1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Xây dựng kế toán trách nhiệm tại tổng công ty xây dựng số 1

100 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 1.2 Báo cáo trách nhiệm trung tâm chi phí định mức Bảng 1.3 Báo cáo trách nhiệm trung tâm chi phí dự toán Bảng 1.4 Báo cáo trách nhiệm trung tâm doanh thu Bảng 1.5 Báo cáo trách nhi

Trang 1

HOÀNG QUANG MINH

XÂY DỰNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY

XÂY DỰNG SỐ 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014

Trang 2

HOÀNG QUANG MINH

XÂY DỰNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY

XÂY DỰNG SỐ 1

Chuyên ngành: Kế Toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM VĂN DƯỢC

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014

Trang 3

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các sơ đồ

Danh mục phụ lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm tại doanh nghiệp 6

1.1.Khái niệm và vai trò của kế toán quản trị 6

1.2.Đánh giá trách nhiệm quản lý 8

1.2.1.Khả năng kiểm soát 8

1.2.2 Đánh giá trách nhiệm quản lý 9

1.3.Kế toán trách nhiệm 11

1.4.Vai trò của kế toán trách nhiệm 12

1.5.Nội dung kế toán trách nhiệm 13

1.5.1.Sự phân quyền và phân chia các trung tâm trách nhiệm 13

1.5.1.1.Sự phân quyền 13

1.5.1.2.Các trung tâm trách nhiệm 15

1.5.1.2.1.Trung tâm chi phí 17

1.5.1.2.2.Trung tâm doanh thu 18

1.5.1.2.3.Trung tâm lợi nhuận 19

1.5.1.2.4.Trung tâm đầu tư 20

1.5.2.Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý 20

1.5.2.1.Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý ở trung tâm chi phí 21

1.5.2.2.Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý ở trung tâm doanh thu 21

1.5.2.3.Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý ở trung tâm lợi nhuận 22

1.5.2.4.Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý ở trung tâm đầu tư 23

Trang 4

1.5.3.1.2.Đặc điểm báo cáo kế toán trách nhiệm 26

1.5.3.1.3.Yêu cầu của báo cáo kế toán trách nhiệm 26

1.5.3.2.Báo cáo kế toán trách nhiệm cho các trung tâm trách nhiệm 27

1.5.3.2.1.Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí 27

1.5.3.2.2.Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu 28

1.5.3.2.3.Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận 29

1.5.3.2.4.Báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư 29

Kết luận chương 1 31

Chương 2: Thực trạng công tác đánh giá trách nhiệm quản lý tại Tổng công ty Xây dựng số 1 32

2.1.Khái quát về Tổng công ty xây dựng số 1 (CC1) 32

2.1.1.Giới thiệu về doanh nghiệp 32

2.1.1.1.Khái quát về Tổng công ty xây dựng số 1 32

2.1.1.2.Mục tiêu hoạt động 32

2.1.2.Lĩnh vực hoạt động 33

2.1.2.1.Xây dựng 33

2.1.2.2.Công trình năng lượng 33

2.1.2.3.Công trình hạ tầng giao thông 33

2.1.2.4.Công trình Dân dụng và Công nghiệp 34

2.1.2.5.Đầu tư 34

2.1.2.6.Tư vấn thiết kế 34

2.1.2.7.Xuất nhập khẩu 35

2.1.2.8.Kinh doanh bất động sản 35

2.1.2.9.Kinh doanh vật liệu xây dựng 35

2.1.3.Cơ cấu tổ chức quản lý 36

2.1.3.1.Sơ đồ tổ chức quản lý 36

Trang 5

2.1.3.3.2.Quan hệ giữa Tổng công ty và các công ty con 39

2.1.3.3.3.Quan hệ giữa Tổng công ty và các công ty liên kết 40

2.1.4.Đặc điểm tổ chức kế toán tại Tổng công ty xây dựng số 1 40

2.2.Thực trạng công tác kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty 41

2.2.1.Thực hiện khảo sát 41

2.2.1.1.Mục tiêu khảo sát 42

2.2.1.2.Nội dung khảo sát 42

2.2.1.3.Câu hỏi khảo sát 42

2.2.1.4.Kết quả khảo sát 42

2.2.2.Nhận xét về tình hình thực hiện kế toán trách nhiệm tại CC1 45

2.2.2.1.Về nhận thức của nhà quản lý về kế toán trách nhiệm 45

2.2.2.2.Về hệ thống phân cấp ra quyết định 46

2.2.2.3.Về việc xác định các trung tâm trách nhiệm 47

2.2.2.4.Về việc lập báo cáo quản trị 47

2.2.2.5.Về đánh giá trách nhiệm nhà quản lý bộ phận 52

Kết luận chương 2 53

Chương 3: Xây dựng kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty xây dựng số 1 54

3.1.Quan điểm về xây dựng kế toán trách nhiệm 54

3.2.Xây dựng kế toán trách nhiệm tại công ty 55

3.2.1.Xây dựng trung tâm trách nhiệm và hoàn thiện dự toán ngân sách cho từng trung tâm 55

3.2.2.Xây dựng trung tâm trách nhiệm 55

3.2.3.Hoàn thiện dự toán ngân sách cho từng trung tâm trách nhiệm 57

3.2.3.1.Hoàn thiện dự toán ngân sách cho trung tâm chi phí 57

3.2.3.1.1.Dự toán chi phí cho hoạt động xây lắp 58 3.2.3.1.2.Dự toán chi phí cho hoạt động khai khoáng , sản xuất vật liệu xây

Trang 6

3.2.3.3.Hoàn thiện dự toán ngân sách cho trung tâm đầu tư 63

3.2.4.Xây dựng báo cáo trách nhiệm cho các trung tâm trách nhiệm 64

3.2.4.1.Báo cáo trách nhiệm cho trung tâm chi phí 64

3.2.4.2.Xây dựng báo cáo trách nhiệm cho trung tâm lợi nhuận 70

3.2.4.3.Xây dựng báo cáo trách nhiệm cho trung tâm đầu tư 71

3.2.5.Giải pháp thực hiện 72

3.2.5.1.Hoàn thiện bộ máy kế toán quản trị 72

3.2.5.2.Xây dựng định mức xây dựng 73

3.2.5.3.Nâng cao nhận thức nhà quản lý 73

3.2.5.4.Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng kế toán trách nhiệm 73

3.2.5.5.Hoàn thiện công tác thu thập số liệu theo yêu cầu kế toán quản trị 74

3.2.5.5.1.Xây dựng mã số trách nhiệm quản trị 74

3.2.5.5.2.Xây dựng mã số tài khoản kế toán trách nhiệm 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76

KẾT LUẬN CHUNG 77 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

Bảng 1.2 Báo cáo trách nhiệm trung tâm chi phí định mức

Bảng 1.3 Báo cáo trách nhiệm trung tâm chi phí dự toán

Bảng 1.4 Báo cáo trách nhiệm trung tâm doanh thu

Bảng 1.5 Báo cáo trách nhiệm trung tâm lợi nhuận

Bảng 1.6 Báo cáo trách nhiệm trung tâm đầu tư

Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả khảo sát tình hình thực hiện kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty xây dựng số 1 và các đơn vị thành viên

Bảng 2.1 Báo cáo các sản phẩm chính

Bảng 2.2 Báo cáo sử dụng vốn đầu tư quý I năm 2014

Bảng 2.3 Báo cáo tổng hợp tình hình đầu tư phát triển quý I năm 2014

Bảng 3.1 Xác định trung tâm trách nhiệm tại Tổng công ty xây dựng số 1 Bảng 3.1 Bảng chiết tính định mức xây dựng công việc

Bảng 3.2 Dự toán chi phí phát sinh cho các tổ đội thi công theo công việc Bảng 3.3 Dự toán chi phí phát sinh cho các tổ đội thi công

Bảng 3.4 Dự toán sản xuất (phụ lục 2)

Bảng 3.5 Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (phụ lục 2)

Bảng 3.6 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp (phụ lục 2)

Bảng 3.7 Dự toán chi phí sản xuất chung (phụ lục 2)

Bảng 3.8 Dự toán chi phí bộ phận tư vấn (phụ lục 2)

Bảng 3.9 Dự toán chi phí bán hàng (phụ lục 2)

Bảng 3.10 Dự toán chi phí Quản lý doanh nghiệp (phụ lục 2)

Bảng 3.11 Dự toán doanh thu (phụ lục 2)

Bảng 3.12 Dự toán của trung tâm lợi nhuận

Bảng 3.13 Dự toán của trung tâm đầu tư đối với dự án tự đầu tư

Bảng 3.14 Dự toán của trung tâm đối với hoạt động đầu tư vào cty khác

Bảng 3.15 Báo cáo trách nhiệm tổ đội thi công

Bảng 3.16 Báo cáo trách nhiệm phân xưởng sản xuất

Trang 10

Sơ đồ 1.2 Quy trình lập kế hoạch, ra quyết định, kiểm soát

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý Tổng công ty

Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý Tổng công ty và các công ty thành viên

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Tổng công ty

Sơ đồ 3.1 Trình tự lập báo cáo trách nhiệm trung tâm chi phí

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Nền kinh tế phát triển chậm lại, mức độ cạnh tranh ngày càng cao, bên cạnh

đó là xu thế hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế đã buộc các doanh nghiệp tại Việt Nam phải tự thay đổi để thích nghi với xu hướng mới này Việc thành công của một doanh nghiệp được quyết định rất nhiều bởi các quyết định của nhà quản lý, vì vậy công tác đánh giá hiệu quả hoạt động và trách nhiệm nhà quản lý bộ phận nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản lý trong việc ra quyết định ngày càng được các doanh nghiệp chú ý

Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị Bên cạnh chức năng chính của mình là cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm người đứng đầu các bộ phận, kế toán trách nhiệm còn giúp cho nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn Vì vậy, kế toán trách nhiệm ngày càng

có vai trò và vị trí quan trọng trong hoạt động quản lý tại các doanh nghiệp trên thế giới Tại Việt Nam, kế toán quản trị và kế toán trách nhiệm vẫn còn là lĩnh vực khá mới mẻ Việc áp dụng kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là trong ngành xây dựng, nơi mà các công ty hoạt động trong phạm vi trải rộng, đa ngành nghề, việc đánh giá trách nhiệm nhà quản lý bộ phận và toàn công ty còn tồn tại nhiều bất cập Bên cạnh đó, những vấn đề về chất lượng công trình xây dựng, biện pháp thi công gây ra những vấn đề về xã hội, môi trường cũng thường xuyên diễn ra gây hậu quả nghiêm trọng Vì vậy, nhu cầu cung cấp thông tin cho nhà quản lý trong việc kiểm soát hoạt động đã và đang trở thành nhu cầu cấp bách cho các doanh nghiệp xây dựng

Cạnh tranh ngày càng gay gắt cộng với những thay đổi liên tục trong môi trường kinh doanh khiến cho những hệ thống kiểm soát cũ không đủ khả năng cung cấp thông tin hỗ trợ nhà quản lý trong việc ra quyết định và kiểm soát, vì vậy việc xây dựng hệ thống đánh giá trách nhiệm quản lý kết hợp giữa những chỉ tiêu tài

Trang 12

chính và phi tài chính đang được nghiên cứu và áp dụng ngày càng nhiều trên thế giới

Để giải quyết những tồn tại trên, nâng cao hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp, cần thiết phải có một công cụ kiểm soát hữu hiệu giúp cho nhà quản lý thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Việc tổ chức kế toán trách nhiệm là phù hợp với xu hướng thực tiễn hiện nay Vì vậy, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “ Xây dựng kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty xây dựng số 1” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về kế toán trách nhiệm

Sau khi Robert Anthony giới thiệu quyển sách về kế toán quản trị (1956), kế toán trách nhiệm bắt đầu nhận được sự quan tâm của các chuyên gia Đặc biệt trong ngành xây dựng, bắt đầu có nhiều nghiên cứu được công bố về đánh giá trách nhiệm quản lý áp dụng những mô hình quản trị mới

- Martin N Kellogg (1962) trong tác phẩm “Fundamentals of Responsibility Accounting” đã trình bày về sự phát triển của kế toán trách nhiệm trong mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với cơ cấu tổ chức, kế toán chi phí, kiểm soát chi phí…Tác giả cho rằng kế toán trách nhiệm có mối quan hệ chặt chẽ với phân cấp quản lý và kế toán chi phí Nguyên tắc thiết lập một hệ thống kế toán trách nhiệm là phải phân chia tổ chức thành các bộ phận, phân công trách nhiệm cho các bộ phận đó Bên cạnh

đó, hệ thống kế toán chi phí được sử dụng như là công cụ quản lý, trước hết phải gán trách nhiệm cho từng khoản chi phí Để kiểm soát được chi phí thì cần phải tìm hiểu và xác định được nguồn gốc phát sinh chi phí

- Joseph P Vogel (1962) cũng đã bàn về kế toán trách nhiệm trong tác

phẩm “Rudiments of Responsibility Accounting in Public Utilities” Kế

toán trách nhiệm trước hết được sử dụng để kiểm soát chi phí Tác giả đã

đề cập đến việc xây dựng và thiết lập hệ thống kế toán trách nhiệm trong

Trang 13

doanh nghiệp Kế toán trách nhiệm phải được xây dựng trên cơ sở phân cấp quản lý nhằm thu thập thông tin cũng như kiểm soát thông tin tại các

bộ phận, từ đó cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định một cách

có hiệu quả

- N.J Gordon (1963) trong tác phẩm “Toward a Theory of Responsibility

Accounting System” đã trình bày những nghiên cứu về lý thuyết của hệ

thống kế toán trách nhiệm Kế toán trách nhiệm chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có phân cấp quản lý

Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về kế toán trách nhiệm nói chung và kế toán trách nhiệm trong ngành xây dựng nói riêng Về phần cơ sở lý thuyết, lý luận

về kế toán trách nhiệm đã được đề cập đầy đủ trong đề tài nghiên cứu khoa học “Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán đánh giá trách nhiệm bộ phận trong doanh nghiệp thương mại tại Việt Nam” tại Trường ĐH kinh tế Tp Hồ Chí Minh do tác giả Phạm Văn Dược (2010) thực hiện Đây là một trong những tài liệu rất có giá trị cho việc nghiên cứu về kế toán trách nhiệm Nghiên cứu đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận

về kế toán trách nhiệm, trình bày được một hệ thống báo cáo đánh giá trách nhiệm quản trị được thiết lập phù hợp với cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp thương mại

Về mặt ứng dụng thực tiễn, kế toán trách nhiệm cũng là đề tài nghiên cứu của rất nhiều luận văn thạc sỹ, tiêu biểu như sau:

- Bùi Thị Bích Liên, 2012 Xây dựng kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty Văn hoá Sài Gòn – Công ty TNHH MTV Luận văn thạc sỹ Trường đại học Kinh tế TP HCM Luận văn có đề cập tới lý thuyết phân loại chi phí gắn với trách nhiệm bộ phận và áp dụng kế toán trách nhiệm cho công ty nhà nước

- Đỗ Khánh Ly, 2010 Hoàn thiện công tác tổ chức kế toán trách nhiệm tại IDICO Nghiên cứu đã bổ sung những ảnh hưởng cơ cấu tổ chức trong tổng công ty hoạt động theo mô hình mẹ con đến công tác kế toán trách nhiệm

- Luận án tiến sỹ “Tổ chức kế toán trách nhiệm trong các Tổng công ty xây dựng thuộc Bộ giao thông vận tải” của Tiến sỹ Nguyễn Hữu Phú đề cập đến

Trang 14

việc áp dụng mô hình Knowledge Management Star (KM Star) trong việc đánh giá trách nhiệm quản lý tại các trung tâm trách nhiệm Bên cạnh đó tác giả cũng nghiên cứu về đặc điểm ngành xây dựng và để xuất mô hình xây dựng kế toán trách nhiệm cho các Tổng công ty xây dựng

- Nguyễn Thanh Bình, 2014 Xây dựng kế toán trách nhiệm tại công ty TNHH MTV xây dựng Bình Phước Luận án cũng đề cập tới các bước trong việc xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm và áp dụng nó cho doanh nghiệp xây dựng

Vì vậy, hướng nghiên cứu của đề tài này là triển khai thực hiện việc tổ chức

hệ thống kế toán trách nhiệm đi sâu vào chi tiết của tổng công ty xây dựng cụ thể Ở đây là Tổng công ty xây dựng thuộc Bộ xây dựng

Nội dung việc áp dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng về cơ bản đã được trình bày trong luận án “Tổ chức kế toán trách nhiệm trong các Tổng công ty xây dựng thuộc Bộ giao thông vận tải” của Tiến sỹ Nguyễn Hữu Phú Luận văn sẽ khai thác đặc điểm riêng của CC1, qua đó đề xuất triển khai thực hiện việc tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm đi sâu vào từng mảng hoạt động của loại hình tổng công ty và chi tiết vào một tổng công ty xây dựng cụ thể

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Thông qua việc hệ thống hóa các lý luận và nghiên cứu liên quan đến kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp, tác giả vận dụng những cơ sở lý luận này để nghiên cứu thực trạng công tác đánh giá trách nhiệm quản lý bộ phận tại Tổng công

ty xây dựng số 1 Qua đó đề xuất đưa ra các giải pháp, đề xuất xây dựng hệ thống

kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu là kế toán quản trị, kế toán trách nhiệm tại Tổng công

ty xây dựng số 1 và các đơn vị thành viên

Trang 15

Phạm vi nghiên cứu là các lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp, sau đó là thực tiễn công tác đánh giá trách nhiệm quản lý bộ phận tại Tổng công ty xây dựng số 1 Dựa vào cơ sở lý thuyết để xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm phù hợp với tình hình công ty

5 Phương pháp nghiên cứu

Đây là nghiên cứu ứng dụng, dựa trên nền tảng lý thuyết có sẵn về kế toán trách nhiệm để vận dụng cho phù hợp với đặc điểm của ngành xây dựng nói chung

và Tổng công ty xây dựng số 1 nói riêng Để làm được điều này, luận văn được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu:

- Hệ thống hóa các lý luận về kế toán quản trị và kế toán trách nhiệm làm nền tảng cho việc ứng dụng thực tiễn vào đơn vị

- Phỏng vấn, quan sát, thu thập tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu

để hiểu rõ hơn về tình hình, đặc điểm kinh doanh, quản lý và công tác đánh giá trách nhiệm quản lý tại công ty

6 Kết cấu của luận văn

Chương 1 : Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng công tác đánh giá trách nhiệm quản lý tại Tổng công ty xây dựng số 1

Chương 3: Xây dựng kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty xây dựng số 1

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH

NGHIỆP 1.1 Khái niệm và vai trò của kế toán quản trị

Kế toán quản trị là một yếu tố quan trọng của quá trình quản lý Đặc biệt nó liên quan đến việc xác định, đo lường, trình bày, giải thích và sử dụng thông tin có liên quan để giúp các nhà quản lý điều hành tổ chức của họ Nó cũng cung cấp những công cụ kế toán và quản lý tài chính nhằm tạo ra, bảo vệ, bảo tồn và gia tăng giá trị cho các bên liên quan Trong ấn phẩm “Định nghĩa kế toán quản trị” (2008)

do Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA) phát hành có đưa ra định nghĩa: Kế toán quản trị là công việc liên quan đến việc hỗ trợ nhà quản lý trong việc ra quyết định, hoạch định chiến lược và hệ thống quản lý hiệu quả, cung cấp chuyên môn trong việc báo cáo và kiểm soát để hỗ trợ cho nhà quản lý trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược của tổ chức

Như vậy, vai trò chính của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho nhà quản lý thực hiện chức năng của mình trong việc lập kế hoạch, ra quyết định và kiểm soát:

- Lập kế hoạch liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu của tổ chức và xây dựng các chiến lược liên quan có thể được sử dụng để đạt được những mục tiêu đó

Để giúp cho việc lập kế hoạch, kế toán quản trị cung cấp thông tin về những gì đã xảy ra trong quá khứ giúp nhà quản lý có thể đặt ra mục tiêu có thể đạt được trong tương lai, ví dụ nhà quản lý đang lập kế hoạch doanh số bán hàng trong tương lai, người đó cần phải biết doanh số đã đạt được trong quá khứ Lập kế hoạch có thể bao gồm kế hoạch ngắn hạn ( kế hoạch chiến thuật) hoặc kế hoạch dài hạn ( kế hoạch chiến lược)

- Ra quyết định liên quan đến việc xem xét các thông tin được cung cấp và thực hiện ra quyết định Trong hầu hết các trường hợp, việc ra quyết định liên quan đến việc lựa chọn giữa hai hay nhiều lựa chọn khác nhau Nhà quản lý cần những

Trang 17

thông tin đáng tin cậy để so sánh và hiểu được hậu quả sẽ xảy ra khi lựa chọn một phương án Phần đầu tiên trong quá trình ra quyết định là lập kế hoạch, và phần thứ hai là kiểm soát

- Kiểm soát bao gồm việc thu thập thông tin về kết quả thực tế xảy ra và báo cáo cho nhà quản lý Nó giúp nhà quản lý kiểm soát hoạt động của mình hoặc có thể đánh giá lại, sửa đổi ngân sách hoặc mục tiêu Những thông tin này thường là những thông tin nội bộ, chủ yếu với mục đích kiểm soát, phản hồi

Sơ đồ 1.1: Vai trò của kế toán quản trị trong việc thực hiện chức năng của nhà quản lý.(Kaplan, 2012)

Sơ đồ 1.2: Quy trình lập kế hoạch, ra quyết định, kiểm soát (Kaplan, 2012)

1 Xác định mục tiêu

2 Xác định cách thức để đạt được mục tiêu

3 Ra quyết định nhằm đạt được mục tiêu

dựa trên các thông tin được cung cấp

Lập kế hoạch

1 Thực hiện ra quyết định

1 Tập hợp thông tin về kết quả thực tế đạt

được

2 So sánh kết quả thực tế và mong muốn

3 Xem xét lại mục tiêu ( nếu cần thiết)

Ra quyết định

Kiểm soát

Kế hoạch/ Ngân sách Kiểm soát

Trang 18

Ở đây, nhà quản lý xây dựng kế hoạch, những yếu tố đầu vào ( nhân công, nguyên vật liệu, thiết bị…) và hoạt động đều được kiểm soát Đầu ra từ hoạt động được đo lường và báo cáo phản hồi lại cho nhà quản lý, kết quả thực tế từ báo cáo được so sánh với kế hoạch Từ đó nhà quản lý đưa ra hành động thích hợp, đặc biệt khi hoạt động cho ra kết quả tốt hơn hoặc tệ hơn so với kế hoạch Phản hồi từ báo cáo có thể được sử dụng để xem xét lại kế hoạch đề ra hoặc để thiết lập kế hoạch cho kỳ sắp tới

1.2 Đánh giá trách nhiệm quản lý

1.2.1 Khả năng kiểm soát

Khi đánh giá trách nhiệm quản lý bộ phận, một trong những vấn đề quan trọng là phải phân biệt được các khoản mà nhà quản lý bộ phận có thể kiểm soát được ( do đó, họ chịu trách nhiệm về nó) và những khoản mà họ không thể kiểm soát được Kế toán trách nhiệm cũng dựa trên nguyên tắc này Điều này nói nên rằng, đánh giá trách nhiệm quản lý bộ phận chỉ nên được thực hiện đối với các khía cạnh hiệu suất mà nhà quản lý có thể kiểm soát được Vì vậy, nguyên tắc kiểm soát này cho rằng những khoản mục không thể kiểm soát cần được loại trừ khỏi các báo cáo dùng để đánh giá trách nhiệm quản lý, hoặc ảnh hưởng của các khoản mục không thể kiểm soát cần được tính toán và trình bày riêng biệt bên cạnh những khoản mục có thể kiểm soát

Trong thực tế, các nguyên tắc năng kiểm soát có thể rất khó áp dụng Vì có nhiều trường hợp không rõ ràng trong việc phân loại có thể kiểm soát hoặc không thể kiểm soát Ví dụ, nếu một đối thủ cạnh tranh giảm giá bán sản phẩm của họ, đây

có thể được xem là hành động không thể kiểm soát được Tuy nhiên, nhà quản lý có thể phản ứng với hành động đó bằng cách thay đổi giá bán của công ty mình, qua

đó, có thể giảm tác động của hành vi hãng đối thủ Vì vậy, ở đây có cả hành động

có thể kiểm soát và không thể kiểm soát Tương tự như vậy, nếu một nhà cung cấp tăng giá sản phẩm của họ, điều này có thể được xem như là một hành động không kiểm soát được Tuy nhiên, nhà quản lý có thể phản ứng bằng cách tìm kiếm để thay

Trang 19

đổi nhà cung cấp hoặc sử dụng một sản phẩm khác để giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động của nhà cung cấp Một lần nữa, có những hành động có khả năng kiểm soát được và không kiểm soát ở đây

Như vậy, toàn bộ hành động, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, vốn đầu tư … được sử dụng để đánh giá trách nhiệm quản lý được nhắc đến trong chương này là những chỉ tiêu có thể kiểm soát được bởi nhà quản lý bộ phận

1.2.2 Đánh giá trách nhiệm quản lý

Đánh giá trách nhiệm quản lý là khía cạnh quan trọng trong chức năng kiểm soát để ra quyết định của kế toán quản trị và nó bao gồm những nội dung sau:

- Xác định cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Ví dụ tổ chức nên được cơ cấu theo chức năng hay theo phân quyền và mức độ phân quyền như thế nào là thích hợp

- Phân công trách nhiệm, người quản lý bộ phận phải chịu trách nhiệm về doanh thu , chi phí, đầu tư…

- Thiết lập hệ thống đánh giá trách nhiệm quản lý trong việc hoàn thành mục tiêu

- Đánh giá hiệu quả của các hoạt động

Về căn bản, đánh giá trách nhiệm quản lý là việc xác định mức độ thực hiện của các bộ phận trong việc thực hiện kế hoạch được giao Đánh giá trách nhiệm quản lý là phần quan trọng trong quá trình kiểm soát Có nhiều biện pháp đánh giá trách nhiệm quản lý khác nhau tùy theo những loại hình kinh doanh khác nhau Các yếu tố cần được xem xét khi đánh giá trách nhiệm quản lý là:

- Xác định những nguồn lực cần thiết: con người, thiết bị và thời gian để thu thập và phân tích thông tin Chi phí và lợi ích của việc sử dụng các nguồn lực cho việc thực hiện đánh giá trách nhiệm quản lý cần được cân nhắc trước khi áp dụng

- Về mặt tổng thể, trách nhiệm quản lý cần được so sánh với mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch được hoạch định dựa trên mục tiêu tổ chức Nếu tổ chức

Trang 20

không có mục tiêu rõ ràng, bước đầu tiên của đánh giá trách nhiệm quản lý là xây dựng chúng Bước thứ hai là xác định các yếu tố quan trọng tác động lên sự thành công của mục tiêu này

- Các biện pháp đánh giá phải phù hợp Điều này có nghĩa là phải tìm ra tổ chức đang làm gì và họ làm như thế nào nhằm xác định những biện pháp đánh giá trách nhiệm phản ánh những gì thực sự diễn ra

- Trách nhiệm quản lý trong ngắn hạn và dài hạn cần được đánh giá Mục tiêu ngắn hạn có thể quan trọng, nhưng việc chỉ tập trung vào mục tiêu ngắn hạn không

có nghĩa sẽ giúp cho doanh nghiệp thành công trong dài hạn

- Các biện pháp đánh giá trách nhiệm cần công bằng Nó chỉ nên bao gồm các yếu tố mà nhà quản lý có thể kiểm soát được thông qua các quyết định của họ, và do

đó họ phải chịu trách nhiệm về nó

- Nhiều công cụ đo lường cần được sử dụng cùng lúc Nhà quản lý có thể tìm

ra cách bóp méo kết quả nếu chỉ dùng 1 thước đo duy nhất, nhưng khó có thể cùng lúc bóp méo nhiều thước đo Thẻ điểm cân bằng (BSC) cung cấp một cách thức đánh giá trách nhiệm quản lý thông qua nhiều phương diện là một ví dụ, các thước

đo liên kết chặt chẽ với nhau và nhà quản lý sẽ rất khó bóp méo tất cả các thước đo

- Các ước tính cần được xây dựng sát thực tế nhất có thể Chúng bao gồm việc ước tính những khoản mục tài chính có giá trị không chắc chắn, ví dụ như chi phí sử dụng vốn, và các ước tính này cũng có thể ảnh hưởng tới các chỉ tiêu phi tài chính

- Đánh giá trách nhiệm quản lý cần có được sự hưởng ứng, hơn tất cả, nhà quản lý đưa ra quyết định vì lợi ích cốt lõi của tổ chức Nhà quản lý chỉ hưởng ứng việc đánh giá trách nhiệm nếu như họ thấy nó hữu ích Do đó, kế toán quản trị cần phải tiếp cận những triết lý thị trường hiện đại để xây dựng hệ thống đánh giá trách nhiệm quản lý : đáp ứng những gì khách hàng muốn, chứ không phải mua rẻ bán đắt

- Một công cụ đánh giá trách nhiệm quản lý thích hợp được chọn cần được kiểm soát một cách thường xuyên nhằm đảm bảo rằng nó đang cung cấp thông tin

Trang 21

hữu ích Sẽ là lãng phí nếu như công ty tiêu tốn nhân lực dùng để đo lường thị phần nếu sự gia tăng thị phần không còn là mục tiêu của tổ chức

1.3 Kế toán trách nhiệm

Kế toán trách nhiệm là thuật ngữ dùng để mô tả sự phân cấp thẩm quyền gắn với việc đo lường mức độ thực hiện của các trung tâm phân cấp dưới góc độ kế toán

Kế toán trách nhiệm là một nội dung của kế toán quản trị Kể từ khi được đề cập đến lần đầu tiên tại Mỹ trong tác phẩm "Basic organizational planning to tie in with responsibility accounting" của Ailman, H.B.1950 đến nay Kế toán trách nhiệm đã được nghiên cứu và vận dụng khắp nơi trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất cho kế toán trách nhiệm Trong đó có một số quan điểm nổi bật:

- Theo nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, R.D Banker, Robert Kaplan, S.M Young thì Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản

lý riêng biệt trong một tổ chức, thông qua các báo cáo liên quan đến chi phí, thu nhập và các số liệu hoạt động bởi từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức (Atkinson và cộng sự, 2011) Theo đó nhóm tác giả còn nhấn mạnh việc đánh giá trách nhiệm quản lý dựa trên doanh thu và chi phí có thể kiểm soát, hệ thống này cũng phân định rõ ràng những đối tượng có thể kiểm soát và những đối tượng không thể kiểm soát

- Theo nhóm tác giả D.F.Hawkins, V.G Narayanan, J.Cohen, M.Jurgens thì kế toán trách nhiệm là một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan, về những hoạt động thực tế và được lập kế hoạch của những trung tâm trách nhiệm trong một công ty – những đơn vị trong tổ chức được đứng đầu bởi những nhà quản lý có trách nhiệm cho kết quả hoạt động của đơn vị họ quản lý (Hawkins và cộng sự, 2004) Theo đó, kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin chủ

Trang 22

yếu thông qua việc so sánh kết quả hoạt động thực tế của trung tâm trách nhiệm với

kế hoạch được giao

- B.Venkatrathnam và Raji Reddy (2008) trình bày quan điểm của mình về kế toán trách nhiệm như sau: kế toán trách nhiệm là một hệ thống kiểm soát của nhà quản lý được dựa trên những nguyên tắc về ủy quyền và xác định trách nhiệm

- Bên cạnh đó, tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về kế toán trách nhiệm Theo Đoàn Ngọc Quế và cộng sự thì “Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử

lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức” ( Đoàn Ngọc Quế và cộng sự,

2011, trang 196)

Qua các quan điểm về kế toán trách nhiệm đã nêu trên, nhìn chung ta có thể hiểu kế toán trách nhiệm như sau: Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý, báo cáo, tổng hợp thông tin về doanh thu, chi phí và lợi nhuận có thể kiểm soát tại các mức độ phân quyền khác nhau mà nhà quản lý chịu trách nhiệm về chúng Mục đích của hệ thống thông tin này để đánh giá trách nhiệm nhà quản lý bộ phận, đồng thời cũng giúp cho nhà quản lý có thể hành động một cách thích hợp, kịp thời, hướng đến mục tiêu quản trị công ty trong doanh nghiệp

1.4 Vai trò của kế toán trách nhiệm

Kế toán trách nhiệm là một nội dung của kế toán quản trị, nó là hệ thống thu thập các dữ liệu mà nhà quản lý bộ phận có thể kiểm soát về đánh giá hiệu suất và

so sánh nó với kế hoạch nhằm cung cấp thông tin cho việc thực hiện các chức năng quản lý Thông qua hoạt động của mình, kế toán trách nhiệm thể hiện những vai trò sau đây:

- Cung cấp thông tin giúp đánh giá trách nhiệm nhà quản lý bộ phận Thông qua việc phân chia tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm và đo lường kết quả hoạt động của bộ phận, kế toán trách nhiệm sẽ cho biết mức độ hoàn thành kế hoạch của từng bộ phận, xác định mức độ đóng góp của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức

Trang 23

- Cung cấp phản hồi hỗ trợ việc lập kế hoạch của nhà quản lý Các báo cáo của

kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin phản hồi để nhà quản lý nắm bắt tình hình thực hiện thực tế so với báo cáo, đồng thời dựa vào đó để tìm ta những khó khăn, hạn chế giúp cho nhà quản lý ra những quyết định điều chỉnh kịp thời đảm bảo doanh nghiệp vẫn đi đúng mục tiêu Ngoài ra những phản hồi này cũng giúp nhà quản lý trong việc lập kế hoạch trong kỳ sau

- Giúp cho việc liên tục cải thiện hiệu quả hoạt động Cung cấp cho nhà quản

lý cái nhìn chính xác hơn về hoạt động của mình qua việc so sánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp với những doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, qua đó xác định mục tiêu cải tiến liên tục hoặc xác định vấn đề đang gặp phải

- Định hướng các nhà quản lý hướng tới mục tiêu của bộ phận và mục tiêu chung của tổ chức Khuyến khích các bộ phận, các nhà quản lý chủ động, sáng tạo trong việc điều hành bộ phận nhằm đạt được hiệu quả cao và các mục tiêu đề ra

1.5 Nội dung kế toán trách nhiệm

1.5.1 Sự phân quyền và phân chia các trung tâm trách nhiệm

1.5.1.1 Sự phân quyền

Nhìn chung, một tổ chức lớn có thể được cấu trúc theo một trong hai cách: theo chức năng( tập trung tất cả các hoạt động tương tự trong công ty thành một bộ phận, chẳng hạn như sản xuất, bán hàng, nghiên cứu được đặt dưới sự kiểm soát của người đứng đầu phòng ban phù hợp) hoặc theo bộ phận ( chia thành các bộ phận phù hợp với sản phẩm hoặc dịch vụ mà bộ phận đó thực hiện hoặc cung cấp)

Do đó, trong cấu trúc bộ phận, nhà quản lý bộ phận chịu trách nhiệm về mọi hoạt động ( sản xuất, bán hàng, cung cấp dịch vụ…) liên quan đến sản phẩm của họ, trong đó, cấu trúc chức năng được áp dụng cho từng bộ phận Có thể chỉ có 1 phần công ty được áp dụng cấu trúc bộ phận và khi đó tất cả các hoạt động quản lý ở trung tâm được cấu trúc theo chức năng với nhiệm vụ cung cấp dịch vụ cho tất cả các bộ phận trong công ty

Trang 24

Nhìn chung, cấu trúc bộ phận sẽ dẫn tới việc phân cấp ra quyết định và nhà quản lý bộ phận có thể có quyền tự do quyết định giá bán, lựa chọn nhà cung cấp, thực hiện cơ cấu sản phẩm và quyết định các yếu tố nguồn lực đầu vào và đầu ra Tất nhiên, quyền lực của quản lý bộ phận còn tuỳ thuộc vào mức độ phân quyền mà

họ nhận được

Ưu điểm của cấu trúc bộ phận:

- Cấu trúc bộ phận có thể cải thiện chất lượng của việc ra quyết định bởi vì nhà quản lý bộ phận ( người ra quyết định) hiểu được những điều kiện thực tế và có nhiều thông tin chi tiết để đánh giá hơn.Hơn nữa, việc đánh giá trách nhiệm quản lý

bộ phận sẽ tạo động lực cho nhà quản lý bộ phận ra những quyết định vì lợi ích chung của tổ chức

- Các quyết định được đưa ra nhanh hơn, kịp thời hơn vì thông tin không nhất thiết phải được đưa tới nhà quản lý cấp cao Quyết định có thể được thực hiện ngay tại chỗ bởi những người quen thuộc với dòng sản phẩm và quy trình sản xuất Ngoài

ra những người này có thể phản ứng nhanh nhạy với sự thay đổi cục bộ một cách nhanh chóng và hiệu quả

- Các nhà quản lý cấp cao được giải phóng khỏi những chi tiết trong các hoạt động hàng ngày và cho phép họ dành nhiều thời gian hơn trong việc lập kế hoạch chiến lược

- Cấu trúc bộ phận còn giúp cho doanh nghiệp đào tạo thế hệ quản lý trong tương lai bằng cách cung cấp cho họ những kinh nghiệm quản lý quý giá và được thực hành trong môi trường ít phức tạp hơn so với những gì mà nhà quản lý cấp cao hiện hành gặp phải

- Trong tổ chức lớn, bộ phận quản lý ở trung tâm có thể không có đủ nguồn lực cũng như kỹ năng quản lý trực tiếp Vì vậy, việc phân quyền cho các đơn vị ở dưới thực sự cần thiết

Bên cạnh đó, cấu trúc bộ phận cũng tồn tại những nhược điểm:

Trang 25

- Một mối nguy hiểm của kế toán bộ phận là việc tổ chức được phân chia thành nhiều trung tâm độc lập với nhau, mỗi hành động tại một thời điểm có thể chống lại mong ước và lợi ích của các trung tâm khác Quyết định được đưa ra bởi nhà quản lý bộ phận có thể chỉ quan tâm đến lợi ích của bộ phận mình mà ảnh hưởng đến lợi ích của các bộ phận khác, đôi khi ảnh hưởng đến cả lợi ích của doanh nghiệp Do đó, nhiệm vụ của nhà quản lý cấp cao là cố gắng ngăn chặn việc rối loạn chức năng ra quyết định giữa các nhà quản lý ở các bộ phận riêng biệt Để làm điều này, nhà quản lý cấp cao phải duy trì sức mạnh và quyền lực của mình để các nhà quản lý bộ phận không được phép ra quyết định hoàn toàn độc lập Sự cân bằng này giúp cho việc phân cấp vừa tạo ra sự khuyến khích, động lực, vừa đảm bảo các bộ phận trong tổ chức đều hướng tới mục tiêu, lợi ích chung

- Nhiều ý kiến cho rằng chi phí để vận hành hệ thống, ví dụ như hoạt động kế toán, có thể cao hơn so với việc tập trung

- Nhà quản lý cấp cao, thông qua việc uỷ quyền cho quản lý bộ phận ra quyết định, có thể mất quyền kiểm soát nếu như họ không nhận được sự cảnh báo về những thay đổi đang diễn ra trong tổ chức Vì vậy, việc duy trì hệ thống đánh giá trách nhiệm hữu hiệu và có được những thông tin kiểm soát thích hợp, nhà quản lý cấp cao có thể kiểm soát hoạt động một cách hữu hiệu hơn

1.5.1.2 Các trung tâm trách nhiệm

Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kiểm soát quản lý dựa trên các nguyên tắc uỷ quyền và phân định trách nhiệm Các bộ phận công ty được chia thành các trung tâm trách nhiệm và hình thành hệ thống kế toán cho các trung tâm trách nhiệm này Theo đó, kế toán trách nhiệm sinh ra từ một hệ thống mà ở đó nhà quản

lý được quyền quyết định, có quyền hạn và trách nhiệm cho từng hoạt động xảy ra trong một khu vực cụ thể của công ty Theo hệ thống này, các nhà quản lý chịu trách nhiệm về các hoạt động của các bộ phận Những bộ phận này có thể được gọi

là các phòng ban, ngành, đơn vị, vv,… Như vậy, hệ thống kế toán trách nhiệm bao gồm nhiều trung tâm trách nhiệm, các trung tâm này là một bộ phận của tổ chức, nơi mà các nhà quản lý bộ phận chịu trách nhiệm về hoạt động của bộ phận mình

Trang 26

Tuỳ theo cơ cấu tổ chức, quyền ra quyết định của nhà quản lý bộ phận và mức độ phân quyền mà doanh nghiệp hình thành hệ thống các trung tâm trách nhiệm tương ứng

Nhiệm vụ chính của kế toán trách nhiệm là thu thập và báo cáo số liệu kế hoạch và thực tế về các yếu tố đầu vào và đầu ra của kế toán trách nhiệm Vì vậy,

kế toán trách nhiệm dựa trên những thông tin liên quan đến đầu vào và đầu ra Các nguồn lực được sử dụng là được gọi là đầu vào Các nguồn lực được sử dụng bởi một tổ chức chủ yếu là các nguồn lực vật chất như số lượng nguyên vật liệu tiêu thụ, giờ công lao động,… Để thực hiện kiểm soát quản lý, các nguồn lực vật chất không đồng nhất được thể hiện bằng tiền và được gọi là chi phí Vì vậy, đầu vào được thể hiện như chi phí Tương tự như vậy, kết quả đầu ra được đo bằng tiền tệ được gọi là "doanh thu" Nói cách khác, kế toán trách nhiệm được dựa trên dữ liệu chi phí và doanh thu hoặc thông tin tài chính

Để đánh giá mức độ hoàn thành của một trung tâm trách nhiệm, người ta thường quan tâm đến hai tiêu chí: tính hữu hiệu và hiệu quả Theo đó tính hữu hiệu thể hiện tỷ lệ đầu ra so với đầu vào còn tính hiệu quả thể hiện mức độ hoàn thành kế hoạch của trung tâm trách nhiệm

Kế toán trách nhiệm còn là một phương pháp phân chia cơ cấu tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường hiệu suất của họ Nói cách khác

kế toán trách nhiệm là một công cụ để đo lường hiệu suất bộ phận với mục đích:

- Để xác định sự đóng góp của một bộ phận cho toàn thể tổ chức

- Cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng của việc thực hiện quản lý

bộ phận Kế toán trách nhiệm được sử dụng để đo hiệu suất của các nhà quản lý và

do đó, ảnh hưởng đến cách hành xử các nhà quản lý

- Thúc đẩy các hoạt động quản lý bộ phận của mình một cách phù hợp với các mục tiêu cơ bản của các tổ chức

Trang 27

Vì những mục tiêu kiểm soát trên, trung tâm trách nhiệm được phân thành các nhóm: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư

1.5.1.2.1 Trung tâm chi phí

Một trung tâm chi phí là một trung tâm trách nhiệm, trong đó yếu tố đầu vào, nhưng không có kết quả đầu ra, được đo bằng tiền tệ Trong một trung tâm chi phí,

hệ thống kế toán chỉ ghi lại dữ liệu chi phí ( đầu vào) phát sinh tại trung tâm trong khi các dữ liệu doanh thu ( đầu ra) bị loại trừ Nó đo lường hoạt động tài chính về chi phí mà tự nó phát sinh Nói cách khác, việc thực hiện đánh giá tại một trung tâm chi phí là việc đo lường hiệu quả hoạt động trong trung tâm đó về số lượng đầu vào được sử dụng để sản xuất một số lượng nhất định Sự chênh lệch giữa thực tế và dự toán cho thấy mức độ hiệu quả của bộ phận

Một điểm lưu ý trong việc đánh giá trách nhiệm ở trung tâm chi phí là khả năng kiểm soát Khả năng kiểm soát là khái niệm quan trọng trong một hệ thống kế toán trách nhiệm Một trung tâm trách nhiệm chỉ được đánh giá dựa trên các yếu tố

có thể kiểm soát Sẽ là không hợp lý nếu bắt nhà quản lý chịu trách nhiệm về các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của họ Vì vậy, cần thiết phải xác định các chi phí có thể kiểm soát và chi phí mà không kiểm soát được Chi phí có thể kiểm soát được của một cấp quản lý là chi phí mà nhà quản lý cấp đó được quyền ra quyết định Ngược lại là chi phí không kiểm soát được

Như vậy, trung tâm chi phí là cơ sở của hệ thống xác định chi phí có thể kiểm soát, là tiền đề cho các hoạt động sau: lập dự toán chi phí, xác định chi phí thực tế phát sinh và so sánh chi phí thực tế với dự toán chi phí Trung tâm này thường gắn liền với các hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc gián tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh như các phân xưởng, phòng ban chức năng… Theo đó, nhà quản lý bộ phận chỉ chịu trách nhiệm về những chi phí có thể kiểm soát, không chịu trách nhiệm đối với doanh thu và đầu tư vốn Có 2 dạng trung tâm chi phí:

Trang 28

- Trung tâm chi phí định mức: là trung tâm chi phí mà các nguồn lực có thể kiểm soát và hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, dịch vụ có thể được xây dựng định mức cụ thể Theo đó, chi phí để tạo ra một đơn vị sản phẩm có thể được xác định trước, vì vậy, nhà quản lý bộ phận không chịu trách nhiệm về những biến động chi phí phát sinh do thay đổi mức độ hoạt động Đối với trung tâm này thì tính hữu hiệu được đo lường bởi chi phí thực tế phát sinh và chi phí định mức, còn tính hiệu quả được do lường bằng mức độ hoàn thành sản lượng mong muốn trong giới hãn về chất lượng và thời gian nhất định Các trung tâm chi phí này thường gắn với các cấp quản lý cơ sở, ví dụ như nhà máy, phân xưởng, tổ đội sản xuất…

- Trung tâm chi phí dự toán: là trung tâm chi phí mà mối quan hệ giữa nguồn lực sử dụng và kết quả đạt được là không rõ ràng Kiểm soát chi phí trong trường hợp này nhằm đảm bảo mỗi chi phí thực tế phát sinh gắn liền với mục tiêu, nhiệm

vụ được giao của các trung tâm Như vậy, mục tiêu chính của trung tâm chi phí dự toán là quản lý chặt chẽ các chi phí, giảm thiểu, tiết kiệm tối đa các chi phí phát sinh Vì vậy, nhà quản lý trung tâm chi phí này cần xây dựng dự toán chi phí nhằm xác định được sự chênh lệch giữa thực tế và dự toán, từ đó tìm hiểu nguyên nhân phát sinh chênh lệch

Về mặt quản lý kiểm soát, trung tâm chi phí có vai trò to lớn vì đây là bộ phận phát sinh chi phí chủ yếu cho doanh nghiệp Quản lý tốt trung tâm chi phí sẽ góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động , giảm chi phí, gia tăng lợi nhuận cho đơn vị

1.5.1.2.2 Trung tâm doanh thu

Trung tâm doanh thu chỉ chịu trách nhiệm kiểm soát đối với doanh thu phát sinh, không chịu trách nhiệm kiểm soát về chi phí phát sinh, hoặc chi phí có thể kiểm soát chiếm tỷ trọng không đáng kể trong chi phí sản xuất và chi phí bán hàng Nhà quản lý có quyền quyết định đối với tất cả hoạt động liên quan đến bán hàng nhằm tạo ra doanh thu cho đơn vị

Trung tâm này được phân định cho nhà quản lý cấp trung hay cơ sở như là phòng doanh thu, chi nhánh tiêu thụ…

Trang 29

Việc đánh giá trách nhiệm nhà quản lý bộ phận tại trung tâm doanh thu cần xem xét đến giá vốn của hàng hóa, dịch vụ,… để khuyến khích trung tâm này tạo ra lợi nhuận chứ không chỉ đơn thuần là tạo ra doanh thu

1.5.1.2.3 Trung tâm lợi nhuận

Một trung tâm trong đó cả đầu vào và đầu ra được đo bằng tiền tệ được gọi là một trung tâm lợi nhuận Nói cách khác cả chi phí và doanh thu của trung tâm được ghi nhận Sự khác biệt về doanh thu và chi phí được gọi là lợi nhuận Tại trung tâm lợi nhuận, đo lường tài chính được thực hiện cho cả yếu tố đầu vào và đầu ra, vì vậy, các trung tâm này có thể được đo lường về cả mặt hiệu suất và hiệu quả hoạt động về mặt tài chính Phân tích lợi nhuận có thể được sử dụng như công cụ cơ sở

để đánh giá việc thực hiện quản lý tại bộ phận Cũng giống như trung tâm chi phí, chỉ những doanh thu và chi phí nào nhà quản lý có thể kiểm soát được mới được sử dụng trong quá trình đánh giá trách nhiệm nhà quản lý bộ phận Một trung tâm lợi nhuận tạo ra doanh thu có thể là chi phí của một trung tâm lợi nhuận khác Vì vậy, quản lý có thể xác định sự phân chia có hiệu quả trong việc đạt được mục tiêu của mình Mục tiêu này có lẽ là để kiếm được một "lợi nhuận thỏa đáng" Lợi nhuận theo dõi trực tiếp đến các bộ phận Khái niệm về lợi nhuận phân chia được gọi là

"đóng góp lợi nhuận” vì nó là số tiền đóng góp lợi nhuận trực tiếp bởi các bộ phận

Nhà quản lý trung tâm lợi nhuận thường được tự do quyết định giá bán, xác định thị trường bán, cơ cấu sản phẩm, ra quyết định về sản lượng và lựa chọn nhà cung cấp Trung tâm lợi nhuận thường được hình thành theo dòng sản phẩm, phân khúc thị trường hoặc dựa theo điều kiện địa lý Thông thường báo cáo lợi nhuận sẽ được thiết lập theo dạng số dư đảm phí nhằm dễ dàng xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới biến động lợi nhuận

Về mặt quản lý kiểm soát, trung tâm lợi nhuận có tác dụng đánh giá được sự kiểm soát về cả doanh thu lẫn chi phí Quản lý tốt trung tâm lợi nhuận sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận

Trang 30

1.5.1.2.4 Trung tâm đầu tư

Trung tâm đầu tư là trung tâm mà tài sản sử dụng được đánh giá bên cạnh việc đo lường các yếu tố đầu vào và đầu ra Đầu vào được hạch toán về chi phí, kết quả đầu ra được hạch toán về doanh thu và tài sản được sử dụng trong việc tạo ra các giá trị Đây là đo lường rộng nhất, theo nghĩa là hiệu suất không chỉ được đo về lợi nhuận mà còn về tài sản sử dụng để tạo ra lợi nhuận Một trung tâm đầu tư khác với một trung tâm lợi nhuận trong đó là trung tâm đầu tư được đánh giá trên cơ sở

tỷ lệ lợi tức thu được từ tài sản đầu tư vào bộ phận này trong khi một trung tâm lợi nhuận được đánh giá trên cơ sở doanh thu vượt qua chi phí cho một giai đoạn

Trung tâm này thường đại diện cho mức độ quản lý cao nhất trong doanh nghiệp như Giám đốc, Tổng giám đốc… Nhà quản lý tại trung tâm đầu tư có toàn quyền sử dụng và đầu tư tài sản( tài sản, vốn lưu động…) để đạt được lợi nhuận tối

ưu Do đó, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư và lợi nhuận còn lại được xem là phương pháp cơ bản để đánh giá trách nhiệm quản lý của trung tâm này Phương pháp đo lường này giúp đo lường cả doanh thu, chi phí và tài sản kinh doanh và vì vậy phản ánh trách nhiệm của nhà quản lý đối với lợi nhuận tính trên vốn đầu tư

Tóm lại, bước đầu tiên trong việc thực hiện Kế toán trách nhiệm là xây dựng các trung tâm trách nhiệm Tổ chức cần phân định các bộ phận phân quyền vào các trung tâm trách nhiệm chi phí, doanh thu, lợi nhuận hoặc đầu tư Trong thực tế, việc phân định này tương đối phức tạp và mang tính tương đối, phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức, mức độ phân quyền cũng như quan điểm của nhà quản lý cấp cao Việc phân định các trung tâm này đúng đắn góp phần quan trọng trong việc thực hiện hiệu quả

kế toán trách nhiệm

1.5.2 Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý

Việc đánh giá hoạt động tại các trung tâm trách nhiệm thường được xem xét trên hai mặt, đó là tính hữu hiệu và hiệu quả Và việc đánh giá hai mặt này được

Trang 31

thực hiện bằng các chỉ tiêu (chỉ số) tài chính và phi tài chính có thể kiểm soát được bởi nhà quản lý bộ phận Ngoài ra, việc đánh giá trách nhiệm quản lý bằng cách so sánh kết quả thực tế thực hiện được với dự toán ban đầu cũng thường xuyên được

áp dụng Do tính chất và mục tiêu của các trung tâm trách nhiệm khác nhau nên việc đo lường cho từng loại trung tâm trách nhiệm cũng khác nhau

1.5.2.1 Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý ở trung tâm chi phí

Việc đánh giá trách nhiệm quản lý tại trung tâm chi phí được thực hiện thông qua các báo cáo kết quả được lập riêng cho từng trung tâm chi phí riêng biệt tuỳ thuộc vào tính chất, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận này Thông tin dùng để đánh giá trách nhiệm quản lý tại trung tâm chi phí là chi phí có thể kiểm soát được

Những chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý tại trung tâm chi phí thường là

so sánh chi phí có thể kiểm soát phát sinh thực tế với chi phí theo dự toán, từ đó nhà quản lý bộ phận có thể nhận biết được xu hướng biến động, chênh lệch tốt, xấu, từ

đó đưa ra những quyết định, giải pháp hợp lý:

Mức chênh lệch chi phí = Chi phí có thể kiểm soát được thực tế phát sinh – Chi phí

có thể kiểm soát được dự toán

- Mức độ hoàn thành công việc

- Mức chênh lệch chi phí = Chi phí có thể kiểm soát được thực tế phát sinh – Chi

phí dự toán được duyệt

1.5.2.2 Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý ở trung tâm doanh thu

Trang 32

Việc đánh giá trách nhiệm quản lý của các trung tâm doanh thu thường được thực hiện bằng cách so sánh doanh thu có thể kiểm soát thực tế phát sinh với dự toán và thực hiện phân tích các chênh lệch Trong trường hợp trung tâm doanh thu được toàn quyền quyết định giá bán, số lượng sản phẩm tiêu thụ thì doanh thu có thể kiểm soát là toàn bộ doanh thu phát sinh tại bộ phận, vì vậy trách nhiệm nhà quản lý sẽ được đánh giá trên doanh thu tạo ra Trong trường hợp trung tâm doanh thu không được toàn quyền quyết định giá bán, khi đó, các nhà quản lý trung tâm doanh thu chỉ chịu trách nhiệm về số lượng và kết cấu mặt hàng bán ra Thông tin dùng để đánh giá trách nhiệm quản lý tại trung tâm doanh thu là doanh thu có thể kiểm soát được

Khi đánh giá trách nhiệm quản lý tại trung tâm doanh thu cần chú ý tới mục tiêu, chiến lược của công ty Trong trường hợp chiến lược công ty là tối đa hoá lợi nhuận, chi phí của từng loại sản phẩm cần được quan tâm nhằm thúc đẩy các trung tâm doanh thu tạo ra lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp Nếu chỉ đánh giá về mặt doanh thu có thể khiến các nhà quản lý tại trung tâm doanh thu tập trung chạy theo doanh số mà ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của tổ chức Ngược lại, nếu chiến lược của công ty là mở rộng thị phần thì một số vấn đề như mức độ hài lòng của khách hàng, mức độ chiếm lĩnh thị trường của dòng sản phẩm cần được quan tâm

Chỉ tiêu chủ yếu dùng để đánh giá trách nhiệm quản lý tại trung tâm doanh thu là so sánh doanh thu thực tế phát sinh và doanh thu kế hoạch nhằm tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến biến động doanh thu:

Mức chênh lệch doanh thu = Doanh thu có thể kiểm soát được thực tế phát sinh – Doanh thu có thể kiểm soát được dự toán

1.5.2.3 Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý ở trung tâm lợi nhuận

Việc đánh giá trách nhiệm quản lý tại trung tâm lợi nhuận được thực hiện thông qua các báo cáo thành quả được lập riêng cho từng trung tâm lợi nhuận riêng biệt

Trang 33

Thông tin dùng để đánh giá trách nhiệm quản lý tại trung tâm lợi nhuận là lợi nhuận có thể kiểm soát được bởi các nhà quản lý bộ phận Do đó, chỉ những doanh thu và chi phí có thể kiểm soát mới được sử dụng để đánh giá trách nhiệm Như vậy, báo cáo trách nhiệm quản lý thường được trình bày dưới dạng số dư đảm phí

và được thực hiện bằng cách so sánh số thực tế phát sinh và dự toán để biết được chênh lệch lợi nhuận nào có lợi, chênh lệch nào bất lợi, và chênh lệch lợi nhuận là kết quả của việc kiểm soát doanh thu hay chi phí mang lại

Bên cạnh việc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của bộ phận, hiệu quả của trung tâm lợi nhuận còn được đo lường bằng mức độ gia tăng lợi nhuận, tỷ suất sinh lợi:

Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu = ợ ậ

1.5.2.4 Chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý ở trung tâm đầu tư

Đánh giá thành quả quản lý ở các trung tâm đầu tư bao gồm: những chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản lý tại trung tâm lợi nhuận, các thước đo thành quả trong việc sử dụng vốn đầu tư Vì vậy, những số liệu về doanh thu, chi phí được sử dụng

để đánh giá trách nhiệm quản lý ở trung tâm đầu tư là những khoản có thể kiểm soát được Các chỉ tiêu cơ bản thường được sử dụng để đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư là: Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI); Lãi thặng dư (RI); Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added – EVA); Các chỉ tiêu trên được xác định như sau:

 Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI):

ROI có tác dụng đánh giá hiệu quả đầu tư của các trung tâm đầu tư có quy

mô vốn khác nhau để phân tích xem nơi nào đạt hiệu quả cao nhất Ngoài ra ROI

Trang 34

còn thể hiện rõ sự tác động trực tiếp giữa lợi nhuận và vốn đầu tư Ngoài ra ROI thể hiện những nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động giúp nhà quản lý có những biện pháp khắc phục kịp thời, chẳng hạn như cải thiện doanh thu, chi phí, hoặc tính

lại cơ cấu vốn

 Lãi thặng dư (RI):

RI = Lợi nhuận của trung tâm đầu tư – Chi phí sử dụng vốn

Trong đó Chi phí sử dụng vốn = Vốn đầu tư x Tỷ suất chi phí vốn

RI cho biết lợi nhuận thực tế mà trung tâm đầu tư mang lại là bao nhiêu Vì

RI là số tuyệt đối nên không thể so sánh giữa các trung tâm đầu tư có nguồn vốn khác nhau, do đó có một chỉ tiêu khác cũng thường được sử dụng là tỷ lệ lợi nhuận còn lại trên vốn đầu tư:

đ ư Chỉ tiêu này xác định được tỷ lệ lãi thặng dư thực hiện trên cùng một mức vốn đầu tư Vì vậy có thể được sử dụng để đánh giá thành quả giữa các bộ phận khác nhau về mức vốn đầu tư Tỷ lệ RI càng lớn chứng tỏ trung tâm hoạt động càng hiệu quả

 Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added – EVA)

EVA = NOPAT – (TC x WACC)

EVA = Lợi nhuận hoạt động trước lãi vay và sau thuế - (Tổng vốn đầu tư x Lãi suất sử dụng vốn bình quân)

Trong đó:

Lợi nhuận hoạt động trước lãi vay và sau thuế = Lợi nhuận sau thuế + lãi vay

x ( 1- thuế suất thuế TNDN)

Tổng vốn đầu tư = Tổng tài sản bình quân

WACC : lãi suất sử dụng vốn bình quân gia quyền

X

Tỷ trọng

nợ trong tổng vốn đầu tư

+

Lãi suất

sử dụng vốn chủ

x

Tỷ trọng vốn chủ trong tổng vốn đầu tư

Trang 35

Ưu điểm nổi bật nhất của EVA là có tính tới chi phí sử dụng vốn chủ, đây là chi phí cơ hội khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư, qua đó có thể xác định chính xác giá trị thực sự được tạo ra cho các nhà đầu tư Vì vậy, EVA phản ánh được mức độ hiệu quả của trung tâm đầu tư theo quan điểm kinh tế chứ không đơn thuần theo quan

điểm kế toán

Bảng 1.1 Tổng hợp chỉ tiêu đánh giá các trung tâm trách nhiệm

Trung tâm trách nhiệm Chỉ tiêu đánh giá

Trung tâm chi phí - Mức chênh lệch chi phí có thể kiểm soát được

- Biến động do thay đổi đơn giá

Trung tâm lợi nhuận - Mức chênh lệch lợi nhuận có thể kiểm soát được

thực tế với dự toán

- Tỷ suất sinh lợi nhuận trên doanh thu

- RI

- EVA

1.5.3 Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm

1.5.3.1 Mục tiêu, yêu cầu, đặc điểm của báo cáo kế toán trách nhiệm

1.5.3.1.1 Mục tiêu của báo cáo kế toán trách nhiệm

Trang 36

Báo cáo kế toán trách nhiệm là sản phẩm của kế toán trách nhiệm Hệ thống báo cáo này ghi nhận tình hình hoạt động của các trung tâm trách nhiệm và so sánh

nó với mục tiêu mà tổ chức phân công cho trung tâm đó Theo như Atkinson và đồng nghiệp thì “ báo cáo trách nhiệm là báo cáo về kết quả hoạt động cho mỗi cấp bậc của trách nhiệm theo sơ đồ tổ chức quản lý của doanh nghiệp Sau đó hệ thống

sẽ tổng hợp việc thực hiện mục tiêu của các cấp dưới lên cấp cao hơn cho đến khi tổng hợp được việc thực hiện mục tiêu của toàn doanh nghiệp.” Ngoài ra, các báo cáo này thường thể hiện các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính giúp cho nhà quản lý

có cái nhìn đúng đắn hơn về tình hình hoạt động của bộ phận

1.5.3.1.2 Đặc điểm báo cáo kế toán trách nhiệm

Theo R.S Kaplan, một hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm thường có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, mức độ chi tiết của thông tin trên các báo cáo sẽ giảm dần theo cấp

độ quản trị từ thấp đến cao

Thứ hai, những bản báo cáo được phát hành dưới một hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm có mối quan hệ mật thiết với nhau Thông tin trong báo cáo trách nhiệm cấp thấp sẽ chi tiết cho những thông tin trong báo cáo trách nhiệm cấp cao hơn

Thứ ba, báo cáo phải tách bạch được những khoản doanh thu, chi phí, lợi nhuận … mà trung tâm trách nhiệm có thể kiểm soát được và không thể kiểm soát được để đảm bảo tính đúng đắn khi đánh giá trách nhiệm quản lý

Bên cạnh đó, một báo cáo trách nhiệm có chất lượng là báo cáo thể hiện được : gắn liền với trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu bộ phận; kết quả thực tế được so sánh với tiêu chuẩn tốt nhất; những thông tin quan trọng, khoản mục trọng yếu phải được làm nổi bật

1.5.3.1.3 Yêu cầu của báo cáo kế toán trách nhiệm

Báo cáo kế toán trách nhiệm có chất lượng phải đạt được những yêu cầu sau đây:

Trang 37

- Báo cáo phải được lập kịp thời, đảm bảo truyền tải thông tin kịp thời tới nhà quản lý

- Báo cáo phải được lập thường xuyên, liên tục

- Báo cáo phải được thiết kế đơn giản, dễ hiểu, thể hiện những thông tin cần thiết giúp cho nhà quản lý thực hiện chức năng của mình

1.5.3.2 Báo cáo kế toán trách nhiệm cho các trung tâm trách nhiệm

Trong thực tế không có mẫu biểu chính xác và chi tiết của một bảng báo cáo kết quả hoạt động của từng bộ phận trong các doanh nghiệp, tùy vào đặc điểm của từng doanh nghiệp cụ thể và việc tổ chức của trung tâm trách nhiệm của doanh nghiệp đó Thông thường, những bảng báo cáo sẽ cung cấp sự khác biệt giữa số liệu thực tế với dự toán ban đầu

Tùy theo mỗi loại trung tâm trách nhiệm mà nội dung báo cáo sẽ thể hiện những nội dung khác nhau

1.5.3.2.1 Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí

Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí thường là bảng so sánh chi phí có thể kiểm soát giữa chi phí thực tế phát sinh và chi phí theo định mức hoặc dự toán

Báo cáo trung tâm chi phí được trình bày theo các cấp độ quản lý khác nhau, thực hiện theo chiều dọc từ dưới lên trên, báo cáo của cấp càng thấp sẽ càng chi tiết

và khi lên trên cũng mang nội dung đó nhưng sẽ mang tính tổng hợp hơn

Bảng 1.2 Báo cáo trách nhiệm trung tâm chi phí định mức

Thời gian: (tháng, quí, năm)

Đơn vị tính:

Chỉ tiêu

Dự toán Thực tế Chênh lệch Báo cáo cho giám đốc nhà máy

Chi phí sản xuất có thể kiểm soát của bộ phận 1

Chi phí sản xuất có thể kiểm soát của bộ phận 2

Chi phí sản xuất có thể kiểm soát của bộ phận 3

Tổng

Trang 38

Bảng 1.3 Báo cáo trách nhiệm trung tâm chi phí dự toán

Thời gian: (tháng, quí, năm)

Chỉ tiêu tài chính có thể kiểm soát được:

- Sai sót trong công việc

Kèm theo báo cáo này thường là báo cáo phân tích biến động nêu rõ nguyên nhân của biến động Dựa vào những thông tin này nhà quản trị sẽ kịp thời tìm hiểu nguyên nhân và tìm ra cách khắc phục tốt nhất

1.5.3.2.2 Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu

Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu thường là bảng so sánh doanh thu có thể kiểm soát giữa doanh thu thực tế phát sinh và doanh thu theo dự toán đồng thời kèm theo phân tích ảnh hưởng của các nhân tố như giá bán, sản lượng tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm, ,… đến sự biến động của doanh thu

Bảng 1.4 Báo cáo trách nhiệm trung tâm doanh thu

Thời gian: (tháng, quí, năm)

Đơn vị tính:

hoạch

Thực hiện

Chênh lệch

Ảnh hưởng biến động các nhân tố Giá SL Cơ cấu

DT có thể kiểm soát được - Chi

Trang 39

1.5.3.2.3 Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận

Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận thường được trình bày theo dạng số dư đảm phí, bao gồm số liệu về doanh thu, chi phí có thể kiểm soát được bởi trung tâm lợi nhuận Báo cáo này thường được lập dưới dạng so sánh kết quả thực hiện với dự toán

Bảng 1.5 Báo cáo trách nhiệm trung tâm lợi nhuận

(Bùi Thị Bích Liên, 2012, trang 15) Thời gian: (tháng, quí, năm)

5 Số dư bộ phận kiểm soát được

6 Định phí không kiểm soát được

7 Số dư bộ phận

8 Chi phí chung của công ty phân bổ

9 Lợi nhuận trước thuế

1.5.3.2.4 Báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư

Báo cáo trách nhiệm trung tâm đầu tư thường thể hiện những nội dung sau:

- Tổng hợp kết quả kinh doanh của trung tâm

- Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ROI, RI, EVA…)

Bảng 1.6 Báo cáo trách nhiệm trung tâm đầu tư

Thời gian: (tháng, quí, năm)

Trang 40

4 Định phí bộ phận ( kiểm soát được)

5 Số dư bộ phận (kiểm soát được)

6 Chi phí chung kiểm soát được phân

bổ

7 Lợi nhuận trước thuế (kiểm soát

được)

8 Chi phí thuế TNDN (kiểm soát được)

9 Lợi nhuận sau thuế (kiểm soát được)

10 Vốn đầu tư

11 Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)

12 Thu nhập giữ lại (RI)

Ngày đăng: 28/05/2017, 10:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w