản ánh những đặc điểm riêng về nhân cách của chủ thể.Nhu cầu về một lĩnh vực, theo nghĩa một thuộc tính tâm lý, một phẩm chấtnhân cách, là sự nhất quán từ nhận thức đến thái độ và hành vi của chủ thểnhằm thỏa mãn nhu cầu đó
1.1.1.2 Phân loại nhu cầu
Vấn đề phân loại nhu cầu đã được nghiên cứu và thực hiện rất công phutrong Tâm lý học Việc phân loại nhu cầu thường gắn với các tiêu chí cụ thể.Chẳng hạn, dựa và nguồn gốc của nhu cầu có nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xãhội; dựa vào đối tượng thỏa mãn có nhu cầu tinh thần và nhu cầu vật chất;dựa vào mức độ của nhu cầu có nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao, Trongcác nghiên cứu có liên quan đến phân loại nhu cầu, nổi lên các nghiên cứuchuyên sâu của các tác giả như H.A Murray, A Maslow, Herzberg, ,
Trang 40H.A Murray [58], chia các nhu cầu thành 20 loại khác nhau: nhu cầuquyền lực, nhu cầu làm tổn thương người khác, nhu cầu về các mối quan hệ,nhu cầu bỏ rơi người khác, nhu cầu vượt qua các quy tắc ràng buộc, nhu cầutôn trọng, nhu cầu phục tùng, nhu cầu trở thành trung tâm của chú ý, nhu cầugiải trí, nhu cầu thành đạt,…
Trong đó, bao gồm các nhu cầu nguyên phát và nhu cầu thứ phát, nhu cầutường minh và tiềm tàng Theo ông, nhu cầu nguyên phát là các nhu cầu tự nhiêncủa con người với tư cách là một cơ thể sống, nhu cầu thứ phát được hình thànhtrong quá trình giao tiếp; nhu cầu tường minh được thể hiện tự do ra bên ngoàiđối lập với nhu cầu tiềm tàng thể hiện trong tưởng tượng, trong giấc mơ và cáctrò chơi đóng vai Trong cách phân loại này, H.A Murray coi NCTĐ là nhu cầutiềm tàng, thứ phát, là loại nhu cầu không thể hiện tự do bên ngoài mà thể hiệndưới dạng tiềm ẩn xuất hiện trong quá trình tương tác với người khác
A Maslow [dẫn theo 89] cho rằng, nhu cầu và sự phát triển nhu cầucủa con người theo một chuỗi liên tiếp, bậc thang Ông đã phân loại nhu cầukhác nhau của con người căn cứ theo tính đòi hỏi và thứ tự phát sinh trướcsau của chúng để quy thành 5 loại, sắp xếp thành năm bậc thang về nhu cầucủa con người từ thấp đến cao, bao gồm:
1 Nhu cầu thể lý: Là các nhu cầu sinh học như thức ăn, nước uống, trúngụ, tình dục, bài tiết, hít thở Khi cơ thể thiếu thốn những thứ này, nhưngnhu cầu này sẽ được con người ưu tiên thỏa mãn,mọi nhu cầu khác đều trởthành thứ yếu
2 Nhu cầu an toàn: Con người muốn an toàn về sinh mạng, lao động,
an toàn môi trường, kinh tế, việc làm, tài sản, sức khỏe,… Khi nhu cầu thể lýđược thỏa mãn, con người tìm kiếm sự an toàn
3 Nhu cầu xã hội: Đây là những nhu cầu được yêu thương, được thừanhận, tình bạn, tình thân ái, hay thuộc về một nhóm, một tổ chức,… Nhu cầunày xuất hiện khi nhu cầu an toàn được thỏa mãn