35Bảng 4.5: Các chỉ tiêu ra chồi của cây Tùng la hán dưới ảnh hưởng của giá thể giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là IAA .... 38Hình 4.5a: Tỷ lệ ra chồi của cây hom Tùng la hán
Trang 1MA PHÚC ĐỨC
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÂY HOM TÙNG LA HÁN (Podocarpus macrophyllus) TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành: Lâm Nghiệp Khoa : Lâm Nghiệp Khóa học : 2012 -2016
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2MA PHÚC ĐỨC
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÂY HOM TÙNG LA HÁN (Podocarpus macrophyllus) TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành: Lâm Nghiệp Lớp : K 44 - LN Khoa : Lâm Nghiệp Khóa học : 2012 -2016 Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Sỹ Hồng
Khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là kết quả thí nghiệm thực tế của tôi, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà tường
đề ra
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2016
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng
TS Lê Sỹ Hồng Ma Phúc Đức
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực hiện đề tài tốt nghiệp là khâu cuối của khóa học, giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên biết được phương pháp nghiên cứu từ lý thuyết vào thực tế
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp, Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thế
đến khả năng hình thành cây hom Tùng la hán ( Podocarpus macrophyllus) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trong quá trình thực tập được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong khoa, cán bộ ở vườn ươm, đặc biệt thầy hướng dẫn TS
Lê Sỹ Hồng là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này, cùng với sự
nỗ lực, cố gắng của bản thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Cũng nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới tất cả sự giúp đỡ đó
Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Vì vậy tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,ngày 15 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Ma Phúc Đức
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Tỷ lệ và thời gian ra dễ cảu hom phi lao 18Bảng 2.2: Thí nghiệm với Bạch đàn trắng tại Đông Nam bộ cho kết quả 18Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Tùng la hán ở các công thức giá thể
khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là IAA 28Bảng 4.2: Tỷ lệ sống của hom cây Tùng la hán ở các công thức giá thể 30Bảng 4.3: Chỉ tiêu ra rễ của hom Tùng la hán ở các công thức giá thể
giâm hom khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là IAA 31Bảng 4.4: Chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng la hán khi sử dụng thuốc kích
thích ra rễ là Fitomix ở các công thức giá thể giâm hom 35Bảng 4.5: Các chỉ tiêu ra chồi của cây Tùng la hán dưới ảnh hưởng của
giá thể giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là IAA 39Bảng 4.6: Các chỉ tiêu ra chồi của hom Tùng la hán dưới ảnh hưởng của
giá thể giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là Fitomix 43
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của hom Tùng la hán ở các giá thể, sử dụng thuốc
IAA kích thích ra rễ 29Hình 4.2: Tỷ lệ sống của hom Tùng la hán ở các giá thể, sử dụng thuốc
Fitomix kích thích ra rễ 30Hình 4.3a: Tỷ lệ rễ của hom cây Tùng la hán ở các công thức giá thể
giâm hom khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là IAA 32Hình 4.3b: Số rễ trung bình/hom Tùng la hán ở các công thức giá thể
giâm hom khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là IAA 33Hình 4.3c: Chiều dài rễ trung bình/hom Tùng la hán ở các công thức giá
thể giâm hom khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là IAA 33Hình 4.3d: Chỉ số ra rễ hom cây Tùng la hán ở các công thức giá thể
giâm hom khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là IAA 34Hình 4.4a: Tỷ lệ rễ của hom cây Tùng la hán khi sử dụng thuốc kích
thích ra rễ là Fitomix ở các công thức giá thể giâm hom 36Hình 4.4b: Số rễ trung bình/hom cây Tùng la hán khi sử dụng thuốc kích
thích ra rễ là Fitomix ở các công thức giá thể giâm hom 37Hình 4.4c: Chiều dài rễ trung bình/hom cây Tùng la hán khi sử dụng
thuốc kích thích ra rễ là Fitomix 37Hình 4.4d: Chỉ số ra rễ của các công thức giá thể giâm hom cây Tùng la
hán khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là Fitomix 38Hình 4.5a: Tỷ lệ ra chồi của cây hom Tùng la hán dưới ảnh hưởng của
giá thể giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là IAA 40Hình 4.5b: Số chồi trung bình của cây hom Tùng la hán dưới ảnh hưởng
của giá thể giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là IAA 41
Trang 7Hình 4.5c: Chiều dài chồi trung bình của cây hom Tùng la hán dưới ảnh
hưởng của giá thể giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ
là IAA 41Hình 4.5d: Chỉ số ra chồi của cây hom Tùng la hán dưới ảnh hưởng của
giá thể giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là IAA 42Hình 4.6a: Tỷ lệ ra chồi của hom cây Tùng la hán ở các giá thể giâm
hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là Fitomix 44Hình 4.6b: Số chồi trung bình/ hom cây Tùng la hán ở các giá thể giâm
hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là Fitomix 44Hình 4.6c: Chiều dài chồi trung bình/hom cây Tùng la hán ở các giá thể
giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là Fitomix 45Hình 4.6d: Chỉ số ra chồi của hom cây Tùng la hán ở các giá thể giâm
hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là Fitomix 46
Trang 8IAA : Indole – 3 – Aceric Acid
NAA : 1 - Naphthalene Acetic Acid
IBA : Indole – 3 – Butanic Acid
Trang 9MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
MỤC LỤC vii
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề` 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1 Cơ sở tế bào học 4
2.1.2 Cơ sở di truyền học 5
2.1.3 Sự hình thành rễ bất định 6
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom 7
2.1.5 Những yêu cầu kĩ thuật cơ bản khi giâm hom 15
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 16
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 17
2.4 Đặc điểm chung của Tùng la hán[12] 20
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 21
2.5.1 Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu 21
Trang 10PHẦN 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 23
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
3.4.4 Phương thức khác 27
PHẦN 4 : KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 28
4.1 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của hom cây Tùng la hán 28
4.1.1 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của hom cây Tùng la hán khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là IAA 28
4.1.2 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của hom cây Tùng la hán khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là Fitomix 29
4.2 Ảnh hưởng của giá thể đến các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng la hán 31
4.2.1 Ảnh hưởng của giá thể đến các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng la hán khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là IAA 31
4.2.2 Ảnh hưởng của giá thể đến các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng la hán khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ là Fitomix 35
4.3 Kết quả về các chỉ tiêu ra chồi của hom cây Tùng la hán dưới ảnh hưởng của giá thể giâm hom 39
4.3.1 Kết quả về các chỉ tiêu ra chồi của hom cây Tùng la hán dưới ảnh hưởng của giá thể giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ là IAA 39
Trang 114.3.2 Kết quả về các chỉ tiêu ra chồi của hom cây Tùng la hán dưới
ảnh hưởng của giá thể giâm hom khi sử dụng chất kích thích ra rễ
là Fitomix 43
PHẦN 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Tồn tại 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 12Để trồng rừng đạt hiệu quả cao, giống là một khâu quan trọng của rừng thâm canh, không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao
Giống sau khi đã được chọn lọc, khảo nghiệm thì việc lựa chọn phương pháp nhân giống có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc duy trì những tính trạng tốt của loài cây rừng [10]
Nhân giống hữu tính phù hợp với đặc tính của nhiều loài cây trồng, nhân giống hữu tính đem lại hiệu quả cao mà giá thành thấp, dễ tiến hành, cây con được tạo ra có sức sống cao thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh đây
là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong thời gian qua để nhân giống cung cấp cho trồng rừng Nhân giống vô tính có nhược điểm là chi phí cao, không phải loài cây nào cũng áp dụng được phương pháp nhân giống vô tính, nhưng nhân giống vô tính có ưu điểm là cây con giữ được đặc tính quý của cây mẹ
Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus) được trồng rộng rãi ở cả nước
để làm cây cảnh Cây Tùng la hán là cây gỗ nhỏ, trong điều kiện tự nhiên có thể đạt chiều cao tới 5 – 7 m, vỏ mỏng có màu vàng xám, nhẵn Là loài cây sinh trưởng tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Cây được trồng nhiều ở khuôn viên cây cảnh và có ý nghĩa rất lớn về mặt môi
Trang 13trường sinh thái ở những nơi công cộng vì vậy việc nghiên cứu nhân giống cho cây Tùng la hán bằng phương pháp nào để cây sinh trưởng nhanh là việc làm cần thiết Giâm hom phương pháp duy trì được tính trạng của cây mẹ Giâm hom là phương pháp dùng một đoạn ngon, thân hoặc rễ để tạo ra cây mới, gọi là cây hom Kết quả của giâm hom phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình như cách chăm sóc,…ngoài ra, nó còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: điều kiện ngoại cảnh, nhân tố nội tại, chất kích thích, giá thể,… Nhưng việc sử dụng loại thuốc nào, nồng độ bao nhiêu thích hợp với khả năng ra rễ của cây lại là một vấn đề cần được nghiên cứu Xuất phát từ thực tế
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến khả
năng hình thành cây hom Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài góp phần tạo giống cây con của cây Tùng la hán (Podocarpus
macrophyllus) cung cấp cho trồng rừng lấy gỗ làm cây cảnh, cho nghiên cứu
khoa học, bảo vệ môi trường sống
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Lựa chọn được loại giá thể phù hợp khi giâm hom cây Tùng la hán
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Thực hiện đề tài đã giúp tôi biết vận dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tế, đồng thời biết được phương pháp bố trí thí nghiệm, xử lý số liệu, viết báo cáo trong nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, và có thể tích lũy được những kiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai
Trang 14- Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học,
áp dụng tiến bộ khoa học vào nhân giống cây rừng
- Góp phần làm rõ đặc tính sinh thái tái sinh của cây Tùng la hán
- Kết quả của đề tài cung cấp một số căn cứ khoa học để xây dựng quy trình kĩ thuật nhân giống cây Tùng la hán bằng hom
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ được vận dụng vào thực tế để sản xuất giống cây Tùng la hán bằng phương pháp giâm hom
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợp giao tử đực và giao tử cái để tạo thành hợp tử lưỡng bội Hợp tử phát triển thành cá thể mới Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh,
nó bao gồm sự kết hợp của vô tính và các dạng sinh sản dinh dưỡng
Giâm hom là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi tiến hành giâm hom, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì rễ được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài
2.1.1 Cơ sở tế bào học
Theo viện sĩ Maximop[10], mỗi bộ phận của cây, ngay đến mỗi tế bào, đều có tính độc lập về mặt sinh lí rất cao Chúng có khả năng khôi phục lại các cơ quan, bộ phận không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn chỉnh Trong cơ thể thực vật, nước và các chất khoáng hoà tan được vận chuyển từ rễ lên lá theo mạch gỗ, còn các sản phẩm hữu cơ sản xuất ở lá được chuyển xuống gốc (rễ, củ, …) theo mạch rây Khi ta cắt đứt con đường vận chuyển theo mạch rây, các sản phẩm hữu cơ sẽ tập trung ở các tế bào vỏ của phần bị cắt Các chất hữu cơ này cùng với chất điều hoà sinh trưởng Auxin nội sinh (được tổng hợp ở ngọn cây chuyển xuống) sẽ kích thích sự hoạt động của tượng tầng và hình thành mô sẹo, rồi sau đó hình thành rễ từ mô sẹo ở chỗ bị cắt, khi gặp điều kiện thuận lợi Quá trình hình thành rễ bất định này có thể chia làm ba giai đoạn:
Trang 16- Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng
- Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ
- Giai đoạn 3: Sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ra ngoài Năm 1902 Nhà sinh lý thực vật người đức Haberladt[8], đã tiến hành nuôi cấy
mô tế bào thực vật dể chứng minh tế bào là toàn năng Tế bào có tính toàn năng
thể hiện như sau: Bất cứ tế bào nào hoặc mô tế bào nào thuộc cơ quan như rễ,
thân, lá đều chứa hệ gen giống như tất cả các tế bào sinh dưỡng khác trong cơ
thể, đều có khả năng sinh sản vô tính để tạo thành cây hoàn chỉnh
Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền
của loài cây, bộ phận của cây làm giống cũng như loài tế bào đã phân hóa
của cây
2.1.2 Cơ sở di truyền học
Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần
phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hóa các cơ quan Đặc trưng của
hình thức phân bào trên là số lượng NST của tế bào khởi đầu và tế bào mới
được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay
nguyên phân Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà kết
quả từ một tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũng như
cấu trúc và thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu Nhờ có quá
trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác cho các
tế bào con Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái bản trước tiên
theo chiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp theo NST
phân chia về các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ NST như
nhau và giống tế bào ban đầu Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng
cơ thể tăng lên, sau đó nhờ có quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình
phát triển cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh Đây là một quá trình
đảm bảo cho cây con duy trì tính trạng của cây mẹ
Trang 17Hom của các loài cây thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây (bao gồm cả chồi vượt) Các loại cành giâm thường gặp là cành non, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ Tùy thuộc vào các yếu tố như đặc tính loài cây, điều kiện thời tiết lúc giâm hom… mà chọn cành có khả năng ra rễ cao nhất
2.1.3 Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất định
của một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để tạo thành cơ thể
mới Rễ bất định là những rễ được hình thành về sau này của các cơ quan sinh
dưỡng như cành, thân lá Rễ bất định có thể được hình thành ngay trên cây nguyên vẹn (cây đa, cây si ), nhưng khi cắt cành khỏi cơ thể mẹ là điều kiện
kích thích sự hình thành rễ và người ta vận dụng để nhân bản vô tính
Rễ bất định của hầu hết thực vật được hình thành sau khi cắt cành khỏi cây mẹ, nhưng cũng có một số loài rễ bất định được hình thành từ trước dưới dạng các mầm rễ ở trong phần vỏ và chúng nằm yên đến khi cắt cành thì ngay lập tức đâm ra khỏi vỏ Với các đối tượng như vậy thì cành giâm, cành chiết
ra rễ một cách dễ dàng Nhưng đa số trường hợp rễ bất định được hình thành trong quá trình con người có tác động đến nó nhằm mục đích nhân giống
- Có hai loại rễ bất định gồm: rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh
- Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ
- Rễ mới sinh: Là rễ được hình thành sau khi cắt hom và giâm hom Khi đó các tế bào chỗ bị cắt, bị phá hủy, bị tổn thương và các tế bào dẫn chuyền đã chết của mô gỗ được mở ra, dẫn đến dòng nhựa được dẫn từ phần
lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành nên mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễ bất định
Trang 18Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành
lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt
- Giai đoạn 2: Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia
và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo
- Giai đoạn 3: Các tế bào vùng tượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu
hình thành rễ
Mô sẹo là khối tế bào nhu mô có mức độ ligin hóa khác nhau Thông thường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tin rằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự xuất hiện của rễ hom Nhưng ở nhiều loài cây, sự xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ Mức độ hóa
gỗ cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗ chiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém Hiện tượng cực tính là hiện tượng phổ biến trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt cho cho đúng chiều [10]
Rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát sát vào lõi trong tâm của mô mạch, ăn sâu vào trong thân cành tới gần ống mạch, sát bên ngoài Thời gian hình thành rễ của các loại hom giâm ở các loài cây khác nhau biến động rất lớn từ vài ngày với các loài dễ hình thành tới vài tháng đối với các loài khó ra rễ
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra
rễ cao
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ thuộc bởi ba yếu tố chính là: Khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và vị trí của hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ
Cơ bản thuộc 2 nhóm nhân tố gồm nhóm nhân tố ngoại sinh và nhóm nhân
tố nội sinh[9]
- Nhân tố ngoại sinh: gồm đặc điểm của di truyền của từng xuất
xứ, từng cá thể cây, tuổi cành, pha phát triển của cành và các chất điều
hòa sinh trưởng
Trang 19- Nhân tố nội sinh: các loại hóa chất kích thích ra rễ và các nhân tố
ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,…)
* Nhân tố ngoại sinh: Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến ra rễ của
hom giâm: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom: Mùa vụ, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, giá thể giâm hom
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là của cây non
Điều kiện ánh sáng cho cây mẹ lấy cành ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm
- Thời vụ giâm hom: Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố
quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành và thời vụ giâm hom Một số loài có thể giâm hom quanh năm song cũng có những cây có mùa vụ rõ rệt Theo Frison (1967) và Nesterow (1967)[2] thì mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ nhiều nhất ở nhiều loài cây, trong khi đó có một số loài khác thì lại có tỷ lệ ra
rễ cao hơn ở mùa xuân
Thời vụ giâm hom đạt kết quả cao hay thấp thường gắn với điều kiện thời tiết, khí hậu trong năm, thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè, sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông Vì vậy thời gian giâm hom tốt nhất vào mùa xuân, hè và đầu thu Thời vụ giâm hom có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của nhân giống bằng hom cành
Đối với loài cây nghiên cứu là cây gỗ cứng và rụng lá thì nên lấy cành lúc cây bắt đầu vào thời ngủ nghỉ, còn đối với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá thì nên lấy hom vào mùa sinh trưởng để có kết quả giâm hom tốt nhất và cho hiệu quả cao nhất
- Ánh sáng: Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sống của
cây vì đó là nhân tố cần thiết cho quá trình quang hợp và trong quá trình ra rễ
Trang 20của hom giâm và nhất là ánh sáng tán xạ Ánh sáng có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp tạo nên các chất đồng hóa tham gia vào vận chuyển trong mạch libe và ánh sáng có tác dụng kích thích dòng vận chuyển các chất hữu
cơ ra khỏi lá, ở ngoài sáng tốc độ vận chuyển các chất đồng hóa trong libe nhanh hơn trong tối
Nhưng trong hom giâm không có lá thì quá trình quang hợp không diễn
ra do đó không thể có hoạt động ra rễ, trừ một số loại cây đặc biệt có thể ra rễ trong bóng tối Hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện tối hoàn toàn Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh và nhiệt độ cao làm cho quá trình ra rễ giảm Vì vậy trong quá trình giâm hom phải che bóng thích hợp cho từng loài cây khác nhau với độ tàn che khác nhau [9] Trên thực tế ảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra rễ của hom giâm thường mang tính chất tổng hợp: Ánh sáng - nhiệt - ẩm mà không phải là từng nhân tố riêng lẻ
Ngoài ra tùy từng loại cây mà mức độ yêu cầu ánh sáng là khác nhau Mức độ này còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong hom
- Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, hô hấp và quá
trình vận chuyển chất Vì thế nhiệt độ không khí là một yếu tố quyết định đến tốc độ phát triển và hình thành nên rễ của hom Các loài cây nhiệt đới thường
có yêu cầu cao hơn các loài cây ôn đới Đối với cây nhiệt đới:
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 - 7°C cây bắt đầu quang hợp, nhiệt độ tối ưu mà cây đạt hiệu quả quang hợp tốt nhất là 25 - 30°C và nếu duy trì nhiệt độ tối cao lâu thì cây sẽ bị chết
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10-0°C cây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35 - 40°C và nhiệt độ tối cao 45 - 55°C cây sẽ bị phá hủy
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vận chuyển các chất trong cây: Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của các ợsi protein, cản trở tốc độ
Trang 21dòng vận chuyển chất và làm giảm hô hấp của mô libe đặc biệt của tế bào kèm làm thiếu năng lượng cung cấp cho sự vận chuyển; nhiệt độ quá cao làm cho quá trình thoát hơi nước ở lá diễn ra mạnh đẫn đến mất nước gây ra héo; nhiệt độ tối ưu 25 - 30°C
Vì vậy nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm Ở nhiệt độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, ở nhiệt độ quá cao tăng cường hô hấp và hom bị hỏng từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm Nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp cho ra rễ là từ 28 - 33°C và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25 - 30°C Nhiệt độ trên 35°C làm tăng
tỷ lệ héo của cành giâm hom Nhiệt độ không khí trong nhà trong nhà giâm hom nên cao hơn nhiệt độ giá thể là 2 - 3°C
Cũng như nhân tố ánh sáng, để có khả năng ra rễ cao cần có đầy đủ các điều kiện thích hợp như sau:
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố không thể thiếu
là thành phần hết sức quan trọng trong quá trình giâm hom Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa các chất cần đến nước Thiếu nước thì hom bị héo, thừa nước thì hoạt động của men thủy phân tăng lên, quá trình quang hợp bị ngừng trệ Vì vậy khi gặp thời tiết bất lợi như độ
ẩm quá cao hoặc quá thấp thì cần phải có biện pháp bổ xung hợp lý Khi giâm hom mỗi loài cây đều cần một độ ẩm thích hợp,ví dụ như đối với cây lá rộng thì yêu cầu độ ẩm cao hơn cây lá kim, hom có diện tích lá lớn thì yêu cầu độ
ẩm cũng cao hơn Khi làm mất độ ẩm của hom 15% thì hom không có khả năng ra rễ
Yêu cầu độ ẩm của hom giâm thay đổi theo loài, theo mức độ hóa gỗ của hom Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành giâm hom, giúp làm tăng độ ẩm, giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước ở lá Vào từng thời điểm mà mức độ phun khác nhau: Trong mùa nóng thời gian phun sương và thời gian ngắt quãng có thể ngắn hơn trong mùa lạnh
Trang 22Để duy trì độ ẩm của giá thể thích hợp cho hom ra rễ cần lựa chọn vật liệu làm giá thể có khả năng thông thoáng tốt, thoát nước song phải giữ được
độ ẩm thích hợp
Giá thể và môi trường giâm hom : Giá thể cũng góp phần quan trọng
vào thành công của giâm hom, giá thể không phải là nơi cung cấp chất dinh dưỡng mà phần dinh dưỡng đó từ ngay trong chính bản thân cành được giâm hom vì thế nó chỉ cần đáp ứng yêu cầu về nhiệt đô, độ ẩm, ánh sáng thích hợp rất nhiều giá thể được sử dụng trong giâm hom hiện nay tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, điều kiện, thời vụ, khí hậu và loài cây mà thành phần giá thể
có thể là khác nhau Các giá thể thường được dùng hiện nay là cát tinh, mùn cưa, xơ dừa, bầu đất hay đất vườn Khi giâm hom chỉ tạo ra rễ sau đó mới cho cây vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, cát tinh, xơ dừa băm nhỏ hoặc đất vườn ươm trộn lẫn với nhau
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng khí tốt và duy trì
độ ẩm trong một thời gian dài mà không ứ nước, không bị nhiễm nấm bệnh
- Giá thể cắm hom: Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã xử lí
chất kích thích ra rễ.Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất trong vườn ươm Một giá thể cắm hom tốt là thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà không ứ nước, tọa điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạch không bị nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ Ph thích hợp
* Nhân tố nội sinh: Đặc điểm di truyền của loài: Các nghiên cứu cho
thấy không phải tất cả các loài đều có khả năng ra rễ như nhau Nanda (1970) [9] đã dựa theo khả năng ra rễ để chia các loài cây thành 3 nhóm chính:
+ Nhóm dễ ra rễ gồm 29 loài Các loài này không cần sử lý bằng chất kích thích ra rễ mà vẫn ra rễ với tỉ lệ rất cao, gồm các loài thuộc các
chi Ficus sp
+ Nhóm khó ra rễ gồm 26 loài Loại này hầu như không ra rễ hoặc là phải sử dụng chất kích thích ra rễ nhưng tỉ lệ ra rễ rất thấp thuộc các chi
Trang 23Manlus sp,Prunus sp,… thuộc họ Rosaceae và một số chi khác
+ Nhóm có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài Tuy vậy sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối
Vì thế theo khả năng giâm hom thì chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành là nhiều loài cây thuộc họ Dâu tằm (Moraceae): dâu tằm, đa, sung Một số loài thuộc họ Liễu, một số loài nông nghiệp như sắn, mía, khoai lang… Đối với loài cây này thì khi giâm hom không cần xử lý bằng thuốc chúng vẫn ra rễ bình thường
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom bị hạn chế bởi các mức độ khác nhau: Tuổi cây mẹ, chất kích thích, yếu tố ngoại cảnh…
- Đặc điểm di truyền và xuất xứ, từng cá thể: Do đặc điểm biến dị
mà các xuất xứ và cá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau Ngay
cả những loài cây có cùng xuất xứ, cùng dòng, nhưng các cá thể khác nhau cũng cho tỉ lệ ra rễ khác nhau
- Vị trí lấy cành và tuổi cành: Hom lấy từ các phần khác nhau thì sẽ
có tỷ lệ ra rễ khác nhau Thông thường thì hom lấy từ các cành dưới dễ ra rễ hơn ở cành trên, cành cấp 1 dễ ra rễ hơn cành cấp 2, 3…
- Cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy trong tán cây Cho nên ở một số loài cây người ta xử lý sao cho cây ra chồi vượt để lấy hom giâm Tuy nhiên khả năng ra rễ của cành chồi vượt cũng phụ thuộc vào vị trí lấy hom
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ Thông thường thì cành nửa hóa gỗ có tỷ lệ ra rễ lớn nhất, cành hóa gỗ thường cho tỷ lệ kém hơn
Như vậy cành non và cành nửa hóa gỗ cho tỷ lệ ra rễ cao nhất
- Tuổi cây mẹ lấy cành hom và thời gian lấy hom: Khả năng ra rễ do tính di truyền quy định mà còn phụ thuộc vào tuổi cây mẹ lấy cành Hom lấy
từ cây chưa sinh sản bằng hạt dễ nhân giống bằng hom hơn cây đã sinh sản bằng hạt Hom lấy từ cây tuổi còn non dễ ra rễ hơn cây tuổi già Cây còn non không những ra rễ tốt hơn mà còn ra rễ nhanh hơn
Trang 24Sự tồn tại của lá trên hom: Lá là cơ quan hấp thụ ánh sáng trong quang phổ tạo ra chất cần thiết cho cây Vì thế khi chuẩn bị hom giâm phải có 1 - 2
lá và phải cắt bớt một phần phiến lá chỉ để lại 1/3 - 1/2 diện tích lá là tốt nhất
- Kích thước hom: Đường kính và chiều dài hom ảnh hưởng tới tỷ lệ
ra rễ của hom giâm Tùy từng loài cây kích thước hom có thể khác nhau
- Các chất điều hòa sinh trưởng: Các chất điều hòa sinh trưởng chia
theo hoạt tính sinh lý gồm hai nhóm tác dụng là nhóm kích thích sinh trưởng
và nhóm kìm hãm sinh trưởng Một số chất kích thích sinh trưởng như Auxin, Giberellin và Xytokinin Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì Auxin được coi là chất quan trọng nhất trong quá trình ra rễ của cây hom
Rhizocalin bản chất là axit được coi là chất đặc biệt cần thiết trong quá trình hình thành rễ nhiều loài cây
Một số nhóm chất điều hòa sinh trưởng: Nhóm Auxin gồm NAA (a.Naphthalene acetic acid), IAA (Indol-3acetic acid), IBA (Indol butyric acid), IPA (Indol-3yl-Acetonitrile) và một số chất khác; nhóm Cytokinin gồm Zeatin, Kinetin; nhóm Giberellin gồm: GA3 (Giberellic acid), GA8 (Giberellin - Lije Substances) và nhiều chất giống Giberellin khác; nhóm chất
có khả năng kìm hãm sinh trưởng hoặc thúc đẩy quá trình già hóa như ABA (Abscisic scid), Ethophone (2-chloroethyl), Phosphonic acid, các phenol, retedant…
* Các nhân tố kích thích:
- Loại thuốc: Các chất kích thích điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc
biệt quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm Một số loại chất kích thích sinh trưởng như: Auxin, Giberellin, Cytokinin…
Auxin: Có hai loại Auxin là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp Auxin
tự nhiên là IAA (acid ß - indol axetic) và Auxin tổng hợp là các chất có bản chất hóa học khác nhau nhưng có hoạt tính sinh lý tương tự như IAA (acid ß - indol axetic) Các Auxin tổng hợp như: α-NAA (acid α - Naphtylaxetic), 2,4D (acid
Trang 252.4 Dichlorophenoxyaxetic), 2.4.5T (Acid 2,4,5 Trichlorophenoxyaxetic), IBA (acid ß-indolbutyric), 2M4C (Acid 2metyl-4 Chloroph enoxyaxetic)… Trong sự hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định phát sinh từ các cơ quan dinh dưỡng Auxin là hoocmon hình thành rễ
- Nồng độ: Cùng một loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh
hưởng khác nhau đến khả năng ra rễ của hom giâm Tùy từng loài cây mà hom của chúng thích ứng với một loại chất cũng như nồng độ thích hợp nhất định Nếu nồng độ chất kích thích thấp sẽ không có tác dụng phân hóa tế bào
để hình thành rễ, nếu nồng độ quá cao sẽ ức chế quá trình hình thành rễ làm cho hom thối không ra nữa Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt độ không khí và mức độ hóa gỗ của hom Trong quá trình giâm hom khi điều kiện nhiệt độ quá cao cần phải xử lý với nồng độ thấp hơn
và ngược lại khi nhiệt độ môi trường thấp thì cần xử lý lâu hơn Nếu hom quá non (chưa hóa gỗ) phải xử lý với nồng độ thấp và hom hơi già (hom gần hóa
gỗ hoàn toàn) phải xử lý với nồng độ cao hơn
- Thời gian xử lý thuốc: Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ nhưng thời gian xử lý khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau Khi thực hiện thí
nghiệm cần chú ý là giữa thời gian xử lý, nồng độ, nhiệt độ không khí có mối liên quan nhất định Với thuốc kích thích sử dụng với nồng độ cao thì thời gian xử lý ngắn và thuốc kích thích sử dụng với nồng độ thấp thì thời gian xử
lý dài hơn
- Phương pháp xử lý hom: Thông thường hom được xử lý bằng cách
ngâm hom trong dung dịch chất kích thích ra rễ Chất kích thích ra rễ là hỗn hợp chất tan thì phần gốc của hom được nhúng vào nước và chấm vào thuốc, sao cho thuốc bấm vào gốc hom
Nhận xét: Như vậy, để hình thành thành một bộ rễ mới phải trải qua
quá trình rất phức tạp, tổng hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố nội sinh, ngoại
Trang 26sinh, sử dụng chất điều hòa sinh trưởng (auxin) … Quá trình hình thành rễ trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn cần phức hệ nhất định các điều kiện và hoàn cảnh, có thế nói nếu đúng thời vụ giâm hom, tuổi cây mẹ cho hom, chiều dài hom, chọn thuốc xử lý và nồng độ thích hợp, kết hợp các yếu
tố kĩ thuật chăm sóc tốt … thì hom giâm có tỉ lệ sống và ra rễ rất cao Chính
vì vậy, nắm chắc cơ sở khoa học của việc nhân giống bằng hom giâm thì đạt tỉ
lệ thành công cao
2.1.5 Những yêu cầu kĩ thuật cơ bản khi giâm hom
Vật liệu giâm hom rất nhạy cảm với sự mất nước và dễ bị nhiễm bệnh Hom phải ở độ hóa gỗ thích hợp cho từng loại cây và được bảo quản cẩn thận Khi giâm hom cần: Không cắt hom quá già hoặc quá non, hom cắt không được để trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời mà phải được bảo quản ở nơi giâm mát Vật liệu giâm hom không nên lấy quá xa nơi giâm hom và không nên cất giữ quá 1 ngày, khi vận chuyển hom tránh gây tổn thương hom và giữ ẩm cho hom bằng vải ẩm Hom phải được ngắt bỏ hết hoa, nụ hoa, chồi phụ ra lá,đối với cây lá kim, hom phải có đủ búp ngọn, hom giâm không ngắn quá 5cm, song không dài quá 10cm Khi cắt hom phải sử dụng dao cắt thật sắc để hom khi cắt không bị dập nát, xây xước Phải sử dụng thuốc chống nấm bệnh trước khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ nên hom Phải để lại một số lá nhất định ở phía trên của hom giâm và cắt bớt phiến lá, song phải cắt hết phần lá dưới phần giâm dưới đất [7] Giâm hom phải đặt trong lều nilong, để giữ ẩm và nhiệt, trên lều phải có mái che tránh ánh nắng trực tiếp, giảm bớt cường độ sang và điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp Giá thể giâm hom phải thoát hơi nước tốt, được xử lý bằng thuốc chống bệnh và thường xuyên ướt phun mù
giữ ẩm cho giá thể đồng thời cũng tạo độ ẩm không khí cho hom giâm
Vậy để giâm hom thành công cho bất cứ loại cây nào đều phải kết hợp một cách đầy đủ và đồng bộ, các biện pháp kĩ thuật cần thiết từ khâu chăm
Trang 27sóc cây mẹ lấy cành hom và giâm hom cũng như tạo điều kiện cần thiết để hom dễ ra rễ.Sau khi hom ra rễ phải biết huấn luyện cây hom để chúng thích nghi được với điều kiện trong vườn ươm
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới
Trong lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử dụng trên 100 năm nay Từ những năm 1840, Marrier de Boisdyver (người Pháp)đã ghép 10.000 cây Thông Đen Năm 1883, Velinski A.H công bố công trình ghiên cứu nhân giống một số loài cây lá kim và lá rộng thường xanh bằng hom Ở Pháp năm 1969, Trung tâm lâm nghiệp đới bắt đầu chương trình nhân giống Bạch đàn Năm 1973 mới có 1 ha rừng trồng bằng cây hom đến năm 1986 có kho ảng 24.000 ha rừng trồng bằng hom, các rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35 m 3/ha/năm [11]
Hiện nay ở một số nước, do kết hợp được công tác chọn giống, kĩ thuật tạo cây con bằng mô - hom và kĩ thuật thâm canh trong trồng rừng đầu dòng vô tính mà đã đưa được năng suất từ 5 m3/ha/năm lên 15
m3/ha/năm trênđất xấu
Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean – Canada (gọi tắt là ACFTSC), trong những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất hom được tiến hành ở các nước Đông Nam Á[11]
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada [11] đã có những nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với hệ thống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi nhánh vườn ươm trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các loại cây họ dầu, với 1 ha vườn giống cây Sao đen 5 tuổi có thể sản xuất được 200.000 cây hom, đủ trồng cho 455 đến 500 ha rừng
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu từ những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu
Trang 28Lâm nghiệp Malaysia, ở trường đại học Tổng hợp Pertanian, trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã có những báo cáo các công trình có giá trị
về nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu Tuy nhiên tỉ lệ ra rễ của cây họ dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi phương tiện nhân giống như: các biện pháp vệ sinh tốt, che bóng hiệu quả hơn, phun sương mù, kĩ thuật trẻ hóa cây mẹ… thì
tỉ rễ được cải thiện (vd: Hopea odorta có tỉ lệ ra rễ là 86%, Shorea Leprosula 71% ) [10]
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Những năm 1983-1984, các thực nghiệm về nhân giống bằng hom được tiến hành tại Viện Lâm Nghiệp (nay là Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam), đối tượng nghiên cứu ở đây là các cây lâm nghiệp như Mỡ, Lát hoa, Bạch đàn (Nguyễn Ngọc Tân, 1983; Phạm Văn Tuấn, 1984), nội dung nghiên cứu tập trung vào đặc điểm cấu tạo giải phẫu của hom, ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm môi trường và xử lí các chất kích thích ra rễ đến tỉ lệ sống và
ra rễ của hom giâm[4]
Trong những năm 1990 trở lại đây,công nghệ sản xuất cây giống bằng
mô hom phục vụ trồng rừng được Nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ Từ những kết quả ban đầu của những khu rừng trồng Bạch đàn, Keo lai bằng mô hom cho thấy chất lượng rừng trồng đã được cải thiện, năng suất rừng tăng lên đáng kể, từ đó cây trồng rừng bằng mô hom đã dần dần thay thế cây trồng rừng bằng hạt ở nhiều nơi trong cả nước[8]
Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là một việc thiết thực nhằm góp phần đẩy nhanh sản xuất cây con bằng hom phục vụ cho công tác trồng rừng
Trong kĩ thuật giâm cành trên thế giới người ta sử dụng nhiều nền giâm hom khác nhau tùy thuộc vào điều kiện giâm, khí hậu từng vùng, từng quốc gia, thời vụ giâm, giống đem giâm và loại cành
Trang 29Những nền giâm hay còn gọi là giá thể hiện nay được sử dụng nhiều như: cát thô, than bùn, sơ dừa, đất, các chất vô cơ như Vanli calete (hợp chất chưa Mica), peclite (đá chân trâu), dung nhan phun thạch núi lửa… Nếu chỉ giâm cho hom ra rễ mới chuyển hom giâm vào bầu thì giá thể thường là cát thô, còn khi giâm hom trực tiếp vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, sơ dừa băm nhỏ đặt vào vườn ươm
Những nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của giá thể đến hom giâm Ví dụ: Ảnh hưởng của giá thế đến khả năng ra rễ của hom xoan với các loại giá thể như: Cát sông, 50%+50% đất tầng mầu, 20% cát + 50%đất + 30% than trấu, 70% đất+ 30% hỗn hợp ruột bầu và 100% đất bầu thì khả năng ra rễ lần lượt là 39.26%, 52.59%, 52.59%, 57.04%, 39.26%[4]
Với Phi lao (C.equi Seaifolia) tỷ lệ ra rễ ở các tháng như sau [1]
Bảng 2.1 Tỷ lệ và thời gian ra rễ cuả hom Phi lao
Thời gian Thời gian ra rễ (ngày) Tỷ lệ ra rễ
Bảng 2.2: Thí nghiệm với Bạch đàn trắng tại Đông Nam bộ cho kết quả
Thời gian giâm hom Tỷ lệ ra rễ % Thời gian giâm hom Tỷ lệ ra rễ
Trang 30Như vậy, với Bạch đàn ở Đông Nam Bộ thời kỳ giâm hom thích hợp từ tháng 5 đến tháng 7 Nhìn chung trong điều kiện khí hậu Việt Nam thời kỳ giâm hom thích hợp là các tháng xuân, hè, thu
Như vậy cùng một loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thế khác nhau thì khả năng ra rễ của hom giâm là khác nhau Các chất điều hòa sinh trưởng cũng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất và Auxin được chia làm hai nhóm
là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp
Auxin tự nhiên được biết đến như Axit Indol Axete(IAA)
Các loại Auxin tổng hợp như: Axit Indol Butylic(IBA), Axit Indol propionicv(IPA) và Axit napthalen axetic( NAA), các chất được dùng chủ yếu hiện nay là thích ứng với một loại chất kích thích, nồng độ kích thích, thời gian sử lí thuốc và phương pháp sử lí hom cũng khác nhau
Loại thuốc kích thích ra rễ khác nhau, có tác dụng khác nhau đến sự hình thành rễ của hom Hom cây Mỡ 1 tuổi xử lí bằng IAA, IBA, NAA nồng
độ 50ppm trong 3 giờ thì có tỉ lệ ra rễ lần lượt là 74,1%, 93,8%, 53,3% [5]
Về thời gian xử lí thuốc thì cùng một loại thuốc, nồng độ nhưng thời gian xử lí thuốc là khác nhau thì cho các kết quả khác nhau Ví dụ: Hom Mỡ
xử lý bằng IAA nồng độ 100ppm với thời gian 3; 5; 8; 16 giờ thì có tỉ lệ ra rễ tương ứng là 74%, 81,3%, 73% và 55,7%[5]
Khi xử lí hom bằng thuốc kích thích chúng ta cũng cần chú ý đến nồng
độ và nhiệt độ không khí vì chúng cũng có mối quan hệ với nhau
Ngoài ra một số nghiên cứu thực nghiệm hiện nay về ảnh hưởng của các yếu tố nội tại (loại hom, kích thước hom, tuổi hom…) đến khả năng ra rễ của hom cây rừng
Nguyễn Huy Sơn năm 2006[13] Nghiên cứu chọn và nhân giống quế
có năng xuất tinh dầu cao, Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi cây lấy hom
Trang 31càng trẻ thì tỷ lệ ra rễ càng cao, hom lấy từ cây quế 1 năm tuổi thì tỉ lệ ra rễ đến 98,6%, nhưng hom lấy từ cây 13 năm tuổi thí nghiệm trong công thức thuốc và thời vụ tốt nhất cũng chỉ có tỉ lệ ra rễ được 15,5%, hom của cây 15 tuổi chỉ ra rễ được 4,3%
Cùng một loại thuốc kích thích nhưng ở các loại nồng độ khác nhau thì khả năng ra rễ của hom cũng khác nhau, nồng độ xử lí quá thấp không có tác dụng phân hóa tế bào để hình thành rễ, nồng độ quá cao sẽ làm cho hom bị thối rữa trước khi ra rễ Ví dụ: Hom cây xoan xử lý bằng IBA ở các nồng độ khác nhau 0,25% 0,5% 0,75% 1,0% 1,25% 1,5% có tỉ lệ ra rễ khác nhau lần lượt là: 37,78%, 39,26%, 57,78%, 30,37%, 22,22%, 18,52 %[11]
Thảo luận, từ những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã nêu, tại Việt Nam chưa có công bố nào về nhân giống bằng hom cho cây
Tùng la hán Vì vậy tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của
giá thể đến khả năng hình thành cây hom Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên"
2.4 Đặc điểm chung của Tùng la hán[12]
Tên khoa học: Podocarpus Macrophyllus
Họ: Thông tre (Podocarpaceae)
Đặc điểm hình thái:
Cây Tùng la hán hay còn gọi là tùng vạn niên là cây thân gỗ nhỏ, trong điều kiện tự nhiên có thể đạt chiều cao 5-7 m với đặc điểm là gỗ dẻo, dễ uốn
và do đó có thể tạo dáng, tạo thế cho cây rất dễ dàng
Cây thân gỗ xanh quanh năm là cây đơn tính Vào tháng 5, cây đực nở hoa hình cọc có sợi màu trắng đục
Hoa của cây cái có đài to, bên dưới có bốn cái vẩy dạng tuyến Lá cây hình kim mọc cách dạng ốc xoắn, bề mặt màu xanh đậm, mặt lưng nhạt hơn
Quả chia làm hai phần, phần trên là hạt giống, hình cầu tròn màu xanh Phần dưới có màu tím nhạt