Đánh giá khả năng kích kháng nấm gây bệnh của cây Keo tai tượng sau khi đã nhiễm vi sinh vật nội sinh .... Tuy nhiên, trước sự gia tăng nhanh về mặt diện tích, cũng như các dòng keo khiế
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
==========
HOÀNG VĂN TÚ
“ỨNG DỤNG CỦA VI SINH VẬT NỘI SINH KHÁNG NẤM Cerotocystis sp
GÂY BỆNH CHẾT HÉO CÂY KEO TAI TƯỢNG TẠI XÃ KHE MO - HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ VIỆN KHOA HỌC LÂM
NGHIỆP VIỆT NAM”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm Nghiệp
Khóa học : 2012-2016 Giảng viên hướng dẫn: TS.ĐÀM VĂN VINH
THÁI NGUYÊN, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
==========
HOÀNG VĂN TÚ
“ỨNG DỤNG CỦA VI SINH VẬT NỘI SINH KHÁNG NẤM Cerotocystis sp
GÂY BỆNH CHẾT HÉO CÂY KEO TAI TƯỢNG TẠI XÃ KHE MO - HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ VIỆN KHOA HỌC LÂM
NGHIỆP VIỆT NAM”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm Nghiệp
Lớp : K 44 - LN Khóa học : 2012-2016 Giảng viên hướng dẫn: TS.ĐÀM VĂN VINH
THÁI NGUYÊN, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các kết quả và
số liệu kết quả trong suốt quá trình nghiên cứu tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam hoàn toàn trung thục, chưa công bố kết quả Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm Xác nhận của giáo viên hướng dẫn người viết cam đoan
Trang 4Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Ứng dụng vi sinh vật nội sinh kích kháng nấm Ceratocystis
sp gây bệnh chết héo trên cây Keo tai tượng tại xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam”.
Để hoàn thành báo cáo khóa luận như ngày hôm nay Trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới TS Đàm Văn Vinh - Giáo viên hướng dẫn, PGS.TS Phạm Quang Thu và các anh, chị của Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cùng toàn thể giáo viên trong Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đặc biệt anh Nguyễn Minh Chí cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng, người trực tiếp hướng dẫn em triển khai các nội dung nghiên cứu
Do thời gian cũng như kinh nghiệm của em còn hạn chế nên bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô, đóng góp ý kiến để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Hoàng Văn Tú
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa việc thực hiện đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
2.1.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo 6
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 15
2.4.1 Vị trí địa lí 15
2.4.2 Thổ nhưỡng 16
2.4.3 Khí hậu 16
2.4.4 Đơn vị hành chính 16
2.4.5 Dân cư 17
2.4.6 Tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên 17
2.4.7 Giao thông vận tải 18
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Nội dung nghiên cứu 20
3.2.2 Đánh giá khả năng kích kháng nấm gây bệnh của cây Keo tai tượng sau khi đã nhiễm vi sinh vật nội sinh 20
3.2.3 Đánh giá khả năng kích thích nảy mầm của các chủng vi sinh vật nội sinh đối với hạt Keo tai tượng 20
Trang 63.3 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.2 Phương pháp đánh giá khả năng kích kháng nấm gây bệnh của cây Keo tai tượng sau khi đã nhiễm vi sinh vật nội sinh 25
3.3.3 Phương pháp đánh giá khả năng kích thích nảy mầm của các chủng vi sinh vật nội sinh đối với hạt Keo tai tượng 25
4.2 Đánh giá khả năng kích kháng nấm gây bệnh của cây Keo tai tượng sau khi đã nhiễm vi sinh vật nội sinh 30
Hình 4.5 Lá kháng bệnh ở thời điểm 10 ngày sau khi tiêm dung dịch nấm Ceratocystis sp 32
4.3 Kết quả đánh giá khả năng kích thích nảy mầm của các chủng vi sinh vật nội sinh đối với hạt Keo tai tượng 33
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
5.1 Kết luận 35
5.2 Kiến nghị 36
Trang 7DANH LỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Công thức thí nghiệm 21
Bảng 3.2 Bảng bố trí thí nghiệm nhiễm vi sinh vật nội sinh 21
Bảng 3.3 Công thức nảy mầm 27
Bảng 4.1 Kết quả nhiễm vi sinh vật nội sinh bằng phương pháp tưới 27
Bảng 4.2 Kết quả nhiễm vi sinh vật nội sinh bằng phương pháp phun 29
Bảng 4.3 Kết quả kích kháng nấm gây bệnh khi tiêm trên lá 31
Bảng 4.4 Bảng kết quả kích thích nảy mầm của 2 chủng khuẩn nội sinh 34
STT 34
Trang 8DANH LỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Khuẩn lạc vi khuẩn nội sinh K1R8.2 28 Hình 4.2 Khuẩn lạc vi khuẩn nội sinh K7C3.3 28 Hình 4.3 Năm cấp bị bệnh trên lá: rất nặng, nặng, trung bình, nhẹ và không bị bệnh ở thời điểm 10 ngày sau thí nghiệm 32 Hình 4.4 Vết bệnh trên lá 33 Hình 4.5 Thể quả nấm gây bệnh mọc tại vết bệnh trên lá 33
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
tây, đường dextrose và thạch agar) 1/2PDA Môi trường bổ sung ½ dịch chiết khoai
tây, ½ đường dextrose và giữa nguyên lượng thạch agar so với PDA
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) là loài cây nhập nội được đưa vào
trồng ở nước ta từ những năm đầu của thập niên 80 Chỉ trong một thời gian ngắn, sau khi các thí nghiệm về khảo nghiệm xuất xứ và các thí nghiệm về biện pháp kỹ thuật gây trồng có kết quả, Keo tai tượng đã được trồng phổ biến ở hầu hết các tỉnh trong cả nước Keo tai tượng là loài cây gỗ lớn, mọc nhanh, gỗ dễ gia công nên rất được ưa chuộng để đóng đồ gia dụng, làm nhà, ván dăm, làm bột giấy vv Trong những năm gần đây, diện tích rừng trồng Keo tai tượng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng diện tích rừng trồng của Việt Nam Tuy nhiên, trước sự gia tăng nhanh về mặt diện tích, cũng như các dòng keo khiến cho các rừng trồng keo xuất hiện nhiều loại bệnh mới mức độ nghiêm trọng hơn, gây thiệt hại không nhỏ rừng trồng tại một số vùng tại Thái Nguyên và các địa phương khác trong cả nước Điển hình ở một số nơi như Bầu Bàng, Bình Dương một số dòng keo lai đã bị mắc bệnh phấn hồng với tỉ lệ và mức độ bị bệnh khá cao, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất [5]
Điển hình như thời gian gần đây ở một số vùng keo trọng điểm đã xuất hiện những cây bị loét thân gây nên triệu chứng héo tán lá, sau đó gỗ bị biến màu đen và cây bị nhiễm bệnh xuất hiện ở nhiều vùng sinh thái, bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu Các mẫu bệnh được Trung tâm Nghiên cứu bảo vệ rừng - viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam giám định nguyên nhân là do nấm
Ceratocystis sp gây ra Đây là loài nấm mới được phát hiện gây bệnh ở một số
của một số cây trồng ở Việt Nam, đặc biệt là cây keo, nguồn gốc loại nấm này chưa được xác định
Trang 11Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Keo lai và Keo tai tượng là những cây trồng chính, được trồng với diện tích lớn và tập trung Để góp phần ngăn chặn dịch bệnh phát triển và lan rộng, nguy cơ thiệt hại về kinh tế và môi trường thì việc nghiên cứu, phát hiện sớm bệnh và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh hại trên cây keo là không thể thiếu được, vừa có ý nghĩ khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn cao
Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sinh học đang là một hướng đi bền vững và mang lại nhiều hiệu quả cao cả về mặt kinh tế lẫn thực tế áp dụng Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và cả ở Việt Nam về các biện pháp kích kháng nấm gây bệnh trên cây bằng các vi sinh vật nội sinh Tìm hiểu được cơ chế kháng và khả năng hấp thụ cũng như nhiễm vi sinh vật nội sinh
bằng các biện pháp cơ giới đã và đang mang lại nhiều hiệu quả cao trong nghiên
cứu khoa học Đề tài “Ứng dụng vi sinh vật nội sinh kích kháng nấm
Ceratocystis sp gây bệnh chết héo trên cây Keo tai tượng tại tỉnh Thái Nguyên”
sẽ là cơ sở tiền đề cho công tác nghiên cứu các biện pháp phòng trừ mới trong
lâm nghiệp và có ý nghĩa thực tiễn rất cao Để góp phần giải quyết những tồn tại
trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng của vi sinh vật nội sinh kháng nấm
Ceratocystis sp gây bệnh chết héo trên cây Keo tai tượng tại tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá được khả năng kích kháng bệnh chết héo do nấm Ceratocytis
sp gây ra trên Keo tai tượng thông qua vi sinh vật nội sinh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nội sinh hóa được các chủng vi sinh vật nội sinh vào trong cây Keo tai tượng 3 tháng tuổi
Trang 12- Đánh giá được khả năng kích kháng nấm gây bệnh của cây Keo tai tượng sau khi đã nhiễm vi sinh vật nội sinh
- Đánh giá được khả năng kích thích nảy mầm của các chủng vi sinh vật nội sinh đối với hạt Keo tai tượng
1.3 Ý nghĩa việc thực hiện đề tài
Hiện nay, tại Thái Nguyên bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp gây ra là
tương đối nghiêm trọng và phổ biến trên thực vật cả trong nông nghiệp và lâm nghiệp Trên địa bàn tỉnh tại các vùng trồng sản xuất cây lâm nghiệp cũng đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của bệnh chết héo đặc biệt là các diện tích rừng trồng keo, đặc biệt là một số huyện Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa, Đồng Hỷ và Võ Nhai đã xác định được đối tượng gây chết hàng loạt diện tích là do nấm
Ceratocystis sp Toàn bộ những cây bị nhiễm bệnh chỉ một thời gian ngắn là
chết ảnh hưởng đến năng xuất và chất lượng rừng trồng keo
Việc nghiên cứu và phát hiện sớm bệnh ở một số vùng trồng keo trọng điểm nước ta là rất quan trọng nhằm lập kế hoạch phòng trừ bệnh dịch phát triển
và lan rộng nguy cơ thiệt hại về kinh tế và môi trường
- Ý nghĩa khoa học và trong học tập:
+ Củng cố kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn
+ Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp phòng trừ bệnh hại trên cây keo bằng các chủng VSV nội sinh
+ Biết cách tổng hợp, phân tích để viết báo cáo nghiên cứu khoa học
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Qua quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất và khoa học
Trang 13+ Qua những đánh giá cụ thể về bệnh hại chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến ngành Lâm nghiệp và phát triển kinh tế rừng
+ Làm cơ sở và tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.1.1 Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng
Chi keo (Acacia) có khoảng 1.200 loài phân bố tự nhiên ở khắp các châu
lục Song tâp trung nhiều và phát triển tốt ở Châu Phi và Châu Úc Riêng ở Austraylia có tới 850 loài, trong đó có hàng trăm loài có kiểu lá giả như Keo tai tượng Trong vài ba thập kỉ gần đây ở vùng nhiệt đới Châu Á, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, cac loài keo nhập từ Austraylia đã đóng một vai trò rất quan trọng trong các chương trình trồng rừng, trong đó nổi bật là Keo lá tràm và Keo tai
tượng (Acacia mangium) (C, 2013) [14]
Keo tai tượng là loài cây mọc nhanh có biên độ sinh thái khá rộng Là loài cây họ đậu nên Keo tai tượng không chỉ là cây kinh tế mà còn là cây che phủ cải tạo đất và cải thiện điều kiên môi trường, ngày nay loài cây này đang được mở rộng ở nhiều nước, điển hình như: Indonesia, Philippin, Thái Lan, Ấn Độ, Nigiêria, Tanzania, Băng-la-đét, Trung Quốc, Mỹ Ngay cả Papua Niu Ghine, nơi có keo tai tượng phân bố tự nhiên ở phía Đông và phía Nam cũng đã tiến hành dẫn giống lên phía Bắc để phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo đất thoái hóa sau nương rẫy (C, 2013) [13]
Ở Indonesia Keo tai tượng cũng được trồng từ những năm 1940 Ở Thái Lan, Keo tai tượng đã được đưa vào trồng từ năm 1935, nhưng mãi đến năm 1964 trở lại đây mới được phát triển mạnh Năm 1961, tại Trung Quốc Keo tai tượng được trồng và phát triển mạnh ở bốn tỉnh Miền nam, được xác định Keo tai tượng là một trong ba loài keo thích hợp với điều kiện sinh thái ở tỉnh Quảng Đông, Quảng tây, Vân Nam và đảo Hải Nam Trung Quốc đã nhập khoảng 50
Trang 15loài từ Austraylia và trồng thử nghiệm, song chỉ có một số loài có triển vọng và được gây trồng trên diện rộng, trong đó có Keo tai tượng (C, 2013) [13]
Việc trồng Keo tai tượng trên quy mô công nghiệp đã được triển khai ở Indonesia từ đầu những năm 1980 đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000 ha rừng trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ
Cây Keo tai tượng cũng như các loài cây đang là cây trồng chủ lực của nhiều vùng lãnh thổ và các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, trồng rừng sản xuất bằng các loài keo giúp phát triển kinh tế nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, cải thiện môi trường và đem lại nhiều lợi ích cho phát triển các ngành công nghiệp gỗ
2.1.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo
Tình hình nghiên cứu chung:
Bệnh cây rừng đã được nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoahọc có nhiều cống hiến cho công tác nghiên cứu, phục vụ cho đời sống sảnxuất thực tiễn
Những năm 50 của thập kỉ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập chung vàoxác định loài mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triểnbệnh Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, Roger L (1953) đã nguyên cứu các loàibệnh hại cây rừng dưới mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des Pays Chauds) trong đó có một số loại bệnh hại lá củaThông, Keo, Bạch Đàn John Boyce (1961) xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest Pathologhy) đãmô tả một số bệnh hại cây rừng Cuốn sách này được xuất bản nhiều nước như:Anh, Mỹ, Canada (Phan Thanh Hòa và cộng sự, 2010) [4]
Trang 16Nghiên cứu về bệnh hại keo Theo Roger L (1954) đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây keo Câykeo bị khô héo làm lá rụng và tàn lụi từ trên xuống
dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerella cingulata (Giai đoạn vô tính là
Collectotrichum gloeosporioides) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với
loài Keo tai tượng (Acacia mangium) trong vườn giống ở Papua New Guinea
(Roger L,1954) Tại Malaysia theo nghiên cứu của Lee (1993) loài nấm này còn gây hại với các loài keo khác Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũngcông bố nhiều loại bệnh hại keo (Roger L, 1953) [19]
Trong thời gian 1995 – 1996, các cuộc điều tra các bệnh của bốn loài keo được thực hiên ở miền bắc Australia và một số nước Đông Nam Á được hỗ trợ kinh phí của Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp Quốc Tế Australia (ACIAR) và Trung tâm Lâm nghiệp Quốc Tế (CIFOR) Các cuộc điều tra bởi nhà bệnh lí học rừng được thực hiện trong các khu bản địa, thử nghiệm tại các đồn điền Công nghiệp và Lâm nghiệp xã hội của cây keo nhiệt đới ở Úc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Thái Lan Các mục tiêu để đánh giá tiềm năng của nấm gây bệnh như hạn chế các yếu tố tác động tới sự tăng trưởng và tăng năng suất của cây, và
để so sánh tầm quan trọng tương đối của các tác nhân gây bệnh nấm Kết quả này được công bố tai một hội thảo tổ chức tại Subanjeriji ở Sumatra năm 1996(Old et al 1997), cung cấp một số chuẩn mực của kiến thức hiện tại của các bệnh lý rừng trồng keo ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á (Roge L 1952, 1954) [19]
Năm 1961 – 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng ngưỡi Mỹ đã mô tả một
số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại keo (John Boyce, 1961) [21]
Trang 17Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn pháttriển và nghiên cứu các loài
Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964,nhiều đại biểu kể cả các tổ chức quốc tế như CIFOR cũng đã đề cập đến cácvấn đề sâu bệnh hại các loài
keo (Acacia) (Roger L,1953). [19]
Năm 1988 - 1990 Benergee R (Ấn Độ) đã xem xét nghiên cứu vùng trồng
Keo lá tràm ở Kalyani Nadia và đã phát hiện nấm bồ hóng Oidium sp.gây hại trên cây non từ 1 - 15 tuổi Florece E.J và đồng nghiệp ở Viện Nghiêncứu Lâm nghiệp Kerela Ấn Độ đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor gây hại trên vùng trồng A auricuformis bang Kerela,tỷ cây chết khoảng 10% Ganapathy N và các đồng nghiệp ở trung tâmnghiên cứu quốc gia cây họ đậu ở Vamban Ấn Độ, phát hiện sự rụng lá nghiêm trọng của cây non Acacia spp trồng tại vùng đất khô hạn và vùng đất đỏ đá ong (pH = 5,5 - 6,0) tại Tamilladu do bọ vòi voi Mylloceros sp gây ra ở 4 loại A auriculiformis, A
mangium, A crassicarpa và A holosericea.Meshram P và đồng nghiệp ở viện cây rừng Madhya Pradesh Ấn Độ nghiên cứu về sâu và bệnh gây thiệt hại cho
cây A auriculiformis vườn ươm Lucgo J.N thuộc phòng môi trường và tài
nguyên thành phố Cebu, Philippin đã pháthiện thấy một số bệnh trên A
Mangium Trong thực tế có một số nấm bệnh đãđược phân lập từ một số loài
keo Đó là nấm Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá A Simsii; nấm
Uromycladium robinsonii gây bệnh rỉ sắt ở lá giả loài A melanoxylon; nấm Oidium sp có trên các loài A mangium và A auriculiformis ở Trung Quốc
nhưng loài A confusa (Đài Loan) địa phương lại không bị bệnh (Đào Hồng Thuận, 2008) [12]
Các nghiên cứu về các loại bệnh ở keo Acacia cũng được tập hợp khá đầy
đủ trong cuốn sách “Cẩm nang bệnh Keo nhiệt đới Austraylia ở, ĐôngNam Á và
Trang 18Ấn Độ ”bản tiếng anh có tên là “AManual of Diseases of Tropical Acacias in Australia, South-east Asia and india” Cuốn sách đã đề cập đến các bệnh khá quen thuộc đã từng gặp ở nước ta như bệnh phấn trắng, bệnhđốm lá, bệnh phán hồng và rỗng ruột (Phan Thanh Hòa và cộng sự, 2010) [4]
2.1.3 Nghiên cứu về nấm ceratocystis
Những nghiên cứu về các loài nấm thuộc chi ceratocystis gây bệnh
cho cây trồng được nhiều nước quan tâm, Ceratocystis fimbriata gây chết hàng loạt Bạch Đàn ở Cộng hòa Công gô và Braxin; cây Cà Phê (Coffea
sp.) ở Colombia và Venezuela Đây cũng chính là loài gây bệnh trên cây Xoài ở Braxin và là một trong những bệnh nguy hiểm nhất cho cây trồng
ở Nam Mỹ
Ceratocystis sp là những nấm gây hại, nguy hiểm cho nhiều loài cây, là
nguyên nhân gây bệnh thối rễ, gốc, loét thân, cành và gây thối quả trên nhiều loài cây trồng nhiệt đới (Kile, 1993) [21]
Ở Indonesia Ceratocystis sp lần đầu tiên được ghi nhận khi Ceratocystis
sp fimbriata (còn có tên là Rostrella cofeae) được công bố năm 1990 trên cây
Cà phê (Coffea arabica) ở đảo Java (Jimmerman, 1990) [25] Sau đó nhiều loài
Ceratocystis sp đã được tìm thấy trên nhiều cây chủ khác nhau trên hòn đảo ở
Indonesia Gần nhất là phát hiện năm loài nấm Ceratocystis sp mới gây hại trên
cây keo
2.1.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh
2.1.4.1 Đối với rừng trồng:
Để hạn chế được bệnh chết héo Keo tại tượng do nấm Ceratocystis sp
gây ra, trong trồng rừng, tránh gây tổn thương cho cây Không tỉa cành vào mùa mưa Tỉa cành nên dùng cưa cắt các cành và bôi thuốc chống nấm vào các vết cắt Phòng trừ côn trùng đục thân cành Bón đủ phân đa lượng và vi lượng chứa boron cho cây sinh trưởng và phát triển tốt Bón chế phẩm vi sinh bao gồm vi khuẩn nốt sần cố định đạm, vi sinh phân giải lân, và vi khuẩn đối kháng với nấm
Trang 19gây bệnh Ceratocystis manginecans, C.acaciivora Cách thức tiến hành: Cắt tỉa
cành vào mùa khô Sử dụng bẫy mồi là cồn 96% và chất dẫn dụ Para methanol
để bắt mọt đục thân keo Các biện pháp an toàn: Sử dụng các dụng cụ an toàn lao động khi tiếp xúc với thuốc trừ sâu, bệnh
Xử lý cây bị bệnh: Tiến hành đào, cho toàn bộ rễ, thân, cành, lá những cây
bị bệnh tập trung lại để đốt, dùng xăng hoặc dầu hỏa để đốt nhằm hạn chế sự phát tán của mầm bệnh ra môi trường bên ngoài, sau khi đốt xong rắc vôi bột xung quanh miệng hố và phủ lên mặt, lấp đất trở lại
Đối với hố đào gốc, tiến hành tưới chế phẩm có nấm Trichoderma (liều
lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất) và rắc vôi bột vào hố (từ 0,3 - 0,5 kg/hố tuỳ cây lớn hay nhỏ) rồi xới xáo để vôi trộn đều vào đất, phơi ải 15 - 20 ngày sau mới tiến hành trồng dặm cây Trước khi trồng, tưới hoặc bón chế phẩm có thành
phấn nấm Trichoderma vào bầu, liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất
2.1.4.2 Đối với vườn ươm:
Vườn giống cây đầu dòng: Khi phát hiện có cây bị bệnh chết héo trong vườn thì tạm ngừng việc lấy hom nhân giống để tiến hành các biện pháp xử lý đối với cây bị bệnh như xử lý cây bị bệnh rừng trồng đã nêu ở trên Trong quá trình chăm sóc vườn cây đầu dòng, kết hợp tưới hoặc bón phân có thành phần nấm Trichoderma vào quanh gốc cây theo định kỳ
-Đối với vườn ươm giống: Xử lý bầu đất (tạo đất ruột bầu) cây giống bằng phân vi sinh tổng hợp (gồm vi khuẩn cố định đạm, vi khuẩn phân giải lân và vi khuẩn đối kháng nấm) để diệt mầm bệnh giúp cây con phát triển khỏe mạnh, tăng khả năng kháng bệnh Nếu trên vườn phát hiện bệnh chết héo thì tạm ngừng toàn bộ việc giâm hom đợt mới để tiến hành xử lý vườn như sau:
+ Đối với số cây hiện đã gieo ươm thì thu thập toàn bộ cây đã chết và cây
có biểu hiện bị bệnh (toàn cây và bầu đất) tập trung vào hố lớn để đốt Cây chưa
có biểu hiện bị bệnh thì tập trung vào luống khác, nhưng phải xử lý nền luống và bầu cây trước Việc xử lý như sau: Tưới chế phẩm nấm Trichoderma (các loại
Trang 20chế phẩm vi sinh có thành phần nấm Trichoderma) vào bầu và nền luống để diệt trừ nấm bệnh, sau đó rắc vôi bột với liều lượng 0,3 - 0,5 kg/m2
mặt luống
+ Sau khi xử lý hết toàn bộ cây bị bệnh trên vườn, tiến hành vệ sinh vườn ươm sạch sẽ, khơi thông mương máng đảm bảo thoát nước tốt, tránh ứ đọng Đồng thời xử lý bằng vôi bột trên toàn bộ vườn ươm với liệu lượng 0,3 - 0,5kg/m2 và chế phẩm nấm Trichoderma Tưới chế phẩm Trichoderma thực hiện
định kỳ 10 - 15 ngày/1 lần và liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất Trong quá trình chăm sóc cây, tuỳ điều kiện thời tiết việc tưới nước chỉ nên đảm bảo vừa đủ ẩm không nên tưới quá nhiều
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng
Keo tai tượng còn có tên khác là keo lá to, keo mỡ, tên khoa học Acacia
mangium Wild Keo tai tượng là loài cây sinh trưởng nhanh, thuộc nhóm gỗ lớn,
có chiều cao tới 30m Với trục thân thẳng lên tới trên ½ chiều cao thân cây, song
ít thấy cây có đường kính trên 60 cm Đây là loài cây tái sinh nhanh ở rừng nhiệt đới Lá già rất rộng bản, rộng tới 5-10 cm và dài tới 25 cm, lá có màu lục sẫm thường có 4 (đôi khi 3) đường gân
Đây là loài cây cố định đạm, tạo cộng sinh ở rễ với nấm Thelephora, tán lá
dày nên Keo tai tượng có tác dụng che phủ rất tốt
Trong số các loài keo, Keo tai tượng có hình dáng thân tròn, thẳng, rất phù hợp làm gỗ xẻ phục vụ đồ gia dụng Gỗ của chúng có khối lượng riêng trung bình khoảng 586 kg/m3, thích hợp cho sản xuất gỗ dán, làm nguyên liệu giấy và
cả gỗ xẻ
Keo tai tượng được nội nhập vào miền Nam Việt Nam từ những năm 1960 sau được tiến hành chuyển ra Bắc trồng chủ yếu tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái
Trang 21Nguyên từ những năm 1980 Các loài keo được trồng ở Việt Nam hiện nay có nguồn gốc từ Australia và một số vùng lân cận như Papua New Guinea (PNG), West Papua, Indonesia
Nguồn hạt giống chủ yếu do các dự án và tổ chức quốc tế tài trợ như các
dự án của FAO, PAM, SIDA, SAREC, CSIRO Keo tai tượng đã được trồng trên diện rộng trong cả nước và cho kết quả khả quan ở nhiều vùng sinh thái Giai đoạn từ 1990 – 1995: chủ yếu là khảo ngiệm loài và xuất xứ trên các vùng sinh thái trên cả nươc bao gồm: Vùng trung tâm, vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ, Vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ
2.2.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo
Dự án “Giảm thiểu tác động của bệnh Keo ở vùng Đông Nam Á”ACIAR 9441 do ACIAR tài trợ bắt đầu triển khai tại Việt Nam, Thái Lan,Austraylia Dự án được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam triển khai tạiViệt Nam Cho tới khi kết thúc dự án vào cuối năm 2000, dự án đã đặt nềnmóng cho định hướng nghiên cứu về bệnh và mở đầu các nghiên cứu về chọngiống keo kháng bệnh nước ta Bước đầu đã tìm hiểu được các loài nấm hạiđiều tra đánh giá mức độ nhiễm bệnh và ảnh hưởng của loài cũng như xuất
xứcũng như hộ gia đình có nấm bị hại Các kết quả đầu tư của dự án được báo cáo tại hội thảo dự án bệnh keo được tổ chức vào tháng 11 năm 2000 tạiThành Phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006) [6]
Từ đầu nhữngnăm 1980 trở lại đây nhiều loài đã được nhập về đây trồng thử nghiệm nướcta như Keo tai tượng (A magium), Keo lá liềm (A
crassicarpa), Keo đa thân (A aulacocarpa), Keo bụi (A cincinnata), Keo lá sim (A holosericea) và saunày là keo lai tự nhiên được phát hiện và chủ động lai tạo (Nguyễn HoàngNghĩa, 1997) [7]
Trang 22Mùa xuân năm 1990 các xuất xứ Keo tai tượng và Keo lá tràm gieo tạivườn ươm Chèm, Từ Liêm, Hà Nội dã bị bệnh phấn trắng với các mức độkhác nhau Nhìn bề ngoài lá keo như bị rắc một lớp phấn trắng hay vôi bột.Mức độ bệnh đã được đánh giá qua quan sát bằng mắt thường và được xếptheo thứ tự nặng hay nhẹ Nhìn chung bệnh chưa gây ra ảnh hưởng lớn tớisinh trưởng của cây con tại vườn ươm và khi đó cũng không có điều kiện đểtìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc bệnh và các vấn đề có liên quan (NguyễnHoàng Nghĩa 1997) [7]
Một vài năm trở lại đây diện tích gây trồng keo đã tăng lên đáng kể (gần230.000 ha vào cuối năm 1999) thì cũng đã xuất hiện rừng trồng Tại Đạ Tẻh(Lâm Đồng) Keo tai tượng thuần loài trồng trên diện tích 400 ha trong đó đã có118,5 ha với tỉ lệ bị bệnh từ 7 - 59%, trong đó có một số diện tích bị khá nặng(Phạm Quang Thu, 2002) Tại Bầu Bàng Bình Dương một số dòng Keo lai
đã mắc bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỉ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh khácao gây thiệt hại cho sản xuất Tại Kom Tum năm 2001 có khoảng 1.000 ha rừng
keo lai 2 tuổi bị mắc bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn Tỷ lệ nặngnhất là ở Ngọc Tú, Ngọc hồi (Kom Tum) lên đến 90% số cây bị chết ngọn
2.2.3 Nghiên cứu về nấm ceratocystis
Ở nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho nhiều
loài nấm phát triển đặc biệt là Ceratocystis sp đã bắt đầu xuất hiện trên
cây Keo tại một số nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, ThừaThiên Huế, Lâm Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh Những cây bị bệnh,
gỗ bị biến màu, xì nhựa mủ ở vỏ, toàn bộ những cây bị nhiễm bệnh chỉ
Trang 23sau một thời gian ngắn là chết ảnh hưởng đến năng suất và chất lượngrừng trồng Keo
Theo kết quả điều tra bệnh hại rừng trồng mới được thựchiện năm 2010 và năm 2011 tại Thừa Thiên Huế cho thấy trên các diện tíchrừng trồng Keo tai tượng, Keo lá tràm và Keo lai ở một số địa phương củaTỉnh đã xuất hiện hiện tượng cây keo chết héo với tỷ lệ 5 - 7% (Phan ThanhHòa và cộng sự, 2010) [4]
Bệnh hại keo ở Thừa Thiên Huế được xác định là một
loài nấm thuộc chi Ceratocystis sp Các loài nấm thuộc chi này không phải
mới xuất hiện ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu trước đây đã ghi nhận loài
Nấm Ceratocystis fimbriata gây bệnh thối mốc mặt cạo cây Cao su Nấm
Ceratocystis fimbriata cũng được ghi nhận gây hại trên cây Ca cao gây nên bệnh
héo rũ và được mô tả bệnh thường đi kèm với cây bị mọt đục thân hoặc cành, lúc đầu có một số cành bị héo lá ngả sang màu nâu sau đó toàn bộ cây bị héo và chết Một số nghiên cứu khác cũng pháthiện nấm gây bệnh thối đen quả Dứa và gây thối quả Thanh long do nấmCeratocystis paradoxa (Phạm Quang Thu và
cộng sự, 2011) [11]
2.2.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh
Biện pháp sinh học: bón phân hữu cơ, phân chuồng đã ủ hoai kết hợp
với nấm đối kháng Trichoderma để tăng sức đề kháng cho cây Phạm Văn Mạch (1991) cũng đã sử dụng xạ khuẩn Streptomyces spp Và chủng nấm đối kháng
Trichoderma spp để phòng chống bệnh thối cổ rễ cây thông con vườn ươm tuy
nhiên những nghiên cứu chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm các chủng nấm và xạ khuẩn đều được phân lập từ đất Sử dụng xạ khuẩn để phòng chống bệnh thối cổ
Trang 24rễ cây thông con ở vườn ươm do nấm Fusarium oxysporum gây ra (Nguyễn Lân
- Địa hình: Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc Nam
và thấp dần xuống phía Nam Cấu trúc vùng núi phía bắc chủ yếu là đa phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ
Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590 m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam
Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác
Trang 252.4.2 Thổ nhưỡng
Thái Nguyên có khả năng phát triển nông lâm, công nghiệp, du lịch và các loại hình dịch vụ khác Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 102.190 ha, diện tích rừng trồng khoảng 44.450 ha Đây là một lợi thế to lớn cho phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ nhân tạo, chế biến giấy, ván dăm Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 23% diện tích tự nhiên, cây hàng năm chủ yếu là cây chè Ngoài sảm xuất lương thực, tỉnh còn có diện tích tương đối lớn để phát triển các đồng cỏ, phát triển mạnh chăn nuôi gia súc
2.4.3 Khí hậu
Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia làm 3 vùng rõ rệt:
-Vùng lạnh nhiều ở phía bắc huyện Võ Nhai
-Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía Nam Võ Nhai -Vùng ấm gồm các huyện Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Phú Bình, Phổ Yên và thị xã Sông Công
Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,90C) với thang lạnh nhất (tháng 1: 15,20
C) và tháng 2 là 13,70C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 – 2.500mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1
Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp
2.4.4 Đơn vị hành chính
Tỉnh Thái Nguyên gồm có:
- 2 Thành phố: Thành Phố Thái Nguyên và Thành Phố Sông Công
Trang 26- 1 Thị xã: Thị xã Phổ yên
- 6 huyện; Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương Các đơn vị hành chính này được chia thành 180 đơn vị hành chính cấp xã gồm: 30 phường, 10 thị trấn, và 140 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du
2.4.5 Dân cư
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong
dó có 8 dân tộc chủ yếu là Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa và Dao Dân cư phân bố không đồng đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại dày đặc Mật độ dân số thấp nhất là huyện võ nhai 72 người/km2, cao nhất là thành phố Thái Nguyên với mật độ 1.260 người/km2
2.4.6 Tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên
Tỉnh Thái Nguyên có tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than đứng thứ 2 trong cả nước, than mỡ trữ lượng trên 15 triệu tấn, than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn: kim loại màu có thiếc, chì, kẽm, vonfran, vàng, đồng, niken, thủy ngân Khoáng sản vật liệu xây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu lớn để sản xuất xi măng, sản xuất đá ốp lát các loại và sản xuất vật liệu xây dựng
Cơ sở hạ tầng như hệ thống điện nước, bưu chính viễn thông, giao thông (kể cả đường bộ, đường sắt và đường thủy) phát triển khá hoàn thiện và thuận lợi Với lợi thế có nhiều danh lam thắng cảnh như: Hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng, các di tích lịch sử Như: ATK, có rừng khuôn mánh và di tích khảo cổ học thời kì đồ đá cũ ở huyện Võ Nhai Bên cạnh đó, còn có các di tích kiến trúc