1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus), trên nền thuốc kích thích sinh trưởng IBA nồng độ 450ppm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

54 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ HOÀNG VĂN TIỆP Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ NỘI TẠI ĐẾN KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH CÂY HOM TÙNG LA HÁN Podocarpus macrophyllus, TRÊN N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

HOÀNG VĂN TIỆP

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ NỘI TẠI ĐẾN KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH CÂY HOM TÙNG LA HÁN

(Podocarpus macrophyllus), TRÊN NỀN THUỐC KÍCH THÍCH

SINH TRƯỞNG IBA NỒNG ĐỘ 450PPM TẠI TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Lâm nghiệp

Thái Nguyên, 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

HOÀNG VĂN TIỆP

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ NỘI TẠI ĐẾN KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH CÂY HOM TÙNG LA HÁN

(Podocarpus macrophyllus), TRÊN NỀN THUỐC KÍCH THÍCH

SINH TRƯỞNG IBA NỒNG ĐỘ 450PPM TẠI TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Khóa luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và sửa

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2016

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước

Hội đồng khoa học

PGS.TS Lê Sỹ Trung

Người viết cam đoan

Hoàng Văn Tiệp

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót

sau khi hội đồng chấm yêu cầu

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một thời gian có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên Đây là một quá trình giúp sinh viên hệ thống hóa, củng cố lại kiến thức đã học Đồng thời cũng là thời gian để cho sinh viên học hỏi, làm quen với công tác nghiên cứu, tiếp xúc và cọ sát với thực tế, giúp mỗi sinh viên nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ trước khi ra trường

Là tiền đề cho sự thành công của mình trong tương lại

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số

yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom Tùng la hán (Podocarpus

macrophyllus), trên nền thuốc kích thích sinh trưởng IBA nồng độ 450ppm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

Trong quátrìnhthực tập đượcsự giúp đỡ,chỉ bảo,hướngdẫntận tìnhcủa các thầycô trong khoa, cán- bộTrung tâm Nghiêncứu Lâmnghiệp Vùngnúi phía Bắc, Trường Đại học NôngLâm TháiNguyên,đặc biệtthầy giáo hướng dẫn PGS.TS LêSỹ Trung người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này cùng sự cố gắng của bản thânđãgiúp tôi hoànthành khóaluận này

Nhân dịp này cho phéptôibàytỏlòng biếtơn chân thành,sâu sắc tới tất

cả sự giúp đỡ đó

Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm2016

Sinh Viên

Hoàng Văn Tiệp

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 4.1: Kết quả về ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống trung bình

của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm 22 Bảng 4.2 Kết quả về ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra rễ của

hom cây Tùng la hán 23 Bảng 4.3: Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của độ dài hom của cây Tùng

la hán ở đợt cuối thí nghiệm 26 Bảng 4.4: Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng Đến chỉ số ra rễ

của độ dài hom của cây Tùng la hán ANOVA 27

hán 28 Bảng 4.6: Kết quả về ảnh hưởng của dộ dài dâm hom đến khả năng ra chồi của

hom cây Tùng la hán 29 Bảng 4.7: Tỷ lệ sống của loại hom cây Tùng la hán ở các công thức 31 Bảng 4.8: Kết quả về khả năng ra rễ của loại hom giâm cây Tùng la hán 33 Bảng 4.9: Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của loại hom của cây Gáo ở

đợt cuối thí nghiệm 36 Bảng 4.10: Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng Đến chỉ số ra rễ

của loại hom của cây Tùng la hán 37

hán 37 Bảng 4.12: Kết quả về ảnh hưởng của loại hom giâm đến khả năng ra chồi của

hom cây Tùng la hán 38

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 4.1: Tỷ lệ sống trung bình của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí

nghiệm về độ dài hom giâm 23 Hình 4.2a: Tỷ lệ ra rễ của hom cây Tùng la hán ở các CTTN về độ dài hom

giâm 24 Hình 4.2b: Chỉ số ra rễ của hom cây Tùng la hán ở các CTTN về độ dài hom

giâm 24 Hình 4.2c: Ảnh minh họa ra rễ hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm

về độ dài hom giâm 25 Hình 4.3a: Tỷ lệ ra chồi của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm về

độ dài hom giâm 29 Hình 4.3b: Chỉ số ra chồi của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm

về độ dài hom giâm 30 Hình 4.4: Tỷ lệ hom sống của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm

về độ dài hom giâm 32 Hình 4.5a: Tỷ lệ ra rễ của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm về

loại hom giâm 33 Hình 4.5b: Chỉ số ra rễ của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm về

loại hom giâm 34 Hình 4.5c: Hình ảnh minh họa khả năng ra rễ của hom Tùng la hán ở các công

thức thí nghiệm (Hom ngọn, Hom giữa, Hom gốc) 34 Hình 4.6a: Tỷ lệ ra chồi của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm về

loại hom giâm 39 Hình 4.6b: Chỉ số ra chồi của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm

về loại hom giâm 39 Hình 4.6c: Ảnh minh họa khả năng ra chồi của hom Tùng la hán ở các công

thức thí nghiệm về loại hom giâm 40

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTTN: Công thức thí nghiệm CT: Công thức

TB: Trung bình AA: Axit Indol-axitic IBA: Axit Indol-butiric PA: Axit Indol-propionic AA: Axit Napthalen-axetic

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4.Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.4.2.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của giâm hom 4

2.1.1 Cơ sở tế bào học 4

2.1.2 Cơ sở di truyền học 4

2.1.3 Cơ sở phát sinh phát triển cá thể 4

2.1.4 Sự hình thành rễ của hom giâm 5

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom 5

2.1.6 Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi giâm hom 7

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 8

2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 9

2.4 Tổng quan địa điểm nghiên cứu 11

2.5 Một số thông tin về cây Tùng la hán 12

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 15

3.3 Nội dung nghiên cứu 15

3.4 Phương pháp nghiên cứu 15

Trang 9

3.4.1.Ngoại nghiệp 16

3.4.2 Nội nghiệp 17

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 22

4.1.1 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống của hom cây Tùng la hán 22 4.1.2 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra rễ của hom cây Tùng la hán 23

4.1.3.Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra chồi của hom cây Tùng la hán 28

4.2 Ảnh hưởng của loại hom giâm đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ, chồi của hom cây Tùng la hán 31

4.2.1 Ảnh hưởng của loại hom giâm đến tỷ lệ sống của hom cây Tùng la hán 31

4.2.2.Ảnh hưởng của loại hom giâm đến khả năng ra rễ của hom cây Tùng la hán 32

PHẦN 5; KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

5.1 Kết Luận 42

5.2 Kiến nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 10

Trong nhiều năm trở lại đây, vai trò của việc trồng rừng ngày càng được quan tâm chú trọng nhằm đáp ứng nhu cầu về gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các chức năng phòng hộ, điều hòa khí hậu… Bên cạnh đó đã có nhiều dự án trồng rừng cảnh quan được Đảng và Nhà nước triển khai và đã tạo mọi điều kiện để thu hút người dân sống bằng nghề trồng rừng, để bảo vệ nguồn gen cũng như đáp ứng cho nhu cầu tham quan giải trí, du lịch, duy trì nét văn hóa của con người ngày càng cao, làm cho rừng giàu thêm bảo vệ môi trường khí hậu, cảnh quan

Việt Nam với địa thế tự nhiên nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa đã hình thành nên kiểu rừng nhiệt đới nhiều tầng tán, cây cối xanh tốt quanh năm, thực vật rừng rất phong phú và đa dạng cả về loài cây và về số lượng, điều này không chỉ làm giàu thêm cho rừng mà nó còn có tác dụng bảo

vệ môi trường khỏi ô nhiễm và còn tránh gây tiếng ồn cho môi trường xung quanh Với những lợi thế trên, đất nước ta ngày càng phát triển Trồng rừng cảnh quan cũng góp phần làm tăng khả năng phòng hộ của rừng Để trồng rừng thành công, đạt hiệu quả cao, một trong những yếu tố ảnh hưởng quyết định đó là giống, cây con đem trồng phải đảm bảo không những về số lượng

mà phải đảm bảo cả về chất lượng, phát triển nhanh, rút ngắn chu kì sản xuất

và công chăm sóc rừng Song song với các loại cây Lâm nghiệp có giá trị kinh

tế như: Thông, Keo, Mỡ, thì cây Tùng la hán cũng là một trong những loài

Trang 11

cây Lâm Nghiệp có giá trị kinh tế cao, có giá trị thẩm mỹ, kinh tế cũng như về mặt phong thủy

Giống là một khâu đặc biệt quan trọng trong các chương trình trồng rừng kể cả cho rừng kinh tế, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng cây phân tán Công tác giống đóng một vai trò không thể thiếu được trong trồng rừng, nhằm tái tạo, giúp cho sản xuất nghề rừng được lâu dài, sớm phát huy tác dụng phòng hộ và bảo về môi trường

Đặc biệt trong trồng rừng thâm canh, không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao [6]

Những loài cây sau khi đã được chọn lọc, khảo nghiệm thì việc lựa chọn phương pháp nhân giống có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc duy trì những tính trạng tốt của loài cây rừng Một trong số những phương pháp nhân giống duy trì được trọn vẹn những tính trạng tốt từ đời trước cho đời sau là nhân giống bằng hom [9]

Nhân giống là bước cuối cùng của chương trình cải thiện giống Để giữ được đặc tính tốt của cây giống người ta thường dùng phương thức nhân giống sinh dưỡng, trong các phương thức nhân giống sinh dưỡng thì giâm hom là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho một số loài cây rừng,

là phương pháp có hệ số nhân giống cao, phù hợp trồng rừng với quy mô lớn, sản phẩm cuối cùng cho một số lượng lớn cây giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền Nhân giống bằng hom là một trong những công cụ có hiệu quả cho chọn giống cây rừng Song cần thấy rằng việc áp dụng nhân giống bằng hom chỉ là một công cụ của chọn giống, nó chỉ phát huy tác dụng tốt khi giống đã qua chọn lọc, khảo nghiệm cẩn thận, được chứng minh là hơn giống đại trà [1]

Xuất phát từ thực tế tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng

của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus), trên nền thuốc kích thích sinh trưởng IBA nồng

độ 450ppm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

Trang 12

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài góp phần tạo giống cây con Tùng la hán (Podocarpus

macrophyllus) bằng cây hom có chất lượng tốt cung cấp cho rừng trồng, cảnh

quan đô thị, vườn cây cảnh, tăng tính đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu

bảo vệ môi trường sống

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Lựa chọn được loại hom, kích thước hom Tùng la hán cho tỷ lệ ra rễ

cao nhất trong nhân giống cây Tùng la hán bằng phương pháp giâm hom 1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã giúp cho sinh viên nắm vững hơn những kiến thức đã được học Đặc biệt là những kiến thức trong lĩnh vực lâm sinh như kiến thức về hom giâm, xử lý hom giâm, kỹ thuật cắt hom, cắm hom… Đồng thời biết được quá trình sinh trưởng và phát triển của cây hom

từ lúc cắm hom đến lúc cây hom ra rễ Từ đó nắm vững được toàn bộ quá trình nhân giống bằng phương pháp giâm hom Đồng thời qua quá trình nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng khoa học tiến bộ vào thực tiễn sản xuất

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xây dựng cơ sở

dữ liệu về loài cây Tùng la hán, sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu

1.4.2.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Kết quả của đề tài có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất, tìm ra được kích thước và loại hom phù hợp trong nhân giống bằng hom giâm với loài cây Tùng la hán Ứng dụng kết quả nghiên cứu để sản xuất cây con Tùng la hán bằng hom, tạo ra được cây con đảm bảo chất lượng trong trồng và nhân giống

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của giâm hom

Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng hom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh,…

Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn tương đối rẻ tiền nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả

Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu hình Sinh sản hữu hình là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợp giữa hai giao tử đực và cái đơn bội để trở thành hợp tử lưỡng bội Hợp tử phát triển thành cá thể mới Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp vô tính và các dạng khác của sinh sản dinh dưỡng

2.1.1 Cơ sở tế bào học

Dựa vào đơn vị cấu trúc cơ bản của cây rừng, trong đó tế bào là cơ sở quan trọng mang đầy đủ thông tin di truyền cho các quá trình phát triển của thực vật

Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây lấy làm giống cũng như loài tế bào đã phân hóa của cây

2.1.2 Cơ sở di truyền học

Dựa vào các đặc tính di truyền của cây mẹ truyền cho đời con nhờ quá trình nguyên nhiễm hay nguyên phân, mà ta tiến hành dùng các cành, thân để giâm hom

2.1.3 Cơ sở phát sinh phát triển cá thể

Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá thể đều do bộ gen và môi trường xung quanh quyết định, môi trường ở đây là môi trường bên ngoài và môi trường bên trong ảnh hưởng đến tế bào chất Quá trình phát triển của cá

Trang 14

thể được thể hiện qua các giai đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục, khả năng ra chồi rễ của các bộ phận là rất khác nhau

2.1.4 Sự hình thành rễ của hom giâm

Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kỳ bộ phậzn nào của cây ngoài hệ rễ của

nó, rễ bất định có thể sinh ra tự nhiên (Ví dụ: Đa, Si khi ra rễ là mọc từ cành

và đâm dài xuống đất, còn cây Cau, Dừa thì rễ lại mọc ra từ giữa các thân)

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom

Ánh sáng

Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong quá trình ra rễ của hom giâm, không có ánh sáng và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không có hoạt động ra rễ, hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện che tối hoàn toàn, bất kể đó là nhóm cây ưa sáng hay chịu bóng Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh thường kèm theo nhiệt độ cao nên giảm đáng kể tỉ lệ ra rễ Chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm, theo Komisarov, 1964 thì ánh sáng tự nhiên cần thiết cho ra rễ, còn ánh sáng đỏ và ánh sáng xanh làm giảm tỉ lệ ra rễ của hom giâm ở một số loài cây ưa sáng Tewary (1993) cho rằng thời gian chiếu sáng cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm Ánh sáng tán xạ cần thiết cho hom và độ sáng thích hợp khoảng 40-50% ánh sáng toàn phần, ánh sáng đầy đủ thời gian ra rễ ngắn hơn và tỷ lệ ra rễ cũng cao hơn [13]

Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể

Cùng với ánh sáng nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định tốc

độ ra rễ của hom giâm, ở nhiệt độ quá thấp, hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường hô hấp và bị nóng, từ đó cũng làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom

Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể

Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình giâm hom Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và

Trang 15

chuyển hóa vật chất trong cây đều cần nước, thiếu nước thì hom bị héo, nhiều nước quá thì hoạt động của men thủy giải tăng lên, quá trình quang hợp bị ngừng trệ, khi giâm hom mỗi loài cây cần một độ ẩm thích hợp, làm mất độ ẩm của hom từ 15-20% thì hom hoàn toàn mất khả năng ra rễ

Giá thể cắm hom

Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã sử lý chất kích thích ra rễ Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất vàng trong vườn ươm Một giá thể cắm hom tốt là có độ thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạch không bị nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ pH khoảng 6.0 - 7.0

Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng

Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì auxin được coi là những chất quan trọng nhất trong quá trình ra rễ của cây hom Song nhiều chất khác tác động cùng auxin và thay đổi hoạt tính của auxin cũng tồn tại một cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra rễ của chúng Những chất quan trọng nhất là Rhirocalin, đồng nhân tố ra rễ và các chất kích thích và kìm hãm ra rễ (Tewari,1993)

Xử lý bằng chất điều hòa sinh trưởng dạng nước: Khi lựa chọn nồng

độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt độ không khí và mức độ hóa gỗ của hom Trong quá trình giâm hom khi nhiệt độ cao cần phải xử lý với nồng

độ thấp hơn và ngược lại Hom quá non (chưa hóa gỗ) phải xử lý với nồng độ thấp, ngược lại hom hơi già (gần hóa gỗ hoàn toàn) phải xử lý với nồng độ cao hơn

Trang 16

Phương pháp xử lý hom

Thông thường hom được xử lý bằng cách ngâm hom trong dung dịch chất kích thích ra rễ Chất kích thích ra rễ là hỗn hợp chất tan thì phần gốc của hom được nhúng vào nước và chấm vào thuốc, sao cho thuốc dính vào gốc hom Chất kích thích là dung dịch có nồng độ thấp 20-200ppm phần gốc hom được nhúng vào dung dịch 24h, chất kích thích ra rễ ở nồng độ 500-1000ppm, phần gốc của hom được nhúng nhanh trong dung dịch 4-5 giây

2.1.6 Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi giâm hom

Vật liệu giâm hom rất nhạy cảm với sự mất nước và dễ bị nấm bệnh Hom phải ở độ hóa gỗ thích hợp cho từng loài cây và phải được bảo quản tốt Khi giâm hom, yêu cầu: không cắt hom quá già hoặc quá non, hom đã cắt không được để trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời Vật liệu giâm hom không nên

để quá xa nơi giâm hom và không nên cất trữ quá một ngày, khi vận chuyển phải cất trữ hom trong bình lạnh, và phải giữ đủ ẩm Hom giâm không ngắn dưới 5cm, song cũng không dài quá 15cm Khi cắt hom phải dùng dao sắc để tránh hom không bị dập nát, xây xước

Phải xử lý bằng chất chống nấm bệnh trước khi xử lý bằng thuốc kích thích ra rễ, phải để lại số lá tối thiểu ở phía trên cho hom giâm và phải cắt bớt phiến lá, song phải cắt hết lá ở phần giâm dưới đất [14]

Hom giâm phải đặt trong lều nilon để giữ ẩm và giữ nhiệt Trên lều có mái che để tránh ánh sáng trực xạ và giảm bớt cường độ ánh sáng Giá thể giâm hom phải được thoát nước tốt và không bị nhiễm nấm bệnh Phải thường xuyên tưới phun sương để giữ ẩm và giữ đủ độ ẩm không khí cho hom giâm Vậy để hom giâm thành công cho bất cứ loài cây nào đều phải kết hợp một cách đầy đủ và đồng bộ, các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ khâu lấy hom, giâm hom và tạo điều kiện cần thiết cho hom ra rễ

Trang 17

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới

Trong Lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử dụng trên 100năm nay Ngay từ 1840, Marrier de Boisdyver (người Pháp) đã ghép 10000 cây Thông Đen Năm 1883, Velinski A.H công bố công trình nhân giống một số loài cây lá kim và cây lá rộng thường xanh bằng hom Ở Pháp năm 1969, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới bắt đầu chương trình nhân giống cho Bạch đàn, năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng cây hom, đến

1986 có khoảng 24000ha rừng trồng bằng cây hom, các rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35m3/ha/năm

Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada (gọi tắt là ACFTSC), những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất cây hom được tiến hành ở các nước Đông Nam Á

Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean-Canada [12] đã có những nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với các hệ thống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi nhánh vườn ươm của Trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các loài cây họ Dầu, với 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổi có thể sản xuất 200.000 cây hom, đủ trồng 455 đến 500 ha rừng

Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu từ những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia, ở trường Đại học Tổng hợp Pertanian, Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã báo cáo các công trình có giá trị

về nhân giông sinh dưỡng cây họ Dầu Tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ của các cây họ Dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi các phương tiện nhân giống như: các biện pháp vệ sinh tốt hơn, che bóng hiệu quả hơn, phun xương mù, kỹ thuật trẻ hóa cây mẹ, thì tỷ lệ ra rễ được cải thiện (ví dụ: Hopea odorta có tỷ lệ ra rễ là 86%, Shorea Leprosula 71%, Shorea Parvifolia 70%, [11]

Trang 18

Ở Indonesia, các nghiên cứu giâm hom cây họ Dầu được tiến hành tại trạm nghiên cứu cây họ Dầu Wanariset đã áp dụng phương pháp nhân giống

mới ―Tắm bong bóng”, sử dụng phương pháp này thu được tỷ lệ ra rễ 90-

100% với các loài Shorea Leprosula, [12]

2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Từ lâu trong sản xuất Nông-Lâm nghiệp, người dân Việt Nam đã biết

sử dụng các phương pháp nhân giống sinh dưỡng như chiết, ghép các loài cây

ăn quả, cây cảnh Người nông dân đã biết trồng cây bằng hom cho các loài Tre, Trúc, Sắn, Mía…., song với loài cây rừng nhân giống bằng hom mới được chú ý từ những năm 1979 trở lại đây

Lần đầu tiên vào năm 1976, những thực nghiệm về nhân giống hom với một số loài Thông và Bạch đàn được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu cây

có sợi Phù Ninh- Phú Thọ Đây là nghiên cứu rất sơ khai, song đã mở đầu cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp sau này ở Việt Nam

Những năm 1983-1984, các thực nghiệm về nhân giống bằng hom được tiến hành tại Viện Lâm nghiệp (nay là Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), đối tượng nghiên cứ là loài Mỡ, Lát hoa, Bạch đàn (Nguyễn Ngọc Tân, 1983; Phạm Văn Tuấn, 1984), nội dung nghiên cứ tập trung vào đặc điểm cấu tạo giải phẫu của hom, ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm môi trường, và xử lý các chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống và ra rễ của hom giâm [10]

Trong những năm 1990 trở lại đây, Lê Đình Khả và cộng sự đã nghiên cứu giâm hom cho Keo lá tràm, Keo tai tượng,… đã đạt kết quả, các thí nghiệm về loại nhà giâm hom, môi trường cắm hom, thời vụ và phương pháp

xử lý chồi cũng được thực hiện

Từ kết quả của nghiên cứu này đã xây dựng được các hướng dẫn kỹ thuật nhân giống bằng hom, phục vụ cho các chương trình trồng rừng Ngoài

ra, một số loài cây quý hiếm như Thông đỏ, Bách xanh cũng được nghiên cứu

và đạt kết quả

Trang 19

Trong kỹ thuật giâm cành trên thế giới người ta sử dụng nhiều nền giâm hom khác nhau tùy thuộc vào điều kiện giâm, điều kiện khí hậu từng nước, thời vụ giâm và giống đem giâm, loại cành [13]

Những nền giâm (giá thể) hiện nay là sử dụng cát thô, than bùn, sơ dừa, đất, các chất vô cơ như Vani calete (hợp chất chứa Mica) peclite (đá chân trâu) dung nhan phun thạch núi lửa… Nếu chỉ giâm để cây hom ra rễ mới giâm vào bầu thì giá thể thường là cát thô, còn khi giâm hom trực tiếp vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, sơ dừa băm nhỏ đặt ở vườn ươm

Những nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể giâm hom Bạch đàn trắng trong các ruột bầu khác nhau, tại Đông Nam bộ cho thấy:

- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom

- Nếu ruột bầu là 100% cát vàng thì tỷ lệ ra rễ của hom là 67,3%

- Nếu ruột bầu là 100% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 48,3%

- Nếu ruột bầu là than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 62,5%

Như vậy trong cùng 1 loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thể khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau [5]

+ Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất, các Auxin được chia làm 2 nhóm là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp

- Auxin tự nhiên được biết đến như: Axit Indol axete (IAA)

- Các Auxin tổng hợp như là: Axit indol butylic (IBA), Axit indol propionicv (IPA) và Axit napthalen axetic (NAA), các chất được dùng chủ yếu hiện nay là thích ứng với 1 loại chất kích thích, nồng độ chất kích thích, thời gian xử lý thuốc và phương pháp xử lý hom cũng khác nhau

Trang 20

+ Loại chất kích thích ra rễ khác nhau, có tác dụng khác nhau đến sự ra

rễ của hom Hom cây Mỡ 1 tuổi xử lý bằng IAA, IBB, NAA nồng độ 50 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ tương ứng là: 74,1%; 93,8%; 53,3% [7]

- Cùng 1 loại chất nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ ra rễ của hom, nồng độ xử lý quá thấp không có tác dụng phân hóa

tế bào để hình thành rễ, nồng độ quá cao làm cho hom thối rữa trước khi ra

rễ Hom Bạch đàn trắng (E.Cameldunensis) 4 tháng tuổi xử lý bằng IAA nồng

độ 25 ppm; 50 ppm; 75 ppm; 100 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 64,5%; 71,4%; 77,4% và 45,1% [3]

Như vậy khi nồng độ tăng tỷ lệ ra rễ tăng, nhưng khi nồng độ tăng quá cao (100 ppm) tỷ lệ ra rễ lại giảm xuống

Hom cây Mỡ 1 năm tuổi xử lý bằng IAA nồng độ 25 ppm tỷ lệ ra rễ giảm xuống còn 50%

+ Thời gian xử lý thuốc: Cùng loài thuốc, cùng nồng độ nhưng thời gian xử lý khác nhau cũng cho kết quả khác nhau

- Hom bạch đàn trắng xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm trong thời gian 1; 3; 5; 8 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 83,6%; 93,7%; 62,5%; 53,1%

- Với hom Mỡ xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm với thời gian 3; 5; 8;

16 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là: 74%; 81,3%; 73% và 55,7% [6]

+ Nghiên cứu nhân giống cây Dầu rái bằng hom, tác giả đã sử dụng thuốc bột và thuốc nước cho của cùng một loại, cho kết quả là tỷ lệ ra rễ đối với thuốc bột là 80%, thuốc nước là 78,3% [4]

Khi xử lý hom bằng chất kích thích ra rễ cần biết rằng nồng độ và nhiệt

độ không khí có mối quan hệ qua lại với nhau

2.4 Tổng quan địa điểm nghiên cứu

*Vị trí địa lý

Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Vùng núi phía Bắc, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa

Trang 21

bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau:

- Phía Bắc giáp với phường Quán Triều

- Phía Nam giáp với phường Tân Thịnh

- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà

- Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ đặc điểm thời tiết, khí hậu của thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt mùa nóng ẩm và mùa khô lạnh

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22- 25 oC, chênh lệch giữa ngày và đêm khoảng 2-5 oC, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39 oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3 oC

Lượng mưa trung bình từ 1500-2000mm, độ ẩm không khí trung bình 82%, mùa mưa khoảng 86%, mùa khô khoảng 70%

2.5 Một số thông tin về cây Tùng la hán

Cây Tùng la hán, tên khoa học là Podocarpus macrophyllus, là một loại cây cảnh thuộc họ thông tre, có nguồn gốc từ Nhật Bản và Trung Quốc

1) Đặc trƣng hình thái

Cây Tùng la hán là một loại cây thân gỗ nhỏ, cây có chiều cao trung bình từ 7-10m tối đa là 20m, cành nhánh nhiều, tán lá rộng, thường được trồng làm cảnh trong công viên, đô thị, công sở, vườn nhà,

Lá cây hình kim mọc cách dạng ốc xoắn, bề mặt màu xanh đậm, mặt lưng nhạt hơn, lá mọc so le, dày, cứng và có màu xanh đậm Lá cây bền, ít rụng và xanh quanh năm

Quả chia làm hai phần, phần trên là hạt giống, hình cầu tròn màu xanh Phần dưới có màu tím nhạt Khi chín quả mỏng có dạng hình trụ, biến thành màu đen Ăn có vị chua thơm ngọt, hình dáng giống như pho tượng La Hán, nên có tên là La Hán Tùng

Trang 22

Hoa của cây có đài hoa to, bên dưới có bốn cái vẩy dạng tuyến Lá cây

hình kim mọc cách dạng ốc xoắn, bề mặt màu xanh đậm, mặt lưng nhạt hơn 2) Đặc tính sinh học

Tùng la hán là cây thân mộc, có thể chị hạn tốt, thích nhiệt độ nóng ẩm (nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt là trong khoảng từ

18-25 C, tuy nhiên Tùng la hán là loài cây chịu lạnh kém Cây Tùng la hán là

cây đơn tính Cây ít mẫn cảm với nước mặn, nhưng không chịu được nước phèn Tùng la hán chịu râm sợ lạnh, thích loại đất cát ẩm ướt, nhưng phải thoát nước tốt và có sức chống ô nhiễm mạnh

3) Kỹ thuật trồng

Tùng la hán có thể nhân giống từ hạt của quả nhưng ít khi áp dụng cách

này do những khó khăn khi thu hoạch hạt

Tùng la hán nhân giống chủ yếu bằng con đường vô tính từ các đoạn cành giâm hay chiết Nếu chiết người ta thường hay chọn các cành đã hóa gỗ

có đường kính 0,4-0,5 cm để khoanh vỏ chiết vào mùa xuân và sau 2-2,5 tháng là có thể cắt rễ đem trồng Chọn các cành đã có vỏ xanh đậm, lá ổn định, không có lá non hoặc lộc mới ra, cắt các cành này cùng với ngọn có chiều dài 10-15 cm và nói chung chỉ sử dụng các ngọn của cành để làm cành giâm để cây con sau này có khả năng sinh trưởng khỏe và có thân chính Dùng các chất kích thích ra rễ để xử lý ở gốc cành giâm và tiến hành giâm trên nền tốt thì sau 1-1,5 tháng cành giâm ra rễ và sau 2-3 tuần tiếp có thể đánh chuyển ra ngôi trên luống đất ở vườn giâm Mùa thu dùng những cành cây non khỏe mạnh, sau khi cành non sống cần phải che nắng và tốt nhất nên phủ nilong để chống lạnh

Đất trồng la hán nên chọn đất có thành phần cơ giới hơi nặng, tốt nhất là đất bùn ao, hồ phơi khô đập nhỏ để trồng Không chọn các thành phần cơ giới quá nhẹ Khi cây con trong vườn nhân giống đạt chiều cao 0,4-0,5 m là có thể bứng đem trồng ở bồn, chậu hoặc luống đất tạo dáng, thế Trồng cây con có bầu đất và kỹ thuật trồng giống các loại cây cảnh khác song cần chú ý khi đánh bứng cây con trong vườn đi trồng chỉ khi các lá đã ổn định, không có

Trang 23

nhiều lá non mới ra Sau khi trồng tưới giữ ẩm cho đất và khi cây bén rễ thì tiến hành tưới thúc cho cây nhanh lớn, ra nhiều cành và giữ bộ lá xanh đậm Chú ý phòng và chống bệnh thường gặp Bệnh đốm lá, bệnh nhện đỏ, rệp sáp đỏ, trùng vỏ cứng Vào tháng 5 có thể phun dung dịch Bodeaux 0,5 đến 1% để chữa bệnh đốm lá Các loại sâu có hại chủ yếu có nhện đỏ, rệp sáp

đỏ, trùng vỏ cứng, hoặc có thể dùng dung dịch Dimethoate pha loãng với tỷ lệ

1 : 1.500 Vào mùa hè khi nhiệt độ cao, đặc biệt phải chú ý đến công tác phòng trừ sâu bệnh

4)Triển vọng

Là một trong những loại cây được sử dụng nhiều trong các công trình, ,

khuôn viên văn hóa, sân vườn biệt thự, tiểu cảnh… Cây được trồng thành hàng hay trồng kết hợp với các loại cây trồng viền, cây cỏ nền tạo cảnh quan xanh thu hút

Tùng la hán được xem là loài cây mang lại sư may mắn, phồn vinh, thịnh vượng nên được rất nhiều người sử dụng, đặc biệt là những người trong làng cây cảnh, có giá trị kinh tế cao Tùng la hán xanh quanh năm, là loài cây mang lại màu xanh tươi mát, không khí trong lành cho môi trường

Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng có rất nhiều lợi thế để phát triển hoa cây cảnh Vùng trung du miền núi phía Bắc và vùng Bắc Trung bộ còn rất nhiều quỹ đất để phát triển lĩnh vực này với các lợi thế về khí hậu vùng núi cao mát mẻ quanh năm thích hợp với nhiều cây cảnh cao cấp

Theo kết quả điều tra nhu cầu thị trường hoa, cây cảnh của Việt Nam, giai đoạn 2000 - 2011 trung bình mỗi năm tăng 9% Giai đoạn 2011-2015 tăng trên 11% Mức độ tiêu dùng hoa, cây cảnh trung bình của người dân đô thị năm 2000 là 25.000 đồng người/năm, đến năm 2011 tăng lên 52.000 đồng/năm, đến năm 2013 là 100.000 đồng/người/năm, năm 2014 là trên130.000đồng/người/năm Ở nông thôn, mức độ tiêu dùng tương ứng chỉ bằng 20% so với đô thị, mức tăng bình quân về cầu là 15%/năm

Trang 24

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hom cây Tùng la hán kích thước là (4cm, 6cm, 8cm); loại hom ngọn, hom giữa và hom gốc, ở giai đoạn hom bánh tẻ

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Thời gian tiến hành thí nghiệm: 15/2/2016 - 25/05/2016

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần giải quyết các nội dung sau:

- Theo dõi tỉ lệ hom sống cuối đợt thí nghiệm ở các công thức thí nghiệm

- Nghiên cứu khả năng ra rễ của hom cây Tùng la hán ở các công thức thí nghiệm:

3.4 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài

- Sử dụng phương pháp phân tích phương sai để kiểm tra mức độ chính xác của kết quả thí nghiệm

Trang 25

3.4.1 Ngoại nghiệp

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả

năng hình thành cây hom Tùng la hán

Thí nghiệm gồm 3 công thức, 3 lần nhắc lại, mỗi công thức giâm 30 hom, tổng số hom giâm trong thí nghiệm là 270 hom Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

Công thức 1: Hom giâm dài 4cm

Công thức 2: Hom giâm dài 6cm

Công thức 3: Hom giâm dài 8cm

Các công thức đồng đều về các điều kiện chăm sóc và cùng 1 thời vụ giâm

+ Các chỉ tiêu theo dõi:

Số hom sống, số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ, số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài chồi (thu thập số liệu vào cuối đợt thí nghiệm)

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom giâm đến khả năng

hình thành cây giống Tùng la hán

Thí nghiệm gồm 3 công thức, 3 lần nhắc lại, mỗi công thức giâm 30 hom, tổng số hom giâm trong thí nghiệm là 270 hom Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm giâm hom

Trang 26

+ Các chỉ tiêu theo dõi: Số hom sống, số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ; số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài (chồi thu thập số liệu vào cuối đợt thí nghiệm)

Công tác chuẩn bị và cách tiến hành

Dựng luống hom, phủ cát lên bề mặt luống, bề dày của cát so với mặt luống là 10-15cm

Kéo cắt hom, xô nhựa, thuốc xử lý giá thể, thuốc xử lý nấm, hom, thuốc kích thích, bình phun sương, nilon trắng, lưới đen

Hoá chất KMnO4 với nồng độ là 0,3% để xử lí giá thể trước khi giâm hom (khoảng 12 giờ)

Tiêu chuẩn hom: Dùng hom ngọn ở trạng thái bánh tẻ, không bị sâu bệnh hại, có khả năng sinh trưởng tốt, không quá non hoặc quá già

KMnO4 0,5% để xử nấm cho hom ngay sau khi cắt

Chất kích thích sinh trưởng IBA nồng độ 450ppm

Trang 27

Chỉ tiêu chiều dài rễ bình quân/hom:

Tổng chiều dài rễ ở các hom kiểm tra Chiều dài rễ TB/hom = × 100%

Tổng số rễ ở các hom kiểm tra

Tỷ lệ ra chồi được tính như sau:

Tổng số chồi ở các hom kiểm tra

Chỉ số ra rễ = Chiều dài rễ TB/hom × số rễ TB/hom

Chỉ số ra chồi = Số chồi/hom × chiều dài chồi TB

Mẫu bảng 3.1: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích

phương sai 1 nhân tố

A

Các trị số quan sát Kết quả trung bình của các lần nhắc lại SiA X iA

Ngày đăng: 29/05/2017, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Mộng Hùng (1992). Nhân giống phi Lao bằng hom cành. Tạp chí Lâm nghiệp số 11 trang 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống phi Lao bằng hom cành
Tác giả: Dương Mộng Hùng
Năm: 1992
3. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Trần Cự (1998), Nghiên cứu thời vụ giâm hom Bạch đàn. Kết quả nghiên cứu chọn giống cây rừng‖. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thời vụ giâm hom Bạch đàn
Tác giả: Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Trần Cự
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
4. Lê Đình Khả Đoàn Thị Bích (1999), Nhân giống cây Dầu Dái bằng hom, Tạp chí Lâm Nghiệp số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống cây Dầu Dái bằng hom
Tác giả: Lê Đình Khả Đoàn Thị Bích
Năm: 1999
5. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Trần Cự (1997), “Nghiên cứu tạo chồi môi trường và giá thể giâm hom Bạch đàn trắng. Kết quả nghiên cứu chọn giống cây rừng‖. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu tạo chồi môi trường và giá thể giâm hom Bạch đàn trắng
Tác giả: Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Trần Cự
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
6. Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, (1998). Giáo trình cải thiện giống cây rừng, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cải thiện giống cây rừng
Tác giả: Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng
Năm: 1998
7. Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn (1996), Nhân giống cây Mỡ bằng hom, Tạp chí Lâm Nghiệp số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn (1996), "Nhân giống cây Mỡ bằng hom
Tác giả: Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn
Năm: 1996
8. Ngô Kim Khôi (1998), Thống kê toán học trong Lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê toán học trong Lâm nghiệp
Tác giả: Ngô Kim Khôi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
9. Phạm Văn Tuấn (1992), Sản xuất cây giống bằng phương pháp Mô hom ý nghĩa và ứng dụng. Thông tin chuyên đề số 11, trang 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sản xuất cây giống bằng phương pháp Mô hom ý nghĩa và ứng dụng
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1992
10. Phạm Văn Tuấn (1997), Nhân giống cây rừng bằng hom, thành tựu và khả năng áp dụng ở Việt Nam. Tổng luận chuyên khảo khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống cây rừng bằng hom, thành tựu và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1997
11. Phạm Văn Tuấn (1997), Phương pháp mới trong việc nhân giống bằng hom cây họ Dầu ở Indonesia.Tạp chí Lâm Nghiệp số 1, trang 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp mới trong việc nhân giống bằng hom cây họ Dầu ở Indonesia
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1997
2. Laichau.gov.vn/news/detail/tabid/1212/newsid/.../Default.aspx Khác
12. Phạm Văn Tuấn (1998), Nhân giống sinh dưỡng cây họ dầu bằng hom ở Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w