21 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ NHÓM TỘI NÀY .... Do đó, v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGÔ NHẤT LINH
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM VĂN TỈNH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Ngô Nhất Linh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tình hình nghiên cứu 10
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu 20
1.3 Những vấn đề tiếp tục nghiên cứu 21
Kết luận Chương 1 21
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ NHÓM TỘI NÀY 23
2.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia 23 2.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia 30
2.3 Các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia 37
2.4 Lịch sử phát triển các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm an ninh quốc gia 45
Kết luận Chương 2 58
Chương 3: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM 60
3.1 Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia 60
3.2 Các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia 74
3.3 Định tội danh hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia 89
Trang 53.4 Thực tiễn áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm
phạm an ninh quốc gia 98
Kết luận Chương 3 107
Chương 4: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐÚNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA 109
4.1 Những yêu cầu và giải pháp bảo đảm về chính sách hình sự 109
4.2 Giải pháp bảo đảm về pháp luật hình sự 117
4.3 Giải pháp bảo đảm về thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự 136
4.4 Một số giải pháp chung 139
Kết luận Chương 4 147
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
An ninh quốc gia dưới góc độ luật hình sự là một phạm trù chính trị - pháp lý, một hiện tượng pháp luật có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định sự tồn vong và phát triển của một chế độ nhà nước, chế độ xã hội, do đó nó luôn
là tiêu điểm của cuộc đấu tranh giai cấp không khoan nhượng, là mục tiêu bảo
vệ hàng đầu của các quốc gia Trong đó, về phương diện pháp luật thì biện pháp trách nhiệm hình sự có tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất được sử dụng
để đấu tranh với hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia Điều đó cho thấy ưu thế và vị trí đặc biệt quan trọng của biện pháp này đối với việc bảo vệ
an ninh quốc gia; nhưng mặt khác, do nó hạn chế quyền, lợi ích cơ bản của người phạm tội, nên pháp luật hình sự chỉ cho phép áp dụng biện pháp này trong những trường hợp nhất định và phải tuân thủ những điều kiện hết sức chặt chẽ Vì vậy, nó đặt ra nhu cầu cần phải được minh định về mặt pháp luật
và sáng tỏ về mặt lý luận cũng như thực tiễn, bảo đảm cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
Trách nhiệm hình sự là một phạm trù phức tạp, nhiều nội dung, hình thức, cấp độ và giai đoạn thể hiện Nguyên tắc công bằng trong khoa học luật hình sự và luật hình sự xã hội chủ nghĩa đòi hỏi trách nhiệm hình sự được quy định và triển khai trên thực tế phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, phải đảm bảo hài hòa giữa tính cưỡng chế và tính giáo dục Việc xác định một giới hạn trách nhiệm hình sự cụ thể đối với từng hành vi phạm tội không hề đơn giản mà nó càng trở nên hệ trọng đối với nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia, bởi trên thực tiễn, mục tiêu đảm bảo cao nhất về lợi ích quốc gia trên các phương diện chính trị, kinh tế, đối ngoại luôn được tính toán đồng thời với việc hiện thực hóa nguyên tắc công bằng
Trang 8khi áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự, một đòi hỏi mà đúng như A.M Jakovlev đã viết: “thiếu sự cưỡng chế tư pháp hình sự sẽ không có sức mạnh, thiếu sự giáo dục tư pháp sẽ vô nhân đạo Nhưng thiếu sự công bằng, tư pháp nói chung sẽ không tồn tại” [95, tr.30]
Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam ngày càng đề cao quyền con người trên các bình diện quan hệ xã hội Từ Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, quyền con người, quyền công dân đã có
sự phát triển mới, đồng thời cũng quy định rõ việc hạn chế quyền con người chỉ trong trường hợp cần thiết do luật định để bảo vệ quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng Những nội dung mới đó đòi hỏi phải được thể chế hóa kịp thời trên bình diện pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự Do đó, việc lựa chọn hành vi nào là tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia và quy định biện pháp trách nhiệm hình
sự nào vào trong luật để vừa đảm bảo cân bằng giữa lợi ích quốc gia với quyền con người vừa đạt được hiệu quả của trách nhiệm hình sự là vấn đề không đơn giản đối với các nhà lập pháp hình sự
Trong luật hình sự Việt Nam, an ninh quốc gia luôn được xác định là nhóm khách thể phải bảo vệ hàng đầu với những yếu tố cấu thành nó bao gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự tồn tại và vững mạnh của chính quyền nhân dân Đây là những phạm trù rộng lớn, trừu tượng, phức tạp nhưng chưa được giải đáp thỏa đáng Cùng với sự vận động mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã hội và sự tác động qua lại, đan xen giữa an ninh quốc gia với các yếu tố khác thuộc thượng tầng kiến trúc đã làm cho nhận thức về an ninh quốc gia càng trở nên rõ ràng hơn
và đặt ra nhu cầu cần phải được khái quát hóa
Trang 9Mặt khác, thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm, đánh giá sự phù hợp giữa các quy định của pháp luật hình sự với bản chất pháp lý của nó
và là căn cứ quan trọng để hoàn thiện pháp luật hình sự Mặc dù vậy, những hạn chế, vướng mắc không nhỏ trong áp dụng pháp luật về trách nhiệm hình
sự đối với nhóm tội này và những điều kiện đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật thời gian qua vẫn chưa được chú ý một cách tương xứng với tầm quan trọng của nó Trong khoảng mười lăm năm trở lại đây, khoa học pháp lý hình
sự nước ta vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm hình sự và xây dựng các giải pháp bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với nhóm tội này, nhất là ở khía cạnh tiếp cận tính quyết định xã hội đối với quá trình áp dụng trách nhiệm hình sự
Với cách nhìn nhận như vậy và đặc biệt là để tiếp tục thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Đảng “cải cách tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức” và “hoàn thiện chính sách hình sự bảo đảm yêu cầu đề cao hiệu quả phòng ngừa, hạn chế hình phạt
tử hình, giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền”, đề tài “Trách
nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong luật hình
sự Việt Nam” đã được lựa chọn để nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Về mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là do tên đề tài và chuyên ngành quy định Nói cách khác, đấu tranh với các tội xâm phạm an ninh quốc gia có hai phương thức là phòng và chống Đề tài đang nói ở đây được thực hiện theo phương thức “chống”, chống bằng pháp luật hình sự, đồng nghĩa với đấu tranh bằng pháp luật hình sự Vì thế, mục đích nghiên cứu đề tài này là tìm kiếm các giải pháp bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
Trang 10Về nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài luận án cần giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể sau đây:
- Đánh giá tổng quan về những vấn đề nghiên cứu ở trong và ngoài nước
về những vấn đề liên quan đến đề tài luận án;
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và lịch sử phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với nhóm tội này;
- Phân tích, đánh giá các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, gồm cơ sở pháp luật của trách nhiệm hình sự và các hình thức trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này;
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia tại Việt Nam gồm định tội danh và
áp dụng pháp luật về trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này;
- Xác định các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình
sự đúng đối với nhóm tội này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu của đề tài
Theo khoa học luận, đối tượng nghiên cứu phải được đặt trong mối liên
hệ biện chứng với khách thể nghiên cứu của đề tài, tức là đối tượng nghiên
cứu với tính cách là quy luật, nó phải được tìm kiếm trong khách thể nghiên cứu, cái vốn tồn tại khách quan Vì thế, đối tượng nghiên cứu của đề tài này được xác định là sự phù hợp giữa những quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự với những hành vi nguy hiểm đối với an ninh quốc gia, những hành vi cần được quy định là tội phạm Sự phù hợp này, ở thời điểm
Trang 11hiện nay, tồn tại ở hai trạng thái, đã thể hiện ra và chưa thể hiện ra Và cả hai đều phải được tìm kiếm trong quá trình nghiên cứu Điều đó có nghĩa là, đề tài phải dựa vào những công trình khoa học đã công bố, dựa vào các văn kiện của Đảng, dựa vào pháp luật thực định (quốc gia và quốc tế) và đặc biệt là dựa vào thực tế áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về các tội xâm phạm an ninh quốc gia để tìm kiếm sự phù hợp
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Xét về nội dung, đề tài được thực hiện dưới góc độ của khoa học luật hình sự, thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự;
- Xét về thời gian, đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm an ninh quốc gia từ năm
1945 đến nay, trong đó trọng tâm là các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành; thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam từ năm
2006 đến năm 2015 Do thông tin, số liệu xét xử các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia thuộc phạm vi bí mật Nhà nước được quy định tại Quyết định số 01/2004/QĐ-TTg ngày 05/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ, nên đề tài chỉ
đề cập ở một mức độ tương đối, song vẫn đảm bảo sự tương thích với thực tế;
- Xét không gian, đề tài được nghiên cứu trên phạm vi cả nước
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận và hướng tiếp cận nghiên cứu
- Về phương pháp luận nghiên cứu: Luận án được thực hiện theo phương pháp luận của luật hình sự Mác - xít, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thu hút tri thức của các lĩnh vực khoa học
về chính trị, quyền con người, xã hội học pháp luật, để tiếp cận toàn diện, có
hệ thống các vấn đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Về hướng tiếp cận nghiên cứu: Để có thể phân tích, đánh giá toàn diện, sâu sắc những vấn đề nêu trong nhiệm vụ nghiên cứu cũng như xây dựng
Trang 12được hệ thống các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, luận án sử dụng các hướng tiếp cận nghiên cứu sau đây:
Hướng tiếp cận liên ngành: Hướng tiếp cận này cho phép sử dụng tổng hợp tri thức của nhiều ngành khoa học liên quan với nhau để tiếp cận đối tượng nghiên cứu nhằm đạt được những kết quả đáng tin cậy Hướng tiếp cận này sẽ được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu của luận án
Hướng tiếp cận lịch sử có kế thừa: Luận án sẽ tiếp thu có chọn lọc các kết quả, quan điểm, tư tưởng tiến bộ, phù hợp của các nhà khoa học ở trong
và ngoài nước để đảm bảo luận án đạt hiệu quả cao nhất
Hướng tiếp cận hệ thống: Luận án đặt đối tượng nghiên cứu trong một chỉnh thể thống nhất với các hiện tượng pháp lý khác để thấy rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến đối tượng nghiên cứu, trên cơ sở đó xây dựng các yêu cầu và giải pháp đảm bảo áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với nhóm tội này
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng các trí thức của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp khoa học để tiếp cận các khách thể nghiên cứu, cụ thể: Khi nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh pháp luật để đánh giá tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới Trên cơ sở đó, luận án sử dụng phương pháp nhận xét đánh giá, phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp để rút ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế
để kế thừa hoặc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện
Khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và lịch sử phát triển các quy định của pháp luật hình sự đối với nhóm tội này, luận án sử dụng phương pháp phân tích
Trang 13tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp kế thừa, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp nghiên cứu tiếp cận trên quyền con người cùng với việc vận dụng tri thức của lý luận Mác - Lênin, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quan điểm của các lãnh tụ cách mạng Việt Nam để làm rõ các vấn đề: trách nhiệm hình sự, cơ sở của trách nhiệm hình sự và các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia; lịch sử phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với nhóm tội này Khi nghiên cứu quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, luận án sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp quy nạp diễn dịch, phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án, phương pháp khảo sát thực tiễn, phương pháp bình luận, phương pháp giải thích để làm rõ những mặt tích cực cũng như những mặt hạn chế trong các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này
Khi nghiên cứu các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, luận án sử dụng phương pháp dự báo, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp kế thừa, phương pháp thống kê, phương pháp giải thích, phương pháp nghiên cứu tiếp cận trên quyền con người cùng với việc vận dụng tri thức của lý luận Mác - Lênin, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để làm cơ sở xây dựng các yêu cầu và giải pháp đảm bảo áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với nhóm tội này
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã hệ thống, đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của một số
Trang 14công trình khoa học đã được công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu; chỉ ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
- Thông qua phân tích những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, lịch sử phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, luận án góp phần nhận thức rộng và sâu hơn những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này
- Thông qua việc phân tích dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm an ninh quốc gia có so sánh với pháp luật hình sự một số nước khác về tội danh tương ứng, luận án góp phần nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn từng cấu thành tội phạm cũng như những hạn chế cần khắc phục trong quy định về các tội đó
- Bằng những số liệu thống kê về hình phạt và các hình thức khác của trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia có so sánh với pháp luật hình sự một số nước đối với tội danh tương ứng, luận án đã cho thấy
rõ thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành đối với nhóm tội này
- Luận án đã phân tích sâu sắc thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia ở Việt Nam từ năm 2006 đến năm
2015 trên địa bàn cả nước, những khó khăn, hạn chế trong việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này và nguyên nhân của những khó khăn đó
- Luận án đã trình bày những yếu tố tác động đến an ninh quốc gia trong thời gian tới; đồng thời, từ nghiên cứu tính quyết định xã hội đối với quá trình
áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, luận
án đã xây dựng các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình
sự đúng đối với nhóm tội này gồm: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm về chính sách hình sự, giải pháp bảo đảm về pháp luật hình sự, giải pháp bảo đảm về thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự; một số giải pháp chung về tổ chức cán
bộ, chính trị, kinh tế, đào tạo, nghiên cứu khoa học, thông tin pháp luật
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là cơ sở khoa học giúp các nhà lập pháp hình sự tham khảo khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2015
- Kết quả nghiên cứu của luận án giúp các cơ quan tố tụng tìm hiểu và áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
- Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học giúp Đảng, Nhà nước hoạch định chính sách hình sự và triển khai các giải pháp bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hoàn thiện hơn những luận cứ khoa học về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
- Nội dung của luận án là tài liệu chuyên khảo để giảng dạy, học tập và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ các cơ quan tố tụng và góp phần nâng cao trình độ pháp luật cho nhân dân
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có cơ cấu 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và lịch sử phát triển các quy định của pháp luật hình sự đối với nhóm tội này
Chương 3: Quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
Chương 4: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình
sự đúng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu
Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, gồm có:
Đề tài khoa học cấp cơ sở “Chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm
an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam - Thực trạng, phương hướng và giải pháp hoàn thiện” (2007) do TS Nguyễn Trung Thành chủ
biên; Sách “Nắm vững đường lối của Đảng trong đấu tranh chống phản cách
mạng và tội phạm khác” (2015) của tác giả Trần Quốc Hoàn; Sách “Quán triệt quan điểm của Đảng trong chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh, trật tự”
(2015) của tác giả Phạm Hùng; Sách “Mấy vấn đề về bảo vệ an ninh quốc gia
và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong quá trình đổi mới” (1996) của tác giả
Bùi Thiện Ngộ; Các bài báo “Suy nghĩ về vận dụng chính sách hình sự trong
điều tra các vụ án đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia”, Tạp chí
Công an nhân dân, Số 4/1995 và “Một số vấn đề cần quán triệt trong việc vận
dụng chính sách xử lý các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia”, Tạp chí Công
an nhân dân, Số 5/1995 của tác giả Bùi Quốc Huy; Bài báo “Vận dụng chính
sách hình sự trong đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an ninh quốc gia”, Tạp chí Công an nhân dân, Số 2/1995 của tác giả Trần Đại Quang; Bài
báo “Một số vấn đề rút ra qua công tác đấu tranh chống phản cách mạng,
bảo vệ chính quyền trong những ngày đầu mới thành lập”, Tạp chí Công an
nhân dân, Số 8/1996 của tác giả Phạm Văn Minh; Chuyên đề cao học “Chính
sách hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS TS Phùng Thế
Vắc; Sách “Quốc phòng - an ninh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam” (2010) do PGS TS Thái Vĩnh Thắng (chủ biên); Công trình “Một
số dự báo chiến lược về các yếu tố tác động đến an ninh quốc gia Việt Nam”
(2012) của Viện Chiến lược và Khoa học Công an
Trang 17Nhóm công trình trên cho thấy được các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh chống phản cách mạng như: tăng cường chuyên chính DCND, dùng bạo lực cách mạng trấn áp bạo lực phản cách mạng; “tích cực phòng ngừa, chủ động tấn công”; “bóp chết tổ chức từ trong chứng”; tính thống nhất trong đấu tranh giữa thù trong với giặc ngoài; lý giải mối quan hệ giữa trấn áp với khoan hồng; về yêu cầu linh hoạt ADPL để phục vụ lợi ích quốc gia; tính nhạy cảm trong xử lý người phạm tội liên quan đến dân tộc, tôn giáo; về vai trò tất yếu của Đảng trong lãnh đạo đấu tranh với tội phạm xâm phạm ANQG; khả năng vận dụng linh hoạt pháp luật thể hiện ở các quy phạm mang tính tùy nghi, quy phạm đánh giá, chế tài lựa chọn, chế tài xác định tương đối; các yếu
tố tác động đến ANQG Việt Nam Mặc dù có cả những công trình đề cập đến CSHS đối với nhóm tội xâm phạm ANQG thời kỳ cách mạng dân tộc DCND, song toàn bộ các công trình nêu trên đều thể hiện những tư tưởng chỉ đạo có tính quy luật, chiến lược, được đúc rút từ lịch sử đấu tranh bảo vệ ANQG và vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng trong việc giải quyết các chương tiếp theo của luận án
Nhóm công trình nghiên cứu về cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm an ninh quốc gia, gồm có:
Luận án Tiến sĩ Luật học “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong luật
hình sự Việt Nam” (2001) của tác giả Bạch Thành Định; Luận án Tiến sĩ Luật
học “Đấu tranh phòng, chống tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam” (2016) của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo; Luận án Tiến
sĩ Luật học “Các tội phạm về khủng bố trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Đỗ Khắc Hưởng; Luận án Phó tiến sĩ Luật học “Tăng cường quản lý nhà
nước về an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay” (1996) của tác giả Trần Đại
Quang; Luận văn Thạc sĩ Luật học “Tội gián điệp trong luật hình sự Việt
Nam” (2010) của tác giả Nguyễn Anh Tuấn; Mục I Chương VI - Về các tội xâm phạm an ninh quốc gia (1994) của tác giả Trần Đình Nhã trong sách
Trang 18“Những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay” do GS TSKH Đào Trí Úc chủ biên; Sách chuyên khảo “Bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình
sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” do PGS TSKH Lê Cảm
chủ biên; Chuyên đề “Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hình sự với
các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong bối cảnh đổi mới toàn diện đất nước
và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”, Bài báo “Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm
an ninh quốc gia” (1995), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 3 và Bài VIII
“Các tội xâm phạm an ninh quốc gia và vấn đề hoàn thiện luật hình sự quy định trách nhiệm với các tội xâm phạm an ninh quốc gia” trong sách Luật
hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (1997), Trường Đại học
Luật Hà Nội của PGS TS Kiều Đình Thụ; Bài báo “Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong
Bộ luật Hình sự năm 1999”, Tạp chí Kiểm sát, Số 4/2009 của TS Trần
Quang Tiệp; Bài báo “Hành vi khách quan của Tội gián điệp trong luật hình
sự Việt Nam”, Tạp chí TAND, Số 1/2003 của tác giả Nguyễn Duy Thuân; Bài
báo “Về kỹ thuật lập pháp của một số quy định trong Chương các tội xâm
phạm an ninh quốc gia”, Tạp chí Luật học, Số 1/2002 của tác giả Dương
Tuyết Miên; Bài báo “Về thời điểm hoàn thành Tội gián điệp”, Tạp chí TAND, Số 7/2001 của tác giả Lê Đăng Doanh; Chuyên đề cao học “Các tội
xâm phạm an ninh quốc gia trong luật hình sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, “Cở sở trách nhiệm hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia của lực lượng Công an nhân dân” của PGS TS Phùng Thế Vắc; Chuyên đề “Luật hình sự của một
số nước trên thế giới” của Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp;
“Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Bộ luật Hình sự” số 152/BC-BST của Ban
soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự (2008), tr.13-14
Trang 19Nhóm công trình trên cho thấy một số vấn đề như: Quá trình phát triển của PLHS Việt Nam về các tội xâm phạm ANQG; so sánh và rút ra những điểm tích cực trong BLHS một số nước quy định về các tội xâm phạm ANQG; những vướng mắc trong xác định ranh giới giữa Tội phản bội Tổ quốc với Tội gián điệp, giữa Tội hoạt động nhằm lật đổ CQND với Tội bạo loạn, Tội hoạt động phỉ, Tội khủng bố, và biện pháp khắc phục theo hướng
sẽ cấu thành Tội phản bội Tổ quốc trong trường hợp công dân Việt Nam cấu kết với nước ngoài, trường hợp do người nước ngoài hoặc người không quốc tịch cùng thực hiện hành vi đó sẽ cấu thành Tội gián điệp; không quy định Tội phá rối an ninh (một dạng của vũ trang, bạo loạn), Tội chống phá trại giam (Tội bạo loạn kèm theo phá hoại cơ sở vật chất của CNXH), Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài (một loại hành vi thuộc Tội phản bội Tổ quốc); sự không hợp lý khi quy định hành vi phá hoại, gây cơ sở, thám báo trong mặt khách quan của Tội gián điệp ; sự thiếu logic về kỹ thuật lập pháp khi xây dựng các cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng, cấu thành giảm nhẹ
ở Tội hoạt động nhằm lật đổ CQND, Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ, Tội bạo loạn, Tội hoạt động phỉ, Tội khủng bố; căn cứ phân chia khung hình phạt không thống nhất Đồng thời thấy được một số đề xuất hợp lý như: quy định dấu hiệu khách quan của Tội gián điệp, gồm nhận làm việc cho tổ chức tình báo và hoạt động tình báo; cần giải thích một số thuật ngữ như “người nước ngoài” và “phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng” Những phân tích và
đề xuất nêu trên sẽ được Nghiên cứu sinh sử dụng trong quá trình giải quyết luận án Tuy nhiên, Nghiên cứu sinh không nhất trí với một số quan điểm, đề xuất khác như: quy định dấu hiệu “chống CQND” là dấu hiệu định khung tăng nặng; chuyển Tội khủng bố sang chương khác (vì sẽ không có cơ sở pháp lý truy cứu TNHS những hành vi khủng bố nhưng có mục đích chống CQND); thời điểm hoàn thành của Tội gián điệp là khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi được mô tả trong mặt khách quan của CTTP (vì
Trang 20nếu hoàn thành từ thời điểm nhận sự chỉ đạo của nước ngoài sẽ không cần thiết phải quy định các dấu hiệu khách quan tiếp theo như tại Điều 80 BLHS; nếu hoàn thành từ khi thực hiện một trong các hành vi được mô tả trong mặt khách quan sẽ mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 80 BLHS)
Nhóm công trình nghiên cứu về các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, gồm có:
Sách chuyên khảo “Bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các
quyền con người bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” do PGS TSKH Lê Cảm chủ biên; Bài báo “Hành vi khách quan của Tội gián điệp trong luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí TAND, Số
1/2003 của tác giả Nguyễn Duy Thuân; Luận văn Thạc sĩ Luật học “Tội gián
điệp trong luật hình sự Việt Nam” (2010) của tác giả Nguyễn Anh Tuấn
Nhóm công trình này đã đề cập đến các nội dung: Cần khắc phục độ rộng của khung hình phạt và mức hình phạt quá cao ở một số tội; tăng độ tuổi chịu TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG từ đủ 16 tuổi trở lên; mở rộng diện miễn TNHS đối với nhóm tội này Đối với những hạn chế trong quy định
về Tội gián điệp như: độ rộng của khung hình phạt tù có thời hạn lớn; sự bất hợp lý khi sử dụng dấu phẩy để thể hiện các hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm ANQG quy định tại Điều 92 BLHS Đồng thời, tính nguy hiểm của hành vi giúp sức thường thấp hơn hành vi của người thực hành, tổ chức Do đặc điểm, tính chất bí mật của hoạt động gián điệp nên người giúp sức trong Tội gián điệp thường chỉ biết về người mà mình giúp đỡ một cách chung chung Trong nhiều trường hợp, mặc dù biết người mà mình giúp là gián điệp nhưng việc giúp của họ không phải vì căm thù chế độ, muốn gây thiệt hại cho chính quyền mà có thể vì tình cảm, vì vật chất Do vậy, nếu áp dụng khung hình phạt như người thực hành là không phù hợp Hơn nữa, hành vi giúp sức còn được quy định trong một khoản độc lập của nhiều tội xâm phạm ANQG (như tại Điều 79, 81, 82, 83, 89 BLHS hiện hành) và mức hình phạt áp dụng
Trang 21thấp hơn nhiều Có thể thấy, mặc dù những công trình nghiên cứu về các hình thức TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG còn rất hạn chế, nhưng Nghiên cứu sinh cho rằng đây là những phát hiện, đánh giá chính xác và kết quả này
sẽ được tiếp thu, sử dụng trong quá trình giải quyết luận án
Nhóm công trình nghiên cứu chung về trách nhiệm hình sự, gồm có:
Tác phẩm C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 1, Phần “Những cuộc
tranh luận về luật cấm trộm củi rừng”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên
nguyên tắc khi xây dựng pháp luật: “Luật pháp cũng không được thoát khỏi cái nghĩa vụ chung cho tất cả mọi người là nói lên sự thật Luật pháp phải làm như thế gấp đôi, bởi vì nó là kẻ thể hiện một cách phổ biến và thật sự bản chất pháp lý của sự vật Vì vậy, bản chất pháp lý của sự vật không thể thích ứng với luật; ngược lại, luật phải thích ứng với bản chất pháp lý của sự vật” [15, tr.178] và nhà nước “không thể đi ngược lại bản chất của sự vật; nó không thể bảo vệ cải hữu hạn khỏi những điều kiện mà cái hữu hạn phải phục tùng, khỏi
sự ngẫu nhiên” [21, tr.222] Các ông cũng lên án tính tàn nhẫn của hình phạt:
“Cả lịch sử lẫn lý trí đều xác nhận như nhau cái sự thật là: sự tàn nhẫn, không đếm xỉa tới bất kỳ sự khác biệt nào, làm cho sự trừng phạt trở nên hoàn toàn
vô hiệu, bởi vì sự tàn nhẫn thủ tiêu sự trừng phạt với tư cách là kết quả của pháp luật” [22, tr.179], đồng thời chỉ ra giới hạn của hình phạt được đo bằng giới hạn nguy hiểm của hành vi phạm tội Các ông còn đặt ra yêu cầu đạo đức đối với hình phạt: “Lẽ nào mỗi người công dân lại không gắn liền với nhà nước bằng hàng ngàn sợi dây thần kinh sống và lẽ nào nhà nước lại có quyền cắt đứt tất cả những sợi dây thần kinh ấy, chỉ vì người công dân này đã tự ý cắt đứt một sợi dây thần kinh nào đó” [23, tr.192] Những luận điểm trên là nguyên tắc, tiêu chuẩn chân lý giúp Nghiên cứu sinh phân tích, đối chiếu các quy định của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm ANQG
Trong tác phẩm “Chống Đuy - rinh” (1984), Ph.Ăngghen gắn việc giải
quyết vấn đề TNHS của con người với vấn đề tự do ý chí và cho rằng, con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình vì hành vi của con người
Trang 22vừa có tính tất yếu, vừa có tính tự do Ph.Ăngghen viết: “Người ta không thể bàn bạc đúng đắn về đạo đức và pháp quyền, mà lại không nói đến cái gọi là
tự do ý chí, đến trách nhiệm của con người, đến quan hệ giữa tất yếu và tự do” [24, tr.189] Đây là luận điểm đặc biệt quan trọng trong việc xác định cơ
sở triết học của TNHS nói chung và sẽ được Nghiên cứu sinh tiếp thu, trình bày trong luận án
Luận án Tiến sĩ Luật học “Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt
Nam” (1993) của tác giả Võ Khánh Vinh Luận án đã làm sáng tỏ nội dung,
các đòi hỏi, sự thể hiện và biểu hiện của nguyên tắc công bằng trong một số chế định quan trọng của luật hình sự như: Cơ sở của TNHS, tội phạm và phân loại tội phạm; giới hạn tác động của luật hình sự; hệ thống hình phạt và hệ thống các chế tài của luật hình sự; định tội danh và quyết định hình phạt Những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng giúp Nghiên cứu sinh đánh giá tính hoàn thiện trong các quy định của BLHS về các tội xâm phạm ANQG
Các công trình nghiên cứu về cơ sở pháp lý của TNHS như: Chương
“Tội phạm” và “Cấu thành tội phạm” (2014) trong Luật hình sự Việt Nam -
Phần chung của GS TS Võ Khánh Vinh; Sách “Tội phạm và cấu thành tội
phạm” (2010) của GS TS Nguyễn Ngọc Hòa; “Tội phạm và cấu thành tội phạm” (2013) của TS Trịnh Tiến Việt Những công trình này đề cập đến
những vấn đề cơ bản của tội phạm và CTTP như: Khái niệm, bản chất, đặc điểm, nội dung, hình thức thể hiện và mối quan hệ giữa hai hiện tượng này; phân loại tội phạm; những vướng mắc, hạn chế trong CTTP của một số tội Đây là những tài liệu hữu ích để Nghiên cứu sinh đánh giá, đề xuất hoàn thiện
cơ sở pháp lý của TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG
Các tài liệu nghiên cứu về TNHS dưới góc độ lý luận của các tác giả ở
trong và ngoài nước như: “Trách nhiệm hình sự và cấu thành tội phạm” (1974) của Karpusin M P, Kurliadxki V I; “Trách nhiệm hình sự và hình phạt” (1976) của Bagri-Sakhmatov L V; “Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình
sự” (1982) của Santalov A I, Trường Đại học Tổng hợp, Lêningrát do GS TS
Trang 23Võ Khánh Vinh lược thuật; “Trách nhiệm hình sự” trong Giáo trình luật hình
sự Việt Nam (Phần chung) của GS TS Võ Khánh Vinh (2014); "Trách nhiệm
hình sự và hình phạt" trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam của tác giả
Trương Quang Vinh; Luận án Tiến sỹ Luật học “Chế định trách nhiệm hình sự
theo Luật hình sự Việt Nam” (2004) của tác giả Phạm Mạnh Hùng; Luận án
Tiến sỹ Luật học “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu” (2000) của tác giả Nguyễn Ngọc Chí; Luận án Tiến sỹ Luật học “Các hình
phạt chính trong Luật hình sự Việt Nam” (2002) của tác giả Nguyễn Sơn;
“Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự”, Tạp chí Luật học, Số 5/1997 và “Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội
chưa đạt”, Tạp chí Luật học, Số 4/2002 của TS Lê Thị Sơn; “Bàn về khái niệm, bản chất, nội dung và giới hạn của trách nhiệm hình sự”, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, Số 6/2010 của TS Hồ Sỹ Sơn; Tài liệu nghiên cứu “Hoàn
thiện quy định của Bộ luật Hình sự về hệ thống chế tài, tập trung vào thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình” (2013) của Chính phủ Việt Nam - Chương
trình Phát triển Liên hợp quốc; Sách chuyên khảo “Về hình phạt tử hình trong
Luật hình sự Việt Nam” (2010) của TS Phạm Văn Beo; "Hình phạt tước một
số quyền công dân trong luật hình sự Việt Nam", Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, Số 8/2007, "Về những tồn tại, hạn chế của chế định hình phạt bổ sung
trong Bộ luật hình sự hiện hành", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 1/2011,
“Nghiên cứu hình phạt trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ bảo vệ quyền con người” (2015) của PGS TS Trịnh Quốc Toản
Các công trình, tài liệu trên đều tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của TNHS và hình phạt như: Khái niệm, bản chất, đặc điểm, hình thức,
cơ sở, giới hạn của TNHS; khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung và điều kiện
áp dụng của hình phạt, tiêu chí của hình phạt hoàn thiện, những vướng mắc, hạn chế trong BLHS hiện hành quy định về hình phạt và đề xuất các biện pháp hoàn thiện Các kết quả nghiên cứu cho phép Nghiên cứu sinh nhận thức sâu sắc hơn lý luận chung về TNHS, về hình phạt và những đề xuất
Trang 24mang tính nhân đạo, khoa học có thể vận dụng cho việc xây dựng PLHS bảo đảm áp dụng TNHS đúng đối với các tội xâm phạm ANQG
Nhóm công trình nghiên cứu về một số bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với các tội phạm, gồm có:
Sách “Xã hội học pháp luật - Những vấn đề cơ bản” của GS TS Võ Khánh Vinh (2012); Đề tài khoa học cấp Bộ “Phẩm chất và năng lực của
Điều tra viên trong lực lượng an ninh nhân dân” (2008) do PGS TS Trương
Công Am chủ biên; Đề tài khoa học cấp Bộ “Cải cách tư pháp trong Công an
nhân dân - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2009) do GS TS Nguyễn
Ngọc Anh chủ biên; Đề tài khoa học cấp cơ sở “Chính sách hình sự đối với
các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam - Thực trạng, phương hướng và giải pháp hoàn thiện” (2007) do TS Nguyễn
Trung Thành chủ biên; Sách chuyên khảo “Bình luận khoa học Hiến pháp
Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” (2014), Viện Chính sách công và Pháp
luật; Sách chuyên khảo “Hiến pháp năm 2013 - Những điểm mới mang tính
đột phá” (2015) do PGS TS Hoàng Thế Liên chủ biên
Nhóm công trình này cho thấy một số vấn đề như: Cơ chế xã hội của điều chỉnh pháp luật, hoạt động ADPL, xã hội học ADPL, thông tin pháp luật,
xã hội học ý thức pháp luật, sự hình thành quyết định xây dựng pháp luật - khía cạnh xã hội; lý luận và thực trạng phẩm chất và năng lực của Điều tra viên trong lực lượng An ninh nhân dân; các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng TNHS (như trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật của chủ thể ADPL); những khó khăn, vướng mắc trong công tác cải cách tư pháp; mối liên hệ biện chứng giữa an ninh, quốc phòng với kinh tế, đối ngoại; những nội dung mới trong chính sách đối ngoại và trong chế định bảo vệ Tổ quốc của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến ANQG Từ đó, một số tác giả đã đưa ra dự báo và giải pháp về mặt thể chế và công tác cán bộ các cơ quan tư pháp Những nội dung này sẽ được Nghiên cứu sinh tiếp thu, vận dụng trong quá
Trang 25trình xây dựng giải pháp bảo đảm về công tác tổ chức cán bộ cũng như giải pháp bảo đảm về thực tiễn áp dụng TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG
Nhóm công trình nghiên cứu về giới hạn của quyền con người, gồm có:
Sách chuyên khảo “Bình luận khoa học Hiến pháp Nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam” (2014), Viện Chính sách công và Pháp luật; Sách chuyên
khảo “Hiến pháp năm 2013 - Những điểm mới mang tính đột phá” (2015) do PGS TS Hoàng Thế Liên chủ biên; Sách “Giới hạn chính đáng đối với các
quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” (2015) do TS Nguyễn Minh Tuấn chủ biên; Sách chuyên khảo:
“Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự” (2015) do tác giả Nguyễn
Ngọc Chí chủ biên Nhóm công trình này cho thấy những triết lý và điều kiện giới hạn quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế; những điểm mới trong quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về quyền con người; thực trạng, bài học kinh nghiệm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện giới hạn quyền con người trong pháp luật Việt Nam Đáng chú ý, tư tưởng hướng tới việc cân bằng giữa công cụ và mục đích của triết lý của
“nguyên tắc tương xứng” (Proportionality) và cân nhắc như nhau giữa quyền công dân và lợi ích công cộng của “nguyên tắc cân bằng” (balancing) “đều có mục tiêu giúp nhà nước cân bằng được những lợi ích đó, tối giản hóa việc can thiệp vào các quyền tự do, đời sống riêng tư của con người, nhưng vẫn đồng thời bảo vệ được trật tự, an toàn xã hội” [88, tr.24] Ở góc độ luật hình sự, luận điểm về quyền con người trong quy định mặt khách quan của CTTP của John Bagnell Bury có ý nghĩa sâu sắc trong xác định ranh giới giữa tội phạm
và không phải tội phạm: “Người ta không bao giờ bị cản trở việc suy nghĩ bất
kỳ thứ gì cho đến khi họ còn che dấu suy nghĩ đó” [29, tr.67]
Đây là những tài liệu hữu ích giúp nghiên cứu sinh phân tích, đánh giá tính chính đáng trong các quy định của PLHS hiện hành về những hành vi phạm tội xâm phạm ANQG
Trang 261.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu
- Các công trình, tài liệu khoa học nghiên cứu về các tội xâm phạm ANQG
đã phân tích, làm rõ quá trình phát triển của PLHS Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG; các dấu hiệu pháp lý đặc trưng và một số vướng mắc, mâu thuẫn trong CTTP của nhóm tội này Những kết quả nêu trên là cơ sở quan trọng cho Nghiên cứu sinh kế thừa và tiếp tục nghiên cứu về vấn đề TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG Do ANQG là vấn đề hệ trọng, chứa đựng yếu tố
bí mật, thậm chí liên quan đến đối sách của mỗi quốc gia, nên đến nay ít có sự hợp tác, trao đổi trên phạm vi quốc tế về vấn đề này Vì vậy, nguồn tài liệu nước ngoài về các tội xâm phạm ANQG còn rất hạn chế và tản mạn
- Các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các lãnh tụ cách mạng, các nhà nghiên cứu lý luận ở trong và ngoài nước đã trình bày tương đối
đa dạng những tư tưởng chỉ đạo trong đấu tranh chống phản cách mạng, về nền chuyên chính DCND, về bạo lực cách mạng và đấu tranh chống phản cách mạng, về nguyên tắc phân hóa trong trấn áp kẻ thù, về quy luật hoạt động của các thế lực thù địch Đây là những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn quan trọng trong việc tiếp cận, nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện CSHS đối với các tội xâm phạm ANQG
- Những công trình nghiên cứu chung về TNHS, về một số bảo đảm áp dụng TNHS đúng, về giới hạn chính đáng của quyền con người đã cung cấp kiến thức đa dạng về lý luận chung TNHS, những yếu tố có tác động, ảnh hưởng tới việc áp dụng TNHS, nhất là những nội dung mới trong chính sách đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc trong Hiến pháp năm 2013; vấn đề ranh giới giữa tội phạm với việc thực hiện quyền con người Những kết quả nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu có giá trị, cho phép nghiên cứu giải quyết hiệu quả vấn
đề TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG trong luận án
- Các công trình khoa học trong nước mới nghiên cứu có mức độ về TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG Có rất ít công trình đề cập được
Trang 27những vướng mắc trong quy định về hình phạt đối với nhóm tội này Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu thấu đáo vấn đề TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG (nhất là về các hình thức TNHS, áp dụng TNHS và các bảo đảm áp dụng đúng TNHS đối với nhóm tội này) Việc nghiên cứu vấn
đề TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG của nước ngoài còn hạn chế
1.3 Những vấn đề tiếp tục nghiên cứu
- Luận án sẽ nghiên cứu, giải quyết thỏa đáng những vấn đề lý luận về TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG gồm: Khái niệm TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG; cơ sở của TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG; các hình thức TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG và quá trình phát triển các quy định của PLHS Việt Nam về nhóm tội này
- Luận án sẽ nghiên cứu, làm rõ và hệ thống những hạn chế, vướng mắc trong BLHS hiện hành quy định về kỹ thuật lập pháp, cơ sở pháp lý, các hình thức TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG cũng như những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn ADPL về TNHS đối với nhóm tội này
- Luận án phân tích làm rõ những hành vi tác động tiêu cực đến ANQG trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong xây dựng PLHS và thực tiễn áp dụng TNHS, luận án sẽ xây dựng các yêu cầu và giải pháp về CSHS đảm bảo áp dụng TNHS đúng đối với nhóm tội này
- Trên cơ sở lý luận về tính quyết định xã hội đối với quá trình ADPL, luận án sẽ xây dựng tiếp các giải pháp đảm bảo áp dụng TNHS đúng đối với nhóm tội này gồm: Giải pháp bảo đảm về PLHS; giải pháp bảo đảm về tổ chức cán bộ; giải pháp bảo đảm về thực tiễn áp dụng TNHS; giải pháp bảo đảm về kinh tế, chính trị, nghiên cứu khoa học và thông tin pháp luật
Kết luận Chương 1
Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong luật hình sự Việt Nam là một vấn đề khó và phức tạp Các công trình khoa học trong nước mới giải quyết những hạn chế, vướng mắc về cấu thành tội
Trang 28phạm của nhóm tội này ở mức độ nhất định; còn nhiều vướng mắc, bất cập khác chưa được giải quyết thỏa đáng Ở Việt Nam, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về vấn đề này Nguồn tài liệu nước ngoài về các tội xâm phạm ANQG còn rất hạn chế và tản mạn
Ở mức độ nhất định, một số tác giả đã làm rõ chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia thể hiện trong văn kiện của Đại hội XI và trong Hiến pháp năm 2013 như chế độ chính trị, chính sách đối ngoại, quyền con người, vấn đề bảo vệ Tổ quốc Những kết quả trên là nguồn tài liệu quý giá để Nghiên cứu sinh kế thừa trong quá trình thực hiện luận án
Đã có một số công trình khoa học của các tác giả ở trong và ngoài nước
đề cập đến giới hạn chính đáng của quyền con người, cơ sở khoa học và căn
cứ pháp lý để giới hạn quyền con người; có công trình khoa học đã trình bày
cơ sở lý luận về tính quyết định xã hội đối với quá trình áp dụng pháp luật Đây là những cơ sở lý luận quan trọng để Nghiên cứu sinh xây dựng giải pháp đảm bảo áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với nhóm tội này
Có các công trình của các tác giả ở trong và ngoài nước nghiên cứu chung về trách nhiệm hình sự và các bảo đảm áp dụng trách nhiệm hình sự đúng đối với tội phạm Các kết quả nghiên cứu đó cho phép Nghiên cứu sinh nhận thức đầy đủ, hệ thống hơn về trách nhiệm hình sự, đồng thời đây cũng là
cơ sở lý luận quan trọng để giải quyết thấu đáo vấn đề trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong luật hình sự Việt Nam
Có một số công trình khoa học trình bày lịch sử phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia Với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù như phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp lịch sử cho phép Nghiên cứu sinh thấy được bức tranh toàn cảnh về cơ sở chính trị, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cũng như những thành công, hạn chế trong quá trình xây dựng, phát triển pháp luật hình sự về nhóm tội này Đây là nguồn tư liệu có giá trị về mặt khoa học pháp lý hình sự, sẽ
Trang 29Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ NHÓM TỘI NÀY
2.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
Trong khoa học xã hội, thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa tương đối thống nhất Ở nghĩa thứ nhất, “trách nhiệm” được hiểu là nghĩa vụ, bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước Ở nghĩa thứ hai, “trách nhiệm” được hiểu là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó Về mặt hình thức, thuật ngữ
“trách nhiệm” được biểu hiện dưới các loại khác nhau: trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý được hiểu theo nghĩa thứ hai và là trách nhiệm của một người đối với hành vi vi phạm pháp luật do mình thực hiện, thể hiện bằng việc chủ thể vi phạm pháp luật phải ghánh chịu hậu quả bất lợi mà pháp luật quy định đối với
vi phạm đó Trong những dạng trách nhiệm pháp lý nêu trên, TNHS có tính nghiêm khắc nhất và chỉ xuất hiện khi có tội phạm xảy ra
TNHS có những điểm khác biệt so với các dạng trách nhiệm pháp lý khác, thể hiện rõ ở cơ sở của TNHS, đối tượng áp dụng TNHS, hình thức TNHS, thủ tục áp dụng TNHS và án tích Khoa học luật hình sự hiện nay nhìn chung đều thống nhất về TNHS ở những nội dung sau:
- Về nội hàm của khái niệm TNHS: Là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thực hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHS quy định đối với người phạm tội
Trang 30- Về thời điểm bắt đầu và kết thúc của TNHS: TNHS phát sinh từ khi có hành vi phạm tội nhưng nó chỉ có ý nghĩa thực tế từ thời điểm Nhà nước đưa một người ra truy cứu TNHS và kết thúc từ thời điểm xóa án tích hoặc được miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc do quyết định đại xá của Quốc hội hay quyết định đặc xá của Chủ tịch nước Trường hợp miễn TNHS, miễn hình phạt thì TNHS được thực hiện và cũng kết thúc ngay tại thời điểm kết tội của Tòa án bằng bản án
có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Về các giai đoạn của TNHS: TNHS được thực hiện qua nhiều giai đoạn như truy cứu TNHS; xét xử vụ án hình sự tại phiên tòa và tuyên bản án kết tội buộc người phạm tội chấp hành hay không chấp hành hình phạt đã tuyên; thi hành hình phạt và cuối cùng là thử thách để được xóa án tích Nói cách khác, TNHS là hình thức thực hiện quan hệ PLHS, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự PLHS quy định có thể miễn TNHS nên việc thực hiện TNHS có thể kết thúc ở những giai đoạn sớm hơn mà không buộc phải qua các giai đoạn trên
- Về các hình thức của TNHS: Ngoài hình phạt được coi là hình thức quan trọng và phổ biến, TNHS còn thể hiện dưới các hình thức khác như: biện pháp tư pháp, miễn TNHS, miễn hình phạt, án treo, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích Sự phong phú và đa dạng của hình thức TNHS là biểu hiện của nguyên tắc công bằng trong luật hình sự và cho phép thực hiện có hiệu quả TNHS trên thực tế
- Về mục đích của TNHS: Là phương tiện bảo vệ QHXH trước hành vi chống đối pháp luật, nhằm ngăn chặn những việc phạm pháp, gây trở ngại cho trật tự xã hội, trật tự quản lý, giáo dục tính kỷ luật, trật tự và tinh thần tôn trọng pháp luật của mọi công dân để bảo vệ trật tự trong đời sống kinh tế, xã hội Bên cạnh những đặc điểm chung nói trên, TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG còn có những đặc điểm riêng sau đây:
Trang 31- TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG chính là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện một hành vi phạm tội xâm phạm ANQG
- Về thời hiệu truy cứu TNHS và xóa án tích: Không áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS và không đương nhiên xóa án tích đối với các tội xâm phạm ANQG
Từ những đặc điểm trên cho phép rút ra định nghĩa khái niệm TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG như sau:
TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG là nghĩa vụ của một người phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trước Nhà nước về hành vi phạm tội xâm phạm ANQG của mình, thể hiện ở việc người đó bị tước đoạt hoặc bị hạn chế quyền và lợi ích nhất định theo quy định của PLHS
Khái niệm trên đặt ra nhu cầu cần tiếp tục làm rõ: ANQG được hiểu như thế nào dưới góc độ luật hình sự? Vai trò của nó với TNHS đối với các tội xâm phạm ANQG? Các tội xâm phạm ANQG là gì? Căn cứ nào xác định ranh giới giữa tội phạm xâm phạm ANQG với một số hành vi hợp pháp thường gặp khác?
Về khái niệm ANQG, Nghiên cứu sinh đồng tình với quan điểm của một tác giả khi cho rằng: “Việc xác định đầy đủ và chính xác nội hàm khái niệm ANQG có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc quy định giới hạn các hành
vi phạm tội nguy hiểm xâm phạm ANQG, giúp nhà nước xem xét, lựa chọn chính xác các hành vi nguy hiểm cho xã hội để quy định vào nhóm các tội xâm phạm ANQG nói chung cũng như quy định loại hình phạt và mức hình phạt tương ứng với các tội đó; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này một cách có hiệu quả” [31, tr.71] Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng cho đến nay thuật ngữ ANQG vẫn chưa được giải thích trong các văn bản PLHS Trong khoa học pháp lý đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này:
Trang 32- Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng: ANQG là hệ thống các QHXH được các quy phạm pháp luật của Nhà nước điều chỉnh liên quan trực tiếp đến
sự tồn tại, yên ổn, vững chắc, không bị sụp đổ của chế độ xã hội của một quốc gia [32, tr.70], [34], [85]
- Nhóm quan điểm thứ hai mở rộng hơn nội hàm khái niệm ANQG, theo
đó ANQG còn là sự bất khả xâm phạm đến các thành tố cấu thành quốc gia quy định tại Điều 1 Công ước Montevideo năm 1933 gồm: lãnh thổ; chính phủ (hệ thống chính trị); dân cư; năng lực tham gia vào các quan hệ với các chủ thể quốc tế (chủ quyền quốc gia) [87, tr.41], [3], [74, tr.27]
- Nhóm quan điểm thứ ba mở rộng hơn nữa nội hàm khái niệm ANQG, theo đó ANQG còn là sự yên ổn về kinh tế, văn hóa, xã hội, chế độ Hiến pháp [83, tr.26], [27], [10]
- Nhóm quan điểm thứ tư tiếp cận ANQG dưới lăng kính các quan hệ chính trị ở phạm vi đối nội và đối ngoại, theo đó “ANQG là một phạm trù có nội dung chính trị - pháp lý rất rộng thể hiện quan hệ giữa các giai cấp, khẳng định vị trí của giai cấp cầm quyền đối với các giai cấp khác và khẳng định vị trí của chính quyền nhà nước đối với các nhà nước khác trên thế giới Về phương diện chính trị, ANQG bao gồm hai mặt: đối nội và đối ngoại Điều đó
có nghĩa là ANQG phản ánh quan hệ chính trị trong phạm vi một nước và trong quan hệ chính trị quốc tế [84, tr.12]
- Điều 3 Luật an ninh quốc gia năm 2004 định nghĩa về ANQG như sau:
“ANQG là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”
Từ những quan điểm trên cho thấy, ANQG dù tiếp cận theo quan điểm nào cũng luôn bao gồm các thành tố cơ bản nhất đảm bảo cho sự tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của một quốc gia, dân tộc, một chế độ nhà nước, chế độ xã hội Bên cạnh đó, trong nhiều văn kiện của Đảng Cộng sản Việt
Trang 33Nam và Hiến pháp của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam còn xác định cụ thể thành tố “lực lượng vũ trang nhân dân” là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc; Đảng, Nhà nước tăng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân Từ
cơ sở đó, dưới góc độ luật hình sự có thể định nghĩa ANQG như sau:
ANQG là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước
Về các tội xâm phạm ANQG, quan điểm nhất quán của các nhà lập pháp
hình sự nước ta chỉ coi những hành vi ở “thang bậc” nguy hiểm cao đối với ANQG, đó là những hành vi do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý trực tiếp nhằm mục đích chống CQND, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, lực lượng quốc phòng, an ninh của đất nước mới là tội phạm xâm phạm ANQG Mục đích chống CQND là dấu hiệu quan trọng thể hiện mục tiêu chính trị và tính nguy hiểm cao của tội phạm, đúng như một tác giả đã viết: “không phải sự cố ý mà chính là mục đích phá hoại hoặc làm suy yếu chế độ xã hội và chế độ Nhà nước Xô Viết xác định khuynh hướng chống Xô Viết trong hành vi của chủ thể Khuynh hướng chống Xô Viết này làm cho hành vi phạm tội có tính nguy hiểm cho xã hội đặc biệt nghiêm trọng” [34]
Trong thực tế, một số hành vi xâm phạm ANQG và việc thực hiện quyền con người về chính trị - dân sự rất khó xác định ranh giới một cách chính xác trong khi nhu cầu tách bạch nó càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh hiện nay C.Mác viết: “Đối với các thành viên của một giai cấp, nhà lập pháp không tự hạn chế ở chỗ xóa bỏ tất cả những gì không cho họ có khả năng đi lên nấc thang cao hơn của lĩnh vực quyền, mà dành cho bản thân giai cấp đó một khả năng hiện thực để sử dụng các quyền của mình” [19, tr.199] Tuy nhiên,
Trang 34C.Mác cũng khẳng định vị thế ưu tiên của đời sống chính trị trong mối quan
hệ với quyền con người: “quyền của con người được tự do không còn là một quyền nữa chừng nào nó xung đột với đời sống chính trị, ấy thế mà trong lý luận thì đời sống chính trị chỉ là sự đảm bảo cho nhân quyền, cho quyền của con người cá thể, và vì vậy cần phải từ bỏ nó một khi nó mâu thuẫn với mục đích của nó, nghĩa là với những nhân quyền này” [20, tr 553] Các quyền nêu trên gồm: quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình
Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo được quy định tại Điều 18 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (UDHR) Nội dung của Điều này được cụ thể hóa trong quy định tại Điều 18 Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR), trong đó tại khoản 3 của Điều này xác định quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng không phải là tuyệt đối và phải chịu những giới hạn nhất định, nó chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết
để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo
vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác Nội dung Điều 18 ICCPR đã được Ủy ban Nhân quyền (HRC) làm rõ thêm trong Bình luận chung số 22 thông qua tại phiên họp lần thứ 48 năm 1993, trong đó nghiêm cấm các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng có mục đích hoặc tính chất tuyên truyền cho chiến tranh hoặc hận thù dân tộc, tôn giáo hay kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch hoặc bạo lực Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ sử dụng pháp luật để ngăn chặn những hành động đó Căn cứ giới hạn của quyền này, Điều 87 BLHS đã quy định Tội phá hoại chính sách đoàn kết, trong đó có các hành vi: gây chia rẽ người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, chia
rẽ các tín đồ tôn giáo với CQND, với các tổ chức xã hội
Quyền tự do ngôn luận và biểu đạt được quy định tại Điều 19 UDHR Nội dung Điều này được tái khẳng định và cụ thể hóa trong Điều 19 và Điều
20 ICCPR Tại khoản 3 Điều 19 ICCPR xác định quyền tự do biểu đạt phải
Trang 35được thực hiện kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt Vì vậy, quyền này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định được quy định trong pháp luật và là cần thiết để bảo vệ ANQG, trật tự công cộng, Điều 20 ICCPR còn đề cập đến một số hạn chế cần thiết của quyền này, theo đó mọi hình thức tuyên truyền cho chiến tranh, mọi chủ trương gây hằn thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch hoặc bạo lực đều phải bị pháp luật nghiêm cấm Ủy ban giám sát ICCPR
đã làm rõ thêm nội dung này tại Bình luận chung số 11 thông qua tại phiên họp lần thứ 19 năm 1983, theo đó: việc cấm các hình thức tuyên truyền cho chiến tranh, gây hằn thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hay kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch hoặc bạo lực là cần thiết và không mâu thuẫn với quyền tự do biểu đạt quy định tại Điều 19 ICCPR, bởi Điều này nêu
rõ việc thực hiện quyền tự do biểu đạt phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt Trong BLHS, những hành vi lợi dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân có thể bị truy tố về Tội phá hoại chính sách đoàn kết, Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hoặc các tội thuộc chương khác của BLHS
Quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình được quy định tại Điều 20 UDHR Ngoài việc quy định mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình, Điều này còn nêu rõ (trong khoản 2), không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ hiệp hội nào Sau đó, quyền này được tái khẳng định và
cụ thể hóa trong hai Điều 21 và Điều 22 ICCPR Theo Điều 21 ICCPR, quyền hội họp được kèm theo điều kiện “hòa bình”, tức là phải mang tính ôn hòa, không được làm ảnh hưởng đến hoạt động chung của xã hội Đặc biệt, Điều
21 và Điều 22 đều nêu rõ, việc thực hiện quyền này có thể phải chịu những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích ANQG, an toàn và trật tự công cộng và để bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội hoặc bảo vệ quyền và tự do của những người khác Căn cứ vào những giới
Trang 36hạn có thể áp đặt với quyền này, BLHS đã quy định Tội phá rối an ninh bao gồm các hành vi kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức
Tuy nhiên, việc giới hạn các quyền này không thể tùy tiện viện dẫn lý do bảo vệ ANQG mà phải theo những chuẩn mực được thừa nhận chung Trong
“Các nguyên tắc Siracusa về giới hạn quyền và đình chỉ các quyền trong công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự” (1984) giải thích: ANQG không thể được viện dẫn như một lý do để áp đặt những giới hạn để ngăn chặn những mối đe dọa đến pháp luật và trật tự trong phạm vi địa phương hoặc tương đối hạn hẹp; không thể được sử dụng như là một lý do để áp đặt những giới hạn mơ hồ hoặc tùy tiện và chỉ có thể được viện dẫn khi có biện pháp bảo
vệ đầy đủ và có biện pháp khắc phục hiệu quả chống lại sự lạm dụng
2.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
Trong khoa học pháp lý hình sự và luật hình sự Việt Nam có nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở của TNHS Nhìn chung, các quan điểm đều quy vào một trong các yếu tố: hành vi nguy hiểm cho xã hội; lỗi; tội phạm; CTTP; các đặc điểm nhân thân của người phạm tội Việc xác định yếu tố nào là cơ sở của TNHS
có ý nghĩa quyết định về cả mặt thực tiễn và lý luận đối với việc xác định TNHS
và xây dựng những chế định quan trọng khác của luật hình sự Vấn đề này chỉ có thể được giải đáp thỏa đáng trên cơ sở giải đáp được các câu hỏi: Trên cơ sở nào
mà xã hội có thể buộc con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ? Con người phải chịu TNHS về cái gì? Họ phải chịu TNHS trên cơ sở pháp lý nào? Vượt lên trên các quan điểm của trường phái quyết định luận và vô định luận về các nội dung trên, triết học mácxít đã trả lời câu hỏi thứ nhất trên cơ
sở các phạm trù tự do ý chí, về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do, hai phạm trù triết học biểu hiện mối quan hệ qua lại giữa hoạt động của con người và các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội Ăngghen đã viết: “Người ta
Trang 37không thể bàn bạc đúng đắn về đạo đức và pháp quyền mà lại không nói đến cái gọi là tự do ý chí, đến trách nhiệm của con người, đến quan hệ giữa tất yếu
và tự do” [2, tr.194] Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình vì hành vi của con người tuy có tính tất yếu nhưng đồng thời có tính tự do Tính tất yếu thể hiện ở chỗ, trong quá trình hình thành, tồn tại và thay đổi hành vi con người không phải do các yếu tố ngẫu nhiên, tự thân quy định mà do các quy luật khách quan và sự tác động qua lại của các điều kiện tự nhiên và xã hội Xmiecnốp đã viết: “Những mục đích thúc đẩy con người hành động không phải là từ đâu đến không ai biết và
tự dưng lại xuất hiện trong ý thức mà là hình thành có quy luật, xem như là kết quả của những mối quan hệ với thực tế khách quan hình thành trong cuộc đời của người ấy, kết quả giao tiếp của người ấy với mọi người khác, là kết quả của sự phát triển về tâm lý của người ấy trước đây và là kết quả phản ánh những đối tượng và hiện tượng đang tác động trực tiếp đến con người ấy trong thời gian ấy” [99] Tuy nhiên, các yếu tố bên ngoài tác động đến con người không phải một cách máy móc mà phải thông qua sự suy xét (lí trí) và
sự quyết định (ý chí) của họ theo mô hình cơ chế hành vi S - X - R (S là kích thích khách thể; X là kích thích phương tiện; R là hành vi để trả lời các kích thích khách thể) vì “mọi sự tác động của hiện tượng lên một hiện tượng khác đều bị khúc xạ bởi các thuộc tính bên trong của hiện tượng bị tác động Mọi
sự tác động đều là tác động đều là tác động qua lại, các nguyên nhân bên ngoài tác động thông qua các điều kiện bên trong” [47, tr.270]
Tự do ý chí, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, là khả năng tâm
lý của con người có thể tự mình lựa chọn và thực hiện biện pháp xử sự trong những điều kiện xã hội nhất định Ăngghen đã viết: “Tự do không phải là ở trong sự độc lập tưởng tượng ra đối với những quy luật của tự nhiên, mà là ở trong sự nhận thức những quy luật đó và ở trong cái khả năng - do sự nhận thức nói trên mà có - vận dụng những quy luật đó một cách có kế hoạch vào những
Trang 38mục đích nhất định” [1, tr.196] Hêghen, nhà triết học biện chứng duy tâm nổi tiếng người Đức, trong tác phẩm “Triết học pháp luật” cho rằng: “Tự do ý chí
là năng lực quyết định một khi đã hiểu rõ được sự việc” và “tự do là nhận thức được cái tất yếu” [45, tr.64-65] Khi con người có tự do và điều kiện để lựa chọn những phương án xử sự khác nhau thì Nhà nước đòi hỏi người đó phải có hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội Nếu người đó hành động trái với yêu cầu, chuẩn mực xã hội thì Nhà nước buộc người đó phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Tùy theo tính chất, mức độ của sự lệch chuẩn, người đó có thể phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính hay TNHS
Hành vi nguy hiểm cho xã hội, tự bản thân nó không thể là cơ sở của TNHS, bởi nếu hành vi đó không thỏa mãn đủ các dấu hiệu của một CTTP cụ thể quy định trong BLHS thì hành vi đó hoặc chưa đến mức độ đáng kể được coi là tội phạm hoặc tuy đến mức độ đáng kể nhưng không được quy định trong BLHS, do đó cũng không thể là tội phạm và bị truy cứu TNHS
Lỗi cũng không thể là cơ sở của TNHS, nó chỉ là một yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm, thể hiện thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra biểu hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý C.Mác viết: “Cái luật pháp trừng phạt vì phương thức suy nghĩ, không phải là luật pháp do nhà nước ban bố cho những công dân của mình - đó là luật pháp của một đảng này chống lại một đảng khác Đạo luật truy nã khuynh hướng thủ tiêu quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật Đó là đạo luật không phải của sự thống nhất, mà là của sự chia rẽ, mà tất
cả các đạo luật chĩa rẽ đều là phản động Đó không phải là luật pháp, mà là đặc quyền” [25, tr.28] Lênin cũng chỉ rõ: “Phán đoán một con người không phải dựa vào lời nói và phương pháp suy nghĩ của họ mà dựa vào hành vi của họ” [38, tr.17] Bởi vậy, lỗi hay các yếu tố khác thuộc lĩnh vực tinh thần không thể là cơ sở của TNHS
Trang 39CTTP cũng không thể là cơ sở duy nhất của TNHS Bởi lẽ, CTTP chỉ là khuôn mẫu pháp lý, quy định những dấu hiệu chung, phổ biến, điển hình, phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị coi là tội phạm Nó tồn tại không phụ thuộc vào việc có hay không có việc thực hiện tội phạm Nếu không kết hợp với hành vi thực tế nguy hiểm cho xã hội, thì nó chỉ là một quy định trong BLHS mà thôi Kôratrenkô đã đúng khi cho rằng việc chỉ coi CTTP là cơ sở của TNHS “đã vi phạm quy luật logic: biểu hiện cơ bản, có tính gốc rễ, cụ thể và thực tế (hành vi) đã bị thay thế bằng sự nhận thức do con người tạo ra, có tính tương đối và trừu tượng về biểu hiện này (CTTP)” [44, tr.69-71] TS Trần Văn Độ cũng cho rằng: “quan điểm cho rằng CTTP là
cơ sở duy nhất của TNHS là sai lầm Là khuôn mẫu pháp lý, là khái niệm chủ quan, tự mình CTTP không thể là cơ sở phát sinh TNHS TNHS chỉ phát sinh khi tội phạm được thực hiện” [91, tr.182-183]
Các đặc điểm nhân thân người phạm tội có thể là cơ sở của TNHS hay không? Một số nhà luật học, chẳng hạn như Utevxki B.X trong bài viết “Các biện pháp mới đấu tranh chống tội phạm và một số vấn đề về TNHS”, coi CTTP là “một trong các điều kiện bắt buộc của TNHS”, còn các thuộc tính riêng biệt của người phạm tội mới có ý nghĩa quyết định trong việc xác định
cơ sở của TNHS [46, tr.69-71) Trong bài viết “Những vấn đề của luật hình sự trong dự thảo luật”, cũng chính tác giả cho rằng, cơ sở của TNHS đối với tội phạm không nguy hiểm lớn cho xã hội không phải là CTTP mà là “những dấu hiệu riêng biệt của người phạm tội” Tuy nhiên, ở góc độ chung của CTTP, nhân thân chỉ được phản ánh bằng một số dấu hiệu cơ bản của chủ thể - năng lực TNHS và lứa tuổi Trong một số trường hợp, những đặc điểm nhân thân con người có thể được xác định tại một số điều luật nhưng không nhằm mục đích xác định hành vi của người có đặc điểm nhân thân đó là tội phạm mà nó
có ý nghĩa khác như: do gắn liền với hành vi phạm tội như là điều kiện của hành vi phạm tội; để giới hạn phạm vi chủ thể phải chịu TNHS; là dấu hiệu
Trang 40tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS [41, tr.152- 154] Bởi thế, nếu đưa các đặc điểm của nhân thân người phạm tội lên hàng đầu khi giải quyết vấn đề TNHS
và hình phạt sẽ rất nguy hiểm đối với chế độ pháp chế và công bằng
Lý luận luật hình sự XHCN, lịch sử phát triển của luật hình sự XHCN khẳng định vai trò đứng đầu của hành vi trước các đặc điểm khác trong việc quy định cơ sở của TNHS Điều đó dựa trên quan điểm của triết học mácxit
về mối liên hệ, tác động trong thế giới vật chất, đó là: bản chất của thế giới là tính vật chất và lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bởi lực lượng vật chất Về vấn đề này, C.Mác viết “Chỉ theo mức độ tôi tự biểu hiện ra, theo mức độ tôi bước vào lĩnh vực thực tế, thì tôi mới bước vào phạm vi nằm dưới quyền lực của nhà lập pháp Ngoài những hành vi của mình ra, tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó Những hành vi của tôi - đó là lĩnh vực duy nhất trong đó tôi đụng chạm với pháp luật, bởi vì hành vi là cái duy nhất vì nó mà tôi rơi vào quyền lực của pháp luật hiện hành” [13] Do đó, nếu không chú ý thỏa đáng đến các đặc điểm của hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hoặc hạ thấp các đặc điểm đó đến mức như là một trong những “dấu hiệu” của việc đánh giá nhân thân người có lỗi, thì khi đó pháp luật, về thực chất, bị tước mất dấu hiệu cơ bản của mình là cái đo lường giống nhau đối với việc đánh giá những tình tiết thực tế khác nhau TNHS chỉ có thể đặt ra đối với hành vi có đầy đủ các dấu hiệu thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Nói cách khác, những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái PLHS và có lỗi, tức là hành vi có đầy đủ tất cả các dấu hiệu của CTTP của một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS mới là cơ
sở của TNHS CTTP là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ cho việc thừa nhận rằng người nào đó đã thực hiện một tội phạm nhất định và phải bị truy cứu TNHS CTTP là cơ sở của TNHS bao gồm cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng, cấu thành giảm nhẹ, cấu thành của các giai đoạn phạm tội và cấu thành của đồng phạm Đối với cấu thành chung và cấu thành loại của tội phạm, đây