“Một số vấn đề pháp lý về thủ tục gia nhập thị trường của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” của tác giả Từ Thanh Thảo đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật Một số luận văn cũng đã đề
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ MỸ DUNG
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ 2014
QUA THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ MỸ DUNG
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ 2014
QUA THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN ĐỨC MINH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi
Ngô Thị Mỹ Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ 7
1.1 Cơ sở lý luận của trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 7
1.1.1 Khái niệm về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 7
1.1.2 Tính chất, đặc điểm của trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 10
1.1.3 Nguyên tắc thực hiện thủ tục đầu tư 11
1.1.4 Sự cần thiết của trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 13
1.1.5 Vai trò của trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 15
1.2 Nội dung trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 17
1.2.1 Các trường hợp thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 17 1.2.2 Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 18
1.2.3 Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 18
1.3 Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại một số nước và gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam 20
1.3.1 Trung Quốc 20
1.3.2 Indonesia 21
1.3.3 Thái Lan 21
1.3.4 Philippines 22
Chương 2: TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH 26
2.1 Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo pháp luật Việt Nam hiện nay 26
2.1.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ở Việt Nam 27
2.1.2 Đánh giá chung 33
Trang 52.2 Thực tiễn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại tỉnh Bình Định 36
2.2.1 Các yếu tố địa phương ảnh hưởng đến việc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại tỉnh Bình Định 36
2.2.2 Tổ chức thực hiện trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại tỉnh Bình Định 40
2.2.3 Kết quả thực hiện pháp luật về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại tỉnh Bình Định 47
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ 55
3.1 Quan điểm và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 55
3.1.1 Quan điểm 55
3.1.2 Yêu cầu 57
3.2 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 59
3.2.1 Giải pháp ngắn hạn 59
3.2.2 Giải pháp dài hạn 61
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại tỉnh Bình Định 62
3.3.1 Hoàn thiện về cơ chế nhân sự 63
3.3.2 Hoàn thiện cơ chế một cửa liên thông 64
3.3.3 Nâng cao hiệu quả công tác hậu kiểm 66
3.3.4 Một số giải pháp khác 67
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CQĐKĐT: Cơ quan đăng ký đầu tư
FDI: Foreign Direct Investment
(Đầu tư trực tiếp nước ngoài) GCNĐKĐT : Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
GDP: Gross Domestic Product
(Tổng sản phẩm địa phương)
KH & ĐT: Kế hoạch và đầu tư
LĐT: Luật Đầu tư
NNPQ: Nhà nước pháp quyền
NXB: Nhà xuất bản
PCI: Provincial Competitiveness Index
(Chỉ số cải cách hành chính) PPP: Public – Private Partne
(Đầu tư theo hình thức đối tác công tư) QLNN: Quản lý nhà nước
TDKD: Tự do kinh doanh
TPP: Trans-Pacific Partnership Agreement
(Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương) TTHC: Thủ tục hành chính
UBND: Ủy ban nhân dân
VCCI: Vietnam Chamber of Commerce and Industry
(Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) XHCN: Xã hội chủ nghĩa
XTĐT : Xúc tiến đầu tư
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là một văn bản pháp lý, nó ghi nhận các thông tin của dự án đầu tư, đồng thời đó là sự bảo hộ của Nhà nước đối với nhà đầu
tư và các chủ thể khác liên quan Vì vậy trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT có một vai trò rất quan trọng đối với nhà đầu tư và công tác quản lý của Nhà nước
Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài (Bộ kế hoạch đầu tư) tính đến ngày 20/12/2015 cả nước có 2,013 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 15,578 tỷ USD; có 814 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,18 tỷ USD, tăng 56,5% so với cùng
kỳ năm 2014; Trong năm 2015, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 22,757 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2014
Luật Đầu tư năm 2005 ra đời là một bước tiến quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế, quốc tế Việt Nam, điều chỉnh cụ thể quy trình cấp giấy chứng nhận đầu tư Tuy nhiên trong quá trình áp dụng, thực hiện vẫn còn tồn tại một số quy định khác biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời chưa xác định rõ hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư Các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng chưa được quy định thống nhất giữa các luật nên đã dẫn đến sự chồng chéo về mục tiêu, nội dung quản lý cũng như cơ quan thẩm định, phê duyệt Cộng đồng doanh nghiệp cho rằng, thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng là chuỗi thủ tục tồn tại nhiều khó khăn nhất cho doanh nghiệp và là một trong những “nút thắt” phải tháo gỡ nhằm tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh
Các quy định về thủ tục đầu tư ở Việt Nam đã làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phải
đối mặt với xu hướng cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt từ
các nước trên thế giới và trong khu vực Luật Đầu tư 2014 ra đời,tạo bước chuyển
biến mới về cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện hoạt động đầu tư gắn liền với việc đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu qủa công tác quản lý nhà nước đối với
Trang 8hoạt động đầu tư; góp phần tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư với thủ tục đơn giản hơn và chi phí thấp hơn Đồng thời tạo môi trường bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước
Tuy nhiên, hiện nay việc thực thi pháp luật về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT vẫn còn rất nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập Cụ thể là: Hệ thống văn bản pháp luật về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT chưa đồng bộ; có sự chồng chéo thẩm quyền giữa các cơ quan trong quá trình lấy ý kiến thẩm định; việc phối hợp giữa các cơ quan đăng ký đầu tư còn nhiều tồn tại Chính vì vậy trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT ở nước ta hiện nay còn rườm rà, phức tạp
Bình Định là một trong 5 tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm khu vực miền trung Trong vài năm trở lại đây Bình Định đã có nhiều nỗ lực trong công tác xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư Với xu thế phát triển đó, lãnh đạo tỉnh Bình Định chú trọng đến cải thiện môi trường đầu tư đặc biệt là trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT
Xuất phát từ thực tiễn và vai trò của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với
hoạt động đầu tư tại Việt Nam Nên tác giả chọn “Trình tự, thủ tục cấp giấy
chứng nhận đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư 2014 qua thực tiễn tỉnh Bình Định” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Xoay quanh vấn đề cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cũng được nhiều tác giả đề cập và phân tích trong các bài viết trên báo, tạp chí…ở nhiều góc độ và phương diện khác nhau Nhìn chung các bài viết chỉ nêu một vài vấn đề bất cập trong thủ tục đầu tư hay phân tích một vài quy định liên quan đến đầu tư chứ chưa
đi sâu, phân tích vấn đề thủ tục đầu tư đặt trong một mối quan hệ nào đó hay một
phạm vi nào đó Có thể liệt kê một số bài viết như: “pháp luật doanh nghiệp và đầu
tư với vấn đề hội nhập” của tác giả Bùi Xuân Hải đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 1/2008; “Hoàn thiện pháp luật về thủ tục hành chính trong đầu tư” của tác
giả Vũ Thị Hoài Thương đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số tháng 3/2010;
Trang 9“Một số vấn đề pháp lý về thủ tục gia nhập thị trường của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” của tác giả Từ Thanh Thảo đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Một số luận văn cũng đã đề cập đến vấn đề cấp Giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư như: Luận văn “Quy trình, thủ tục đầu tư đối với dự án đầu tư đối với dự án đầu tư có sử dụng đất ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Dương” của tác giả Trần Thị Thắm năm 2012
Trong luận văn tác giả đã có sự phân tích và đánh giá cụ thể về quy trình, thủ tục đầu tư, nêu ra những vướng mắc và kiến nghị Tuy nhiên đề tài của luận văn chỉ tiếp cận một quy trình nhỏ trong hệ thống thủ tục đầu tư Mặc khác đề tài của luận văn nghiên cứu dựa trên Luật Đầu tư 2005, đến nay Luật Đầu tư 2005 đã hết hiệu lực
Mặc dù, đã có nhiều công trình nghiên cứu về trình tự, thủ tục đầu tư Tuy nhiên đến thời điểm này chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT với những mặt tích cực và hạn chế của chúng ảnh hưởng đến cải cách TTHC ở ViệtNam, đặc biệt về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư 2014 Do đó mục đích đề tài của luận văn trên cơ sở nghiên cứu lý luận và các quy phạm pháp luật điều chỉnh
về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT để có cái nhìn tổng quan Dựa trên thực tiễn thực hiện pháp luật tại tỉnh Bình Định nói riêng và cả nước nói chung để đưa ra những giải pháp hữu hiệu Vì vậy đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên ở
Trang 10tỉnh Bình Định và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống Luật Đầu tư năm 2014 về hoạt động đầu tư, trong đó tập trung chủ yếu vấn đề trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam Kết hợp với nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT tại tỉnh Bình Định Đồng thời so sánh với Luật Đầu tư năm 2005, từ đó cung cấp luận cứ khoa học cho việc đánh giá và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT của Việt Nam nói chung và cho tỉnh Bình Định nói riêng
Xuất phát từ mục đích đó, tác giả đề ra ba nhiệm vụ chính trong quá trình nghiên cứu đề tài:
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về đầu tư nói chung và trình tự thủ tục
cấp GCNĐKĐT nói riêng Đồng thời tìm hiểu các quy định pháp luật có liên quan đến việc cấp GCNĐKĐT một cách cụ thể, chi tiết, toàn diện
Thứ hai, phân tích tình hình thực tiễn việc thực hiện pháp luật về cấp
GCNĐKĐT tại tỉnh Bình Định Qua đó đánh giá tính phù hợp của các quy định pháp luật, nêu ra những khó khăn vướng mắc tồn tại
Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực tiễn từ đó đề xuất những giải pháp hoàn
thiện pháp luật trong lĩnh vực này
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các quy phạm pháp luật về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT, cụ thể: trường hợp thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT; thẩm quyền cấp GCNĐKĐT; trình tự thủ tục cấp GCNĐKĐT; lĩnh vực cấm đầu tư và đầu tư có điều kiện; hồ sơ đăng ký đầu tư…
Thực tiễn áp dụng pháp luật về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT tại tỉnh Bình Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về trình
tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT cụ thể là Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đất đai, Luật Môi trường, khoa học và công nghệ và nhiều luật chuyên ngành khác trên cơ sở phân tích so sánh với Luật Đầu tư năm 2005 và nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong khu vực Dựa trên những quy định của pháp luật, tác giả tiếp cận thực tiễn tại tỉnh Bình Định để tìm hiểu, phân tích đánh giá việc thực hiện và áp dụng pháp luật
về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT Từ đó kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin
Trên nền tảng của phương pháp luận, tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản để thực hiện luận văn là: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, thống kê gián tiếp, phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch… để tiến hành nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề của đề tài Trong suốt quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn tác giả không chỉ
sử dụng các phương pháp trên một cách riêng lẽ mà vận dụng chúng một cách linh
hoạt, đồng bộ để mang đến kết quả tốt nhất cho công trình nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Đề tài nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật Việt
Nam về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Về mặt thực tiễn: Để thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, nước ta cần hoàn thiện một hành lang pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư khi bắt đầu dự án đầu tư Dựa trên nghiên cứu quá trình thực hiện pháp luật về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại tỉnh Bình Định, tác giả đưa ra cái nhìn thực tế về môi trường đầu tư, sự thông thoáng của pháp luật, về những hạn chế tồn tại trong quá trình cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư,
từ đó có những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Đặc biệt trong bối cảnh Luật Đầu tư 2014 và Luật Doanh
Trang 12nghiệp 2014 vừa mới có hiệu lực, vẫn còn đó nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Tác giả mong muốn thông qua luận văn có thể có những kiến nghị hợp lý, thiết thực
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, mở đầu thì nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn cấp giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư tại tỉnh Bình Định
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về trình tự,
thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC
CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ 1.1 Cơ sở lý luận của trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
1.1.1 Khái niệm về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là văn bản, bản điện tử ghi nhận thông tin đăng ký của nhà đầu tư về dự án đầu tư Như vậy có thể hiểu GCNĐKĐT chỉ là văn bản chứng nhận việc nhà đầu tư đăng ký dự án của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tức là đăng ký ý tưởng đầu tư, ý định bỏ vốn trung và dài hạn để thực hiện hoạt động đầu tư trên một địa bàn cụ thể trong một thời gian nhất định) [22, Điều 3]
Vậy GCNĐKĐT là hình thức biểu hiện của việc đăng ký đầu tư Trên thực
tế, việc đăng ký hay chấp thuận đầu tư chỉ là một thủ tục, một bộ phận trong toàn bộ quy trình thủ tục hành chính đối với dự án đầu tư, gắn liền với các thủ tục hành chính khác, nhất là thủ tục về đất đai, xây dựng và môi trường [35]
“Quy trình” là một thuật ngữ Hán - Việt được sử dụng khá phổ biến trong sinh hoạt xã hội Trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, thì “quy trình” càng được sử dụng rộng rãi hơn Theo Từ điển Tiếng Việt thì “quy trình” được hiểu là
“trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó” [25, tr.813]
Trình tự được hiểu là “sự sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau Kể lại trình tự diễn biến trận đấu Theo trình tự thời gian” [17, tr.1037]
Khi nói đến quy trình người ta sẽ nghĩ đến chuỗi các công việc có liên quan đến nhau Nhưng những công việc đó lại phải tuân theo trình tự nhất định
Thủ tục, theo nghĩa chung nhất, được hiểu là “phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn của chủ thể quản lý” [14, tr.287]
Trang 14Như vậy, có thể hiểu trình tự, thủ tục là “thứ tự, cách thức thực hiện những hành động cần thiết để hoàn thành một công việc hay để giải quyết một nhiệm vụ nào đó đặt ra theo một trình tự nhất định” Với ý nghĩa đó trình tự thủ tục là cần
thiết cho việc giải quyết bất kỳ công việc nào trên thực tế
Mỗi hoạt động quản lý thực chất là một chuỗi các hoạt động diễn ra theo những trình tự nhất định, có thể được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, với nội dung và nhằm mục đích khác nhau Bản thân thủ tục không có mục đích tự thân, thủ tục chỉ thể hiện cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của nhà nước Vì vậy thủ tục bị quy định bởi chính các hoạt động quản lý Trong hoạt động quản lý nhà nước thì trình tự, thủ tục còn được hiểu là
“cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của Cơ quan nhà nước” [6, Điều 3] Có thể thấy quá trình hoạt động của Nhà nước
nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục nhất định Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của Nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp là ba nhóm thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục hành pháp (thủ tục hành chính), thủ tục tư pháp
Theo quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý nhà nước ở nước ta hoạt động chấp hành và điều hành (hành pháp) của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện bằng hành động liên tục theo một trình tự nhất định nhằm đạt mục đích quản lý đề ra Đó là thủ tục quản lý hành chính nhà nước hay gọi là thủ tục hành chính Hoạt động cấp GCNĐKĐT do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền thực hiện và đó là hoạt động thực hiện pháp luật, do đó thủ tục cấp GCNĐKĐT cũng là một dạng của thủ tục hành chính
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ hành chính, TTHC được hiểu là những quy tắc phải theo đúng trong quy trình ra một quyết định hay giải quyết một công việc thuộc lĩnh vực quản lý liên quan đến xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật và phục vụ các nhu cầu hàng ngày cho xã hội, công dân của các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước Đó là trình tự cả về không gian và thời gian, các giai đoạn cần phải có để thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước [15, tr 285]
Trang 15Cũng có quan niệm cho rằng, TTHC là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính Nhà nước được quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính bao gồm: trình tự, nội dung, mục đích, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính Nhà nước [12, tr.141]
Ở góc độ khoa học pháp lý, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 06 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục
hành chính, TTHC được quy định theo hướng giải thích từ ngữ: “thủ tục hành chính
là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức” Quy định nêu trên có tính khái quát hóa cao về TTHC, mang đến
cách hiểu đầy đủ nhất về TTHC Từ đó đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của TTHC trong quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý nhà nước là đa dạng nên thủ tục hành chính cũng đa dạng
và phong phú, ví dụ: thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục phá sản doanh nghiệp, thủ tục xử lý vi phạm hành chính… Như vậy, thủ tục hành chính trong đầu tư kinh doanh là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh liên quan đến cá nhân, tổ chức
Thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là một trong những thủ tục hành
chính trong hoạt động đầu tư Vậy trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT đó là “toàn bộ các quy tắc, chế độ pháp lý quy định về trình tự, trật tự, thực hiện thẩm quyền của
cơ quan nhà nước trong việc giải quyết nhiệm vụ nhà nước và cấp GCNĐKĐT liên quan đến nhà đầu tư tạo thành hệ thống quy phạm thủ tục, có tính bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các công chức nhà nước phải tuân theo trong quá trình giải quyết công việc thuộc chức năng và thẩm quyền của mình” hay có thể hiểu là
toàn bộ những công việc cần thiết mà các chủ thể có liên quan phải thực hiện khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Trang 16Mục đích chủ yếu của việc quy định trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT là để đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với các dự án đầu tư cũng như các hoạt động, sản xuất kinh doanh nói chung, tránh sự lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả trong đầu tư Đồng thời thông qua đó, Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, từ đó có cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư Chính vì vậy, thủ tục hành chính nói chung hay thủ tục đầu tư liên quan đến cấp GCNĐKĐT nói riêng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra hành lang pháp lý cho nhà đầu tư, tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế
1.1.2 Tính chất, đặc điểm của trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng
Xét trong mối quan hệ với thể chế hành chính: quy phạm về thủ tục cấp GCNĐKĐT là một loại quy phạm pháp luật mang tính thủ tục, là bộ phận của thể chế hành chính, là công cụ, phương tiện cho các cơ quan nhà nước có điều kiện thực hiện chức năng của mình trong hoạt động đầu tư Hình thức của nó là một trật tự công vụ của mối quan hệ do con người nhận thức và thiết lập (con người ở đây là những người thực thi công vụ, từ người có nhiệm vụ đặt ra thủ tục, người vận hành
nó và người kiểm tra nó) Thủ tục cấp GCNĐKĐT cũng giống như những quy định, nội quy, quy trình thực hiện của bất cứ hoạt động nào trong đời sống, phải đảm bảo tối thiểu những bước, những giấy tờ và thời gian nhất định
Đặc điểm của thủ tục cấp GCNĐKĐT:
Trang 17Thứ nhất, được xác định bởi các quy phạm pháp luật trong hoạt động cấp
GCNĐKĐT Các quy phạm đó bao gồm: quy phạm nội dung và quy phạm thủ tục Quy phạm nội dung trực tiếp quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của cơ quan có thẩm quyền cấp GCNĐKĐT và các cơ quan khác có liên quan, quy định các quyền
và nghĩa vụ cơ bản của nhà đầu tư khi thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT; quy phạm thủ tục quy định cách thức thực hiện quy phạm nội dung (bao gồm trình tự các công việc cần phải thực hiện, nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư, thời hạn của các giai đoạn thực hiện…)
Thứ hai, được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền
Theo Luật Đầu tư 2014, Sở Kế hoạch và đầu tư, các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất… được nhà nước trao quyền cấp GCNĐKĐT trong những trường hợp
cụ thể, gọi tắt là cơ quan đăng ký đầu tư Ngoài ra còn có một số cơ quan nhà nước khác liên quan đến quá trình cấp GCNĐKĐT, những cơ quan này mang tính phối hợp thực hiện đảm bảo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đăng ký đầu tư
Thứ ba, có tính nguyên tắc Thủ tục cấp GCNĐKĐT là cách thức, trình tự,
hồ sơ, yêu cầu và điều kiện nhà nước quy định, thể hiện tính quyền lực của nhà nước đối với nhà đầu tư Đó là quy trình, hồ sơ, điều kiện, thời hạn cấp GCNĐKĐT, chi phí hoàn thành thủ tục cấp GCNĐKĐT được quy định chặt chẽ trong pháp luật đầu tư và được công khai trước cho NĐT biết để tuân thủ khi thực hiện dự án đầu tư Về phía nhà đầu tư, việc tuân thủ các quy định về thủ tục cấp GCNĐKĐT đó là nghĩa vụ bắt buộc, còn các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ nhân danh quyền lực nhà nước xem xét, đánh giá mức độ đáp ứng của nhà đầu tư đối với nội dung hồ sơ và các điều kiện luật định để ra quyết định giải quyết cho nhà đầu tư trong quá trình cấp GCNĐKĐT
1.1.3 Nguyên tắc thực hiện thủ tục đầu tư
Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định mới có thẩm quyền quy định thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Trang 18Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Theo đó, chỉ những
cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành các thủ tục cấp GCNĐKĐT
Khi thực hiện thủ tục đầu tư phải đảm bảo chính xác, khách quan, công bằng
Tính chính xác, khách quan khi thực hiện thủ tục đầu tư thể hiện ở việc CQĐKĐT phải chịu trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký đầu tư, nếu
hồ sơ chưa đầy đủ cơ quan đăng ký đầu tư có quyền yêu cầu nhà đầu tư nộp thêm các giấy tờ Tuy nhiên, CQĐKĐT chỉ được phép yêu cầu những giấy tờ trong hồ sơ đăng ký đầu tư theo quy định, ngoài ra không được yêu cầu thêm một giấy tờ gì khác Điều này nhằm giải quyết một cách đúng đắn nhất các công việc của CQĐKĐT, các kiến nghị, yêu cầu hợp pháp của nhà đầu tư Khi thực hiện thủ tục đầu tư phải bảo đảm tính khách quan, không vì vụ lợi mà gây thiệt hại cho nhà nước, phiền hà cho nhà đầu tư
Thủ tục đầu tư phải rõ ràng và công khai
Đây là một nguyên tắc quan trọng vì sự thiếu rõ ràng của hệ thống thủ tục đầu tư trong việc giải quyết các yêu cầu, đề nghị của nhà đầu tư gây nhiều khó khăn khi đến cơ quan đăng ký đầu tư để cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Sự không
rõ ràng của thủ tục đầu tư cũng nảy sinh tiêu cực trong thực hiện thủ tục đầu tư Bởi
vì nhà đầu tư không biết mình phải thực hiện những quy định gì, các quy định đó được giải quyết ở đâu? Thủ tục đầu tư hiện nay là một rào cản thương mại lớn nhất của nhà đầu tư Khi Việt Nam gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế, bắt buộc phải cải cách một loạt các thủ tục đầu tư trong đó có thủ tục cấp GCNĐKĐT Thủ tục đầu tư rõ ràng đòi hỏi phải được xây dựng một ách khoa học, hợp lý, dễ hiểu và
dễ thực hiện
Thủ tục đầu tư phải công khai Công khai hoá quy trình, thủ tục đầu tư là đều kiện góp phần tăng hiệu quả của quá trình giải quyết các yêu cầu Nhà đầu tư biết rõ được họ cần phải làm gì, cần chuẩn bị những vấn đề gì, loại giấy tờ gì trước khi đến
cơ quan đăng ký đầu tư Mặt khác người thừa hành công vụ sẽ không có điều kiện
Trang 19để lợi dụng, sách nhiễu, gây phiền hà cho nhà đầu tư Công khai còn là cơ sở để kiểm tra quá trình thực hiện thủ tục, do đó nó là căn cứ để đánh giá trách nhiệm của nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ với nhân dân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức thực hiện thủ tục đầu tư Hiện nay trên cổng thông tin của Bộ kế hoạch và đầu tư hay của sở kế hoạch đầu tư của các tỉnh đều có đầy đủ thông tin và yêu cầu hồ sơ cung cấp cho nhà đầu tư
Như vậy, công khai các thủ tục đầu tư cũng là sự biểu hiện cao nhất của nền dân chủ XHCN, đảm bảo cho hệ thống pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh Nhưng, trong trường hợp pháp luật qui định phải bí mật theo quy định chung thì không được công khai
Các bên tham gia thủ tục đầu tư bình đẳng trước pháp luật
Giữa chủ thể tham gia và chủ thể thực hiện thủ tục hành chính bình đẳng với nhau trước pháp luật Cụ thể là:
Đối với nhà đầu tư có yêu cầu cấp GCNĐKĐT phải đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục do pháp luật quy định, phải đảm bảo có đủ giấy tờ cần thiết có giá trị pháp lý mà pháp luật quy định
Đối với CQĐKĐT, phải giải quyết yêu cầu của nhà đầu tư khi hồ sơ của
họ hợp lệ, nếu không hợp lệ CQĐKĐT phải thông báo cho nhà đầu tư để họ bổ sung, sửa chữa
Thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản tiết kiệm
Thực tế, thủ tục đầu tư còn rườm rà, phức tạp nhất là giai đoạn thẩm tra dự
án đầu tư Vì vậy, nguyên tắc thủ tục đầu tư được thực hiện đơn giản, tiết kiệm có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giảm phiền hà, tốn kém cho nhà đầu tư
Thủ tục đầu tư đơn giản, tiết kiệm sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh
tế Nó là cánh cửa để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Nó càng có
ý nghĩa thiết thực hơn khi Việt Nam hội nhập quốc tế, giữa các quốc gia có sự cạnh tranh nhau trong thu hút đầu tư
1.1.4 Sự cần thiết của trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư
Trang 20Trong hoạt động đầu tư, quá trình đầu tư bao gồm các khâu: chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư [21] Như vậy, hoạt động đầu tư luôn gắn với những dự án đầu tư Nói cách khác dự án đầu tư là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành
các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [21, Điều 3]
Dự án đầu tư thuộc trường hợp cấp GCNĐKĐT, thì thủ tục này nằm ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư Có nghĩa là GCNĐKĐT giống như một rào cản thương mại,
dù nhà đầu tư có đủ nguồn vốn, trình độ khoa học kỹ thuật, đội ngũ nhân viên… nhưng nếu không được cấp GCNĐKĐT vẫn không thể nào thực hiện được dự án đầu tư Theo đánh giá của Ban Pháp chế VCCI thì thủ tục gia nhập thị trường hiện nay được xem là “có sự phân biệt đối xử rất lớn giữa DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài” [32] Trong khi các DN trong nước chỉ phải đăng ký kinh doanh
là được thừa nhận thì DN có vốn đầu tư nước ngoài phải được cơ quan có thẩm quyền cấp GCNĐKĐT Nghĩa là nhà đầu tư phải xin phép, còn cơ quan có thẩm quyền có thể cho hoặc không cho Như vậy, thủ tục gia nhập thị trường của DN trong nước là do nhà đầu tư quyết định còn với DN có vốn đầu tư nước ngoài thì tùy thuộc vào quyết định của cơ quan Nhà nước
Trong khi về mặt pháp lý, Nghị định 84/2015/NĐ-CP ngày 30/09/2015 về giám sát và đánh giá đầu tư coi GCNĐKĐT cũng là căn cứ duy nhất để Nhà nước thực hiện chế độ hậu kiểm đối với dự án đầu tư Đối với việc giao đất, cho thuê đất, Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng quy định GCNĐKĐT chỉ là một trong những căn cứ để xác định nhu cầu sử dụng và tiến hành giao đất, cho thuê đất…
Tuy nhiên đứng ở khía cạnh quản lý Nhà nước, quy định trường hợp nhà đầu
tư nước ngoài có dự án đầu tư tại Việt Nam phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT
là xuất phát từ vai trò định hướng, vai trò điều tiết của Nhà nước Một mặt, bảo vệ
Trang 21cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam không bị các doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm, một mặt nhằm quản lý chặt chẽ hơn việc bảo vệ môi trường của các
cơ sở sản xuất, kinh doanh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu, quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng
đã làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí…
Thông qua việc cấp GCNĐKĐT, nhà nước thể hiện quyền lực hành chính của mình đó là kiểm soát và quản lý Ý nghĩa quan trọng hơn nữa chính là sự bảo hộ đối với nhà đầu tư, mà đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài khi họ từ một quốc gia khác đầu tư vào một thị trường vốn họ không am hiểu Đăng ký đầu tư có nghĩa là chứng minh sự tồn tại của tài sản đầu tư tại Việt Nam và từ đó, Việt Nam sẽ phải
có trách nhiệm để bảo hộ, bảo vệ các khoản đầu tư đó Nó cũng có ý nghĩa tương tự đối với các nhà đầu tư trong nước
1.1.5 Vai trò của trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Nhìn nhận vai trò, ý nghĩa của trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT ở các góc độ sau:
Đối với nhà nước: Như đã trình bày ở mục 1.1.3 xuất phát từ sự cần thiết của
GCNĐKĐT thì việc quy định về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT nhà nước tạo được hành lang pháp lý từ đó thể hiện chức năng quản lý cơ cấu các thành phần kinh tế xã hội, kiểm soát các hoạt động kinh tế đã đặt ra Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá được quá trình phát triển kinh tế địa phương nói riêng và của cả nước nói chung Từ đó có những chủ trương, chính sách đường lối phát triển kinh tế phù hợp
Đối với nhà đầu tư: Sau khi được cấp GCNĐKĐT nhà đầu tư có quyền tiến
hành các hoạt động đầu tư đã đăng ký Chính nhờ trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT
mà nhà đầu tư mới nắm bắt những công việc mình phải làm, thứ tự các công việc đó như thế nào, cần chuẩn bị những hồ sơ gì, đến cơ quan chức năng nào…
Đối với đối tác kinh doanh: GCNĐKĐT là một chứng nhận cho các đối tác
kinh doanh biết dự án đầu tư đó đã được nhà nước bảo hộ pháp lý và họ cũng sẽ được nhà nước bảo hộ pháp lý khi hoạt động đầu tư, kinh doanh trong phạm vi dự
Trang 22án đầu tư Điều này tạo cho đối tác kinh doanh sự an tâm vì các quyền và nghĩa vụ của họ được đảm bảo
Đối với xã hội: Để cấp GCNĐKĐT, cơ quan có thẩm quyền đã rà soát, đánh
giá toàn diện tác động của dự án đến xã hội: môi trường, văn hóa, kinh tế…Nếu dự
án hoạt động hiệu quả mang đến lợi ích kinh tế cho địa phương, tạo việc làm, cải thiện môi trường sống… nếu dự án hoạt động kém hiệu quả dẫn đến lãng phí tài nguyên của địa phương, thất thoát vốn và có thể gây nên ô nhiễm môi trường Đối với các dự án như thủy điện, hạt nhân…có tác động mạnh đến môi trường, đời sống của người dân xung quanh và biến đổi khí hậu thì điều kiện cấp GCNĐKĐT sẽ chặt chẽ hơn, phức tạp hơn và tốn nhiều thời gian hơn GCNĐKĐT nhằm công khai hóa các thông tin đầu tư, điều kiện đầu tư…của dự án đầu tư với xã hội Từ đó xã hội đánh giá lại hoạt động quản lý hành chính của nhà nước và sự phát triển kinh tế của mỗi địa phương nói riêng và cả nước nói chung Việc quy định trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT có một vai trò then chốt trong việc thúc đẩy, kêu gọi đầu tư Từ đó xác định được mức độ hấp dẫn của thị trường đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế
Như vậy trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT có một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư mà còn có ý nghĩa đánh giá năng lực cạnh tranh của từng địa phương, quốc gia, khả năng đảm bảo trật tự kinh doanh của nhà nước và bảo vệ lợi ích của các chủ thể kinh doanh trong xã hội
Nếu nói việc quy định thủ tục cấp GCNĐKĐT là vi phạm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp hay là một nhu cầu tất yếu
Quyền TDKD lần đầu tiên được ghi nhận chính thức tại điều 57, Hiến pháp
1992 Kế thừa tinh thần đó, điều 33 Hiến pháp 2013 khẳng định người dân có quyền TDKD trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm Như vậy, TDKD phải trong “khuôn khổ” của pháp luật Nghĩa là “mức độ” tự do như thế nào lại phụ thuộc vào quy định của pháp luật Cụ thể hóa, Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu
tư 2014 khẳng định doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm Luật Đầu tư năm 2014 đã được xây dựng với cách tiếp cận về quyền tự do kinh doanh theo hướng đơn giản hóa điều kiện, thủ tục cấp
Trang 23phép, dỡ bỏ hàng loạt hạn chế, bất cập của quy định cũ, mở rộng các nhóm quyền tự quyết của doanh nghiệp Nếu LĐT 2005 quy định doanh nghiệp có dự án đầu tư đều phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư, thì LĐT 2014 đã thu hẹp lại các trường hợp phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT
Nhà nước thông qua pháp luật để kiểm soát quyền tự do kinh doanh Chức năng chính của pháp luật là điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục Nghĩa là những quy định bắt buộc, cấm đoán, hạn chế đều nhằm hướng đến lợi ích chung nhất của xã hội Việc nhà nước quy định các trường hợp thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT là thể hiện sự quản lý của nhà nước đối với nhà đầu tư và xã hội Sự can thiệp của nhà nước chỉ ở một góc độ nhỏ, không bắt buộc tất cả các dự án nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT Điều này là một vấn đề tất yếu, nó không chỉ thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội khi thẩm định dự án đầu tư đủ điều kiện thực hiện dự án đầu tư Mà điều này còn có ý nghĩa khi Việt Nam đang trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế Trong sân chơi chung ấy chúng ta cần phải tuân thủ những nguyên tắc chung, các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và gánh chịu hậu quả pháp lý nếu vi phạm luật chơi
1.2 Nội dung trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
1.2.1 Các trường hợp thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu
Trang 24Lan, Philippines Một số nước quy định theo ngành nghề đầu tư dựa trên các điều kiện đầu tư: Canada, Singapore…
1.2.2 Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Thẩm quyền cấp GCNĐKĐT được quy định tùy vào từng trường hợp cụ thể Mỗi quốc gia quy định cơ quan có thẩm quyền cấp GCNĐKĐT là khác nhau, nhưng chung quy lại đó là những cơ quan quản lý trực tiếp hoạt động đầu tư Đó là những
cơ quan tham mưu trực tiếp cho Chính Phủ Nó được phân cấp từ Trung ương đến địa phương theo trách nhiệm và quyền hạn của từng cấp
Trừ Việt Nam và Trung Quốc là những nước thành lập cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư ở các cấp khác nhau để thực hiện chức năng thẩm định, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, hầu hết các nước trong khu vực đều thành lập cơ quan phụ trách về đầu tư chỉ với nhiệm vụ chủ yếu là xem xét, cấp chứng nhận ưu đãi cho cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài (như BOI của Thái Lan, Philippines, BKPM của Indonesia, EDB của Singapore, MIDA và MITI của Malaysia) [31]
Sự can thiệp quyền lực của cơ quan nhà nước đến đâu trong lĩnh vực cấp GCNĐKĐT tùy thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia: Có thể chỉ dừng lại ở bước ghi nhận thông tin dự án kê khai hoặc kiểm soát chặt chẽ ở tất cả các khâu từ đăng
ký đến hậu đăng ký
1.2.3 Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Theo tham khảo tại Việt Nam và một số nước trên thế giới thì dự án đầu tư được phân thành dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư và dự
án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư Điều kiện quy định cho các loại
dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư cũng khác nhau như: dựa trên số vốn, dựa trên quốc tịch của nhà đầu tư, dựa trên sự tác động của dự án đến chính trị
kinh tế xã hội… Một cách khái quát trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT được tiến hành qua các bước sau:
Bước 1 Chuẩn bị hồ sơ
Trang 25Tùy theo loại dự án đầu tư mà nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ đầu tư hay cả hồ sơ đầu tư và hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư
Số lượng hồ sơ mà nhà đầu tư chuẩn bị phụ thuộc vào quy mô, lĩnh vực đầu
tư và điều kiện của dự án đầu tư Đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư chỉ cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ gốc Đối với dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư thì tùy thuộc vào yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền mà nhà đầu tư cần phải chuẩn bị nhưng trong đó có ít nhất 01 bộ hồ sơ gốc
Bước 3 Cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Phụ thuộc vào dự án đầu tư có hay không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư mà các cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện các công việc cụ thể theo quy định của pháp luật để cấp GCNĐKĐT và thời hạn cấp GCNĐKĐT cũng khác nhau Thời hạn cấp GCNĐKĐT đối với dự án không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư sẽ nhanh hơn với những dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư do trình tự, thủ tục thực hiện ít hơn
Mục đích cơ bản của thủ tục cấp GCNĐKĐT là nhằm hợp pháp hóa việc đầu
tư nên cơ quan cấp GCNĐKĐT sẽ tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký đầu tư Vì sự khác biệt về tính chất và quy mô của dự án nên xét về mục đích thì thủ tục thẩm tra dự án đầu tư đi sâu hơn thủ tục cấp GCNĐKĐT, hợp pháp hóa việc đầu
tư trên cơ sở đánh giá tính khả thi, hiệu quả cũng như ảnh hưởng của việc thực hiện
dự án đầu tư đối với kinh tế xã hội Quá trình xem xét cấp GCNĐKĐT liên quan
Trang 26đến nhiều cơ quan nhà nước,chủ yếu bao gồm các công việc: kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, gửi hồ sơ lấy ý kiến thẩm tra của các sở, bộ ngành liên quan; thẩm tra việc đáp ứng các điều kiện; lập báo cáo thẩm tra; tổng hợp các ý kiến
1.3 Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại một số nước và gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam
Do sự khác nhau trong chính sách đầu tư của mỗi quốc gia mà dự án đầu tư được chấp thuận theo nhiều phương thức và hình thức khác nhau Vì vậy, chúng ta xem xét khía cạnh một dự án đầu tư nước ngoài được chấp thuận triển khai thực hiện thì trình tự, thủ tục ở các nước như thế nào
1.3.1 Trung Quốc
Tại Trung Quốc, quá trình đó bao gồm các bước:
Bước 1: Xem xét về tập trung kinh tế và an ninh quốc gia
Nhà đầu tư có thể tự nguyện nộp hồ sơ để xem xét về vấn đề an ninh quốc gia cho Bộ Thương mại Trung Quốc (MOFCOM) nếu họ tự thấy dự án của mình thuộc một trong những trường hợp nêu trên hoặc cơ quan thương mại cấp dưới (Sở thương mại) có thể yêu cầu Nhà đầu tư nộp hồ sơ để xem xét vấn đề nói trên
Bước 2: Xin ý kiến các cơ quan có liên quan về địa điểm thực hiện dự án Trước khi nộp hồ sơ để xin chấp thuận việc thực hiện dự án, Nhà đầu tư phải nhận được ý kiến bằng văn bản của các cơ quan sau đây liên quan đến địa điểm thực hiện dự án:
Chấp thuận sử dụng đất –bởi Sở Đất đai và tài nguyên;
Đánh giá tác động môi trường – bởi Cơ quan bảo về môi trường cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương;
Sự phù hợp với quy hoạch – bởi Sở quy hoạch;
Ý kiến về việc sử dụng tài sản nhà nước hoặc quyền sử dụng đất thuộc nhà nước nếu như dự án có sử dụng những tài sản này – bởi Ủy bản quản lý và giám sát tài sản quốc gia
Bước 3: Xin Chấp thuận đầu tư của Ủy ban cải cách và phát triển quốc gia
Trang 27Ủy ban cải cách và phát triển quốc gia có quyền thông qua hoặc từ chối bất
kỳ dự án đầu tư nước ngoài nào vào Trung Quốc thông qua quá trình chấp thuận đầu tư Tuy nhiên, thông thường, quá trình chấp thuận dự án chỉ yêu cầu với những
dự án đầu tư tài sản cố định, đầu tư vào sản xuất, hoặc đầu tư sử dụng nguồn năng lượng hoặc tài nguyên đặc biệt
1.3.2 Indonesia
Cơ quan thống nhất quản lý về đầu tư (cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài) là Ban điều phối đầu tư Indonesia – BKPM Đây là một cơ quan độc lập trực thuộc Tổng thống mà không nằm dưới bất kỳ cơ quan nào khác của Chính phủ
Đây là cơ quan có nhiệm vụ điều phối hoạt động đầu tư giữa Chính phủ, các
cơ quan của Chính phủ, Ngân hàng Indonesia và chính quyền địa phương cũng như giữa các chính quyền địa phương với nhau Hơn thế nữa, BKPM còn được biết tới như một cơ quan ủy nhiệm của các nhà đầu tư, cung cấp cho họ những đảm bảo cần thiết để tiến hành hoạt động đầu tư; BKPM có trách nhiệm thụ lý đối với các dự án đầu tư vào hầu hết các lĩnh vực ở Indonesia Quá trình đầu tư tại Indonesia được chia làm 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư; xây dựng; sẵn sàng cho sản xuất và 7 bước Tuy nhiên ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư nhà đầu tư chỉ phải xin giấy phép nguyên tắc trước khi tiến hành hoạt động đầu tư; Ý nghĩa của giấy phép nguyên tắc:
Là một trong những cơ sở để cấp Chứng nhận thành lập của công ty;
Là chỉ dẫn về việc hoạt động đầu tư được cấp phép hay không được cấp phép
Đối với một số lĩnh vực thuộc lĩnh vực cấm và hạn chế đầu tư, nhà đầu tư cần được phê chuẩn từ bộ quản lý trong lĩnh vực đó
1.3.3 Thái Lan
Tại Thái Lan, đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có dự án đầu
tư tại Thái Lan (bên nước ngoài chiếm trên 49%) trước hết phải làm thủ tục để được cấp Giấy phép kinh doanh nước ngoài (FBL)
Giấy phép kinh doanh nước ngoài là sự cho phép của nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được đăng ký thành lập tại Thái Lan Cách đơn
Trang 28giản nhất để được cấp Giấy phép kinh doanh nước ngoài là nhận được sự ủng hộ của Cục Đầu tư Thái Lan Sự ủng hộ này giúp cho cơ hội nhận được Giấy phép kinh doanh nước ngoài có thể lên tới 100% Tuy nhiên, Cục Đầu tư Thái Lan chỉ ủng hộ cho những dự án đầu tư vào những lĩnh vực quan trọng đối với Thái Lan Đối với những lĩnh vực không thuộc danh mục này thì Nhà đầu tư nộp hồ sơ trực tiếp tại Cục phát triển kinh doanh
Thái Lan có hai cơ quan liên quan đến việc quản lý đầu tư:
Cục Phát triển kinh doanh (Department of Business development – DBD) trực thuộc Bộ Thương mại Đây là cơ quan đầu mối trong việc tiến hành các thủ tục đăng ký cấp Giấy phép đầu tư tại Thái Lan
Cục Quản lý đầu tư (Board of Investment – BOI) trực thuộc Bộ Công nghiệp, cơ quan quản lý về đầu tư của Thái Lan Cơ quan này có vai trò chủ trì trong việc xây dựng các danh mục khuyến khích, hạn chế đầu tư Cơ quan này cũng tham gia vào việc xúc tiến đầu tư và hỗ trợ các dự án đầu tư nước ngoài thuộc lĩnh vực được khuyến khích đầu tư tại Thái Lan
1.3.4 Philippines
Để tiến hành đầu tư tại Philippines, Nhà đầu tư phải tiến hành thành lập một doanh nghiệp Sau khi doanh nghiệp được thành lập, trong một số trường hợp nhất định Nhà đầu tư phải làm thủ tục xin Chấp thuận của Ủy ban đầu tư trước khi đi vào hoạt động
Ban Đầu tư – Board of Investment (BOI) Đây là cơ quan trực tiếp quản lý về hoạt động đầu tư và tiến hành đăng ký cho các dự án đầu tư tại Philippines
Ủy ban Chứng khoán - The Securities and Exchange Commission Đây là cơ quan quản lý về đăng ký doanh nghiệp tại Philippines
Như vậy trình tự, thủ tục đầu tư ở các nước khác nhau cũng khác nhau Có một số nước cấp GCNĐKĐT hoặc là các hình thức chấp thuận đầu tư Ví dụ: Việt Nam (giấy chứng nhận đăng ký đầu tư); Trung Quốc (chấp thuận đầu tư) Bộ thương mại hoặc các sở thương mại tại địa phương ở Trung Quốc tiến hành các bước thẩm tra dự án đầu tư xem có đầy đủ điều kiên để được chấp thuận đầu tư; Philippines
Trang 29(phê chuẩn của ban đầu tư)… Nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý về đầu tư hoặc đồng thời với việc thành lập doanh nghiệp, ví dụ: Thái Lan, thủ tục đầu tư và thủ tục thành lập doanh nghiệp thực hiện song song với nhau
Với các nước quy định rõ điều kiện đầu tư Như vậy khi nhà đầu tư muốn thực hiện dự án đầu tư phải đảm bảo các điều kiện chung về nhà đầu tư cần đáp ứng khi thực hiện đầu tư vào lĩnh vực hay trên một địa bàn xác định Nếu nhà đầu tư đáp ứng được các điều kiện đó thì tiến hành đăng ký thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp đang hiện hữu
Nhưng nhìn chung, dự án đầu tư muốn thực hiện được đều phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước, biểu hiện có thể dưới dạng nhiều hình thức Tuy nhiên đều phải thông qua các bước: chuẩn bị hồ sơ; nộp hồ sơ; thẩm tra dự án đầu tư để kiểm tra năng lực của công ty và các điều kiện ràng buộc; chấp thuận đầu
tư Có những nước sau khi được chấp thuận dự án đầu tư họ bắt buộc phải làm các thủ tục cấp giấy phép sản xuất, phê chuẩn của ban đầu tư (Malaysia, Philippines).Vì vậy cần nghiên cứu chỉ quy định cấp GCNĐKĐT trong những trường hợp thực sự cần thiết và lợi ích của việc cấp GCNĐKĐT lớn hơn rủi ro do việc cấp GCNĐKĐT mang lại
Kinh nghiệm của Trung Quốc có nhiều vấn đề Việt Nam có thể học hỏi Thứ nhất là Trung Quốc tách bạch việc cấp phép đầu tư vào dự án sản xuất, xây dựng cơ
sở hạ tầng (nhóm 1) với dự án dịch vụ (nhóm 2) Thứ hai là trong các nhóm dịch vụ cũng có sự phân biệt tùy vào tầm quan trọng của dịch vụ đó và phải có thời hạn xét duyệt cụ thể Đối với nhóm 1, mối quan tâm hàng đầu là sử dụng đất, bảo vệ môi trường, mức tiêu hao điện, nước, nhu cầu sử dụng lao động Vì vậy, cần phải có luận chứng kinh tế kỹ thuật hay báo cáo tác động môi trường (trừ trường hợp đầu tư vào khu công nghiệp) Đối với dự án nhóm 2 thì giao cho cơ quan cấp phép phối hợp với Bộ Thương mại rà soát và chấp thuận, nếu liên quan đến cam kết gia nhập WTO (nhóm 2A) Trừ các dịch vụ mang tính chuyên nghiệp (như pháp lý, kiểm toán) hay hạ tầng xã hội (như tài chính, viễn thông, giáo dục, y tế, báo chí, vận tải
Trang 30đường biển, đường không) (nhóm 2B), thì phải có bộ quản lý ngành xét duyệt, cũng phải có dự án khả thi và không cam kết thời hạn xem xét Thời gian xem xét không được quá 05 ngày và Bộ Thương mại cũng không được quyền đòi hỏi thêm các tài liệu khác Tất nhiên, để quản lý chặt, Bộ Thương mại có thể quy định là chỉ cấp phép cho thời hạn 05 năm
Kinh nghiệm của Indonesia cũng cho thấy việc quản lý chủ yếu chỉ tập trung vào mức độ hạn chế sở hữu của người nước ngoài trong một số ngành nghề (gọi là negative list - danh mục loại trừ) Trong mọi trường hợp, Indonesia cho phép nhà đầu tư nước ngoài lập công ty trước, rồi xin giấy phép kinh doanh sau Để tránh trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các ngành nghề hạn chế đầu tư nước ngoài, Indonesia áp dụng quy chế giấy phép hoạt động Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một công ty trong nước có 10 ngành nghề và ba trong số đó hạn chế đầu
tư nước ngoài, thì giấy phép kinh doanh không phải sửa đổi, song ba giấy phép hoạt động nói trên sẽ bị thu hồi [31]
Kết luận chương 1
Việc tìm hiểu những vấn đề chung về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là hết sức cần thiết Việc này giúp hình thành nên những tri thức căn bản về lĩnh vực đặc thù này làm cơ sở để có được sự nhìn nhận, đánh giá thực trạng, thực tiễn quản lý một cách chính xác và khách quan Nó cũng là nền tảng để tiếp thu chủ động, có chọn lọc, sáng tạo những thành tựu quản lý pháp luật về thủ tục đăng
ký đầu tư trên thế giới vốn đã có một chặng đường phát triển khá dài
Sau khi trình bày chi tiết cụ thể về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT tác giả rút ra các kết luận sau:
Thứ nhất, thủ tục cấp GCNĐKĐT là một dạng của TTHC Do vậy nó có
những đặc điểm cơ bản của TTHC và được quy định chặt chẽ trong hệ thống pháp luật đầu tư
Thứ hai, trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT trải qua nhiều giai đoạn ở các cơ
quan khác có liên quan Do vậy cải cách TTHC trong đó có thủ tục cấp GCNĐKĐT chính là cải thiện môi trường đầu tư góp phần thu hút đầu tư, phát triển kinh tế xã
Trang 31hội
Thứ ba, qua việc tìm hiểu về các quy định pháp luật của một số nước ta thấy
rằng, các quốc gia và Việt Nam có thể học hỏi ở họ nhiều điểm và bằng cách tiếp cận đúng đắn, việc tiếp thu này sẽ mang lại hiệu quả cao Việc xây dựng và thực thi pháp luật về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở bước đầu Bởi vậy, để có thể rút ngắn được khoảng cách phát triển, việc tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm các quốc gia trong khu vực và trên thế giới có quá trình điều chỉnh và thực hiện pháp luật lâu dài là điều nên làm
Trang 32Chương 2 TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH 2.1 Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Hiện nay, thủ tục đầu tư được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau, chủ yếu trong các văn bản pháp luật: Hiến pháp năm 2013; Luật Đầu tư năm 2014; Luật Doanh nghiệp năm 2014; Luật Đất đai năm 2013; Luật Xây dựng năm 2014; Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009; Luật Quy hoạch đô thị năm 2009; Luật Đầu thầu năm 2013; Luật Quản lý thuế năm 2006 và Luật Sửa đổi,
bổ sung Luật Quản lý thuế năm 2012; Luật Hải quan năm 2014; Luật Phá sản năm 2014; Luật Chứng khoán; Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Dầu khí… Ở cấp độ văn bản dưới luật có Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
Về nguyên tắc, các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên cũng điều chỉnh hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Tuy nhiên, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của các điều ước quốc tế đó liên quan chủ yếu đến các nhà đầu tư nước ngoài
Ngoài các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trong hệ thống pháp luật về thủ tục đầu tư còn có các văn bản do các cơ quan
ở địa phương (cấp tỉnh) ban hành để hướng dẫn thi hành và cụ thể hóa quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng…
Như vậy có thể thấy rằng các quy định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục cấp GCNĐKĐT được quy định cụ thể ở Luật Đầu tư tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, đối với những ngành nghề đặc thù phải tuân theo các quy định của luật
Trang 33chuyên ngành Xuất phát từ điều này bắt buộc các luật chuyên ngành và luật đầu tư phải thống nhất, đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế
2.1.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ở Việt Nam
2.1.1.1 Đối tượng thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Cơ quan quản lý nhà nước về cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Cơ quan quản lý nhà nước tham gia quan hệ pháp luật về thủ tục đầu tư tại Việt Nam với tư cách đại diện quyền lực nhà nước để quản lý và kiểm soát Ở Việt Nam cơ quan quản lý hoạt động cấp GCNĐKĐT được tổ chức theo ngành dọc thống nhất từ trung ương đến địa phương
Tại trung ương: Thẩm quyền được phân công cho Bộ kế hoạch và đầu tư, làm đầu mối giúp Chính phủ quản lý đối với hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư, hướng dẫn thủ tục đầu tư [6, Điều 28]
Tại địa phương: Theo Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP quy định cơ quan tiếp nhận, cấp GCNĐKĐT được giao cho Sở kế hoạch và đầu tư
và Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh
tế
Chủ thể đăng ký
Luật Đầu tư 2014 quy định cụ thể các trường hợp phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT, theo đó nhà đầu tư nước ngoài khi có dự án đầu tư tại Việt Nam bắt buộc thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT
Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam
[23, Điều 3]
Ngoài ra các tổ chức kinh tế trong nước có dự án đầu tư tại Việt Nam nhưng
có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên; Đối với công ty hợp danh có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài thì khi có dự án đầu tư bắt buộc phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT
Trang 34Đối với nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có đặc điểm như trên và nắm giữ 51% vốn điều lệ tại tổ chức kinh tế thì cũng phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT
Trường hợp nhà đầu tư trong nước thực hiện các dự án thuộc trường hợp phải có chấp thuận chủ trương đầu tư thì vẫn phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT
Ngoài những chủ thể bắt buộc trên thì đối với các nhà đầu tư khác nếu có nhu cầu xin cấp GCNĐKĐT vẫn có thể thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT như đối với các nhà đầu tư đó
Các chủ thể có liên quan khác
Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định Như vậy dự án là một hệ thống các chuỗi công việc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, chu trình của một dự án bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau nhưng thường bao gồm 3 giai đoạn chính: giai đoạn xác định, nghiên cứu và lập dự án; giai đoạn triển khai thực hiện dự án; giai đoạn khai thác dự án Trong các giai đoạn đó thì giai đoạn triển khai thực hiện dự án gồm nhiều thủ tục hành chính nhất, nội dung giai đoạn này bao gồm: Xin giao hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (nếu có xây dựng); thẩm định thiết kế công trình; xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có xây dựng)…Có thể thấy đối với một dự án đầu tư xin cấp GCNĐKĐT thì ngoài các chủ thể trên, còn có một số chủ thể khác tham gia vào quy trình cấp GCNĐKĐT như: Cơ quan quản lý đất đai, môi trường; cơ quan thuế, cơ quan quản lý xây dựng; cơ quan thanh tra…các cơ quan này cùng phối hợp cho ý kiến thuộc phạm vi quản lý của mình đối với dự án đầu tư đó đến đầu mối tiếp nhận, cấp GCNĐKĐT
2.1.1.2 Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Cơ quan đăng ký đầu tư là cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư [21, Điều 1] Theo Luật Đầu tư 2014, thẩm quyền cấp GCNĐKĐT được giao cho các cơ quan sau:
Trang 35Thẩm quyền của Sở Kế hoạch và Đầu tư
Sở Kế hoạch và Đầu tư có thẩm quyền tiếp nhận, cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với các dự án đầu tư sau:
+ Dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
+ Dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và dự án đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tại những địa phương chưa thành lập Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao
Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi nhà đầu tư đặt hoặc dự kiến đặt trụ sở chính hoặc văn phòng điều hành để thực hiện dự án đầu tư tiếp nhận, cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư sau đây:
+ Dự án đầu tư thực hiện trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
+ Dự án đầu tư thực hiện đồng thời ở trong và ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế
Thẩm quyền của Ban quản lý KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế
Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế tiếp nhận, cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh
Trang 362.1.1.3 Trình tự thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Chuẩn bị hồ sơ
Đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu
tư chỉ cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ gốc Đối với dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư thì nhà đầu tư chuẩn bị như sau: 04 bộ hồ sơ với dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của UBND tỉnh, 08 bộ hồ sơ với dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của Chính phủ, 21 bộ đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội (trong đó có ít nhất 01 bộ hồ sơ gốc)
Về cơ bản bộ hồ sơ xin cấp GCNĐKĐT bao gồm:
Văn bản đề nghị thực hiện dự án đầu tư;
Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu
tư là cá nhân; bản sao Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư là tổ chức;
Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các nội dung: nhà đầu tư thực hiện dự án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án;
Bản sao một trong các tài liệu sau: báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư; cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ; cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính; bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư; tài liệu thuyết minh năng lực tài chính của nhà đầu tư;
Đề xuất nhu cầu sử dụng đất; trường hợp dự án không đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì nộp bản sao thỏa thuận thuê địa điểm hoặc tài liệu khác xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án đầu tư;
Giải trình về sử dụng công nghệ đối với dự án quy định tại điểm b khoản 1 Điều 32 của Luật này gồm các nội dung: tên công nghệ, xuất xứ công nghệ, sơ đồ quy trình công nghệ; thông số kỹ thuật chính, tình trạng sử dụng của máy móc, thiết
bị và dây chuyền công nghệ chính;
Trang 37 Hợp đồng BCC đối với dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC
Tuy nhiên tùy vào loại dự án đầu tư thì ngoài những giấy tờ, tài liệu liệt kê trên, nhà đầu tư còn phải chuẩn bị các hồ sơ khác kèm theo Đối với dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của Chính phủ và Quốc hội thì còn bổ sung thêm các hồ sơ sau: Phương án giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư (nếu có); Đánh giá sơ bộ tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường; Đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư Riêng với dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của quốc hội có thêm: đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù (nếu có)
Nộp hồ sơ
Tùy thuộc vào dự án đầu tư thuộc thẩm quyền cấp GCNĐKĐT của Sở Kế hoạch và Đầu tư hay Ban Quản lý khu kinh tế, khu chế xuất…mà NĐT nộp hồ sơ cho cơ quan đăng ký có thẩm quyền đó
Kết quả thực hiện
Đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư sau khi nhận hồ sơ của nhà đầu tư 15 ngày CQĐKĐT cấp GCNĐKĐT cho NĐT;
Với những dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư thì trong thời hạn
03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ dự án đầu tư, CQĐKĐT gửi hồ sơ lấy ý kiến thẩm định của các cơ quan nhà nước có liên quan đến những nội dung sau:
Sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch sử dụng đất;
Nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (đối với dự án được giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất);
Điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài (đối với dự án có mục tiêu thuộc ngành, nghề đầu tư có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài);
Ưu đãi đầu tư và điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư (đối với dự án thuộc đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư);
Trang 38 Công nghệ sử dụng trong dự án đầu tư (đối với dự án sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 32 Luật Đầu tư)
Các cơ quan được lấy ý kiến có ý kiến thẩm định những nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của mình và gửi cho CQĐKĐT Sau khi lấy ý kiến thẩm định xong thì CQĐKĐT thực hiện các bước để trình quyết định chủ trương đầu tư tương ứng với từng loại quyết định chủ trương đầu tư
Thủ tục thực hiện quyết định chủ trương đầu tư của Chính phủ và Quốc hội trải qua nhiều giai đoạn thẩm định hơn, cụ thể:
Đối với dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của Chính Phủ, UBND cấp tỉnh phải xem xét và có ý kiến gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư về các nội dung sau:
+ Nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (đối với dự án được giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất);
+ Phương án giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư (nếu có) đối với dự án đầu tư đề nghị giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
+ Các nội dung khác thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh (nếu có)
Đối với dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội thì CQĐKĐT gửi hồ sơ dự án đầu tư cho Bộ KH&ĐT để báo cáo Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng thẩm định nhà nước Chậm nhất 60 ngày trước ngày khai mạc
kỳ họp Quốc hội, Chính phủ gửi Hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư đến cơ quan chủ trì thẩm tra của Quốc hội Hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư gồm: Tờ trình của Chính phủ; Hồ sơ dự án đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật Đầu tư; Báo cáo thẩm định của Hội đồng thẩm định nhà nước; Tài liệu khác có liên quan
Cơ quan được Quốc hội giao chủ trì thẩm tra thực hiện thẩm tra các nội dung: Việc đáp ứng tiêu chí xác định dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội; Sự cần thiết thực hiện dự án; Sự phù hợp của dự án với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, quy
Trang 39hoạch sử dụng đất, tài nguyên khác; Mục tiêu, quy mô, địa điểm, thời gian, tiến độ thực hiện dự án, nhu cầu sử dụng đất, phương án giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư, phương án lựa chọn công nghệ chính, giải pháp bảo vệ môi trường; Vốn đầu tư, phương án huy động vốn; Tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội; Cơ chế, chính sách đặc thù; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và điều kiện áp dụng (nếu có) Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư gồm các nội dung: Nhà đầu tư thực hiện
dự án; Tên, mục tiêu, quy mô, vốn đầu tư của dự án, tiến độ góp vốn và huy động các nguồn vốn, thời hạn thực hiện dự án; Địa điểm thực hiện dự án đầu tư; Tiến độ thực hiện dự án đầu tư, tiến độ xây dựng cơ bản và đưa công trình vào hoạt động (nếu có); tiến độ thực hiện các mục tiêu hoạt động, hạng mục chủ yếu của dự án; trường hợp dự án thực hiện theo từng giai đoạn, phải quy định mục tiêu, thời hạn, nội dung hoạt động của từng giai đoạn; Công nghệ áp dụng; Cơ chế, chính sách đặc thù; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và điều kiện áp dụng (nếu có) và thời hạn hiệu lực của Nghị quyết về chủ trương đầu tư
Sau khi nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư CQĐKĐT cấp GCNĐKĐT cho NĐT
Mặc dù dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư, tuy nhiên dự án đầu
tư đó được nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, dự án đầu tư có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì sau khi CQĐKĐT lấy ý kiến thẩm định để cấp GCNĐKĐT cho NĐT, CQĐKĐT không cần phải trình xin quyết định chủ trương đầu tư
Trang 40mở rộng quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp, thủ tục đầu tư được cải cách tạo
cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các nhà đầu tư Với phạm vi điều chỉnh rộng và vai trò quan trọng nên có thể xem Luật Đầu tư giữ vị trí là đạo luật
“gốc” điều chỉnh chung cho hoạt động đầu tư
Sau khi Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực, một số đạo luật chuyên ngành khác được ban hành hoặc sửa đổi Do cùng điều chỉnh hoạt động đầu tư nhưng giữa các văn bản luật lại không có phân định rõ ràng phạm vi, đối tượng điều chỉnh Đặc biệt đối với những hoạt động đầu tư được xem là đặc thù thì luật áp dụng là luật nào
Điển hình:
Tại điều 31 Luật Đầu tư 2014 quy định thẩm định dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Chính phủ không có dự án về giáo dục Nhưng theo điều 32 khoản 3 Nghị định 73/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 về hợp tác đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục thì dự án giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài vẫn phải có chủ trương của Chính phủ Theo Luật Giáo dục đại học, điều 22, khoản d yêu cầu cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài phải có giấy chứng nhận đầu tư
Trong quá trình hình thành dự án, Luật Đầu tư yêu cầu nhà đầu tư phải nộp
“Đề xuất dự án đầu tư trong đó có nội dung về địa điểm đầu tư” Tức là NĐT phải
có địa điểm đầu tư trước khi thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư Thế nhưng, Luật Xây dựng tại Điều 46 lại nêu rõ cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng
có trách nhiệm giới thiệu địa điểm đầu tư xây dựng cho các chủ đầu tư khi có yêu cầu Còn tại Luật Nhà ở lại nêu rõ, Hồ sơ thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư yêu cầu phải có “Quyết định phê duyệt quy hoạch kèm theo bản vẽ quy hoạch chi tiết khu vực có dự án đã được cơ quan cấp phép có thẩm quyền phê duyệt
và nội dung chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương đã được phê duyệt có liên quan đến việc triển khai thực hiện dự án cần chấp thuận chủ trương đầu tư”