------ BÀN THỊ KIM NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP PHÒNG TRỪ MỐI HẠI GỖ TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG THUỘC ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học
Trang 1- -
BÀN THỊ KIM
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP PHÒNG TRỪ MỐI HẠI GỖ TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG THUỘC ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2- -
BÀN THỊ KIM
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP PHÒNG TRỪ MỐI HẠI GỖ TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG THUỘC ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
( Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên Đây là thời gian để mỗi sinh viên chúng ta sau quá trình học tập và nghiên cứu tại trường củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp tôi đã thực tập tại Đại học Thái Nguyên Đến nay tôi đã hoàn thành xong đợt thực tập tốt nghiệp và khóa luận tốt nghiệp của mình
Trong trang đầu của khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa và tập thể thầy cô trong khoa Lâm Nghiệp đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt tôi trong suốt quá trình học Ban lãnh đạo và toàn thể thầy cô trong các trường Đại học thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tại từng đơn vị
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ đạo tận tình của cô
giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Tuyên đã giúp đỡ tận tình tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Sau cùng tôi xin kính chúc toàn thể thầy cô giáo khoa Lâm Nghiệp thật dồi dào sức khỏe, hạnh phúc để tiếp tục dìu dắt các thế hệ học trò đến với những bến bờ tri thức
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày… tháng… năm 2016
Sinh viên
Bàn Thị Kim
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
2 Bảng 4.2 Thực trạng mối xuất hiện và phá hại gỗ trong các công trình
xây dựng tại Đại học Thái Nguyên
26
4 Bảng 4.4 Kế hoạch phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại Đại
học Thái Nguyên
42
Trang 69 Hình 4.2 Mối hại gỗ tại trường Trường Đại học CNTT và Truyền Thông 28
10 Hình 4.3 Mối phá hại ngầm trong các cấu kiện gỗ tại trường CĐKT 29
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các từ, cụm từ viết tắt iii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình iv
Mục lục v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Tổ mối 5
2.1.2 Thức ăn của mối 6
2.1.3 Hình thái và chức năng của mối 6
2.1.4 Sự chia đàn và hình thành tổ Mối 9
2.1.5 Cách thức xâm nhập của mối vào công trình 9
2.1.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến Mối 10
2.2 Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam 12
2.3 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới và ở Việt Nam 13
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới 13
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ở Việt Nam 14
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
Trang 83.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu 18
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 19
3.4.3 Dụng cụ, vật liệu phục vụ quá trình nghiên cứu 20
3.4.4 Phương pháp đánh giá mức độ mối hại gỗ 21
3.4.5 Phương pháp phân tích, xử lý và tổng hợp số liệu 22
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
4.1 Khái quát lịch sử phòng mối và thực trạng mối hại gỗ tại trong các công trình xây dựng tại Đại học Thái Nguyên 23
4.1.1 Khái quát về lịch sử phòng mối hại gỗ tại các công trình xây dựng 23
4.1.2 Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại Đại học Thái Nguyên 25
4.2 Phương pháp phòng trừ mối hại gỗ 34
4.2.1 Diệt mối 34
4.2.2 Phòng mối 38
4.3 Giải pháp và kế hoạch phòng trừ mối hại gỗ tại Đại học Thái Nguyên 41
4.3.1 Giải pháp trong phòng trừ mối tại Đại học Thái Nguyên 41
4.3.2 Kế hoạch phòng trừ mối hại gỗ cho các trường đại học 41
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Khuyến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
I.Tài liệu tiếng Việt 45
II Tài liệu tiếng Anh 45
Trang 9Côn trùng bộ cánh đều có đặc điểm như có hai cánh mỏng, cấu tạo hai cánh giống nhau và kích thước gần bằng nhau Cánh mối chỉ có ở các cá thể sinh sản trước khi giao hoan, sau khi giao hoan đôi cánh đó rụng đi mất, các
cá thể ở đẳng cấp khác như mối lính, mối thợ đều không có cánh Cơ quan miệng của mối kiểu gặm nhai, chân dạng chân chạy Mối là loại biến thái không hoàn toàn, không có nhộng, thân thể mềm, có màu trắng xám (Vũ Quang Mạnh và cs, 1993) [3]
Trong tự nhiên, mối tham gia vào các quá trình phân hủy các chất hữu cơ
có nguồn gốc xenlulo như gỗ và các sản phẩm làm từ gỗ (bàn ghế, tài liệu, sách báo,…) để tạo thành các đường và các chất đơn giản trong chu trình chuyển hóa vật chất Chúng được ví như đội quân làm vệ sinh khổng lồ trong các khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ngoài ra chúng còn được xếp vào một trong những loại côn trùng gây hại gỗ mạnh nhất trong các công trình xây dựng trên toàn thế giới (Lê Văn Nông, 1999) [4]
Việt nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm nên có điều kiện khí hậu phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của loài mối Khí hậu thuận lợi tạo điều kiện cho các loài thực vật phát triển mạnh mà thực vật là nguồn thức ăn chính của mối, đây là nguyên nhân chính khiến cho loài mối phát triển mạnh và gây nhiều tổn thất cho người dân ở Việt Nam Mối phá hại các loài cây trồng, phá
Trang 10hoại gỗ trong các công trình xây dựng như: trụ sở, kho tàng bến bãi, nhà cửa,… ngoài ra mối còn có thể phá hoại hầu hết các sản phẩm có nguồn gốc từ gỗ như: bàn ghế, tủ giường, sách vở,… gây nhiều thiệt hại cho người dân
Kết quả qua điều tra tại Đại học Thái Nguyên cho thấy tình hình mối phát triển và gây hại diễn ra rất mạnh là vấn đề đang được các trường quan tâm Tại những khu giảng đường, các khoa, phòng ban, kí túc xá, trạm y tế, thư viện với nhiều tài liệu, sách vở, giấy tờ và nhiều các cấu kiện được làm từ gỗ đã tạo điều kiện thuận lợi cho loài mối sinh trưởng và phát triển Một số các địa điểm dễ bị mối hại như: Chân tường, ống dẫn nước, cầu thang, cửa ra vào, cửa sổ, tủ tài liệu, gốc cây, các bồn hoa,… Mối xâm nhập trực tiếp từ khu vực nền móng theo chân tường, các cột bê tông, các đường dẫn nước, điện, ga ngầm từ các khu lân cận vào công trình gây tổn thất nặng nề về tiền của cũng như tâm lí, làm mất thông tin, mất số liệu, gián đoạn công việc Nếu để cho mối tự do hoành hành không có các biện pháp xử lí thì sẽ gây ra hậu quả nặng nề hơn Chính vì vậy việc phòng trừ mối là vấn đề cần thiết và được nhiều người quan tâm
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phương pháp phòng trừ mối hại gỗ trong các công trình xây dựng thuộc đại học Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đánh giá được hiệu quả một số phương pháp phòng trừ mối trong các công trình
Đề xuất được các phương pháp phòng trừ mối phù hợp và lập kế hoạch phòng trừ khắc phục hậu quả do mối gây ra
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu giúp chúng tôi hiểu thêm về mối một cách đầy
đủ hơn về thức ăn, tập quán ăn mồi cũng như mức độ gây hại của chúng đối với các sản phẩm từ gỗ trong các công trình xây dựng và hiểu thêm về các biện pháp phòng trừ chúng
Trang 11Giúp chúng tôi học tập được phương pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể là phương pháp quan sát thực hành, khả năng phân tích vả tổng hợp tài liệu Phát huy tinh thần độc lập sáng tạo trong học tập và nghiên cứu khoa học
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đánh giá được hiệu quả một số phương pháp phòng trừ mối trong các công trình
Đề xuất được các phương pháp phòng trừ mối phù hợp và lập kế hoạch phòng trừ khắc phục hậu quả do mối gây ra
Bản thân là một học sinh, sinh viên khoa lâm nghiệp khi điều tra khảo sát
về mối phát hiện thấy mối phá hại các công trình xây dưng tại Đại học Thái Nguyên, bản thân cảm thấy có trách nhiệm hơn với ngành nghề của mình Sẽ tiếp tục học tập, nghiên cứu tìm ra những giải pháp mới trong việc phòng trừ mối hại cho các công trình
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Mối là một nhóm côn trùng, có họ hàng gần với gián Mối là nhóm côn trùng
có “tính xã hội” cao Chúng lập thành vương quốc sớm nhất Đôi khi người ta gọi mối là “kiến trắng” nhưng thực tế chúng chằng có họ hàng gì với kiến (thậm chí chúng còn tấn công nhau), chúng chỉ có mối quan hệ: đều là côn trùng Mối được phân loại như là bộ Cánh đều (danh pháp khoa học: Isoptera), tuy nhiên, dựa trên chứng cứ AND, người ta thấy có sự ủng hộ cho một giả thuyết gần 120 năm trước, nguyên thủy dựa trên hình thái học, rằng mối có quan hệ họ hàng gần gũi nhất với các loài gián ăn gỗ (chi Cryptocercus) Điều này đã dẫn tới việc một số tác giả đề xuất rằng mối nên được phân loại như là hộ duy nhất, gọi là Termitidae, trong phạm
vi bộ Blattodea, một bộ chứa các loài gián Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu ủng hộ biện pháp ít quyết liệt hơn và coi mối vẫn là nhóm có tên khoa học Isoptera, nhưng chỉ là một nhóm dưới bộ trong gián thực thụ, nhằm bảo vệ phân loại nội bộ của các loài mối
Hình 2.1 Quần thể mối
Trang 13Trên thế giới người ta đã giám định được trên 2700 loài Các loài có đặc điểm khác nhau về cấu trúc tổ (có loài làm tổ nổi trên mặt đất, có loài làm tổ chìm hoặc có loài làm tổ trên cây), đặc điểm dinh dưỡng (có loài chuyên ăn gỗ khô, có loài chuyên ăn gỗ ẩm, có loài chuyên ăn mùn), có loài đắp mui, có loài không đắp mui khi đi kiếm ăn
Ở Việt Nam phát hiện ra 106 loài mối Trong đó có một số nhóm loài gây hại thường gặp là các giống: Coptotermes, Odototermes, Macrotermes, Microtermes, Hypotermes, Cryptotermes Giữa các loài chỉ khác nhau về hình thái, số lượng cá thể, cấu trúc,… Song chúng đều sống trong quần thể (Lê Văn Nông và cs) [5]
2.1.1 Tổ mối
Các loài mối khác nhau thì cấu tạo tổ có khác nhau Mối thường làm tổ trong thân cây, gốc cây hay làm tổ trong đất Tổ mối có loài đơn giản chỉ là những khe rỗng ở trong gỗ hay những tập đoàn nhỏ trong đất, có loài cấu tạo hết sức phức tạp
Nguyên liệu chủ yếu để xây tổ là gỗ và đất được nhào với nước bọt của mối Cấu tạo tổ mối từ trên xuống:
- Phía trên cùng là một lớp rắn chắc dày từ 30 - 60 cm, trong lớp này có nhiều khoang thông khí đường giao thông và vườn cây nấm, lớp này có chức năng che mưa che nắng cho tổ
- Ở giữa là trung tâm của tổ, khoang này rộng hình quả lê Phía trên là những cột đất giống như thạch nhũ, phía dưới là những lớp đất mỏng xếp chồng lên nhau tạo thành những buồng ngăn để điều hòa tiểu khí hậu và mối thợ đi lại
- Ở gần đáy tổ có một khối đất mịn trong rỗng có vách dày đến 1 cm đó là nơi mối chúa và mối vua ở
- Trong tổ mối còn có phòng chứa cỏ rác và những khoang bằng phẳng là nơi để mối con đến nhận thức ăn do mối thợ mang đến
- Ngoài tổ chính một số loại mối còn tổ phụ, khi gặp điều kiện bất lợi mối thường di chuyển từ tổ chính đến tổ phụ ở Tổ mối có tác dụng vừa bảo vệ vừa điều hòa khí hậu đảm bảo cuộc sống thích hợp cho mối
Trang 142.1.2 Thức ăn của mối
Nguồn thức ăn của mối chủ yếu là các sản phẩm thực vật, trong đó thành phần quan trọng nhất là chất xơ (xenlulozo) Vì vậy đối tượng bị mối gây hại rất
đa dạng
- Thực vật sống: Nhiều loài mối lấy thức ăn từ cây sống, vào mùa khô hạn cây sống cung cấp nước cho mối, đặc biệt các lá cây non ở một số cây như: Bạch đàn, sắn, keo, chè,…
- Thực vật khô: Ruột của loài mối nhà tiêu hóa được chất xơ nên ngoài gỗ, tre, nứa, tất cả các sản phẩm chế biến từ thực vật như giấy, vải,… đều bị chúng phá hại Trên đường tìm nguồn thức ăn mối có thể đục qua nhiều loại vật liệu khác nhau như cao su, xốp cách âm, đồng thời mang theo đất và độ ẩm làm máy móc thiết bị hư hỏng Các loại mối khác nhau thường ăn chất xơ của gỗ ở trạng thái khác nhau Mối nhà thích ăn gỗ thông màu trắng còn nguyên vẹn, còn một
số khác lại thích ăn những loại gỗ hơi mục
2.1.3 Hình thái và chức năng của mối
Mối là loại côn trùng có kích thước thân thể nhỏ, mềm, râu đầu hình chuỗi hạt, miệng gặm nhai, bàn chân có 4 đốt, lông đuôi ngắn
Trong một tổ mối trưởng thành của các loài mối điển hình bao gồm các thành phần: Mối vua, mối chúa, mối giống, mối lính và mối thợ Mỗi thành phần lại có các đặc điểm hình thái và đảm nhận các chức năng khác nhau
Mỗi tổ Mối chỉ có một mối chúa, cá biệt là có 2 – 3 mối chúa Mối chúa làm nhiệm vụ sinh sản, giao phối với mối vua để duy trì nòi giống Do được chăm sóc chu đáo nên hình thái của nó biến đổi nhiều, bụng có thể lớn gấp 250-
300 lần đầu Mỗi ngày mối chúa có thể đẻ hàng triệu trứng một ngày đêm.Trứng mối có màu trắng, chiều dài từ 0,4 – 2 mm, tùy từng loại mối mà trưng có hình dạng khác nhau (Lê Văn Nông và cs) [5]
Trang 15Hình 2.2 Mối vua và mối chúa
Bao gồm Mối giống có cánh và Mối giống không cánh:
+Mối giống có cánh: Đây là thành phần chiếm số lượng đông trong quần
thể Hình thái ít biến đổi có hai đôi cánh màng dài bằng nhau, lưng của chúng có màu nâu đen và bụng có màu trắng đục Đây là đối tượng chia đàn và phát triển nòi giống
+ Mối giống không có cánh: Loại này chiếm số lượng ít trong quần thể
Chức năng của chúng là các mối vua, mối chúa bổ sung đề phòng trong trường hợp mối vua hoặc mối chúa bị chết thì chúng sẽ được bồi dưỡng đặc biệt để thay thế
Hình 2.3 Mối cánh
Trang 16+ Mối lính
Mối lính phân hóa từ mối thợ Mối lính có bộ phận đầu và hàm răng phát triển Đầu có màu nâu hồng có hạch độc, mỗi khi chiến đấu tiết ra chất sữa mầu trắng có tính axit Chức năng chủ yếu của mối lính là canh gác và tấn công, canh phòng, báo động, trinh sát bảo vệ mối lao động đi kiếm ăn Khi gặp tiếng động lạ bất thường mối lính xông ra nơi có sự cố đồng thời cũng báo động cho quần thể trong đàn Chính vì thế, hình dạng Mối lính có nhiều biến đổi: đầu to, chân dài gần bằng ½ cơ thể
Hình 2.4 Mối lính
Mối thợ có màu trắng sữa không đồng đều từ đầu đến bụng, cơ thể nhỏ, các chi phát triển Mối thợ chiếm 85% số cá thể trong đàn, mối thợ làm rất nhiều nhiệm vụ: xây đắp, đắp đường mui, vận chuyển nước, thức ăn, chăm sóc mối vua, mối chúa, mối lính, mối non do vậy chúng chiếm số lượng nhiều nhất trong tổ mối Cơ quan sinh dục của mối thợ không phát triển.Về hình thái, Mối thợ gần giống mối con, miệng gặm nhai hướng xuống dưới
Trang 17Hình 2.5 Mối thợ 2.1.4 Sự chia đàn và hình thành tổ Mối
Hằng năm, Mối thường chia đàn vào tháng 3 đến tháng 9 nhưng mạnh nhất vào khoảng thời gian từ tháng 4, 5, 6 Mối thường chia đàn vào thời gian khoảng
từ 16 - 22h, đặc biệt vào những ngày trời mưa giông Khi bay ra khỏi tổ chúng bay theo hướng gió, bay cao và có tính hướng quang rất mạnh Sau đó mối giống
có cánh cái phát ra tín hiệu dụ mối giống đực, mối giống đực bay đến dùng râu môi cọ vào lưng mối cái Nhận được tín hiệu mối giống cái rụng cánh, mối giống đực rụng cánh, chúng cắn đuôi nhau đi tìm xây tổ mới
2.1.5 Cách thức xâm nhập của mối vào công trình
Mối thường xâm nhập vào công trình theo ba cách thức cơ bản sau:
+ Xâm nhập từ dưới đất lên và các vùng lân cận vào công trình đây là cách xâm phổ biến nhất và hay gặp nhất Theo cách thức này, mối sẽ từ các tổ có sẵn trong đất nền công trình hoặc các từ các khu vực lân cận xâm nhập vào công trình thông qua các hệ thống đường đất liên tục nối từ tổ mối đến nơi có nguồn thức ăn
+ Xâm nhập bằng “đường không”: Khi mối trưởng thành (khoảng 3 - 4 năm tuổi), chúng mọc cánh và bay ra ngoài tổ (còn gọi là hiện tượng vũ hóa- thường xuất hiện khi trời sắp mưa hoặc giông) Sau khi rụng cánh, một trong số
Trang 18cặp mối đó sẽ kết thành đôi và chui vào những nơi kín đáo như khuôn, khe cửa, khu vực ẩm thấp,…… ở trên các tầng để thiết lập tổ mối mới
+ Xâm nhập qua đường lây nhiễm: Mối xâm nhập vào các công trình qua việc vận chuyển các đồ dùng đã bị nhiễm mối như : Bàn, ghế, giường, tủ, khung cửa,… từ công trình này sang công trình khác
2.1.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến Mối
Các nhân tố sinh thái ảnh hưởng tới mối bao gồm các yếu tố chủ yếu như: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng và gió, thổ nhưỡng (đất), thức ăn (thực vật), thiên địch
+ Độ ẩm và lượng mưa:
Trong cơ thể mối có chứa một lượng nước rất lớn Thiếu nước mối không thể sống được vì tất cả các quá trình trao đổi chất, dinh dưỡng, hô hấp, bài tiết của mối đều cần có sự tham gia của nước Mối thường ưa sống ở những nơi ẩm ướt, độ ẩm thích hợp nhất cho mối hoạt động từ 80 - 90% Nếu độ ẩm quá cao hay quá thấp thì mối sẽ chết
Ngoài ra độ ẩm còn gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn mối vì độ
ẩm ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của thực vật nguồn thúc ăn chính cả mối Đối với mối cánh thì tròi mưa chính là cơ hội để chúng bay ra ngoài để kết đôi
Trang 19xây dựng tổ mới vì khi đó các loài thiên địch ít hoạt động Nếu trời mưa to thì sẽ gây lụt ổ và phá hoại ổ (Đặng Kim Tuyến, 2008) [8] (Phạm Bình Quyền, 2008) [6]
+ Ánh sáng:
Trong ánh sáng thì bức xạ mặt trời là một trong những nguyên nhân chủ yếu sinh ra nhiệt trong khí quyển, sinh quyển, thạch quyển và quá trình sinh lý hóa xẩy ra trong cơ thể mối Ngoài ra ánh sáng còn ảnh hưởng tới nhiều yếu tố khác như: Nhiệt độ, độ ẩm, sự phân bố của động thực vật , gây ảnh hưởng gián tiếp đến mối Mối rất mẫn cảm với ánh sáng, chúng là loại côn trùng ưa sống ở những nơi có cường độ ánh sáng yếu Mối cánh vào ban đêm thường bay đến những nơi có ánh sáng bóng điện để kết đôi xây dựng tổ mới
tố sau: Độ ẩm của đất (ảnh hưởng khả năng hoạt động của mối , đến kết cấu tổ mối,
độ sâu của tổ, ), nhiệt độ của đất (ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động của mối, ngoài ra nhiệt độ đất còn ảnh hưởng gián tiếp đến mối thông qua làm biến đổi thành phần cơ giới đất, độ ẩm đất, thực vật che phủ, ), lớp thảm mục rừng (nguồn thức ăn chính và nơi cư trú của mối và ảnh hưởng gián tiếp đến mối thông qua làm thay đổi nhiệt độ và độ ẩm của đất), tính chất lý hóa của đất (môi trường sống ở nơi
có đất thịt trung bình và độ pH trung bình (Đặng Kim Tuyến, 2008) [8] (Phạm Bình Quyền, 2008) [6]
Trang 20+ Thức ăn
Thức ăn được coi là nhân tố sinh thái quan trọng nhất trong các yếu tố sinh học, thức ăn cần cho mối phát phát triển, bù đắp lại năng lượng mất đi trong hoạt động sống hằng ngày và hình thành các sản phẩm sinh dục sau này Thức ăn chủ yếu của mối là tre nứa và gỗ vì thế mối phân bố chủ yếu ở trong rừng Sự phân bố của thực vật ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố và phát triển của các loài mối Để đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho cả đàn mối đi kiếm
ăn cả ngày lẫn đêm, cường độ hoạt động mùa hè cao hơn mùa đông, ban đêm mạnh hơn ban ngày Ngoài thức ăn chính là gỗ, tre nứa thì mối tự cấy nấm để cung cấp đạm và vitamin
+ Thiên địch
Các loại tiên địch chủ yếu của mối như: chim, thú ăn mối, kiến bọ ngựa chúng gây hại trực tiếp đến mối nên làm ảnh hưởng đến sự sinh tồn phát triển và phân bố của mối Ngoài ra mối cũng bị nhiều loài sinh vật khác kí sinh như tuyến trùng, vi khuẩn, nấm làm cho tổ mối bị diệt (Đặng Kim Tuyến, 2008) [8] (Phạm Bình Quyền, 2008) [6]
Chính vì vậy mối thường tìm những nơi an toàn ít thiên địch nhất để làm tổ
Ví dụ: Mối thường làm tổ cách xa tổ kiến và thường đào rất sâu vào lòng đất
2.2 Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới mối có trên 2700 loài, ở Việt Nam hiện đã phát hiện 106 loài mối khác nhau Mối gây thiệt hại nặng cho các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam đặc biệt đối với các tài liệu lưu trữ quý hiếm, các hiện vật bảo tàng có giá trị đặc biệt khi bị mối phá hại thì không thể tính được tổn thất Ở mỹ theo thống kê thiệt hại hàng năm do mối gây ra hơn 3 tỷ USD, đó là thiệt hại lớn hơn
cả các vụ cháy, bão và động đất kết hợp lại
Trang 21Ở nước ta, loài mối thường gặp là mối gỗ khô và mối gỗ ẩm, chúng phá hại tất cả các công trình xây dựng, kho tàng, cây cối,… gây thiệt hại nặng Tác hại của chúng đối với các đối tượng kinh tế chủ yếu là:
- Phá hủy các đồ vật và các cấu kiện bằng gỗ trong công trình
- Phá hủy hệ thông cáp điện ngầm và các thiết bị điện tử
- Gây sụt lún cho các nền móng công trình, vỡ đê đập thủy điện
- Làm gãy, đổ, chết cây trồng
Dù chưa có số liệu nào thống kê chính thức nhưng thiệt hại hàng năm do mối gây ra là không hề nhỏ Để khắc phục hậu quả mỗi công trình cần phải có hàng chục triệu đồng để sửa chữa Mối không chỉ phá hại các nhà tranh, vách nứa mà còn phá hủy các công trình bê tông kiên cố, bê tông cốt thép…
Những năm gần đây, ở các tỉnh đã phải chi một khoảng tiền lớn cho việc phòng trừ mối mọt, bảo quản và giữ gìn tài sản Nhà nước, từ những công trình
cơ sở như trường học, bệnh viện,… đến các công trình kiên cố to đẹp như: Ngân hàng nhà nước, kho tiền, phòng lưu trữ hồ sơ UBND tỉnh, phòng lưu trữ hồ sơ sở Công an,… Đó là chưa kể các tổn thất mối mọt gây hại ở các khu nhà ở và các công trình khác của người dân
2.3 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới
Trên thế giới việc nghiên cứu về bộ cánh đều đã được tiến hành từ lâu Smaethman, 1781 công bố công trình nghiên cứu phân loại mối Linnacus vào năm 1781 đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Apterygota) thuộc giống Termes Holmgreen (1911, 1912) người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng cho phân loại mối Trên cơ sở này các nhà phân loại học như Liglit (1921), Grasse (1949),… đã hiệu đích và xác lập bộ cánh đều tương đối ổn định (dẫn theo Nguyễn Đức Khảm, 1976) [2], (dẫn theo Lê Văn Nông và cs) [5] Snyder, 1949 đã xuất bản cuốn sách danh mục về mối trên thế giới, ông
đã lập được một danh sách các loài thuộc 5 họ, trong đó có họ Termitinae Ông
Trang 22có đưa ra những mô tả sơ bộ về hình thái loài M.pakistanicus là cơ sở để nhận biết loài này trong tự nhiên (Nguyễn Hoành Hành, 2003) [1], (Nguyễn Tần Vương, 1997) [9]
Các công trình nghiên cứu về khu hệ mối các tác giả đã thành lập nhiều khóa định loại các taxon trong bộ cánh đều, như khóa định loại của Ahmad (1995) khi nghiên cứu mối tại Thái Lan, Roonwal (1962) khi nghiên cứu mối ở
Ấn Độ,… Các khóa định loại của các tác giả đã đặt tên, vẽ và mô tả chi tiết đặc điểm cấu tạo hình thái đầu, hàm, môi, râu và các tấm lưng ngực của mối lính lớn hơn của loài Microtermes pakistanicus,… nhưng các đặc điểm về cấu trúc, đặc điểm phân bố và phân hóa các đẳng cấp của loài lúc đó chưa có tác giả nào đề cập (Kumar Krishna and Frances M.Weesner, 1970) [11]
Đến năm 1965, Ahmad bổ sung thêm vào khóa định loại năm 1995 của mình các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài M.pakistanicus, góp phần rất lớn trong công việc phát hiện và phòng trừ loài mối gây hại này Tuy nhiên loài Microtermes pakistanicus cũng chỉ được nghiên cứu về các đặc điểm hình thái, sinh học và phân bố trong tự nhiên (S.Dronnet, M.Ohresser, E.L Lohou, J.L.Clement and A.G.Bagneres, 2006 [13]
Các nghiên cứu của các tác giả về phòng trừ mối cũng đã bổ sung thêm nhiều tư liệu về tỉ lệ các loài đẳng cấp trong tổ mối các loài cây công nghiệp, cây rừng và các lại cây trồng khác nhau (Leek.E and Wood T.G, 1971) [12]
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, có sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình với các vùng lân cận nên thành phần loài mối cũng khá phong phú Công trình nghiên cứu đầu tiên về mối ở Việt Nam là các tác giả Bathaeller (1927) Khi nghiên cứu khu hệ mối Đông Dương, ông đã mô tả hình thái, sinh thái của 9 loài trong đó Việt Nam có 17 loài Công trình có giá trị nhất về phòng trừ mối nhà đến nay chúng ta vẫn áp dụng là của tác giả Allurad năm 1947
Trang 23Từ những năm 60 của thế kỉ XX trở về đây, nhóm côn trùng này đã gây chú ý nhiều hơn và thu hút nhiều cán bộ của việt nam tham gia nghiên cứu như
Vũ Văn Tuyển, Nguyễn Xuân Khu… Tuy nhiên mặt mạnh vẫn chỉ là những kinh nghiệm về phòng chống mối và đặc điểm sinh thái học của một số loài gây hại chính Những dẫn liệu về cấu trúc tổ mối loài M.pakistanicus trong nghiên cứu của Vũ Văn Tuyển cho rằng loài mối có cấu trúc tổ nổi giống với cấu trúc của một số loài thuộc giống Macrotermes (Vũ Văn Tuyển, 1991) [7] (Đặng Kim Tuyến, 2008) [8]
Năm 1975, Nguyễn Đức Khảm nghiên cứu về mối ở miền bắc Việt Nam, ông mô tả về tập tính, cấu trúc tổ, vùng phân bố của 61 loài mối ở miền bắc, trong đó có loài M.pakistanicus được bổ sung thêm các dẫn liệu về thời kì giao hoan của mối, đặc điểm xây tổ và vai trò đẳng cấp trong tổ mối
Những nghiên cứu về khu hệ mối, sinh học, sinh thái diệt mối cũng bắt đầu được các cơ quan nghiên cứu khoa học chú ý như các trường đại học, các viện nghiên cứu của nhà nước, trong đó trung tâm nghiên cứu phòng trừ mối – Viện Khoa Học Thủy Lợi đã có được những kết quả nghiên cứuđáng khích lệ
Một số công trình được nghiên cứu gần đây như: Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài mối hại cây (Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007) [10] đã đưa ra những dẫn liệu mới về cấu trúc tổng quan và chi tiết của tổ mối, tập tính kiếm ăn, xây tổ của loài mối M.Pakistanicus làm cơ sở cho việc phòng trừ giảm thiểu tác hại do chúng gây ra cho nền sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp đối với các tỉnh Tây Nguyên Công trình này cho biết cấu trúc tổ của loài với những khác biệt về hình thái so với nhận định của Vũ Văn Tuyển trước đó
Hiện nay Viện Khoa Học Thủy Lợi đang có những dự án nghiên cứu về loài mối với số lượng lớn các thí nghiệm được bố trí, thực địa ở nhiều nơi trên cả toàn quốc và đã ghi nhận được những kết quả đầu có ý nghĩa về đặc điểm sinh thái học, cấu trúc tổ và đặc biệt là loại thức ăn ưa thích cuả mối làm cơ sở ban
Trang 24đầu để nghiên cứu ra các chế phẩm phòng chống mối đạt hiệu quả cao (Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007) [10]
Công việc điều tra phân bố loài mối và các nghiên cứu sinh thái sinh học, các kĩ thuật phòng trừ cả các tác giả từ trước đến nay đã thu được những kết quả nhất định làm cơ sở ban đầu cho việc phòng trừ và giảm thiểu các tác hại do mối gây ra Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, các loài mối gây hại cũng phát triển mạnh, phổ biến ở khắp mọi nơi, chình vì vậy các nghiên cứu về mối mới nhất trong lúc này không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một quốc gia mà còn
có ý nghĩa trên toàn thế giới, cần phải được phát triển nhiều thêm về các nghiên cứu mới về mối
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
Đại học Thái Nguyên là trọng điểm quốc gia có vị trí quan trọng ở khu vực phía Bắc bao gồm có 10 đơn vị đào tạo:
- Trường Đại học Sư phạm
- Trường Đại học Y – Dược
- Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp
- Trường Đại học Nông Lâm
- Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
- Trường Đại học Khoa học
-Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông
- Khoa Ngoại ngữ
- Khoa Quốc tế
- Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Trong các đơn vị xây dựng gồm có nhiều công trình trình xây dựng như các khu giảng đường, các phòng ban, các khu kí túc và hầu hết các công trình
Trang 25xây dựng này đều có cấu kiện bằng gỗ có nguy cơ bị mối tấn công và phá hoại Qua điều tra thực tế cho thấy, hiện nay các đơn vị trường đang có rất nhiều các cấu kiện bằng gỗ bị mối tấn công như: Cánh cửa, chân cửa, cửa sổ, cầu thang, các kho chứa tài liệu, Nếu để cho mối tự do hoành hành không có biện pháp xử
lý thì sẽ gây hậu quả rất nặng nề Chính vì vậy việc phòng trừ mối là vấn đề rất cần thiết được nhiều người quan tâm
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài mối hại
gỗ trong các công trình tại Đại học Thái Nguyên
Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài đánh giá mức độ gây hại và thử nghiệm một số phương pháp phòng trừ mối hại tại Đại học Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Đại học Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng mối gây hại tại các công trình
+ Xác định những địa điểm có mối tấn công
+ Phân tích mức độ gây hại và nguy cơ tiềm ẩn
- Thử nghiệm một số phương pháp phòng trừ mối
- Lựa chọn phương pháp phù hợp
- Lập kế hoạch phòng trừ mối cho từng công trình
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Tiến hành thu thập tài liệu cần thiết liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu từ các nguồn thông tin sau:
- Giáo trình, bài giảng
- Khóa luận tốt nghiệp
- Webside
Trang 273.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
a) Phương pháp điều tra quan sát trực tiếp
Tiến hành điều tra, quan sát thực tế tại các công trình thuộc Đại học Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên để thu thập số liệu về sự xuất hiện và mức độ gây hại của mối đối với gỗ Điều tra quan sát phòng ban, các khu hiệu bộ và tất cả các giảng đường tại chân cầu thang, cánh cửa chính, cửa sổ, khuôn cửa, bàn ghế, các khu kí túc xá của từng đơn vị Thực hiện với tổng số là 9 đơn vị và văn phòng Đại học Thái Nguyên thuộc Đại học Thái Nguyên :
- Văn phòng Đại Học Thái Nguyên
- Trường Đại học Sư phạm
- Trường Đại học Y – Dược
- Trường Đại học Nông Lâm
- Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
- Trường Đại học Khoa học
- Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông
- Khoa Ngoại ngữ
- Khoa Quốc tế
- Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
b) Phương pháp phỏng vấn
Cùng với quan sát, chúng tôi tiến hành điều tra, phỏng vấn các cán bộ, các
bộ phận bảo vệ, người quản lý của các công trình bằng bộ câu hỏi đã được lập sẵn Ngoài ra còn tìm gặp những người làm việc lâu năm tại các trường để phỏng vấn về lịch sử phòng trừ mối và kinh nghiệm phòng trừ mối Để việc điều tra quan sát và phỏng vấn được thuận lợi chúng tôi đã lập ra bộ phiếu phỏng vấn mối hại công trình
Nội dung phỏng vấn gồm những nội dung sau:
1 Tên công trình, năm xây dựng;
2 Thời gian, địa điểm phỏng vấn;
3 Các vật dụng sử dụng bằng gỗ tại công trình xây dựng;
4 Thông tin mối hại gỗ;
Trang 285 Lịch sử phòng trừ mối;
6 Thực trạng mối phá hại;
7 Thời gian mối phá hại mạnh;
8 Kinh nghiệm phòng trừ mối;
9 Nhu cầu phòng trừ mối tại công trình
3.4.3 Dụng cụ, vật liệu phục vụ quá trình nghiên cứu:
- Dụng cụ: Đèn pin, tua vít, hộp đựng mẫu mối, hộp nhử mối, máy khoan, bình phun thuốc
- Vật liệu: PMC 90, Cislin 2.5EC, Agenda, Lenfos 50EC
Trang 29
Hình 3.2 Vật liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu
(a Lenfos 50EC; b PMC 90; c Cislin 2.5EC; d Agenda)
3.4.4 Phương pháp đánh giá mức độ mối hại gỗ
Hiện nay chưa có tiêu chuẩn nào hướng dẫn cách đánh giá mức độ mối
hại gỗ Vì vậy, để thuận lợi trong quá trình nghiên cứu và đánh giá mức độ mối hại gỗ tại Đại học Thái nguyên - tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi căn cứ vào mức độ phá hại gỗ để quy ước ra ba mức độ mối gây hại như sau:
- Mức độ hại nặng là những địa điểm bị mối ăn hại và làm hỏng phần lớn
Trang 303.4.5 Phương pháp phân tích, xử lý và tổng hợp số liệu
- Các tài liệu, số liệu sau khi thu thập được tiến hành, chọn lọc các số liệu cần thiết và loại bỏ những số liệu không hợp lý
- Xử lý số liệu trên phần mềm Excel
- Tổng hợp, phân tích các số liệu, tài liệu theo một trình tự nhất định Sử dụng bảng biểu theo các mẫu:
Mẫu bảng 1: Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng trong các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên
hiện
Dấu hiệu
Mức độ gây hại của mối
Phương pháp phòng trừ
Loại thuốc
Thời gian tiến hành
Tổng
Trang 31Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Khái quát lịch sử phòng mối và thực trạng mối hại gỗ tại trong các công trình xây dựng tại Đại học Thái Nguyên
4.1.1 Khái quát về lịch sử phòng mối hại gỗ tại các công trình xây dựng
Kết quả điều tra, phỏng vấn về lịch sử phòng trừ mối tại các khu vực nghiên cứu được thể hiện ở bảng:
Bảng 4.1 Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng
tại Đại Học Thái Nguyên
( C: có, K: không)
Năm thành lập
Tổng số công trình
Lượng
gỗ (m 3 )
Số công trình thực hiện phòng trừ
C
K
(Nguồn: số liệu điều tra năm 2016)
Trang 32Qua bảng số liệu 4.1 cho thấy công tác phòng trừ mối tại các đơn vị thuộc Đại học Thái Nguyên ban đầu chưa được chú trọng Trong tổng số 126 công trình chỉ có 29 công trình (chiếm 23%) được phòng mối, 47 công trình (chiếm 37,3%) trong quá trình sử dụng xuất hiện mối phá hại mới tiến hành diệt và phun các thuốc hóa học phòng mối, 50 công trình (chiếm 39,7%) chưa được tiến hành phòng mối Một số trường có nhiều công trình như trường Nông Lâm với tổng số 31 công trình, nhưng chỉ có 8 công trình (chiếm 25,8%) được phòng mối, 10 công trình (chiếm 32,2%) đã diệt mối và phòng sau khi diệt, 13 công trình (chiếm 42%) chưa được phòng Một số trường có ít công trình như Khoa Quốc Tế tổng có 2 công trình nhưng không có công trình nào được phòng mối, bên cạnh đó vẫn còn một số công trình bị mối hại tuy ở mức độ nhẹ và một số công trình vẫn chưa bị mối xâm nhập nhưng đang có nguy cơ cao bị mối hại vẫn chưa được các trường có
kế hoạch xử lý ví dụ như tại trường Đại học KT và QTKD đã bị mối hại hai giảng đường GK1 và GK2 nhưng trường vẫn chưa có các kế hoạch xử lí
Gỗ trong các công trình được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như khung cửa, bàn ghế, tủ đựng tài liệu, khung ảnh, lan can cầu thang Qua điều tra, phỏng vấn các cán bộ quản lý và một số cá nhân đã làm việc lâu năm tại các trường thì hầu hết mọi người đều không rõ loại gỗ được sử dụng trong công trình, qua khảo sát các đơn vị cho thấy đa số các công trình đều sử dụng dòng gỗ tạp, gỗ ép ván công nghiệp, ván dán, ván ép có tính chất mềm do đó dễ bị mối hại Hầu hết các lượng gỗ được đưa vào sửa dụng trong các công trình đều không được qua các khâu bảo quản như ngâm, tẩm các chế phẩm phòng mối Khi bị mối phá hại nặng tại một số công trình, lúc đó công tác diệt mối và phòng mối mới được đồng thời tiến hành
Hiện trạng trên diễn ra do rất nhiều các nguyên nhân nhưng chủ yếu là do từng đơn vị nhà trường cũng như các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia xây dựng công trình thiếu hiểu biết về loài mối Họ chưa hiểu hết về sự nguy hiểm của mối và cách phòng trừ chúng Khi thực hiện khảo sát mối tại từng đơn vị
Trang 33trường chúng tôi có thực hiện phỏng vấn các cán bộ, các sinh viên của từng đơn
vị trường cho thấy hầu hết mọi người đều không quan tâm hoặc ít quan tâm đến
sự gây hại của mối, sự thiếu hiểu biết về thông tin mối hại là rất phổ biến Bên cạnh đó một số các nhân có nhận thức được vấn đề này nhưng do không có điều kiện nên việc phòng trừ cũng không được tiến hành
4.1.2 Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại Đại học Thái Nguyên
Thực tế cho thấy rằng tất cả các đơn vị thuộc Đại học Thái Nguyên đều
có mối xuất hiện với các mức độ gây hại khác nhau Tổng có 126 công trình tôi đã điều tra có đến 77 công trình (chiếm 61,1%) là có mối, 49 công trình (chiếm 39,2%) là chưa bị mối hại Các công trình bị mối phá hại nhiều nhất như: tại trường Đại học Nông Lâm có 31 công trình với 21 công trình đã bị mối phá hại (chiếm 67,7%), mối hại chủ yếu ở các khu giảng đường D, giảng đường C, các dãy kí túc xá, chúng ăn các cấu kiện bằng gỗ như khung cửa, các cánh cửa chính và cửa sổ và hại nặng ở các cửa phòng vệ sinh Đặc biệt tại trường Đại học CNTT và Truyền Thông tổng 21 công trình, có 15 công trình bị mối hại ở mức độ nặng và trung bình
Qua điều tra thấy được tình hình chung của các công trình thuộc các đơn
vị khác nhau có mối xuất hiện và phá hại nặng đều tập trung chỉ yếu ở các khu giảng đường, các tòa nhà kí túc xá Sở dĩ như vậy là do các giảng đường, các tòa nhà kí túc được xây dựng trên nền đất đồi có mầm mống mối từ trước, lượng gỗ được sử dụng là khá lớn lại không được xử lí mối hoặc xử lí không triệt để trước khi xây dựng điều đó đã tạo điều kiện cho các loài mối phát triển Ngoài ra trong quá trình khảo sát tôi phát hiện nhiều vị trí có mọt, xén tóc, nấm mục là các điều kiện tốt để mối xâm nhập và phát triển Bởi lẽ mối sẽ lợi dụng những nơi nói đó
để di chuyển lấy thức ăn, nơi trú ngụ,… rồi dần gây hại ra chỗ khác
Trang 34
Bảng 4.2 Thực trạng mối xuất hiện và phá hại gỗ trong các công trình xây dựng tại Đại học Thái Nguyên
Từ tháng 3 đến tháng 9
cửa sổ, khuôn cửa
Đắp đường
cửa sổ, khuôn cửa
Đắp đường mui, phân mối, vết hại
Đắp đường
cửa sổ, khuôn cửa Đắp đường mui 3 1 3 Tháng 3 đến tháng 9
(Nguồn: số liệu điều tra năm 2016)
Trang 35Dưới đây là một số hình ảnh khảo sát được thực trạng mối hại các cấu kiện bằng gỗ tại các đơn vị thuộc Đại học Thái Nguyên:
Hình 4.1 Mối hại gỗ tại trường Đại học Khoa Học
Do nằm ở các vị trí tiếp giáp với mặt đất và thường xuyên bị tiếp xúc với nước nên chân các nhà vệ sinh hay chân cột các khu tầng 1 là nơi ẩm cho nấm mục phát triển, vì vậy loài mối thường lợi dụng những vị trí đó để xâm nhập vào các công trình Từ đây chúng bắt đầu phá hại chân cửa và ăn dần từ dưới lên trên Để tránh được các hiện tượng này khi xây dựng ngoài việc lựa chọn gỗ, gỗ
đã được bảo quản ta còn nên sử dụng một số vật liệu cách ẩm, dùng xi măng chát xung quanh chân cột gỗ nơi thường xuyên tiếp xúc với nước hay khi xây dựng dùng đá kê cao chân cột