1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên

61 507 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả về ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA ở một số nồng độ đến tỉ lệ hom sống của cây Tùng La Hán .... Kết quả của giâm hom phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình như cách c

Trang 1

CÂY TÙNG LA HÁN (PODOCARPUS MACROPHYLLUS)

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2012 - 2016

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

CÂY TÙNG LA HÁN (PODOCARPUS MACROPHYLLUS)

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Lớp : K 44 - LN Khóa học : 2012 - 2016 Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Sỹ Hồng

Thái Nguyên - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Khóa luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và sửa

Thái Nguyên,ngày tháng năm 2016

Giảng viên hướng dẫn Sinh viên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy, cô giáo Nhờ vậy, tôi đã được các thầy cô giáo trang bị những kiến thức khoa học kỹ thuật cũng như đạo đức tư cách người cán bộ tương lai Thầy, cô đã trang

bị cho tôi đầy đủ hành trang và một lòng tin vững bước vào đời, vào cuộc sống và sự nghiệp sau này

Để thực hiện được điều đó Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp – Trường

Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã đồng ý cho tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homTùng la hán tại Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên’’

Để có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân Tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy, cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS.Lê Sỹ Hồng đã trực tiếp hướng dẫn để tôi hoàn thành khóa luận này

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, các thầy

cô giáo đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn TS Lê Sỹ Hồng đã trực tiếp hướng dẫn để tôi hoàn thành khóa luận này

Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2016 Sinh viên

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Thời gian và tỷ lệ ra rễ của hom Phi lao 10 Bảng 2.2: Thí nghiệm với Bạch đàn trắng tại Đông Nam bộ cho kết quả 10 Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí

nghiệm ở định kỳ theo dõi khi dù ng thuốc kích thích sinh

trưởng IBA 28 Bảng 4.2: Các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng la hán ở các công thức

thí nghiệm khi dù ng thuốc kích thích sinh trưởng IBA 30 Bảng 4.3 Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của hom cây Tùng la

hán ở cuối đợt thí nghiệm 35 Bảng 4.4 Bảng phân tích phương sai một nhân tố về chỉ số ra rễ của

hom cây Tùng la hán 37 Bảng 4.5: Bảng sai dị từng cặp |xi - xj| cho chỉ số ra rễ của hom cây

Tùng La Hán khi dùng thuốc kích thích sinh trưởng IBA 37 Bảng 4.6: Tỷ lệ ra chồi cua cây hom Tùng la hán ở các công thức thí

nghiệm khi dù ng thuốc kích thích sinh trưởng IBA 38 Bảng 4.7: Bảng tổng hợp kết hợp kết quả về chỉ số ra chồi của cây hom

cây Tùng La Hán 43 Bảng 4.8 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chỉ số ra chồi của cây

Tùng La Hán hán ở cuối đợt thí nghiệm ANOVA 45 Bảng 4.9: Bảng sai dị từng cặp |xi - xj| cho chỉ số ra chồi của hom

cây Tùng La Hán khi dùng thuốc kích thích sinh trưởng IBA 45

Trang 6

nghiệm giâm hom cây Tùng la hán 32 Hình 4.5: Chỉ số ra rễ của các công thức thí nghiệm giâm hom cây Tùng la

hán 34 Hình 4.6.Tỉ lệ chồi của các công thức thí nghiệm giâm hom cây Tùng La

Hán (%) 39 Hình 4.7 Số chồi trung bình/hom của các công thức thí nghiệm giâm

hom cây Tùng La Hán (cái) 40 Hình 4.8 Chiều dài chồi trung bình/hom của các công thức thí nghiệm

giâm hom cây Tùng la hán (cm) 41 Hình 4.9 Chỉ số ra chồi của các công thức thí nghiệm giâm hom cây

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

PHẦN 1 : MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

PHẦN 2 : TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Cơ sở tế bào của sự hình thành rễ bất định 4

2.1.2 Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định 5

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 14

2.3 Những nghiên cứu tại Việt Nam 16

2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 17

2.4.1 Vị trí địa lý địa hình 17

2.4.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 17

2.5 Những thông tin về cây Tùng La Hán 17

PHẦN 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 19

3.2 Địa điểm, thời gian thực hiện đề tài 19

Trang 9

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 19

3.3.2 Thời gian nghiên cứu 19

3.3 Nội dung nghiên cứu 19

3.4 Phương pháp nghiên cứu 19

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19

3.4.2 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 20

3.4.3 Phương pháp xử lí số liệu 22

PHẦN 4 : KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 28

4.1 Kết quả về ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA ở một số nồng độ đến tỉ lệ hom sống của cây Tùng La Hán 28

4.2 Kết quả về các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm 29

4.2.1 Kết quả về tỉ lệ ra rễ trung bình của hom cây cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm 30

4.2.2 Kết quả về số rễ trung bình/hom của hom cây Tùng la hán 31

4.2.3 Kết quả về chiều dài rễ trung bình/hom của hom cây Tùng la hán 32

4.2.4 Kết quả về chỉ số ra rễ trung bình/hom của hom cây Tùng la hán 33

4.3 Kết quả về tỷ lệ ra chồi của hom cây Tùng la hán 38

4.3.2 Kết quả về số chồi trung bình/hom của hom cây Tùng La Hán 40

4.3.3 Kết quả về chiều dài chồi trung bình/hom của hom cây Tùng la hán 41

4.3.4 Kết quả về chỉ số ra chồi trung bình/hom của hom cây Tùng la hán 42

PHẦN 5 : KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Tồn tại 48

5.3 Kiến nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây xanh không thể tách rời trong hoạt động sống của con người ở bất

kì đâu dù nông thôn hay thành thị Cây xanh gắn liền với sự tồn tại phát triển của của bất kì một quốc gia, dân tộc nào Nó cung cấp cho con người những nhu cầu thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu xây dựng, tạo ra tất

cả những tiện nghi phục vụ cuộc sống… Nó còn là nguồn dược liệu tạo ra nhiều loại thuốc phòng và chữa bệnh… Về phương diện nào đó nó có ý nghĩa rất lớn, chi phối các yếu tố khí hậu, giảm nhẹ thiên tai, ngăn bụi làm sạch không khí, tạo nên cảnh quan sinh động, cung cấp dưỡng khí, tạo được môi trường trong lành, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Để phục vụ cho việc tạo rừng, tạo cảnh quan môi trường thì công tác tạo ra giống là việc hết sức quan trọng Trong những năm gần đây, các trung tâm nghiên cứu giống cây trong cả nước đã tiến hành nghiên cứu về chọn giống, khảo nghiệm và nhân giống cho nhiều loài cây Đã đạt được một số kết quả bước đầu nhất định Một trong những phương pháp nhân giống duy trì được nguyên vẹn những tính trạng tốt từ đời trước cho đời sau là phương pháp nhân giống bằng hom Nhân giống bằng hom là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho một số loài cây như cây rừng, cây cảnh

và cây ăn quả Là phương pháp có hệ số nhân giống cao, phù hợp với quy

mô lớn và sản phẩm cuối cùng cho một số lượng cây giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền

Tùng la hán (Podocarpus Macrophyllus) được trồng rộng rãi ở cả nước

để làm cảnh Cây Tùng la hán là cây gỗ lớn, cao có thể cao tới 10 – 15m, vỏ mỏng có màu vàng xám, nhẵn Là loài cây sinh trưởng tốt, có khả năng chống

Trang 11

chịu với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Cây được trồng nhiều ở khuôn viên cây cảnh và có ý nghĩa rất lớn về mặt môi trường sinh thái ở những nơi công cộng vì vậy việc nghiên cứu nhân giống cho cây Tùng la hán bằng phương pháp nào để cây sinh trưởng nhanh là việc làm cần thiết Giâm hom phương pháp duy trì được tính trạng của cây mẹ Giâm hom là phương pháp dùng một đoạn ngọn, thân hoặc rễ để tạo ra cây mới, gọi là cây hom Kết quả của giâm hom phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình như cách chăm sóc,…ngoài

ra, nó còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: điều kiện ngoại cảnh, nhân

tố nội tại, chất kích thích, giá thể,… Nhưng việc sử dụng loại thuốc nào, nồng

độ bao nhiêu thích hợp với khả năng ra rễ của cây lại là một vấn đề cần được nghiên cứu Xuất phát từ vấn đề trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA (Indol-Butilic Axit) đến sự hình thành

cây hom Tùng la hán (Podocarpus Macrophyllus.) tại trường Đại học Nông

Lâm Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến khả năng hình thành hom cây Tùng la hán góp phần tạo cây giống phục vụ cho trồng cây làm đẹp cảnh quan, cải thiện môi trường sống

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm ra được nồng độ thuốc IBA phù hợp nhất cho khả năng ra rễ, chồi của hom cây Tùng la hán

1.4 Ý nghĩa của đề tài

- Trong học tập, nghiên cứu khoa học

+ Giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn

+ Kết quả của đề tài nghiên cứu làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong nghiên cứu, nhân giống loài cây Tùng la hán

Trang 12

+ Thông qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân để thực hiện tốt công tác sau này

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học

Như chúng ta đã biết thì phần lớn các loài thực vật đều sinh sản bằng con đường sinh sản hữu tính, tuy nhiên chúng ta vẫn bắt gặp các hình thức sinh sản vô tính: Chiết, ghép, nuôi cấy mô tế bào, giâm hom Nhờ có phương thức sinh sản vô tính mà thực vật có thể tái tạo lại mình từ các phần của cơ thể: Bằng thân như dây Khoai lang, bằng rễ như cây Hồng,…

Trong các biện pháp sinh sản vô tính, giâm hom là hình thức phổ biến nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả cho việc lưu giữ, bảo vệ và duy trì giống cây rừng Bởi chúng có các đặc điểm sau:

- Giâm hom có thể dùng hom thân, hom cành, hom rễ toàn những nguyên liệu sẵn có, dễ làm, dễ thao tác

- Nhân giống bằng hom cho hệ số nhân giống lớn, tương đối rẻ tiền, nên được dùng phổ biến cho trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả [4]

- Cây hom mặc dù không giữ được các đặc trưng hình thái giải phẫu nhưng lại giữ được các đặc điểm di truyền mong muốn của cây mẹ

Đặc biệt đối với một số cây lâm nghiệp có hình thức lai xa thì nó còn giúp giữ các tính trạng tốt ở đời F1, tránh phân ly ở đời F2 và như vậy chúng

có hệ số biến động nhỏ hơn cây sinh sản hữu tính bằng hạt

2.1.1 Cơ sở tế bào của sự hình thành rễ bất định

* Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của

nó Có 2 loại rễ bất định là rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh

+ Rễ tiềm ẩn là rễ có nguồn gốc tự nhiên trong thân, cành cây nhưng chỉ phát triển khi đoạn thân, đoạn cành tách khỏi thân cây

Trang 14

+ Rễ mới sinh là loại rễ chỉ hình thành khi được cắt hom, nó là hậu quả của phản ứng với vết cắt Nghĩa là khi cắt hom thì các tế bào sống tại vết cắt

bị tổn thương và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được hở ra và gián đoạn các chất dinh dưỡng được tổng hợp từ ngọn lá đi xuống tới chỗ vết cắt Quá trình nguyên phân xảy ra theo 3 bước tạo thành các mô sẹo, là cơ sở của

sự hình thành 1 lớp tế bào bị thối trên bề mặt, vết thương được đậy lại bằng lớp keo bảo vệ, lớp keo bảo vệ này giúp mặt cắt khỏi bị thoát hơi nước Các tế bào sống ở ngay dưới lớp tế bào bảo vệ, lớp tế bào bảo vệ đó bắt đầu phân chia sau khi vết cắt được vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm (Callus)

Các tế bào lân cận của vùng tượng tầng mạch và libe gỗ bắt đầu hình thành rễ bất định Chính vì vậy việc giâm hom cành để hình thành bộ rễ mới

là quan trọng nhất, sau đó là số lượng rễ/hom và chiều dài rễ

2.1.2 Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom,

về cơ bản có thể chia thành 2 nhóm là: Các nhân tố nội sinh và nhóm các nhân tố ngoại sinh [10]

2.1.2.1 Các nhân tố nội sinh

+ Đặc điểm di truyền loài

Nhiều nghiên cứu cho thấy không phải các loài cây đều có khả năng ra

rễ như nhau Do đặc điểm di truyền, biến dị, các xuất xứ và các giá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau

+ Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể:

Trong một loài, các xuất xứ khác nhau có tỉ lệ ra rễ khác nhau E.Camaldulensis có xuất xứ Victroria River là 60%, còn E.Camaldulensis xuất xứ Gibb River là 85%, còn xuất xứ Nghĩa Bình là 35% (Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Trần Cự (1997)[2])

Trang 15

+ Đặc điểm cá thể: Trong một xuất xứ các cá thể khác nhau cũng có tỷ

lệ ra rễ khác nhau

Trong số 15 cây Phi lao (Casuarina Equisetifolia) 1 tuổi có 9 cây ra rễ 100%, 5 cây ra rễ từ 53-87%

Thí nghiệm với Keo lai lá tràm (Acacia Auriculiformis) cho 5 cây

mẹ khác nhau có tỷ lệ ra rễ như sau:

+Tuổi cây mẹ và tuổi cành lấy hom

Tuổi cây mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ của hom, nhất là đối với các loài khó ra rễ Nhìn chung, tuổi cây mẹ càng già thì tỷ lệ ra rễ của hom càng giảm

Cây Mỡ (Manglietia conifera) 1 tuổi có tỷ lệ ra rễ 98%, Mỡ 3 tuổi 47%,

Mỡ 20 tuổi không ra rễ (Lê Đình Khả Phạm Văn Tuấn (1996).(3)

Cây Sao đen (Hopea Odorata) 1 tuổi 70% ra rễ, 2 tuổi 50% ra rễ

Hom từ cây già không những có tỷ lệ ra rễ thấp có thời gian ra rễ dài hơn Ví dụ hom Mỡ 1 tuổi thời gian ra rễ là 80 ngày, trong lúc đó hom chồi bất định ở cây 8 tuổi là 120 ngày Để giải thích tỷ lệ ra rễ thấp của hom giâm

Trang 16

ở cây có tuổi cao thì Liubin ski (1957) cho rằng: ở cây nhiều tỷ lệ đường tổng

số trên đạm tổng số ở thân cây quyết định Nói cách khác là do hàm lượng đạm ở thân cây giảm xuống, song có người cho rằng, sở dĩ cây có tuổi cao ra

rễ kém là do tính mềm dẻo của cây bị giảm đi [9]

Tuổi cành (hay trạng thái sinh lý của cành) cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra

rễ của hom, hom ở giai đoạn nửa hóa gỗ thích hợp cho việc ra rễ Hom quá non khi đặt vào môi trường giâm hom dễ bị thối rữa, ngược lại hom quá già khó ra rễ

+ Vị trí lấy hom trên cây và trên cành

- Hom lấy từ cành ở các vị trí khác nhau, trên tán cây cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau, với Vân sam lá nhọn (Picea) hom từ phần trên của tán lá ra rễ tốt nhất, nhưng với vân sam châu âu(P.excelga) thì ngược lại, Phong trắng (Populus) khi hom hóa gỗ yếu tốt nhất là cắt hom ở phần dưới tán, khi hom nữa hóa gỗ cắt hom ở phần giữa Như vậy với mỗi loài cây vị trí lấy hom khác nhau có tỷ lệ ra rễ khác nhau

- Trên một cành hom được lấy ở các vị trí khác nhau cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau, với Bạch đàn một cành được chia làm 4 phần: Ngọn, sát ngọn, giữa và sát gốc Qua 2 lần thí nghiệm cho kết quả như sau: Hom ngọn có tỷ lệ

ra rễ 54,6 - 61,6%, hom sát ngọn 71,6- 90,8% Với Keo lai lá tràm và Keo Tai tượng hom ngọn và hom sát ngọn cho tỷ lệ ra rễ cao hơn 93,3 -100% so với hom giữa và hom sát gốc 66,7 - 97,6% [6]

Nếu tính từ đầu cành trở vào, hom mở ở vị trí thứ 2 có tỷ lệ ra rễ gấp 5 lần so với hom lấy ở đầu cành

Thường hom chồi ở phần gần gốc của một cây dễ ra rễ hơn ở phần ngọn Theo Hartney (1980) có thể do 2 lý do:

- Gốc của cây con là nơi tích tụ các chất cần cho ra rễ

- Tồn tại 1 sự chênh lệch về các chất kích thích và ức chế sự ra rễ ở các phần khác nhau của cây

Trang 17

- Theo thuyết phát triển giai đoạn thì gốc là phần non nhất của một cây

vì vậy lấy hom ở phần này cho tỷ lệ ra rễ cao nhất

+ Sự tồn tại của lá trên hom

Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình ra rễ của hom Lá là cơ quan hấp thu ánh sáng trong quang hợp để tạo ra chất hữu cơ cần thiết cho cây dữ trữ chất dinh dưỡng, đồng thời là cơ quan thoát hơi nước

và hút nước để khuếch tán tác dụng chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của hom Vì vậy, nhất thiết giâm hom phải để lại một số lá, nhưng nếu để lại diện tích lá quá lớn sẽ hạn chế số lượng hom trên 1 đơn vị diện tích mà quan trọng

là làm cho quá trình thoát hơn nước diễn ra mạnh làm cho hom bị héo và chết trước khi ra rễ hoặc diện tích quá nhỏ làm cho hom không ra rễ Do vậy việc tìm ra diện tích lá vừa đủ là việc làm cần thiết

Như vậy, tuổi gốc cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom Với loại Bạch đàn, Keo ở Việt nam thường chặt cây lấy hom ở dưới tuổi 10, Thông (P.caribe) có thể chặt cây lấy chồi ở dưới tuổi 12

Kết quả thu được với cây Mỡ cho thấy: Hom chồi gốc ở các cây 17-23 tuổi cho tỷ lệ ra rễ từ 75-80% Điều này cho phép sử dụng chồi ở các cây trội

để nhân giống phục vụ công tác trồng rừng

- Các chất điều hòa sinh trưởng

Auxin được coi là chất quan trọng nhất đối với quá trình ra rễ của hom Ngoài ra, nhiều chất khác tác động cùng Auxin và thay đổi hoạt tính của Auxin, cũng tồn tại 1 cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động

Trang 18

đến quá trình ra rễ của hom giâm Những chất quan trọng nhất là Zhizocalin, đồng nhân tố ra rễ, kích thích ra rễ và chất kìm hãm ra rễ

Chất đặc biệt Zhizocalin được coi là cần thiết cho sự hình thành rễ của cây Nhiều công trình nghiên cứu đã nêu lên sự tồn tại của chất kích thích ra

rễ trong các loài cây dễ ra rễ như Sesquite peniclacton được chiết tách từ Hướng dương là chất kích thích ra rễ cho Đậu xanh Một số tác giả còn nêu lên sự tồn tại của chất kìm hãm ra rễ như: Xanthoxin, Axít abscosis (ABA) được chiết tách từ hom khó ra rễ Các chất kích thích và kìm hãm ra rễ của hom giâm được xác định bằng nồng độ tương đối của các chất này Các loài cây dễ ra rễ chứa các chất kích thích ra rễ với nồng độ thấp, còn các loài cây khó ra rễ chứa các chất kìm hãm ra rễ với nồng độ cao

*Nhóm nhân tố môi trường

Nhóm nhân tố môi trường có tác dụng tổng hợp ảnh hưởng tới quá trình giâm hom là: Thời vụ, mùa giâm cành, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, giá thể và môi trường ra rễ

+ Thời vụ giâm hom: Tỷ lệ ra rễ của hom phụ thuộc vào trạng thái sinh

lý trong thời kỳ lấy hom, vì vậy việc xác định thời kỳ lấy hom rất có ý nghĩa đối với việc giâm hom Tỷ lệ ra rễ của hom rất có ý nghĩa đối với việc giâm hom Tỷ lệ ra rễ của hom phụ thuộc vào thời kỳ lấy hom và thời vụ giâm hom, một số loài cây có thể giâm hom quanh năm, song ở nhiều loài cây có tính thời vụ rõ rệt

Thời vụ giâm hom đạt kết quả tốt hay xấu thường gắn liền với thời tiết, khí hậu, mùa sinh trưởng của cây, trạng thái sinh lý của cành Thời vụ giâm hom có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự thành bại của nhân giống bằng hom

Đối với loài cây rụng lá, gỗ cứng thường lấy cành giâm lúc cây bắt đầu bước vào thời kỳ ngủ nghỉ, còn với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá thì thời kỳ lấy hom là mùa sinh trưởng

Trang 19

- Những thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thấy rằng: Keo lá tràm và Keo tai tượng 1 năm tuổi giâm trong tháng 7có tỷ lệ ra rễ cao > 90%

Với Phi lao (C.equi seaifolia) tỷ lệ ra rễ ở các tháng như sau [1]

Bảng 2.1: Thời gian và tỷ lệ ra rễ của hom Phi lao

Thời gian Thời gian ra rễ

Thời gian giâm hom

+ Nhiệt độ không khí và giá thể hom:

Nhiệt độ không khí là 1 yếu tố quyết định đến tốc độ hình thành rễ của hom Nhìn chung nhiệt độ thích hợp cho nhiều loài cây từ 25-30oC, ở nhiệt

độ < 25o

C cần sưởi nóng giá thể như các nhà làm vườn ở Châu âu vẫn thực hiện Nhưng nếu nhiệt độ quá cao làm cho quá trình thoát hơi nước ở lá diễn

Trang 20

ra mạnh dẫn đến mất nước và héo Nhiệt độ không khí vừa phải sẽ làm cho sự hô hấp của hom giảm tiêu hao dinh dưỡng, sự thoát hơi nước qua

lá và hom giâm đều giảm Đây là điều kiện vô cùng quan trọng trước khi hom giâm ra rễ

Các loài cây nhiệt đới thường yêu cầu nhiệt độ cao hơn các loài cây ôn đới, nhiệt độ khoảng 26-30o

C là thích hợp

Nhiệt độ thích hợp cho ra rễ còn phụ thuộc vào mức độ hóa gỗ của hom, mức độ hóa gỗ của hom yếu ra rễ tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ giảm thấp (20-22oC) so với nhiệt độ (27-30oC)

Độ ẩm không khí và giá thể:

- Độ ẩm không khí và giá thể là 1 yếu tố không thể thiếu được cho hom

ra rễ Trong quá trình giâm hom, độ ẩm giữ cho hom không bị khô héo và cung cấp nước cho hom quang hợp Duy trì độ ẩm giá thể là việc làm cần thiết đảm bảo cho hom ra rễ Tuy nhiên yêu cầu về độ ẩm không khí và giá thể từng loài cây và từng giai đoạn là không giống nhau Khi nhiệt độ không khí cao và cường độ ánh sáng lớn thì hom yêu cầu độ ẩm cao hơn Lúc hom chuẩn bị ra rễ yêu cầu độ ẩm cao hơn sau khi đã ra rễ Vì vậy khi gặp thời nắng nóng cần phải tăng cường cung cấp nước cho cây nhiều hơn, hom chưa

ra rễ cần cung cấp ẩm nhiều nhiều hơn lúc hom đã ra rễ Cây lá rộng yêu cầu

độ ẩm lớn hơn cây lá kim, hom có diện tích lá lớn yêu cầu độ ẩm cao hơn hom có diện tích lá nhỏ Tốt nhất duy trì độ ẩm không khí bằng cách tạo 1 lớp sương mù trong nhà kính hoặc nhà giâm hom, phun mù vừa làm tăng độ ẩm vừa làm giảm nhiệt độ không khí, giảm tốc độ thoát hơi nước của lá Trong mùa lạnh thời gian phun và thời gian ngắt quảng cũng ngắn Nếu độ ẩm giá thể quá thấp làm cho hom khô, héo lá trước khi ra rễ, song độ ẩm giá thể quá cao sẽ làm cho phần hom cắm trong giá thể sẽ bị thối rữa nhất là đối với các hom còn non Vì vậy để duy trì độ ẩm giá thể thích hợp cho hom ra rễ cần chọn vật liệu làm giá thể có độ ẩm thông thoáng tốt, thoát nước song vẫn giữ được độ ẩm cần thiết cho hom ra rễ

Trang 21

+ Ánh sáng là nhân tố cần thiết cho quang hợp: Vì vậy cùng với nhiệt

độ và độ ẩm, áng sáng là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình giâm hom, áng sáng tán xạ cần thiết cho hom ánh sáng thích hợp khoảng 40-50 ánh sáng toàn phần, ánh sáng đầy đủ, thời gian ra rễ ngắn hơn và tỷ lệ ra rễ cũng cao hơn Tuy nhiên, các loài khác nhau yêu cầu ánh sáng khác nhau Cây ưa sáng yêu cầu ánh sáng nhiều hơn cây chịu bóng Trong bóng tối, hom của các loài cây ưa sáng hoàn toàn không ra rễ Yêu cầu ánh sáng còn phụ thuộc vào mức độ hóa gỗ và chất dữ trữ trong hom, hom hóa gỗ yếu chất

dữ trữ ít, cường độ ánh sáng tán xạ cao hơn so với hom hóa gỗ hoàn toàn ánh sáng là yếu tố cần thiết cho hom ra rễ, điều đó lý giải tại sao các nhà kính được sử dụng giâm hom hoặc các nhà giâm hom tạm thời thường được lợp bằng màng polyety len trắng trong suốt mà không dùng vật liệu khác

+ Giá thể giâm hom và môi trường ra rễ

Giá thể giâm hom và môi trường ra rễ cũng góp phần vào thành công của giâm hom Từ khi bắt đầu giâm hom đến khi ra rễ cành sống được là nhờ chất dinh dưỡng dữ trữ trong hom giâm, và được thỏa mạn yêu cầu về nhiệt

độ, độ ẩm và ánh sáng thích hợp Do vậy, nếu đất giâm hom không nhất thiết phải là nguồn cung cấp dinh dưỡng hoàn chỉnh nhất mà chỉ cần đạt được đầy

đủ yêu cầu về độ ẩm, oxi, độ thông thoáng, không bị úng nước, không chứa sâu bệnh hại Để chống nấm bệnh hom thường được xử lý bằng các chất diệt nấm như Benlat, Seraslix … trước khi xử lý thuốc kích thích ra rễ

Trong kỹ thuật giâm cành trên thế giới người ta sử dụng nhiều nền giâm hom khác nhau tùy thuộc vào điều kiện giâm, điều kiện khí hậu từng nước, thời vụ giâm và giống đem giâm, loại cành

Những nền giâm (giá thể) hiện nay là sử dụng cát thô, than bùn, sơ dừa, đất, các chất vô cơ như Vani calete (hợp chất chứa Mica) peclite (đá trân châu) dung nhan phun thạch núi lửa … Nếu chỉ giâm để cây hom ra rễ mới

Trang 22

giâm vào bầu thì giá thể thường là cát thô, còn khi giâm hom trực tiếp vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, sơ dừa băm nhỏ đặt ở vườn ươm

Những nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể giâm hom Bạch đàn trắng trong các ruột bầu khác nhau, tại Đông Nam bộ của Lê Đình Khả, Trần Cự, Đoàn Thị Bích cho thấy:

- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 74,1%

- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 72,1%

- Nếu ruột bầu là 50% sơ dừa + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 69,3%

- Nếu ruột bầu là 100% cát vàng thì tỷ lệ ra rễ của hom là 67,3%

- Nếu ruột bầu là 100% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 48,3%

- Nếu ruột bầu là than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 62,5% [2]

Như vậy trong cùng 1 loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thể khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau

* Ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ

+ Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất, các Auxin được chia làm 2 nhóm là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp

- Auxin tự nhiên được biết đến như: Axit Indol axete (IAA)

- Các Auxin tổng hợp như là: Axit indol butylic (IBA), Axit indol propionicv (IPA) và Axit napthalen axetic (NAA), các chất được dùng chủ yếu hiện nay là thích ứng với 1 loại chất kích thích, nồng độ chất kích thích, thời gian xử lý thuốc và phương pháp xử lý hom cũng khác nhau

+ Loại thuốc kích thích ra rễ khác nhau, có tác dụng khác nhau đến sự

ra rễ của hom Hom cây Mỡ 1 tuổi xử lý bằng IAA, IBB, NAA nồng độ 50 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ tương ứng là: 74,1%; 93,8%; 53,3%

Trang 23

- Cùng 1 loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ ra rễ của hom, nồng độ xử lý quá thấp không có tác dụng phân hóa tế bào để hình thành rễ, nồng độ quá cao làm cho hom thối rữa trước khi ra rễ Hom Bạch đàn trắng (E.Cameldunensis) 4 tháng tuổi xử lý bằng IAA nồng độ

25 ppm; 50 ppm; 75 ppm; 100 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 64,5%; 71,4%; 77,4% và 45,1% Như vậy khi nồng độ tăng tỷ lệ ra rễ tăng, nhưng khi nồng độ tăng quá cao (100 ppm) tỷ lệ ra rễ lại giảm xuống Hom cây Mỡ 1 năm tuổi xử lý bằng IAA nồng độ 25 ppm tỷ lệ ra rễ giảm xuống còn 50%

+ Thời gian xử lý thuốc: Cùng loài thuốc, cùng nồng độ nhưng thời gian xử lý khác nhau cũng cho kết quả khác nhau

- Hom bạch đàn trắng xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm trong thời gian 1; 3; 5; 8 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 83,6%; 93,7%; 62,5%; 53,1%

- Với hom Mỡ xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm với thời gian 3; 5; 8;

16 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là: 74%; 81,3%; 73% và 55,7% (3)

Khi xử lý hom bằng thuốc kích thích ra rễ cần biết rằng nồng độ và nhiệt độ không khí có mối quan hệ qua lại với nhau Nếu nhiệt độ không khí cao cần sử dụng nồng độ thấp và thời gian ngắn; còn nhiệt độ không khí thấp

xử lý với nồng độ cao và thời gian dài

Tóm lại, trong quá trình thực hiện giâm hom thì cần phải thực hiện đầy

đủ và đồng bộ các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ đến lấy hom giâm, chọn giá thể, thao tác kỹ thuật khi giâm hom, chăm sóc hom giâm thích hợp cho mỗi vùng (điều kiện ngoại cảnh) thì mới đạt được tỷ lệ ra rễ như mong muốn

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới

Trong Lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được

sử dụng trên 100 năm nay Ngay từ 1840, Marrier de Boisdyver (người Pháp)

Trang 24

đã ghép 10.000 cây Thông Đen Năm 1883, Velinski A.H công bố công trình nhân giống một số loài cây lá kim và cây lá rộng thường xanh bằng hom.Ở Pháp năm 1969, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới bắt đầu chương trình nhân giống cho Bạch đàn, năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng cây hom, đến

1986 có khoảng 24.000ha rừng trồng bằng cây hom, các rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35m3/ha/năm [12]

Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada (gọi tắt là ACFTSC), những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất cây hom được tiến hành ở các nước Đông Nam Á

Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada đã có những nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với các hệ thống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi nhánh vườn ươm của Trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các loài cây họ Dầu, với 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổi có thể sản xuất 200.000 cây hom, đủ trồng

455 đến 500 ha rừng [13]

Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu từ những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia, ở trường Đại học Tổng hợp Pertanian,Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã báo cáo các công trình có giá trị

về nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu Tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ của các cây họ Dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi các phương tiện nhân giống như: các biện pháp vệ sinh tốt hơn, che bóng hiệu quả hơn, phun xương mù, kỹ thuật trẻ hóa cây mẹ, thì tỷ lệ ra rễ được cải thiện (ví dụ: Hopea odorata có tỷ lệ ra rễ là

86%, Shorea Leprosula 71%, Shorea Parvifolia 70% ).[13]

Ở Indonesia, các nghiên cứu giâm hom cây họ Dầu được tiến hành tại trạm nghiên cứu cây họ Dầu Wanariset đã áp dụng phương pháp nhân giống mới “Tắm bong bóng” [11], sử dụng phương pháp này thu được tỷ lệ ra rễ 90-

100% với các loài Shorea Leprosula

Trang 25

2.3 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Đi đôi với việc áp dụng những thành tựu trong nghiên cứu nhân giống cây rừng bằng phương pháp giâm hom, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã

tự mày mò tìm ra những quy trình phương pháp riêng cho việc giâm hom một

số loài cây rừng, trong đó có một số loài cây đặc hữu của Việt Nam

Lần đầu tiên vào năm 1976 những thực nghiệm nhân giống bằng hom đối với một số loài như: Thông, Bạch Đàn…được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu nguyên liệu giấy sợi Phù Ninh - Phú Thọ Đây là một nghiên cứu

sơ khai nhưng đã mở đầu cho hàng loạt các nghiên cứu thực nghiệm sau này tại Việt Nam [12]

Những năm 1983- 1984 các thực nghiệm nhân giống bằng hom được tiến hành tại viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam,đối tượng nghiên cứu là

Mỡ, Lát Hoa, Bạch Đàn Nội dung nghiên cứu tập trung vào đặc điểm giải phẫu của hom, ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ của môi trường và xử lý hom bằng các chất kích thích

Từ những năm 1990 trở lại đây thì Lê Đình Khả cùng Phạm Văn Tuấn

và Nguyễn Hoàng Nghĩa đã tiến hành nghiên cứu giâm hom các loại Bạch Đàn (1990 - 1991), Sở (ở Lạng Sơn năm 1990), Keo Lá Tràm (1995), Bách Xanh (1999), Pơ Mu (1997), Thông Đỏ (ở Ba Vì 1995)

Trung tâm nghiên cứu nhân giống cây rừng viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam sau một thời gian nghiên cứu đã thực hiện thành công việc sản xuất cây hom Bạch Đàn Trắng và cây Keo Lai theo kế hoạch của Bộ Nông Nghiệp

và phát triển nông thôn phê duyệt trong 3 năm 1996- 1998 Tính đến năm

1997 trung tâm đã sản xuất được 120.000 cây hom và đã có 60 ha rừng trồng

từ cây giống bằng hom [8]

Cho đến nay thì phương pháp nhân giống bằng hom đã và đang được sử dụng rộng rãi trong công tác chọn tạo giống cây rừng

Trang 26

2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.4.1 Vị trí địa lý địa hình

Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc -Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng Nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phía Tây Căn cứ vào bản đồ Thành phố Thái Nguyên thì xác định được vị trí như sau:

Phía Bắc giáp với phường Quan Triều

Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán

Phía Tây giáp xã Phúc Hà

Phía Đông giáp khu dân cư và khu kí túc xá thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Đất đai: Thí nghiệm thực hiện tai trung tâm nghiên cứu Lâm Nghiệp phía bắc của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

2.4.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Do vườn ươm Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ đặc điểm thời tiết, khí hậu của thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt mùa nóng ẩm và mùa khô lạnh

-Lượng mưa trung bình năm: 1500 - 2000mm

Nhiệt độ trung bình năm: 24 - 25°C

Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất: 29°C

Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất: 16°C

Độ ẩm trung bình: 80 - 85%

2.5 Những thông tin về cây Tùng La Hán

Tùng La Hán có tên khoa học là Podocarpus Macrophyllus, là một loài

cây gỗ thuộc họ Thông tre (Podocarpaceae) có nguồn gốc từ Nhật Bản và Trung Quốc Tuy nhiên cây Tùng la hán được sử dụng làm cây cảnh là chủ yếu ở Việt Nam.[5]

Trang 27

- Mô tả nhận dạng

Cây thân gỗ xanh quanh năm,là cây đơn tính Vào tháng 5, cây đực nở hoa hình cọc có sợi màu trắng đục Hoa của cây cái có đài to, bên dưới có bốn cái vẩy dạng tuyến Lá cây hình kim mọc cách dạng ốc xoắn, bề mặt màu xanh đậm, mặt lưng nhạt hơn Quả chia làm hai phần, phần trên là hạt giống, hình cầu tròn màu xanh Phần dưới có màu tím nhạt Khi chín quả mỏng có dạng hình trụ, biến thành màu đen

Trong điều kiện tự nhiên có chiều cao trung bình 10-15 m, đường kính thân 20-30 cm; cành non dày đặc, mọc vòng; vỏ mỏng, màu vàng xám, nhẵn, bong thành từng sợi, vỏ trong màu nâu tối Lá mọc gần đối, dày dần ở đầu cành, hình bầu dục dài dạng lưỡi mác, dài 1,3-3,5 cm, rộng 0,3-0,5 cm, đầu

có mũi tù, đáy hình nêm, mép phiến hơi uốn xuống phía mặt dưới, mặt trên màu lục, mặt dưới màu lục nhạt, gân chính nổi lên cả 2 mặt, cuống ngắn Thường thì lá non có màu xanh lá mạ, nhưng nhiều cây ở vùng Tây Bắc lá non có màu đỏ

- Sinh học và sinh thái

Cây ưa đất hơi ẩm, chịu được khô Cây chịu râm, sợ lạnh, thích lọai đất cát ấm áp, ẩm ướt nhưng thóat nước tốt, sức chống ô nhiễm mạnh

- Giá trị

Trong văn hóa người Việt, Tùng La Hán là 1 trong 4 loài cây phong thủy Trong kiến trúc hiện đại ở Việt Nam cũng như Đông Nam Á, thì Tùng La Hán được sử dụng nhiều trong cảnh quan làm cây cảnh, có thể xén cắt hình khối dễ dàng (tròn đều, vuông góc)

Trang 28

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu là

Đề tài dùng hom ngọn cây Tùng la hán ở trạng thái bánh tẻ

* Phạm vi nghiên cứu

Thử nghiệm cho loại thuốc IBA, ở một số nồng độ: 100ppm; 500ppm; 1000ppm; 1500ppm và công thức không dùng thuốc

3.2 Địa điểm, thời gian thực hiện đề tài

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại vườn ươm khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3.3.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 15 tháng 5 năm 2016

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần giải quyết các nội dung sau:

- Theo dõi tỉ lệ hom sống theo định kì 30, 60, 90 ngày (cuối đợt thí nghiệm) ở các công thức thí nghiệm

- Nghiên cứu khả năng ra rễ của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm

- Nghiên cứu khả năng ra chồi của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm

- Xác định nồng độ thuốc IBA có ảnh hưởng tốt nhất đến sự hình thành

rễ và chồi của hom cây Tùng la hán

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Những tài liệu có sẵn về địa điểm nghiên cứu (điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu…), một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu (đặc điểm sinh vật học, sinh thái học…)

Trang 29

- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm Thí nghiệm được tiến hành với 5 công thức mỗi công thức được lặp lại 3 lần

Công thức I: Nồng độ IBA là 100 ppm

Công thức II: Nồng độ IBA là 500 ppm

Công thức III: Nồng độ IBA là 1000 pmm

Công thức IV: Nồng độ IBA là 1500 ppm

Công thức V: Công thức đối chứng không dùng thuốc

Mỗi lần lặp là 30 hom, như vậy mỗi công thức có 3 lần lặp là 90 hom Thí nghiệm tiến hành với 5 công thức có tổng số là 450 hom

Thí nghiệm được bố trí như sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho các công thức giâm hom Tùng La Hán với 3 lần nhắc lại khi du ̀ng thuốc kích thích sinh trưởng IBA

3.4.2 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin

- Vật tư dùng cho thí nghiệm gồm: kéo cắt cành, dao cắt cành, hom, chậu nhựa, thuốc chống nấm, thuốc kích thích, bình phun sương

- Thuốc tím (KMnO4) dùng để xử lí giá thể với nồng độ 0,3%, phun trực tiếp vào bầu cấy cây hom

- Viben C50 nồng độ 0.3% (3g/1 lít nước) để xử lí hom giâm ngay khi cắt hom xong và chống thoát hơi nước bằng cách ngâm vào chậu dung dịch

Trang 30

khung che được làm bằng tre hình vòm Trên có mái che bằng lưới màu đen nhằm giảm bức xạ của mặt trời Xung quanh được phát dọn sạch cỏ dại nhằm hạn chế sâu bệnh hại Xử lí giá thể bằng cách dùng thuốc tím nồng độ 0.3% (3g/lít nước)

- Chuẩn bị thuốc kích thích ra rễ

Chất kích thích ra rễ IBA ở các nồng độ: 100ppm, 500ppm, 1000ppm, 1500ppm

Pha theo nguyên tắc loãng dần bằng cách pha dung dịch mẹ trước rồi từ dung dịch mẹ lấy ra một lượng cần thiết cho mỗi nồng độ khác nhau và lên thể tích cho đủ

- Chuẩn bị hom giâm

Cành hom được cắt vào buổi sáng sớm và được ngâm ngay vào nước sạch để bảo quản tránh mất nước Cành hom cắt về không để quá một ngày trước khi tiến hành giâm

Kích thước hom từ 4 - 5cm Hom giâm ở thời kì bánh tẻ, không quá non không quá già Gốc hom được cắt vát 45°C bằng dao thật sắc để tạo bề mặt tiếp xúc lớn với thuốc khi ta chấm thuốc kích thích, ngoài ra còn tạo mô sẹo lớn để có số rễ tối đa Hom cắt được ngâm trong dung dịch Viben C50 nồng độ 0,3% để chống nấm với thời gian là 30phút Sau đó vớt ra để ráo nước, chấm gốc vào thuốc kích thích ở các nồng độ thuốc khác nhau (100ppm, 500ppm, 1000ppm, 1500ppm) rồi cắm ngay vào bầu đã được chuẩn bị sẵn, độ sâu cắm hom là 1,5 - 2cm

3.4.2.2 Chăm sóc và thu thập số liệu

- Chăm sóc

Để đảm bảo độ ẩm không khí và giá thể giúp cho hom ra rễ, khi cấy cây xong phải tiến hành tưới nước ngay cho hom giâm dưới dạng phun sương

mù sauđó đậy vòm nilon (màu trắng) phủ kín đảm bảo độ ẩm cho hom Sau

đó làm khung phía trên được phủ bằng nilon màu đen để đảm bảo ánh sáng

Ngày đăng: 29/05/2017, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Trần Cự (1997), “Nghiên cứu tạo chồi môi trường và giá thể giâm hom Bạch đàn trắng. Kết quả nghiên cứu chọn giống cây rừng”. Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tạo chồi môi trường và giá thể giâm hom Bạch đàn trắng. Kết quả nghiên cứu chọn giống cây rừng
Tác giả: Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Trần Cự
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
1. Dương Mộng Hùng (1992). Nhân giống phi Lao bằng hom cành. Đại học Lâm nghiệp, Tạp chí Lâm nghiệp số 11 trang 12-13 Khác
3. Lê Đình Khả Phạm Văn Tuấn (1996), Nhân giống cây Mỡ bằng hom, Tạp chí Lâm Nghiệp số 10 Khác
4. Lê Đình Khả- Dương Mộng Hùng, (1998). Giáo trình cải thiện giống cây rừng, Đại học Lâm nghiệp Khác
6. Lê Đình Khả (1993), Nhân giống Keo lá Tràm, Keo Tai tượng, Tạp chí Lâm Nghiệp số 5 Khác
7. Ngô Kim Khôi (1998) Thống kê toán học trong Lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Khác
8. Trung tâm Giống cây rừng (1998), Tài liệu tập huấn kỹ thuật nhân giống Keo lai bằng hom Khác
9. Phạm Văn Tuấn (1992), Sản xuất cây giống bằng phương pháp Mô hom ý nghĩa và ứng dụng. Thông tin chuyên đề số 11, trang 17 Khác
10. Phạm Văn Tuấn (1996), Một số nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom, Bản tin hội khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam, số 4trang 8-11 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mẫu bảng 3.1: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích phương sai mô ̣t - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
u bảng 3.1: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích phương sai mô ̣t (Trang 33)
Mẫu bảng 3.2: Bảng phân ti ́ch phương sai 1 nhân tố ANOVA - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
u bảng 3.2: Bảng phân ti ́ch phương sai 1 nhân tố ANOVA (Trang 36)
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí  nghiệm ở định kỳ theo dõi khi du ̀ng thuốc kích thích sinh trưởng IBA - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.1 Tỷ lệ sống của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí nghiệm ở định kỳ theo dõi khi du ̀ng thuốc kích thích sinh trưởng IBA (Trang 37)
Hình 4.2. Tỉ lệ rễ  (%) của hom cây Tùng La Hán các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.2. Tỉ lệ rễ (%) của hom cây Tùng La Hán các công thức thí nghiệm (Trang 39)
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng La Hán ở các công thức - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.2 Các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng La Hán ở các công thức (Trang 39)
Hình 4.3. Số rễ trung bình/hom(cái) của các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.3. Số rễ trung bình/hom(cái) của các công thức thí nghiệm (Trang 40)
Hình 4.5: Chỉ số ra rễ của các công thức thí nghiệm giâm hom cây Tùng La - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.5 Chỉ số ra rễ của các công thức thí nghiệm giâm hom cây Tùng La (Trang 43)
Bảng 4.3. Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của hom cây Tùng La - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.3. Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của hom cây Tùng La (Trang 44)
Bảng 4.4. Bảng phân tích phương sai một nhân tố về chỉ số ra rễ của hom - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.4. Bảng phân tích phương sai một nhân tố về chỉ số ra rễ của hom (Trang 46)
Bảng 4.6: Tỷ lệ ra chồi của cây hom Tùng La Hán ở các công thức thí - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.6 Tỷ lệ ra chồi của cây hom Tùng La Hán ở các công thức thí (Trang 47)
Hình 4.6.Tỉ lệ chồi của các công thức thí nghiệm giâm hom - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.6. Tỉ lệ chồi của các công thức thí nghiệm giâm hom (Trang 48)
Hình 4.8. Chiều dài chồi  trung bình/hom của các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.8. Chiều dài chồi trung bình/hom của các công thức thí nghiệm (Trang 50)
Hình 4.9. Chỉ số ra chồi của các công thức thí nghiệm giâm hom cây Tùng - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.9. Chỉ số ra chồi của các công thức thí nghiệm giâm hom cây Tùng (Trang 51)
Bảng 4.7: Bảng tổng hợp kết hợp kết quả về chỉ số ra chồi của cây hom - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.7 Bảng tổng hợp kết hợp kết quả về chỉ số ra chồi của cây hom (Trang 52)
Bảng 4.8. Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chỉ số ra chồi của cây - Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hình thành cây homtùng la hán tại đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.8. Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chỉ số ra chồi của cây (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w