1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương

105 255 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy thực tế hiện nay, thực trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại Thị xã Dĩ an như thế nào, những nguyên nhân nào dẫn đến hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao th

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ BÍCH

HÀNH VI THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ (Nghiên cứu tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ BÍCH

HÀNH VI THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ (Nghiên cứu tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương)

Chuyên ngành: Xã Hội Học

Mã số: 60310301

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Học viện Khoa học Xã hội, đặc biệt là những người thầy cô đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại học viện

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin cảm ơn Ủy ban nhân dân Thị xã Dĩ An, Ban an toàn giao thông thị xã

Dĩ An và Đội cảnh sát giao thông công an thị xã đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận các số liệu, văn bản báo cáo để phục vụ điều tra khảo sát và sử dụng dữ liệu để viết luận văn

Nhân đây, tôi xin cảm ơn lãnh đạo Đài truyền thanh thị xã Dĩ An (nơi tôi đang công tác) và gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người đã hết lòng giúp đỡ

và động viên tôi suốt thời gian qua, để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Mặc dù tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn bằng cả sự nhiệt tình và năng lực Tuy nhiên không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô

Xin chân thành cảm ơn

Học viên thực hiện

Võ Thị Bích

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh Mọi trích dẫn từ các tài liệu đều được ghi xuất

xứ rõ ràng: các sự kiện, tư liệu trong luận văn này là trung thực Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả luận văn

Võ Thị Bích

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU HÀNH VI THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 12

1.1 Các khái niệm làm việc 12

1.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 15

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 18

Chương 2 THỰC TRẠNG HÀNH VI THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ TẠI THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 21

2.1 Đặc điểm của nhóm nhập cư tại địa bàn thị xã Dĩ An 21

2.2 Thực trạng tình hình TNGT trên địa bàn thị xã Dĩ An 27

2.3 Nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT gây hậu quả nghiêm trọng 29

2.4 Nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT gây hậu quả ít nghiêm trọng 34

Chương 3 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HÀNH VI VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ TẠI THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 41

3.1 Nguyên nhân từ phía người tham gia giao thông 41

3.2 Nguyên nhân từ phía địa phương nơi người nhập cư sinh sống 60

3.3 Khuyến nghị các giải pháp để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông trong đối tượng người nhập cư tại thị xã Dĩ An 68

KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

12 UB ATGT quốc gia Ủy ban an toàn giao thông quốc gia

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Mức độ hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng 29

Bảng 2.2: Mức độ vi phạm hành vi “Điều khiển xe máy khi bị say rượu“ theo tình trạng hôn nhân 34

Bảng 2.3: Mức độ hành vi vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng 35

Bảng 2.4: Mức độ vi phạm hành vi “Chở theo 02 người trên xe” theo tình trạng hôn nhân 35

Bảng 2.5: Tình huống cần tham gia giao thông không có mũ bảo hiểm theo trình độ học vấn 37

Bảng 2.6: Mức độ vi phạm hành vi “Sử dụng dù, điện thoại di động khi lái xe” theo tình trạng hôn nhân 38

Bảng 3.7: Các nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm trên lĩnh vực giao thông đường bộ từ người tham gia giao thông 42

Bảng 3.8: Nhận biết các Biển báo giao thông 43

Bảng 3.9: Nhận định về thói quen làm ảnh hưởng đến hành vi tham gia giao thông theo tình trạng hôn nhân 51

Bảng 3.10: Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm giao thông do “chưa quen đường” theo tình trạng hộ khẩu Anova 52

Bảng 3.11: Nguyên nhân vi phạm giao thông do nhiều người cùng vi phạm theo trình độ học vấn 55

Bảng 3.12: Thái độ vi phạm luật giao thông theo tình trạng hôn nhân 57

Bảng 3.13: Thái độ vi phạm Luật giao thông theo tình trạng hộ khẩu 58

Bảng 3.14: Thái độ vi phạm luật giao thông theo tình trạng quê quán 59

Bảng 3.15: Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ của người nhập cư từ phía địa phương nơi họ sinh sống 61

Bảng 3.16: Nhận định về hệ thống hạ tầng giao thông theo giới tính 63

Bảng 3.17: Nguyên nhân “Luật chưa nghiêm” theo trình độ học vấn 65

Bảng 3.18: Ý kiến Người nhập cư tăng là nguyên nhân gia tăng số vụ TNGT theo tình trạng hôn nhân 68

Bảng 3.19: Ý kiến người trả lời về các tính khả thi của các biện pháp tuyên truyền giao thông tại thị xã Dĩ An 69

Bảng 3.20: Tham gia tuyên truyền Luật giao thông đường bộ tại nơi ở và nơi làm việc theo tình trạng hộ khẩu 71

Bảng 3.21: Đề xuất giải pháp hạn chế hành vi vi phạm luật giao thông 72

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu đồ 2.1: Phân nhóm tuổi của người trả lời khảo sát 22

Biểu đồ 2.2: Thể hiện tỷ lệ giới tính của người trả lời 22

Biểu đồ 2.3: Thể hiện tỷ lệ tình trạng hôn nhân của người trả lời 23

Biểu đồ 2.4: Thể hiện tỷ lệ tình trạng học vấn của người trả lời 23

Biểu đồ 2.5: Thể hiện tỷ lệ tình trạng nhân hộ khẩu của người trả lời 24

Biểu đồ 2.6: Thể hiện tỷ lệ tình trạng quê quán của người trả lời 25

Biểu đồ 2.7: Thể hiện tỷ lệ tình trạng việc làm của người trả lời 26

Biểu đồ 2.8: Thể hiện tỷ lệ tình trạng khu vực làm việc của người trả lời 26

Biểu đồ 2.9: Tình huống khi đi ngược chiều sẽ giảm khoảng cách đoạn đường đi 31

Biểu đồ 2.10 : xử lý tình huống trong trường hợp say rượu và phải về nhà 33

2.4 Nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT gây hậu quả ít nghiêm trọng 34

Biểu đồ 2.11 : Tình huống cần tham gia giao thông khi không có mũ bảo hiểm 36

Biểu đồ 3.12: Ý thức chấp hành biển báo khi tham gia GT 44

Biểu đồ 3.13: Xử lý tình huống khi giao đường ưu tiên, không ưu tiên, đường nhánh, đường chính 45

Biểu đồ 3.14: Xử lý khi gặp vòng xuyến 46

Biểu đồ 3.15: Mức độ kéo đẩy xe khác, vật khác khi tham gia giao thông 46

Biểu đồ 3.16: Xử lý khi có xe sau xin vượt và đủ điều kiện an toàn 47

Biểu đồ 3.17: Nhận định về thói quen làm ảnh hưởng đến hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư 50

Biểu đồ 3.18: Thái độ của người khảo sát khi vi phạm luật giao thông 56

Biểu đồ 3.19: Thái độ khi nhiều người vi phạm giao thông 56

Biểu đồ 3.20: Nhận định về chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông tại thị xã Dĩ An 62

Biểu đồ 3.21: Nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ 66

Biểu đồ 3.22: Ý kiến về nhận định người nhập cư tăng là nguyên nhân gia tăng số vụ TNGT 67

Biểu đồ 3.23: Tham gia tuyên truyền Luật giao thông tại nơi ở và nơi làm việc 70

Biểu đồ 3.24: mô tả % trường hợp của bảng Đề xuất giải pháp hạn chế hành vi vi phạm luật giao thông 72

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Tai nạn giao thông đã và đang trở thành nỗi đau của nhiều gia đình và toàn xã hội Theo thống kê, nước ta trung bình mỗi ngày TNGT cướp đi sinh mạng của 24 người và làm khoảng 60 người lâm vào cảnh tàn phế suốt đời.” [18]

Truy cập từ khóa “Tai nạn giao thông” trên công cụ Google chỉ trong vòng 0,57 giây đã cho ra khoảng 700.000 kết quả với số liệu, hình ảnh, thông tin dày đặc

về số vụ TNGT nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, thảm khốc…

Theo báo cáo năm 2016 của Cục Cảnh sát giao thông về nguyên nhân các vụ TNGT đường bộ chủ yếu xuất phát từ các hành vi vi phạm trật tự ATGT dẫn đến

TNGT như: đi không đúng làn đường, phần đường quy định, chạy quá tốc độ, chuyển hướng không đúng quy định, sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông Mô

tô, xe máy là loại phương tiện chủ yếu trong các vụ tai nạn khi chiếm tới 66,7% Tỷ

lệ thương vong TNGT chủ yếu đều trong độ tuổi lao động [2]

Thị xã Dĩ An là vùng kinh tế trọng điểm ở phía Nam của Tỉnh Bình Dương, với 06 khu và 01 cụm công nghiệp cùng với việc đa dạng hóa lĩnh vực thương mại, dịch vụ Là địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh lại giáp ranh các khu đô thị lớn: Thành phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai), Thành phố Thủ Dầu Một (Tỉnh Bình Dương), thị xã Dĩ An có nhiều tuyến đường huyết mạch giao thương kinh tế thuận lợi… tạo sức hút lớn đối với lực lượng dân nhập cư trong độ tuổi lao động từ các tỉnh thành trong cả nước đến Dĩ An sinh sống và làm việc

Tính đến ngày 01/10/2015, dân số tại địa phương là 394.522 người, trong đó dân tạm trú là 247.345 người chiếm 62,69% [6] Phương tiện giao thông cá nhân cũng từ đó mà gia tăng, chỉ tính riêng số lượng phương tiện xe máy, mô tô bình quân hằng năm số đăng ký mới trên 10.000 đầu xe [7] Ngoài ra còn có lượng lớn phương tiện do người nhập cư từ nơi khác mang đến Dĩ An đi lại và hàng ngàn phương tiện vãng lai qua lại địa bàn mỗi ngày Tất yếu gây nên những áp lực đến hạ tầng giao thông đường bộ Đồng thời với sự đa dạng của các thành phần dân cư dẫn đến sự khác biệt trong hành vi ứng xử của những người tham gia giao thông

Trang 10

Trong những năm qua, thị xã đã triển khai nhiều chủ trương chính sách quy hoạch đầu tư hệ thống hạ tầng giao thông đô thị nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thị xã Dĩ an nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nảy sinh từ hoạt động giao thông: ùn tắc giao thông kéo dài, tình trạng vi phạm trên lĩnh vực giao thông đường bộ, TNGT ngày càng nhiều và nghiêm trọng Trong đó chiếm đến 70% trở lên số vụ TNGT tại thị xã Dĩ An là do người nhập cư gây ra [4]

Vậy thực tế hiện nay, thực trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại Thị xã Dĩ an như thế nào, những nguyên nhân nào dẫn đến hành

vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ của người nhập cư tại địa phương? Liệu rằng người dân nhập cư có phải là nhóm gây TNGT cao hay không, họ có thường vi phạm Luật giao thông đường bộ hay không? Vấn đề này vẫn chưa có số liệu bóc tách ra được, tuy nhiên một trong những điều cần quan tâm là sự hiểu biết các quy định pháp luật trên lĩnh vực giao thông đường bộ và nhận thức, thái độ cùng ý thức tự giác chấp hành pháp luật về trật tự ATGT của người nhập cư hiện nay như thế nào,… sẽ phần nào dự đoán được khả năng xảy ra TNGT Đó là lý do

tác giả tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “Hành vi tham gia giao thông đường

bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ an, tỉnh Bình Dương”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề hành vi tham gia giao thông đường bộ của người dân đã có nhiều tác giả nghiên cứu, mỗi hành vi gắn liền với nhận thức và thái độ ứng xử của người tham gia giao thông Và cũng đã có tác giả nghiên cứu về thực trạng và các nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ với khách thể là học sinh, sinh viên hoặc người dân ở một tỉnh hoặc thành phố, nhưng với khách thể nghiên cứu là người nhập cư đến giờ tác giả vẫn chưa tìm thấy ai đề cập đến Đây là vấn đề khó và mới; tác giả đã và đang kế thừa, vận dụng các công trình có mục tiêu nghiên cứu gần giống để tìm ra cái mới nhằm phục vụ cho luận văn của mình

Trang 11

2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài [12, tr.36-44]

Nghiên cứu của Gregersen và cộng sự (1996) chỉ rõ tuổi, giới tính, tình trạng thể chất, giáo dục, đào tào, trải nghiệm, lối sống, tình trạng cảm xúc, sự mệt mỏi, thời gian phản ứng, tầm nhìn, sự đề phòng và tốc độ lái xe cũng đóng vao trò quan trọng và cần thiết để thiết lập đến các liên hệ các nhân tố rủi ro đối với TNGT

Nghiên cứu của Hermann Nabi và cộng sự (2000) cũng cho thấy rằng, việc điều khiển xe quá tốc độ ở trên đường giao thông nông thôn, nghe điện thoại khi điều khiển và ngủ gật cũng là nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông

Nghiên cứu của Cheng-qiu Xie và cộng sự (2002) và nghiên cứu của Bener

và cộng sự (2005), các vụ tai nạn giao thông xảy ra thường liên quan đến đặc điểm của hành vi cá nhân Có 90% của tất cả các vụ tại nạn đều liên quan đến đặc điểm hành vi của người tham gia giao thông

Nghiên cứu của Roni Factor và cộng sự (2006): nghiên cứu sự ảnh hưởng của các đặc điểm văn hóa xã hội đến tai nạn xe hai bánh Nghiên cứu này phát triển

mô hình xã hội để giải thích sự va chạm giữa hai tài xế hay nhiều hơn Nhóm xã hội

có những đặc điểm văn hóa riêng biệt bao gồm thế giới quan và cách hành xử có ảnh hưởng đến những thành viên của nó Những đặc điểm văn hóa này có thể khiến người điều khiển phương tiện ở những nhóm khác nhau, diễn giải một tình huống được đặt ra với họ, một cách khác nhau Do đó, họ có thể có những quy định mâu thuẫn và dẫn đến TNGT

Nói về cảm xúc của người điều khiển phương tiện giao thông thì nghiên cứu của Vladimir Jevtic và cộng sự (2012) cũng đã chỉ rõ, người lái xe mô tô thường có nguy cơ xảy ra TNGT nhiều hơn so với người điều khiển xe ô tô Tác giả này lý giải rằng, người lái xe mô thường có cảm xúc như vui vẻ, phấn khích khi lái xe và điều này khiến cho người điều khiển xe mô tô dễ lái xe với tốc độ cao

Nghiên cứu Yannis và cộng sự (2014) về hành vi gây tai nạn giao thông của người điều khiển các phương tiện giao thông đã kết luận rằng, người điều khiển giao thông thường bị chi phối bởi việc nghe điện thoại hoặc nói chuyện trong lúc lái

xe thì sẽ bị phân tán tư tưởng và dễ xảy ra TNGT Ngoài ra, nhóm tác giả này còn

Trang 12

phân tích sự khác nhau về mức độ phân tán và thời gian xử lý tình huống khi tham gia trên các tuyến đường giao thông nông thôn, thành thị và đường cao tốc

Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra khá nhiều nguyên nhân, yếu tố tác động

đến hành vi của người tham gia giao thông đường bộ, từ các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân của người tham gia giao thông cho đến tâm trạng, cảm xúc, lối sống cũng như cơ chế kiềm chế sự phấn khích của người tham gia giao thông Có thể nói, hành vi của người tham gia giao thông đường bộ không chỉ chịu tác động từ những yếu tố trên mà còn liên quan đến đặc điểm văn hóa xã hội, nhận thức, thái

độ, kiểm soát của xã hội… đối với người tham gia giao thông Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ vận dụng một số nhân tố trong những công trình nghiên cứu trên để nghiên cứu cho đề tài của mình

2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến hành vi sai lệch xã hội của người tham gia giao thông đường bộ tại thành phố Phủ Lý, Hà Nam” của Ths Dương Thuận và

Ths Dương Thị Ngọc Thu (2005) Hai tác giả đã phân tích các yếu tố tác động đến hành vi sai lệch xã hội của người tham gia giao thông bao gồm: yếu tố giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nhận thức, thái độ kiểm soát xã hội Qua đó

đề xuất giải pháp để kiểm soát hành vi sai lệch của người tham gia giao thông [21] Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu chưa cho thấy tác động của nguyên nhân “thói quen ở quê” đến hành vi tham gia giao thông của người dân Vì người tham gia giao thông tại các tỉnh, thành, khu đô thị lớn hiện nay có cả người dân đến các vùng miền trong cả nước trong đó có chiếm phần đông là người dân ở các vùng nông thôn vốn quen với đồng quê, nương rẫy, tập quán “băng đồng lội ruộng”, đi bộ trên đường làng, đường xã nhỏ hẹp nên khi hội nhập vào những khu đô thị sầm uất với

hệ thống giao thông đường bộ hiện đại, nhiều làn xe, phương tiện lưu thông đông đúc, trong khi đó người dân ở quê lại chưa quen với quy tắc trật tự ATGT hay những hiệu lệnh của CSGT Tất yếu sẽ ảnh hưởng đến hành vi tham giao thông của họ Tác giả sẽ đề cập đến vấn đề này trong nghiên cứu của mình

Trang 13

Đối với các nghiên cứu về hành vi tham gia giao thông của người dân có ba

tác giả bao gồm: Dư Phước Tân (2008) có đề tài nghiên cứu “Các hành vi ứng xử của cư dân đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp để xây dựng lối sống văn minh hiện đại” đã nhận dạng các hành vi ứng xử trong khi điều khiển

phương tiện giao thông trên đường, đã xác định mức độ vi phạm theo từng hành vi

cụ thể, đồng thời xác định nguyên nhân chính gây ra tình trạng vi phạm, từ đó xây dựng một hệ thống các giải pháp mang tính đồng bộ, có xác định lộ trình thực hiện

tương ứng với các đối tượng liên quan khác nhau [22] Nghiên cứu “Hành vi tham gia giao thông của sinh viên trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng“ của Ths

Ngô Thị Lệ Thủy (2010) với phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp trò chuyện, quan sát Tác giả đã nêu ra được thực trạng, đề xuất những biện pháp tác động thay đổi hành vi tham gia giao thông theo hướng tích cực hơn cho sinh viên Tuy nhiên chưa đưa ra được các biện pháp cụ thể về giáo dục hành vi tham gia giao

thông an toàn cho sinh viên [23] Ths Tô Nhi A (2012) có đề tài “Hành vi tham giao thông của sinh viên một số trường Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh” Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra các khái niệm về “Hành vi” và “Hành vi tham gia giao thông” bao gồm cả biểu hiện phù hợp và không phù hợp với các quy định trong

Luật giao thông đường bộ, kết luận của đề tài cho thấy đa số sinh viên có nhân thức đúng đắn về luật lệ ATGT, có thái độ nghiêm túc trong tham gia giao thông, nhưng thái độ chưa tích cực Hầu hết các sinh viên đều bị tác động bởi nguyên nhân khách quan và chủ quan trong lưu thông Tác giả cũng đưa ra được những kiến nghị các biện pháp giáo dục ATGT trong đối tượng sinh viên [1]

Nghiên cứu “Văn hóa giao thông đường bộ của người dân tại thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và những yếu tố tác động” của Ths Phạm Hoàng Phước

(2013) Tác giả đã dùng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua phân tích tổng hợp thông tin sẳn có, khảo sát xã hội học để mô tả bức tranh toàn cảnh về thực trạng văn hóa giao thông của người dân thành phố, khuyến nghị các giải pháp xây dựng văn hóa giao thông phù hợp cho từng nhóm khách thể [14] Đây là những yếu

tố rất quan trọng giúp cho chúng tôi bổ sung về mặt lý thuyết cho đề tài, từ đó có

Trang 14

thể vận dụng trong việc đi tìm các nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư

Nghiên cứu “Phân tích hành vi sử dụng bia rượu khi tham gia giao thông”

của Tiến sĩ Lê Thu Huyền (2014) Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả của hành vi sử dụng bia rượu khi tham gia giao thông từ đó đưa ra các giải pháp Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, gây TNGT của người tham gia giao thông [9] Chúng tôi có thể đề cập đến nguyên nhân trong đề tài của tác giả để vận dụng cho nghiên cứu của mình

Qua các đề tài mà tác giả đã tổng quan ở nội dung trên cho thấy, các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các hành vi chấp hành các quy định của pháp luật về Trật tự ATGT của người dân khi tham gia giao thông, đây là một trong hai nội dung định hình nên chủ đề văn hóa giao thông Còn vấn đề nghiên cứu hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư chưa được đề cập một cách toàn diện Các kết quả nghiên cứu có liên quan chủ yếu tập trung vào vấn đề xây dựng ý thức giao thông nói chung của người dân Điểm khác biệt mà đề tài nghiên cứu này mang lại chính là tập trung nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ cách tiếp cận của chính những người tham gia giao thông là người nhập cư đang sinh sống, học tập, lao động tại thị xã Dĩ An

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích: Nhằm mang lại sự hiểu biết tương đối có hệ thống về thực

trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ An và các nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ, tạo

cơ sở đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm đảm bảo tình hình trật tự ATGT trên địa bàn thị xã Dĩ An hiện nay qua đây góp phần điều chỉnh hành vi tham gia giao

thông đường bộ của người nhập cư theo hướng tích cực và an toàn hơn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Mô tả thực trạng các nhóm hành vi tham gia giao

thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ An bao gồm những nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT gây hậu quả nghiêm trọng và nhóm hành vi vi phạm trật tự

Trang 15

ATGT gây hậu quả ít nghiêm trọng, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến những hành

vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ, bao gồm nguyên nhân từ phía những người tham gia giao thông và nguyên nhân từ địa phương nơi người nhập cư đang sinh sống, làm việc, khuyến nghị các giải pháp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông trong đối tượng người nhập cư tại địa bàn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại Thị

xã Dĩ an và những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ An

và ngoài Tỉnh Bình Dương Thời gian khảo sát: tháng 11/2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài sử dụng các phương pháp luận và hướng tiếp cận của xã hội học Các

lý thuyết được áp dụng phù hợp cho từng nội dung nghiên cứu Bên cạnh đó hướng tiếp cận tổng quát cũng mang lại cái nhìn khách quan cho vấn đề nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu: trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu sưu

tầm liên quan đến lĩnh vực này cùng các báo cáo của Ban ATGT, Đội CSGT công

an thị xã, Đồ án quy hoạch chung đô thị loại III của UBND thị xã Dĩ An, các quy định pháp luật về cư trú và các quy định pháp luật trên lĩnh vực giao thông đường

bộ hiện hành Tác giả kế thừa và vận dụng những thông tin về vấn đề nghiên cứu

5.2.2 Phương pháp định tính: phỏng vấn sâu 11 trường hợp tại thị xã Dĩ An,

Trang 16

trong đó có 09 người nhập cư bao gồm cả nam và nữ có độ tuổi, ngành nghề và thời gian tạm trú khác nhau và 02 cảnh sát giao thông thị xã Dĩ An để khai thác các khía cạnh nội dung nghiên cứu sâu sắc hơn giúp cho việc nắm bắt tình hình một cách thực tế và khách quan

5.2.3 Phương pháp quan sát: Phương pháp này hỗ trợ và làm sáng tỏ thêm

những thông tin đã được thu thập và là cơ sở ban đầu để đưa ra các giả thuyết và hướng nghiên cứu Trong phạm vi đề tài này tác giả chọn địa bàn phường An Bình

để thực hiện phương pháp quan sát (đây là địa bàn có số lượng dân nhập cư chiếm

tỷ lệ cao nhất so với 6 phường còn lại của thị xã Dĩ An, bình quân số lượng dân nhập cư gấp 8 lần dân thường trú, địa bàn này là địa phương đầu tiên phát triển khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương thu hút rất đông công nhân lao động nhập cư đến làm việc, sinh sống, nhu cầu đi lại tăng cao)

5.2.4 Phương pháp điều tra bảng hỏi (định lượng): đề tài sử dụng phương

pháp điều tra chọn mẫu thuận tiện với dung lượng mẫu là 200 người nhập cư bao gồm diện thường trú và diện tạm trú dài hạn KT3 và ngắn hạn KT4 tại 7/7 phường của thị xã Dĩ An (Tân Đông Hiệp, Dĩ An, Bình An, An Bình, Bình Thắng, Tân Bình, Đông Hòa) Phương pháp này nhằm tìm ra những thông tin thực tế, khách quan và là những căn cứ cần thiết cho những kết luận nghiên cứu khoa học

5.2.5 Xử lý thông tin: tác giả dùng phần mềm tin học SPSS để xử lý thông tin

thu thập từ bảng câu hỏi, sau đó mã hóa số liệu và phân tích kết quả; Gỡ băng phỏng vấn và tổng hợp, sắp xếp theo các khía cạnh nội dung nghiên cứu; Các thông tin quan sát và phân tích văn bản được tập hợp và phân tích, phân loại; Các số liệu thu được sẽ được xử lý bằng toán thống kê ứng dụng trong nghiên cứu: tính điểm trung bình, phần trăm; Kiểm nghiệm Anova; T-test ; Chi - Square để làm rõ sự khác biệt về hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư giữa các biến số khác nhau được lựa chọn trên thông tin chung của mẫu nghiên cứu

5.3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu

5.3.1 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị

xã Dĩ An hiện nay như thế nào?

Trang 17

Đâu là những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ của người nhập cư tại Thị xã Dĩ an hiện nay?

5.3.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Thực trạng hành vi tham gia giao thông của người nhập cư tại

thị xã Dĩ An chưa tốt thể hiện qua sự hiểu biết các quy định pháp luật trên lĩnh vực giao thông đường bộ chưa đầy đủ, ý thức tự giác trong chấp hành ATGT chưa cao

Giả thuyết 2: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm trong lĩnh vực

giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ An Trong đó, có các nguyên nhân từ người tham gia giao thông và từ địa phương nơi người nhập cư sinh sống, làm việc, học tập, lao động (đó là các nguyên nhân từ hạ tầng giao thông, kiểm soát giao thông, các vấn đề về ngập úng cục bộ, ùn tắc giao thông)

Trang 18

5.4 Khung phân tích: Dựa trên cơ sở lý thuyết của đề tài và phương pháp nghiên cứu, tác giả thiết kế khung phân tích như sau:

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận: Thực trạng và những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi

phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ của người dân là vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu, tuy nhiên chưa có nghiên cứu khoa học nào đánh giá cụ thể về vấn

đề này trong đối tượng là người nhập cư Mong rằng những kết quả nghiên cứu sẽ góp phần xây dựng và bổ sung thêm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về chủ đề trật tự ATGT ở những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh thu hút đông đảo người dân từ nhiều nơi khác đến định cư, làm việc, học tập

Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm trên lĩnh vực giao thông đường bộ

Người nhập cư tại thị

xã Dĩ An

Thực trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ

Tai nạn giao thông,

ảnh hưởng đến trật

tự an toàn giao thông

Các nhóm hành vi

vi phạm trên lĩnh vực giao thông đường bộ

Từ phía người tham gia giao thông là người nhập cư

Từ phía địa phương nơi người nhập cư sinh sống, làm việc, học tập

Trang 19

6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Đảm bảo trật tự ATGT đô thị chính là nhiệm vụ chính

trị trọng tâm của Đảng bộ và chính quyền thị xã Dĩ An trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Do vậy, các giải pháp đảm bảo trật tự ATGT cần được thực hiện lâu dài, sâu rộng và mang tính bền vững trong cộng đồng xã hội nhất là vào giai đoạn thị xã đang phấn đấu đạt tiêu chí đô thị loại II vào năm 2018 Để làm được điều này đỏi hỏi phải có nghiên cứu khoa học nghiêm túc về thực trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ An Kết quả của đề tài nghiên cứu là nguồn tư liệu tham khảo cho công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự ATGT đô thị cho mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn Những kết quả nghiên cứu cũng giúp Ban ATGT Thị xã có thêm cơ sở khoa học

trong thực hiện các biện pháp đảm bảo tình hình trật tự ATGT đô thị tại địa phương

7 Cơ cấu của luận văn

7.1 Phần mở đầu

7.2 Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận trong nghiên cứu hành vi tham gia giao thông

đường bộ

Chương 2: Thực trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập

cư tại thị xã Dĩ An

Chương 3: Nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao

thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ an

7.3 Kết luận

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU HÀNH VI THAM GIA

GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1.1 Các khái niệm làm việc

Hành vi, Nhận thức, Ý thức, Thái độ

Theo từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Tôn Nhan – Phú Văn Hẳn đồng chủ biên (2014 ) nêu định nghĩa như sau:

Hành vi là những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người

trong một hoàn cảnh cụ thể (Hành vi phạm tội) [13, tr.466]

Nhận thức là quá trình hoặc kết quả của sự hiểu biết sự vật, hiện tượng

(Nhận thức sai lầm) Nhận ra và biết được, hiểu được ( Nhận thức được vấn đề khó khăn) [13, tr.789] Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc của con người Vật chất và ý thức là hai phạm trù cơ bản của triết học

Ý thức là sự nhận thức trực tiếp, tức thời về hoạt động tâm lý của bản thân Là

sự nhận thức đúng đắn, biểu hiện bằng thái độ, hành động cần phải có Nâng cao ý thức

kỷ luật Có ý thức về việc gì (Anh ta ý thức được công việc đang làm) [13, tr.1241]

Thái độ nói chung là những biểu hiện bên ngoài của một người (như là nét

mặt, cử chỉ, hành vi) đối với ai hoặc sự việc nào đó (Một số công chức có thái độ hống hách với người dân) Là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo hướng nào đó trước một vấn đề, sự việc (có thái độ tích cực trong cuộc sống) [13, tr.1003]

Người tham gia giao thông gồm người điều khiển, người sử dụng phương

tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ

trên đường bộ Người điều khiển phương tiện gồm người điều khiển xe cơ giới, xe

thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ [16]

Như vậy Hành vi tham gia giao thông là những phản ứng, cách cư xử biểu

hiện ra ngoài của một người trong tham gia giao thông qua đó thể hiện nhận thức,

thái độ và ý thức của họ đối với vấn đề về trật tự ATGT

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ: Theo khoản 2,

Điều 1, Nghị Định 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 của Chính Phủ thì vi phạm

Trang 21

hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là những hành vi của cá nhân, tổ

chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ một cách

cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm: Các hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ; Các hành vi vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; Các hành vi vi phạm quy định về phương tiện tham gia giao thông đường bộ; Các hành

vi vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ; Các hành vi vi phạm quy định về vận tải đường bộ; Các hành vi vi phạm khác

liên quan đến giao thông đường bộ [8]

Tai nạn giao thông: Theo Điều 05 Thông tư 58/2009/TT-BCA ngày

28/10/2009 của Bộ Công An quy định và hướng dẫn thống kê, tổng hợp, xây dựng

cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin về tai nạn giao thông đường bộ quy định Tai nạn giao thông là sự việc xảy ra do người tham gia giao thông đang hoạt động trên

mạng lưới giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ hay gặp phải sự cố bất ngờ gây ra những thiệt hại nhất định đến tính

mạng, sức khoẻ của con người hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân [3, tr.2-4]

TNGT gồm: Va chạm giao thông; Vụ TNGT gây hậu quả ít nghiêm trọng; Nghiêm trọng; Rất nghiêm trọng; Đặc biệt nghiêm trọng Cụ thể:

Vụ TNGT gây hậu quả ít nghiêm trọng: không làm chết người, chỉ gây tổn

hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật dưới 31%; hoặc nhiều người

nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này dưới 41%; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị dưới 50 triệu đồng

Vụ TNGT gây hậu quả nghiêm trọng; Rất nghiêm trọng và Đặc biệt nghiêm trọng: làm chết người, gây tổn hại cho sức khỏe cho con người từ 31% trở lên; hoặc

nhiều người với tỷ tổng tỷ lệ thương tật từ 41% đến trên 200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 50 triệu đồng đến 1 tỷ 500 triệu đồng trở lên

Trật tự an toàn giao thông: là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và

điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng, nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến

Trang 22

mức thấp nhất tai nạn giao thông Đảm bảo trật tự an toàn giao thông là một yêu cầu

và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia và xem đó là điều kiện cần thiết để phát triển

kinh tế, củng cố an ninh quốc phòng và ổn định trật tự xã hội [24]

Người nhập cư: Dưới góc độ địa lý, nhập cư là sự chuyển đến của một

người hoặc một nhóm người từ một đơn vị địa lý khác, vượt qua biên giới hành chính, chính trị với mục đích cư trú lâu dài hoặc tạm thời Nhập cư có thể diễn ra giữa nước này với nước khác, hoặc giữa vùng này với vùng khác trong cùng một

nước Theo Đại từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin: Nhập cư

là đến định cư ở một nơi khác Theo Từ điển Wikipedia Tiếng Việt: Nhập cư là hoạt

động di chuyển chỗ ở đến một vùng hoặc quốc gia mới, Người nhập cư (immigrant)

là người dân di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để định cư hay sinh sống có

hoặc không có hộ khẩu thường trú

Tựu trung các khái niệm, định nghĩa trên tuy có những ý kiến khác nhau

nhưng có thể thấy một số điểm chung và cơ bản trong nội hàm khái niệm “Nhập cƣ” là sự di chuyển đến của một người hay một nhóm người qua biên giới hành

chính quốc gia với mục đích thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc với mục đích khác;

Sự chuyển đến này có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc; Việc cư trú tại quốc gia tiếp nhận có thể dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú [10, tr.227-229]

Trong phạm vi đề tài thực hiện, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối tượng người nhập cư là người chuyển từ các tỉnh thành trong cả nước đến Thị xã Dĩ an

sinh sống, học tập, lao động và làm việc thuộc diện Thường trú (tức đã có nhập hộ khẩu thường trú tại thị xã Dĩ An), diện tạm trú dài hạn KT3 (hộ, nhân khẩu, người lao động, học tập ở tỉnh khác đến tại Thị xã Dĩ an từ 06 tháng trở lên nhưng chưa được đăng ký hộ khẩu thường trú) và diện tạm trú ngắn hạn KT4 (hộ, nhân khẩu, người lao động, học tập không ổn định dưới 06 tháng tại thị xã)

Tóm lại, khái niệm hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư

trong đề tài này được thao tác hóa thành các chỉ báo cụ thể như:

Hành vi tham gia giao thông được thể hiện qua việc chấp hành tốt hoặc chưa tốt các quy định pháp luật về trật tự ATGT khi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư

Trang 23

Hành vi tham gia giao thông được thể hiện qua mức độ hành vi vi phạm các quy định trên lĩnh vực giao thông đường bộ gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự ATGT đô thị và gây TNGT của người nhập cư

Trong quá trình thao tác hóa khái niệm và thiết kế bảng hỏi, tác giả bám sát vào các chỉ báo này Bên cạnh đó, việc tham khảo từ các nghiên cứu khác cũng giúp tác giả hình thành nên bảng hỏi khảo sát nhằm đi đúng mục tiêu của đề tài

1.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

Trong đề tài này tác giả sử dụng Hướng tiếp cận xung đột văn hóa cùng Lý thuyết về phát triển đô thị bền vững và Lý thuyết kiểm soát xã hội để làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

1.2.1 Hướng tiếp cập “Xung đột văn hóa”

Theo S.Huntington: các cuộc xung đột lớn, quan trọng và nguy hiểm nhất hiện nay trong bối cảnh toàn cầu hóa không phải xuất phát từ lợi ích kinh tế hay những bất đồng về hệ tư tưởng, mà do sự khác biệt giữa các dân tộc thuộc về các chỉnh thể văn hóa hoặc các nền văn minh khác nhau

Xung đột văn hóa về cơ bản được bắt đầu từ tình trạng không hiểu biết giữa các nhóm người, các quốc gia, dân tộc Đây là thuật ngữ chung để chỉ những căng thẳng, đụng độ và bất hòa trong tiếp xúc và giao lưu văn hóa Người ta nhận thấy trong cuộc sống hằng ngày mỗi người hoặc một nhóm người thường không muốn hoặc không biết cách hiểu các nhu cầu và khả năng của những người khác Điều đó tạo ra thái độ nghi ngờ, thiếu đồng thuận, rồi không chấp nhận, không dung hòa lẫn nhau và hệ quả sau cùng là giữa các bên đã xảy ra sự xung đột [11, tr.255-256]

Trong phạm vi nghiên cứu đề hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư, chúng tôi chọn xem xét xung đột văn hóa ở góc độ của sự đối lập về giá trị của các nền văn hóa và các nền văn minh Nói cách khác đó là sự khác biệt

về cấu trúc xã hội, thiết chế xã hội và văn hóa giữa xã hội cổ truyền và xã hội hiện đại tạo nên những xung đột văn hóa, tác động đến nhận thức, hành vi của mỗi cá nhân người nhập cư khi từ nông thôn ra thành thị

Trang 24

Những xung đột văn hóa còn xảy ra ở những môi trường, những không gian rộng lớn Ví như trên đường có hai người đang lưu thông, họ vốn xuất phát từ hai nền văn hóa và trước đó chưa một lần gặp gỡ hay quen biết nhau Rồi một “sự cố” nào đó xảy ra Lúc ấy theo phản xạ tự nhiên, mỗi người lập tức quay về truyền thống văn hóa của mình để tìm lời giải đáp Do điểm tựa của hai người là hai nền văn hóa không tương đồng nên giữa họ có hai cách hiểu, hai cách lý giải và kéo theo đó là hai cách ứng xử khác nhau Các cách ứng xử này có thể không tương hợp, thậm chí là trái chiều nhau, trong khi đó cả hai không ý thức được rằng họ đã dựa trên những nguyên tắc nền tảng không giống nhau, và do đó họ không thể hiểu hoặc đã hiểu lầm một cách tai hại về nhau Tất nhiên xung đột sẽ xảy ra và sự lan tỏa của nó có thể mở rộng đến nhiều lĩnh vực khác [11, tr.257]

Lý thuyết xung đột văn hóa cho rằng, mỗi người được sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh, với những sắc tộc, tôn giáo, khu vực, giới tính, lứa tuổi, giai tầng cụ thể Do đó, chúng ta vừa tiếp nhận những nội dung xã hội hóa nói chung, vừa được nhào nặng bởi những giá trị và chuẩn mực riêng của cái tiểu văn hóa mà chúng ta sở thuộc Chúng thấm vào hành vi ứng xử của chúng ta mạnh đến mức ta không cảm thấy điều đó nữa và mỗi khi hành động thì những tập tục đó đã trở thành bản năng của chúng ta Chính cái xã hội mà từ đó chúng ta được sinh ra và lớn lên

đã nhào nặng nên toàn bộ nhận thức, tình cảm của chúng ta Cho nên khi gặp nền văn hóa khác, chúng ta không thể tìm thấy những điểm quy chiếu quen thuộc Đây chính là cơ sở khách quan dẫn đến mọi bất đồng, căng thẳng hay xung đột văn hóa, nhất là đối với những người thuộc các nền văn hóa khác nhau [11, tr.258-259]

1.2.2 Lý thuyết phát triển đô thị bền vững

Lý thuyết này lấy sự tăng trưởng kinh tế làm mục đích cho sự phát triển Con người đô thị vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển, hoàn thiện mối quan hệ giữa

cá nhân và xã hội và với tự nhiên Theo David C.Korten, để phát triển đô thị bền vững cần có hệ thống các biện pháp, chính sách hoàn thiện, đồng bộ Các yếu tố tạo thành sự phát triển phải được điều phối mang tính hệ thống mới đạt được kết quả mong muốn [25, tr.21] Vận dụng quan điểm của lý thuyết này để giải thích ở cấp

Trang 25

độ xã hội về sự phát triển của đô thị Dĩ An có tác động đến hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư, bởi thực tế, dân nhập cư đông, làm gia tăng các phương tiện cá nhân tất yếu gây áp lực lên hạ tầng giao thông, việc đa dạng các thành phần dân cư cũng dẫn đến sự khác biệt trong hành vi ứng xử của người dân

1.2.3 Lý thuyết kiểm soát xã hội

Đại diện tiêu biểu của trường phái kiểm soát xã hội là Albert J Reiss, Walter

C Reckless, Travis Hirschi, Michael R Gottfredson và John Hagan Lập luận chính của thuyết kiểm soát xã hội là sự phạm tội bắt nguồn sâu xa từ sự yếu kém trong khả năng tự kiểm soát hành vi của cá nhân và thiếu vắng các biện pháp kiểm soát phù hợp từ phía xã hội Sự tiếp xúc với các biện pháp kiểm soát có thể khác nhau theo địa bàn cư trú hoặc theo từng thời kỳ khác nhau và đây có thể là nguyên nhân của sự khác biệt về tỷ lệ tội phạm giữa các khu vực hoặc giữa các giai đoạn phát triển xã hội khác nhau [19, tr.66-69]

Trong bất kỳ xã hội nào, để tôn trọng và bảo vệ các lợi ích chung của Nhà nước, của cộng đồng, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đòi hỏi mỗi

cá nhân công dân phải tôn trọng trật tự xã hội Các cơ chế bảo đảm cho trật tự xã hội

chính là những thiết chế xã hội Những thiết chế xã hội như: Gia đình, tôn giáo, chính

trị, kinh tế, giáo dục thông qua chức năng kiểm soát của mình các cá nhân phải tuân thủ theo chuẩn mực giá trị xã hội, các quy định hạn chế đối với hành vi Đến lượt mình, thông qua chức năng kiểm soát xã hội, những thiết chế xã hội bảo đảm sự ổn định trong hiện tại, dự đoán trong tương lai và định hướng các hành vi cá nhân, bảo đảm quyền lợi cho mỗi người trong khi tuân thủ trật tự và các thiết chế xã hội, cũng như ngược lại, nếu như bất kỳ ai vi phạm nó sẽ làm giảm bớt sự ổn định và trật tự xã hội, đồng thời sẽ

bị kiểm soát và ràng buộc tuân thủ bởi các thiết chế xã hội tương ứng

Kiểm soát xã hội có mặt ở khắp mọi nơi trong đời sống văn hóa, xã hội và luôn tác động và ảnh hưởng đến sự lựa chọn hành vi hoặc xử sự của mỗi cá nhân và các nhóm Đối với bất kỳ ai nếu có hành vi lệch lạc, khi có kiểm soát xã hội sẽ ngăn chặn các hành vi này, phê phán loại bỏ nó đưa những người có hành vi lệch lạc đó trở lại trật tự, khuôn phép đã có

Trang 26

Tác giả vận dụng Lý thuyết kiểm soát xã hội vào việc lý giải nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm trên lĩnh vực giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ An bị tác động bởi thiết chế xã hội: gia đình, kiểm soát xã hội, việc thực hiện các chế tài, kiểm soát quản lý về trật tự ATGT của chính quyền địa phương

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

Dĩ An là một thị xã của tỉnh Bình Dương, với diện tích là 6.024 ha, thị xã có

07 đơn vị hành chính cấp phường (gồm: Dĩ An, Tân Đông Hiệp, Tân Bình, Bình

An, Bình Thắng, Đông Hòa, An Bình) [28] Thị xã có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội: nằm ở giữa ba trung tâm thành phố lớn là Tp.HCM, thành phố Biên Hòa và thành phố Bình Dương Là đầu mối giao thông đường bộ của vùng với tuyến đường Quốc lộ 1A, 1K là cửa ngõ của Tp.HCM và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đi ra khu vực miền Trung, miền Bắc và ngược lại

Thị xã Dĩ An nằm tại giao điểm ba trục hành lang kinh tế quan trọng: hành lang kinh tế động lực Bắc - Nam (gắn với Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam); Hành lang kinh tế động lực Đông Tây kết nối cửa khẩu quốc tế Mộc Bài quốc lộ 22, đường vành đai qua Thành phố Hồ Chí Minh đến nhóm cảng biển Hồ Chí Minh, Vũng Tàu… tạo nhiều điều kiện thuận trong thúc đẩy giao thương, vận chuyển hàng hóa - thu hút đầu tư trong các ngành dịch vụ, thương mại, tài chính, ngân hàng Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ giai đoạn 2010 - 2015 tăng bình quân 31,58%/năm Đến cuối năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 28.248 tỷ đồng, tăng 21.087 tỷ đồng so với đầu nhiệm kỳ, chiếm tỷ lệ 294,5% Tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ năm 2016 đạt 2.998,67 tỷ đồng tăng 25,1% so với năm 2015, cao gấp hơn 2 lần tăng trưởng ngành công nghiệp xây dựng Chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người gấp 1,4 lần so với cả nước

Là trung tâm công nghiệp với việc hình thành sớm KCN Bình Đường là KCN đầu tiên của tỉnh Hiện nay thị xã Dĩ An có 713 ha đất công nghiệp tập trung bao gồm 6 KCN ( Bình Đường, Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Tân Đông Hiệp A, B và dệt may Bình An) và 58 ha đất cụm công nghiệp (cụm công nghiệp Vũng Thiện)

Trang 27

Trong nhiệm kỳ 2011-2015 các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn thị xã tiếp tục thu hút 21 dự án đầu tư nước ngoài và 17 dự án trong nước, nâng tổng số đầu tư nước ngoài lên 214 dự án với tổng vốn đăng ký 1.367 triệu USD và 211 dự án đầu

tư trong nước với tổng vốn đăng ký 8.094 tỷ đồng Ngoài ra, còn có 2.240 doanh nghiệp sản xuất ngoài khu, cụm công nghiệp; giải quyết việc làm ổn định cho trên 180.000 lao động

Theo Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 07/11/2012 về việc phê duyệt Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012-2020 đã xác định đến năm

2020 thị xã Dĩ An sẽ trở thành đô thị loại II trực thuộc Tỉnh Bình Dương Do vậy,

sau khi đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV chính quyền thị xã đã tập trung nguồn lực đầu

tư xây dựng nâng cao chất lượng đô thị: từ năm 2014 đến 2016 tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn thị xã đã thực hiện là 2.017,9 tỉ đồng, đầu tư xây dựng 314 công trình cấp thị xã và 67 công trình cấp phường Nguồn vốn trên đã được sử dụng đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông, cải tạo, sửa chữa lòng đường, vỉa hè,

hệ thống thoát nước đô thị, lắp đặt đồng bộ hệ thống điện chiếu sáng, thoát nước, cấp nước, cây xanh, thông tin liên lạc, xử lý úng ngập úng, chỉnh trang đô thị [20]

Hệ thống đường giao thông trên địa bàn thị xã Dĩ An gồm có 02 tuyến quốc

lộ 1A và 1K có chiều dài 11 km, 01 tuyến đường xuyên Á chiều dài 2 km, 03 tuyến đường tỉnh lộ ĐT743 có tổng chiều dài 19,7 km, 42 tuyến đường do thị xã quản lý

có tổng chiều dài 59,88 km, 372 tuyến đường giao thông do cấp phường quản lý có tổng chiều dài 174,166 km, ngoài ra còn có 45 tuyến đường trong 06 khu và 01 cụm công nghiệp với chiều dài 39,5 km Diện tích đất giao thông đô thị/dân số thị xã đạt 17,01 m2/người

Thị xã triển khai thực hiện 59 dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng với 5.841 hồ sơ/tổng kinh phí 1.813,749 tỷ đồng Lũy kế đến nay đã bồi thường 4.836

hồ sơ với tổng kinh phí 1.537,723 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 84,78%, trong đó có 30 dự án

đã kết thúc, 29 dự án đang tiếp tục bồi thường với 1.005 hồ sơ/tổng kinh phí 276,026 tỷ đồng Đồng thời với việc ưu tiên đầu tư ngân sách, thị xã đã thu hút được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách tham gia phát triển kết cấu hạ tầng, trong đó

Trang 28

có những công trình trọng điểm, như : Cầu Đồng Nai mới và đường dẫn hai đầu cầu; Đường Mỹ Phước - Tân Vạn; Tuyến Metro số 1, Bến Thành – Suối Tiên; Xa lộ

Hà Nội (mở rộng); Đường TĐ743 đã góp phần làm thay đổi đáng kể diện mạo đô thị và là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thị xã

Về hạ tầng giao thông, trong 5 năm 2011-2015, thị xã và các phường đã đầu

tư nâng cấp, mở rộng 213 công trình giao thông nông thôn và chỉnh trang đô thị, nâng tổng số tuyến đường thị xã quản lý được nhựa hóa lên 48/48 tuyến (tỷ lệ 100%), trong đó có 39 tuyến được đầu tư đồng bộ về vỉa hè, thoát nước, cây xanh

và chiếu sáng, đạt tỷ lệ 81,25% (Kế hoạch 80 - 90%); số tuyến đường phường quản

lý được nhựa hóa, bê tông hóa 429/638 tuyến, đạt tỷ lệ 67,24% (Kế hoạch 70%) Hoạt động vận tải phát triển mạnh, nhất là vận tải chuyên dùng; các tuyến xe buýt tiếp tục được duy trì, mở rộng và kết nối với các địa phương lân cận, cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Trên lĩnh vực quy hoạch và xây dựng đô thị : Đã xây dựng, phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện khá nề nếp quy hoạch chung đô thị Dĩ An, quy hoạch phân khu các phường, Quy chế quản lý kiến trúc đô thị và quy hoạch đô thị Trên địa bàn hiện có 74 dự án đầu tư khu dân cư, khu đô thị, khu nhà

ở với tổng diện tích đất 804,52ha (trong đó có 06 dự án nhà ở xã hội), cơ bản đáp ứng nhu cầu chổ ở của người dân [28]

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG HÀNH VI THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ TẠI THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Trong chương này tác giả trình bày 04 nội dung: Đặc điểm của nhóm nhập

cư tại địa bàn thị xã Dĩ An; Thực trạng tình hình TNGT trên địa bàn thị xã Dĩ An thông qua báo cáo của Đội CSGT công an thị xã Dĩ An trong năm 2016; Nhận diện các nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT gây hậu quả nghiêm trọng và các nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT gây hậu quả ít nghiêm trọng qua đó đánh giá thực trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ An

2.1 Đặc điểm của nhóm nhập cư tại địa bàn thị xã Dĩ An

Trong tiến trình phát triển lên đô thị thị xã Dĩ An luôn gắn liền với tốc độ gia tăng dân số cơ học do lượng dân nhập cư đến địa phương làm việc, sinh sống tăng qua từng năm, cụ thể: năm 2007, dân số Dĩ An là 233.907 người Tính đến ngày 01/10/2015, dân số đô thị Dĩ An là 394.522 người Như vậy chỉ trong vòng 08 năm, dân số thị xã tăng thêm 160.615 người, bình quân tăng 20.000 người/năm Dân số thị xã Dĩ An có tốc độ tăng trưởng khá lớn, mức tăng dân số bình quân giai đoạn 2012-2015 là 2,41% Trong đó tăng tự nhiên là 0,8%, tăng cơ học 1,56% Mật độ

nhất so với các huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh Bình Dương

Vậy người nhập cư tại địa bàn thị xã Dĩ An hiện họ là ai, đến từ đâu, đặc điểm nhân khẩu học của họ như thế nào…Bởi thực tế hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ An bị chi phối do nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học, đây là những yếu tố tạo nên sự khác biệt trong hành vi tham gia giao thông của họ Vì lý do đó, tác giả đã tiến hành khảo sát bảng hỏi 200 người nhập cư đang sinh sống, học tập, làm việc tại địa phương, kết quả cho thấy các đặc điểm của nhóm nhập cư tại địa bàn thị xã Dĩ An như sau:

Về độ tuổi

Theo báo cáo của Đội CSGT công an thị xã Dĩ An, độ tuổi người gây TNGT

Trang 30

tại thị xã Dĩ An hằng năm chủ yếu rơi vào hai nhóm tuổi : từ 18 đến 27, và từ 27

tuổi đến 55 tuổi [7] Đề tài này, tác giả đã tiến hành khảo sát mẫu với 200 người

nhập cư ở 04 nhóm tuổi: dưới 20 tuổi là 22 người chiếm 11%, 110 người ở nhóm tuổi 21 đến 30 chiếm 55%, 55 người ở nhóm tuổi 31 đến 40 chiếm 27,5% và 13

người ở nhóm tuổi trên 41 chiếm 6,5% (Biểu đồ 2.1)

Biểu đồ 2.1: Phân nhóm tuổi của người trả lời khảo sát Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn tháng 11/2016

Như vậy, chúng ta thấy người nhập cư đến thị xã Dĩ An chủ yếu trong độ tuổi lao động vì vậy tần suất tham gia giao thông cũng nhiều hơn

Trang 31

Biểu đồ 2.3: Thể hiện tỷ lệ tình trạng hôn nhân của người trả lời

Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn tháng 11/2016

Trong 200 phiếu mà tác giả đã khảo sát (biểu đồ 2.3), trường hợp độc thân là

82 người chiếm 41,2%, đã có gia đình (bao gồm cả trường hợp ly dị, ly thân và góa)

là 117 người chiếm 58,8% Tìm hiểu tình trạng hôn nhân để thấy rằng sự khác nhau trong tham gia giao thông đường bộ của từng nhóm người nhập cư tại thị xã Dĩ An

Trình độ học vấn

Biến số trình độ học vấn của người nhập cư tại thị xã có ảnh hưởng nhất định đến khả năng nhận thức, mức độ hiểu biết của người nhập cư về trật tự ATGT Nó được xem là biến độc lập dùng đo lường các chỉ báo nhận thức, ý thức và hành vi của đối tượng khảo sát

Biểu đồ 2.4: Thể hiện tỷ lệ tình trạng học vấn của người trả lời

Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn tháng 11/2016

Trang 32

Trong 200 mẫu khảo sát, số người nhập cư có trình độ phổ thông là 136 chiếm tỷ lệ 68 % gấp đôi so với người nhập cư có trình độ trên phổ thông tức từ hệ trung cấp trở lên chỉ có 32 người chiếm tỷ lệ 32% (Biểu đồ 2.4) Điều này cho thấy trình độ học vấn của người nhập cư hiện nay tại thị xã Dĩ An là trung bình thấp, chủ yếu là những người lao động phổ thông vào Dĩ An tìm việc làm

Tình trạng hộ khẩu

Tình trạng nhân hộ khẩu cũng có tác động nhất định đến hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã Dĩ An Biến này dùng để kiểm tra giả định xem có mối liên quan giữa tình trạng hộ khẩu với nhận thức của người nhập cư về chấp hành các luật lệ giao thông

Biểu đồ 2.5: Thể hiện tỷ lệ tình trạng nhân hộ khẩu của người trả lời

Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn tháng 11/2016

Trong cuộc khảo sát này, thì người nhập cư có hộ khẩu tạm trú dài hạn KT3

là 130 người chiếm tỷ lệ cao nhất 65% trong số mẫu khảo sát, tiếp đến là diện thường trú là 50 người chiếm 25%, thấp nhất là số người nhập cư diện tạm trú ngắn hạn KT4 chỉ có 20 người, chiếm 10% (Biểu đồ 2.5)

Đây là con số tương thích với báo cáo của Chi cục thống kê thị xã Dĩ An về

số người nhập cư thuộc diện tạm trú dài hạn KT3 tại thị xã Dĩ An chiếm từ 60% trở lên so số dân thường trú [6] Về số người tạm trú ngắn hạn KT4 có mẫu khảo sát ít, điều này cũng dễ hiểu bởi đây là lực lượng lao động tay chân làm việc ở các công trình xây dựng sau khi hoàn thành công trình thì họ lại đi nơi khác Cũng có trường hợp vào Dĩ An kiếm việc thời vụ, bán hàng rong trong dịp cao điểm như lễ tết, sau

đó lại về quê hoặc di chuyển qua địa bàn khác sinh sống

Trang 33

Quê quán

So với các đề tài nghiên cứu hành vi tham gia giao thông của người dân mà tác giả đã trình bày trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu trong phạm vi đề tài này cho thấy đây là Biến hoàn toàn mới, các đề tài trước chưa đề cập đến để xem có

sự tương quan giữa biến quê quán với hành vi tham gia giao thông của người nhập

cư hay không? Vì vậy tác giả đã đưa vào phần mẫu khảo sát

Theo báo cáo thống kê hàng năm của Chi cục thống kê thị xã Dĩ An, không thể hiện cụ thể quê quán của người nhập cư đến từ từng vùng miền, tỉnh, thành, địa phương khác nhau trong cả nước mà chỉ nêu số liệu chung chung theo tình trạng nhân hộ khẩu (Thường trú, tạm trú KT3, KT4) Vì vậy để thuận tiện cho việc phân tích tác giả đã đưa vào bảng khảo sát quê quán ba miền: Bắc – Trung – Nam

Biểu đồ 2.6: Thể hiện tỷ lệ tình trạng quê quán của người trả lời

Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn tháng 11/2016

Kết quả tại biểu đồ 2.6, trong số 200 mẫu phát ra, tỷ lệ người nhập cư có quê quán ở các tỉnh miền Trung chiếm cao nhất 43,7% với 83 người, kế đến là người nhập cư ở các tỉnh miền Nam, 75 người tỷ lệ 39,5%, về quê quán ở các tỉnh miền Bắc có 32 người, tỷ lệ 16,8% Qua đây cho thấy, thành phần dân cư tại thị xã Dĩ An

có sự đa dạng dân số các vùng miền trong cả nước góp phần tạo nên sự phong phú trong cách ứng xử, giao tiếp xã hội… tất yếu có những tác động nhất định đến tình hình trật tự ATGT tại địa phương do những ảnh hưởng từ thói quen, phong tục tập

quán, lối sống của mỗi người ở mỗi vùng miền cũng rất khác nhau

Về việc làm và khu vực làm việc

Đây là biến số quan trọng liên quan đến hành vi tham giao thông của người nhập cư tại thị xã (Biểu đồ 2.7)

Trang 34

Biểu đồ 2.7: Thể hiện tỷ lệ tình trạng việc làm của người trả lời

Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn tháng 11/2016

Trong 200 mẫu khảo sát cho thấy , số lượng người nhập cư đến thị xã Dĩ An bới mục đích tìm việc làm có tỷ lệ khá cao 80,2% với 158 người, chỉ có 10,2% số người đến Dĩ An học tập và 9,7% làm việc nội trợ hoặc công việc khác

Biểu đồ 2.8: Thể hiện tỷ lệ tình trạng khu vực làm việc của người trả lời

Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn tháng 11/2016

Trong các khu vực làm việc, khu vực ngoài nhà nước tức tại các cơ sở sản xuất, công ty, doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp có tỷ lệ thu hút rất đông người lao động nhập cư vào làm việc, cụ thể trong 200 mẫu khảo sát có 109 người với tỷ lệ 54,6% đang làm việc ở các công ty doanh nghiệp, còn lại các khu vực cá thể, ngành nghề tự do và khu vực khác chỉ chiếm từ 15,5% - 20,6% Riêng khu vực nhà nước nơi đòi hỏi phải có bằng cấp và trình độ chuyên môn nhất định từ

hệ cao đẳng trở lên đáp ứng vị trí việc làm thì lại có tỷ lệ rất thấp chỉ với 9,3% người nhập cư làm việc trong khu vực này (Biểu đồ 2.8)

Như vậy, nhóm người nhập cư tại địa bàn thị xã Dĩ An họ đến từ nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước, tựu chung là có cả ba miền Bắc - Trung - Nam, là lực lượng chủ yếu trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn trung bình thấp, đa phần

Trang 35

làm việc tại các công ty doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đóng trong và ngoài khu cụm, công nghiệp Về hộ khẩu, người nhập cư diện tạm trú dài hạn KT3 chiếm số đông (65%), kế đến là dân thường trú và tạm trú ngắn hạn KT4 Về giới tính thì không có sự chênh lệch nhiều giữa nam và nữ trong đối tượng người nhập

cư tại thị xã Dĩ An hiện nay Còn về tình trạng hôn nhân, qua kiểm định người nhập

cư thuộc diện có gia đình chiếm tỷ lệ cao hơn diện độc thân (58,8% - 41,2%)

2.2 Thực trạng tình hình TNGT trên địa bàn thị xã Dĩ An

Theo báo cáo của Đội CSGT công an thị xã Dĩ An, năm 2016 trên địa bàn thị

xã xảy ra 856 vụ TNGT và va chạm giao thông, làm chết 86 người, bị thương 947 người Trung bình mỗi ngày tại địa phương xảy ra từ 02 đến 03 vụ TNGT, làm bị thương 03 người, trung bình 01 tháng thị xã có 07 người chết vì TNGT Làm hư hỏng 866 phương tiện các loại (trong đó chiếm đến 80,5% là phương tiện xe mô tô – xe máy, còn lại là phương tiện xe ô tô và xe đạp điện) [7] Trong đó:

Về TNGT gây hậu quả nghiêm trọng và rất nghiêm trọng xảy ra 86 vụ, thiệt hại làm 86 người chết, bị thương 43 người Phương tiện gây tai nạn: mô tô 64 vụ, ô

tô 25 vụ, người đi bộ 01 vụ Đối tượng gây TNGT nghiêm trọng chiếm đến 95,5%

là lực lượng công nhân, người lao động Người gây TNGT có hộ khẩu thường trú ngoài tỉnh chiếm đến 86,7%, còn lại là do người dân trong tỉnh với tỷ lệ 13,3% Số người gây TNGT nghiêm trọng trên địa bàn thị xã Dĩ An chủ yếu trong độ tuổi từ

18 đến 27 chiếm 26,67%, từ 27 đến 55 tuổi chiếm 66,67% Gần 80% số vụ TNGT gây ra bởi nam giới Nguyên nhân dẫn đến số vụ TNGT nghiêm trọng và rất nghiêm

trọng trên địa bàn là do người tham gia giao thông thiếu chú ý quan sát phòng tránh

xử lý kém (38 vụ), đi không đúng phần đường quy định (30 vụ), vượt sai quy định (10 vụ), sử dụng rượu bia (07 vụ), không đi bên phải chiều đi của mình (01 vụ)

Về va chạm giao thông xảy ra 770 vụ, làm 904 người bị thương, hư hỏng 802 phương tiện các loại (trong đó có 709 xe mô tô – xe máy, 60 ô tô, 33 xe đạp điện) Phương tiện gây va chạm giao thông: mô tô, xe máy 652 vụ , ô tô 53 vụ, xe đạp 27

vụ, người đi bộ 21 vụ Độ tuổi người gây va chạm giao thông: từ 18 đến 27 tuổi có

587 vụ, từ 27 đến 55 tuổi 181 vụ, trên 55 tuổi 02 vụ Giới tính gây va chạm giao

Trang 36

thông: nam giới 639 vụ (chiếm tỷ lệ 83%), nữ giới 131 vụ (16,8%) Công nhân là đối tượng gây ra số vụ va chạm giao thông cao nhất với 554 vụ, nhân dân lao động

215 vụ Người gây va chạm giao thông có hộ khẩu thường trú ngoài tỉnh là 570 vụ chiếm tỷ lệ 74%, còn lại là do người dân trong tỉnh với 200 vụ, tỷ lệ 26% Nguyên

nhân gây va chạm giao thông được xác định là do người tham gia giao thông đi sai làn đường phần đường quy định (389 vụ), phóng nhanh vượt ẩu không làm chủ tốc

độ (191 vụ), chuyển hướng thiếu chú ý quan sát (134 vụ), sử dụng chất có cồn - rượu, bia (56 vụ)

Trong công tác tuần tra kiểm soát xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực giao thông đường bộ, Đội CSGT công an thị xã đã phát hiện và lập biên bản xử lý 7.299 trường hợp, tạm giữ 85 xe ô tô, 716 mô tô, xe máy, 33 xe đạp điện và 5.657 giấy tờ các loại Trong số các trường hợp vi phạm trên lĩnh vực giao thông đường

bộ có 5.506 trường hợp do người điều khiển phương tiện mô tô – xe máy vi gây ra (75%), UBND thị xã đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền 5,2 tỷ đồng Các lỗi vi phạm chủ yếu theo thống kê của Đội CSGT công an thị xã

đối với phương tiện mô tô xe máy bao gồm: Không đội mũ bảo hiểm (57%/ Tổng số trường hợp vi phạm); Vượt đèn đỏ (25,7%); Ngoài ra còn có các lỗi như: Chở theo

02 người trở lên; Sử dụng dù, điện thoại di động khi điều khiển xe; Tụ tập dưới lòng đường, vỉa hè gây cản trở giao thông…

Như vậy, có thể thấy người nhập cư là nhóm có tỷ lệ số vụ gây TNGT và vị

xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực giao thông đường bộ cao nhất tại thị xã Dĩ

An, mô tô – xe máy là phương tiện gây TNGT và va chạm giao thông nhiều nhất tại thị xã, công nhân - người lao động thuộc nhóm gây TNGT và va chạm giao thông cao nhất Các hành vi vi phạm trên lĩnh vực giao thông đường bộ phổ biến tại thị xã

Dĩ An tựu trung ở 10 nhóm hành vi: Không đội mũ bảo hiểm; Vượt đèn đỏ; Đi ngược chiều đường; Chở theo 02 người trên xe; Thiếu chú ý quan sát, phòng tránh

xử lý kém; Phóng nhanh vượt ẩu không làm chủ tốc độ; Tụ tập dưới lòng đường, vỉa

hè gây cản trở giao thông; Điều khiển xe trong tình trạng say rượu; Đi không đúng phần đường quy định; Sử dụng dù, điện thoại di động khi điều khiển xe

Trang 37

Từ thực trạng về tình hình TNGT và công tác tuần tra kiểm soát xử lý các hành vi vi phạm hành chính trên lĩnh vực giao thông đường bộ theo báo cáo của Đội CSGT công an thị xã năm 2016, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu về 10 nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT của người nhập cư tại thị xã Dĩ An thường mắc phải khi tham gia giao thông qua các phương pháp phỏng vấn sâu, bảng hỏi và quan sát Để xác định mức độ vi phạm trong từng nhóm hành vi tham giao thông của họ, tác giả đã

sử dụng thang đo 03 mức độ “Thường xuyên”, “Thỉnh thoảng”, “Không bao giờ”

Căn cứ thực trạng tình hình TNGT tại thị xã Dĩ An và quy định tại Thông tư 58/2009 của Bộ Công An liên quan đến TNGT đường bộ, tác giả nhận thấy trong 10 nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT tại địa phương có 05 nhóm hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng làm thương vong và thiệt hại lớn về người và tài sản nếu

xảy ra TNGT đó là các hành vi: “Đi không đúng phần đường dành cho từng loại phương tiện”;“Thiếu chú ý quan sát, phòng tránh xử lý kém”; “Phóng nhanh, vượt,

rẽ ẩu”;“Đi ngược chiều”;“Điều khiển xe máy khi đã sử dụng rượu, bia”

Đối với 05 nhóm hành vi vi phạm còn lại bao gồm: Không đội mũ bảo hiểm; Vượt đèn đỏ; Chở theo 02 người trên xe; Tụ tập dưới lòng đường, vỉa hè gây cản trở giao thông; Sử dụng dù, điện thoại di động khi điều khiển xe Đây là nhóm các

hành vi vi phạm trật tự ATGT có hậu quả ít nghiêm trọng, chủ yếu chỉ gây ra những

va chạm giao thông trên đường với mức độ và hậu quả thiệt hại nhỏ

2.3 Nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT gây hậu quả nghiêm trọng

Qua khảo sát 200 mẫu trong 05 nhóm hành vi vi phạm trật tự ATGT gây hậu quả nghiêm trọng, thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.1: Mức độ hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng (đơn vị: %)

Nhóm Hành vi Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

Tổng % (N)

Đi không đúng phần đường

Thiếu chú ý quan sát, phòng

Trang 38

Phóng nhanh, vượt, rẽ ẩu 8.4 25.3 66.3 100.0 (190)

Điều khiển xe máy khi đã sử

Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn tháng 11/2016

Cả 5/5 nhóm đều có người vi phạm với mức độ “thỉnh thoảng”, “thường xuyên” Cụ thể từng nhóm như sau :

Hành vi “Đi không đúng phần đường dành cho từng loại phương tiện”

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến TNGT tại địa bàn thị xã Dĩ An

là do người điều khiển phương tiện đi không đúng phần đường, làn đường quy định Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có 38,8% tỷ lệ người trả lời “không bao giờ” điều khiển phương tiện đi không đúng phần đường, làn đường quy định 41,3% chọn phương án “thỉnh thoảng”, 19,9% là “thường xuyên” Như vậy có đến 61,2% số người nhập cư qua khảo sát sẽ có hành vi điều khiển phương tiện đi không đúng phần đường, làn đường quy định, tất yếu sẽ có nguy cơ gây TNGT dẫn đến hậu quả nghiêm trọng

Hành vi “Thiếu chú ý quan sát, phòng tránh xử lý kém”

“Chủ quan trong điều khiển phương tiện, thiếu chú ý quan sát đến khi gặp sự

cố bất ngờ trên đường thì không xử lý kịp, dẫn đến TNGT …“– Đây là phát biểu của

trung tá Thái Minh Lý - đội trưởng đội Cảnh sát giao thông công an thị xã Dĩ An tại Hội nghị tổng kết công tác đảm bảo trật tự ATGT năm 2016 trên địa bàn thị xã Dĩ

An Thực tế qua kết quả khảo sát của đề tài đối với nhóm hành vi này, có 44% số người “thỉnh thoảng”, “thường xuyên” lơ là trong điều khiển phương tiện giao thông, 56% số người chọn phương án “không bao giờ” thiếu chú ý quan sát khi đi trên đường Như vậy, số người mắc lỗi chủ quan khi tham gia giao thông đường bộ tại thị xã Dĩ An cũng tương đối cao

Hành vi “Phóng nhanh, vượt, rẽ ẩu”

Đây là nhóm hành vi được xếp vào nhóm các vụ TNGT gây hậu quả rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng trên địa bàn thị xã Dĩ An do thiệt hại về con

Trang 39

người và tài sản là rất lớn nếu có xảy ra TNGT Tuy kết quả khảo sát đối với nhóm hành vi này trong đối tượng những người nhập cư tại thị xã có 66,3% số người chọn phương án “không bao giờ” phóng nhanh vượt ẩu, 25,3% số người “thỉnh thoảng”, 8,4% số người “thường xuyên” phóng nhanh, vượt, rẽ ẩu nhưng thực tế khi tham gia giao thông đường bộ chỉ cần có một người điều khiển phương tiện phóng nhanh vượt ẩu là cũng đủ để gây TNGT thảm khốc, gây ảnh hưởng đến trật tự ATGT

Hành vi “Đi ngược chiều”

Theo đánh giá của Đội CSGT công an thị xã Dĩ an, hành vi “Đi ngược chiều” trên đường không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật về trật tự ATGT mà còn gây nguy cơ cao dẫn đến TNGT, uy hiếp tính mạng của người tham gia giao thông, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của người điều khiển phương tiện Kết quả phân tích tại Bảng 2.1 cho thấy, số người trả lời “không bao giờ” đi ngược chiều (40,2%),

“thỉnh thoảng” đi ngược chiều (53,4%), “thường xuyên” đi ngược chiều (6,4%) Tác giả cũng tiến hành khảo sát nhóm hành vi này trong đối tượng người nhập cư tại thị

xã Dĩ An đặt trong tình huống “đi ngược chiều sẽ giảm khoảng cách đoạn đường đi” Đây là tình huống mà người tham gia giao thông đường bộ thường xuyên vi

phạm tại địa phương

Biểu đồ 2.9: Tình huống khi đi ngược chiều sẽ giảm khoảng cách đoạn đường đi

(đơn vị: %) (N= 194) Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn tháng 11/2016

Tại biểu đồ 2.9 cho kết quả như sau: 48,2% người nhập cư tại thị xã Dĩ An

trong bất kỳ trường hợp nào vẫn đi đúng Luật Đồng nghĩa có tỷ lệ “dưới trung bình” số người nhập cư có hành vi chấp hành đúng Luật giao thông đường bộ

Trang 40

Ngược lại có 51,8% người sẽ có hành vi vi phạm trật tự ATGT Trong đó đáng quan tâm nhất là 12,5% số người “đi ngược chiều vì tiện đường” bất chấp nguy hiểm TNGT có thể rình rập bất cứ lúc nào, 39,3% số người trong trường hợp đặc biệt (vì trễ giờ làm, có công chuyện gấp…) sẽ sẳn sàng thực hiện hành vi “đi ngược chiều” tức vi phạm trật tự an toàn giao thông

Hành vi “Điều khiển xe máy khi bị say rƣợu”

Theo thống kê từ Cục CSGT thuộc Bộ công an về nguyên nhân gây TNGT tại nước ta trong năm 2016, cả nước có tới 36,6% số vụ TNGT xảy ra là do người điều khiển phương tiện tham gia giao thông sau khi sử dụng rượu bia [18] Tại thị

xã Dĩ An, tình trạng TNGT từ nhóm hành vi này xảy ra thường xuyên, chủ yếu trong đối tượng nam giới, độ tuổi thanh niên và trung niên, thành phần công nhân, người lao động và cả đối tượng học sinh – sinh viên [7]

Ra đường sợ nhứt mấy cha xỉn, năm qua nè, ba tui đang đi bộ trong lề đường

bị một cha xỉn tông gãy xương phải nằm viện mấy tháng (Nữ, 40 tuổi, bán tạp hóa)

Bên nhà vợ tui có ông anh rể vừa mới mất vì TNGT, ổng làm công nhân trong khu công nghiệp Sóng Thần, bửa đó nhậu xỉn quá, chạy nhanh thắng không kịp nên tông vào đuôi xe tải đang đậu trên lề đường đó, tông mạnh quá nên chết tại chỗ luôn (Nam, 38 tuổi, thợ sửa xe)

Năm 2016, đội cảnh sát giao thông công an thị xã xử phạt hàng trăm trường hợp người điều khiển xe vi phạm nồng độ cồn Người vi phạm phần đông đến từ các tỉnh miền Tây, người miền Nam, miền Trung, miền Bắc cũng có Say rượu mà vẫn chạy xe là rất nguy hiểm, dễ gây TNGT, mà đã gây TNGT thì toàn các vụ nghiêm trọng thôi Vụ nào cũng có người chết với bị thương tật (Nam, 29 tuổi, CSGT)

Có thể nói hành vi “Điều khiển xe máy khi bị say rƣợu” đây cũng nhóm

hành vi trực tiếp có tác động đến các nhóm hành vi vi phạm khác khi tham gia giao

thông của người dân: phóng nhanh vượt ẩu, vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ quy định,… Đây cũng là nhóm hành vi vi phạm ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính

người vi phạm còn phải chịu trách nhiệm hình sự nếu gây thiệt hại nghiêm trọng về

tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác (Khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự)

Ngày đăng: 29/05/2017, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Tô Nhi A (2012). Hành vi tham giao thông của sinh viên một số trường Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi tham giao thông của sinh viên một số trường Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Tô Nhi A
Năm: 2012
2. Nguyễn Thế Anh (2016). Tình hình trật tự, an toàn giao thông năm 2016 trên phạm vi toàn quốc. Hvcsnd.edu.vn.(http://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Thong-tin-An-toan-giao/206/6344/Tinh-hinh-trat-tu-an-toan-giao-thong-nam-2016-tren-pham-vi-toan-quoc.aspx).Truy cập tháng 11 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (http://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Thong-tin-An-toan-giao/206/6344/Tinh-hinh-trat-tu-an-toan-giao-thong-nam-2016-tren-pham-vi-toan-quoc.aspx)
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Năm: 2016
3. Bộ Công an. Thông tư 58/2009/TT-BCA ngày 28/10/2009 quy định và hướng dẫn thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin về tai nạn giao thông đường bộ, tr.2-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 58/2009/TT-BCA ngày 28/10/2009 quy định và hướng dẫn thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin về tai nạn giao thông đường bộ
5. Chinhpc (2012), Chủ quan nguyên nhân hàng đầu gây TNGT. Mt.gov.vn. (http://www.mt.gov.vn/tthc/tin-tuc/28268/chu-quan---nguyen-nhan-hang-dau-gay-tai-nan-giao-thong.aspx).Truy cập tháng 11 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (http://www.mt.gov.vn/tthc/tin-tuc/28268/chu-quan---nguyen-nhan-hang-dau-gay-tai-nan-giao-thong.aspx)
Tác giả: Chinhpc
Năm: 2012
10. Trần Thị Hương (2012), Vấn đề nhập cư ở EU hiện nay: thực trạng và chính sách, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 4, (91), tr.227-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhập cư ở EU hiện nay: thực trạng và chính sách
Tác giả: Trần Thị Hương
Năm: 2012
11. Mai Văn Hai – Mai Kiệm (2011), Xã hội học văn hóa, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, tr.255-259 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hóa
Tác giả: Mai Văn Hai – Mai Kiệm
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2011
12. Nguyễn Thị Mai Lan (2015). Hành vi tham gia giao thông đường bộ trong các nghiên cứu nước ngoài, Tạp chí Tâm lý học, (số 7), tr.36-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi tham gia giao thông đường bộ trong các nghiên cứu nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Lan
Năm: 2015
13. Nguyễn Tôn Nhan - Phú Văn Hẳn đồng chủ biên (2014), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa Hà Nội, tr.789, tr.1003, tr.1241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tôn Nhan - Phú Văn Hẳn đồng chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa Hà Nội
Năm: 2014
14. Phạm Hoàng Phước (2013). Văn hóa giao thông đường bộ của người dân tại thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và những yếu tố tác động. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao thông đường bộ của người dân tại thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và những yếu tố tác động
Tác giả: Phạm Hoàng Phước
Năm: 2013
17. Tô thị Quyên (2011). Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng. Thành phố Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng
Tác giả: Tô thị Quyên
Năm: 2011
18. Lê Sơn (2016). Hãy làm tất cả những gì có thể để giao thông hiện đại, an toàn hơn. Baomoi.com.(https://www.baomoi.com/hay-lam-tat-ca-nhung-gi-co-the-de-giao-thong-hien-dai-an-toan-hon/c/20868336.epi).Truy cập tháng 11 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Sơn (2016). Hãy làm tất cả những gì có thể để giao thông hiện đại, an toàn hơn. Baomoi.com. "(https://www.baomoi.com/hay-lam-tat-ca-nhung-gi-co-the-de-giao-thong-hien-dai-an-toan-hon/c/20868336.epi)
Tác giả: Lê Sơn
Năm: 2016
19. Phan Thuận (2012), Các yếu tố tác động đến bạo lực học đường dưới giác độ tiếp cận các lý thuyết xã hội học, tr.66- 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến bạo lực học đường dưới giác độ tiếp cận các lý thuyết xã hội học
Tác giả: Phan Thuận
Năm: 2012
21. Dương Thuận và Dương Thị Ngọc Thu (2005). Các yếu tố tác động đến hành vi sai lệch xã hội của người tham gia giao thông đường bộ tại thành phố Phủ Lý, Hà Nam. Tỉnh Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến hành vi sai lệch xã hội của người tham gia giao thông đường bộ tại thành phố Phủ Lý, Hà Nam
Tác giả: Dương Thuận và Dương Thị Ngọc Thu
Năm: 2005
22. Dư Phước Tân (2009). Các hành vi ứng xử của cư dân đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp để xây dựng lối sống văn minh hiện đại. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hành vi ứng xử của cư dân đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp để xây dựng lối sống văn minh hiện đại
Tác giả: Dư Phước Tân
Năm: 2009
23. Ngô Thị Lệ Thủy (2010). Hành vi tham gia giao thông của sinh viên trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng. Thành phố Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi tham gia giao thông của sinh viên trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng
Tác giả: Ngô Thị Lệ Thủy
Năm: 2010
25. Tôn Nữ Quỳnh Trân - Nguyễn Thế Nghĩa (2002), phát triển đô thị bền vững, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), phát triển đô thị bền vững
Tác giả: Tôn Nữ Quỳnh Trân - Nguyễn Thế Nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2002
26.Trịnh Tiến Việt (2014), Chủ thể, phương thức và phương tiện kiểm soát xã hội đối với tội phạm, Tạp chí Khoa học Đại Học Quốc Gia Hà Nội Tập 30, (Số 1), tr. 31 27. Thường trực HĐND thị xã Dĩ An (2016), Biên bản tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri thị xã Dĩ An trước kỳ họp lần thứ I nhiệm kỳ 2016 - 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ thể, phương thức và phương tiện kiểm soát xã hội đối với tội phạm, "Tạp chí Khoa học Đại Học Quốc Gia Hà Nội Tập 30, (Số 1), tr. 31 27. Thường trực HĐND thị xã Dĩ An (2016)
Tác giả: Trịnh Tiến Việt (2014), Chủ thể, phương thức và phương tiện kiểm soát xã hội đối với tội phạm, Tạp chí Khoa học Đại Học Quốc Gia Hà Nội Tập 30, (Số 1), tr. 31 27. Thường trực HĐND thị xã Dĩ An
Năm: 2016
9. Lê Thu Huyền (2014). Phân tích hành vi sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông.Antoangiaothong.gov.vn(http://static.antoangiaothong.gov.vn/Uploaded/documents/151027%20Le%20Thu Link
4. Ban an toàn giao thông Thị xã Dĩ An (2015, 2016), Báo cáo tình hình đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thị xã Dĩ An Khác
6. Chi cục thống kê Thị xã Dĩ An (2015), Báo cáo thống kê về tình hình dân số tính đến ngày 01/10/2015 trên địa bàn thị xã Dĩ An - phục vụ cho công tác chuẩn bị bầu cử Đại biểu Quốc Hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Mức độ hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng (đơn vị: %) - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 2.1 Mức độ hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng (đơn vị: %) (Trang 37)
Bảng 2.2: Mức độ vi phạm hành vi “Điều khiển xe máy khi bị say rượu“ theo tình - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 2.2 Mức độ vi phạm hành vi “Điều khiển xe máy khi bị say rượu“ theo tình (Trang 42)
Bảng 2.3:  Mức độ hành vi vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng (đơn vị: %) - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 2.3 Mức độ hành vi vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng (đơn vị: %) (Trang 43)
Bảng 2.5: Tình huống cần tham gia giao thông không có mũ bảo hiểm theo - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 2.5 Tình huống cần tham gia giao thông không có mũ bảo hiểm theo (Trang 45)
Bảng 2.6: Mức độ vi phạm hành vi “Sử dụng dù, điện thoại di động khi lái xe” theo - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 2.6 Mức độ vi phạm hành vi “Sử dụng dù, điện thoại di động khi lái xe” theo (Trang 46)
Bảng 3.9: Nhận định về thói quen làm ảnh hưởng đến hành vi tham gia giao thông - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 3.9 Nhận định về thói quen làm ảnh hưởng đến hành vi tham gia giao thông (Trang 59)
Bảng 3.11:  Nguyên nhân vi phạm giao thông do nhiều người cùng vi phạm theo - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 3.11 Nguyên nhân vi phạm giao thông do nhiều người cùng vi phạm theo (Trang 63)
Bảng 3.12: Thái độ vi phạm luật giao thông theo tình trạng hôn nhân (đơn vị: %) - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 3.12 Thái độ vi phạm luật giao thông theo tình trạng hôn nhân (đơn vị: %) (Trang 65)
Bảng 3.15: Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ của - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 3.15 Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ của (Trang 69)
Hình trật tự ATGT theo hướng bền vững, trong quá trình nâng cấp lên đô thị, thị xã - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Hình tr ật tự ATGT theo hướng bền vững, trong quá trình nâng cấp lên đô thị, thị xã (Trang 71)
Bảng 3.17:  Nguyên nhân “Luật chưa nghiêm” theo trình độ học vấn (T-test) - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 3.17 Nguyên nhân “Luật chưa nghiêm” theo trình độ học vấn (T-test) (Trang 73)
Bảng 3.18: Ý kiến Người nhập cư tăng là nguyên nhân gia tăng số vụ TNGT  theo - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 3.18 Ý kiến Người nhập cư tăng là nguyên nhân gia tăng số vụ TNGT theo (Trang 76)
Bảng 3.19: Ý kiến người trả lời về các tính khả thi của các biện pháp tuyên truyền - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 3.19 Ý kiến người trả lời về các tính khả thi của các biện pháp tuyên truyền (Trang 77)
Bảng 3.20: Tham gia tuyên truyền Luật giao thông đường bộ tại nơi ở và nơi làm - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 3.20 Tham gia tuyên truyền Luật giao thông đường bộ tại nơi ở và nơi làm (Trang 79)
Bảng 3.21: Đề xuất giải pháp hạn chế hành vi vi phạm luật giao thông - Hành vi tham gia giao thông đường bộ của người nhập cư tại thị xã dĩ an, tỉnh bình dương
Bảng 3.21 Đề xuất giải pháp hạn chế hành vi vi phạm luật giao thông (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w