1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh lạng sơn

86 343 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 857,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về lý luận: Nghiên cứu quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy; đề tài được thực hiện t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯƠNG THỊ THU CÚC

TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP

HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY THEO

PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN

TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số : 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ Luật

học “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn” là hoàn toàn trung

thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Sỹ Sơn

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Lương Thị Thu Cúc

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU………1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY………5

1.1 Những vấn đề lý luận về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy……… 5 1.2 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999……… …11 1.3 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999……… 17

Chương 2: ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN……… 22

2.1 Định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn………22 2.2 Quyết định hình phạt đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn……… …47

Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY……… 63

3.1 Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy……… …63 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy………66

KẾT LUẬN……… …77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

ADPL Áp dụng pháp luật ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

WHO Tổ chức y tế thế giới

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1 Diễn biến tình hình tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy so với tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (2011 – 2015)……… 26

2 Bảng 2.2 Thống kê số bị cáo bị xét xử theo các khoản khác nhau theo Điều 194 BLHS trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (2011 – 2015)……… 27

3 Bảng 2.3 Cơ cấu xét theo mức hình phạt áp dụng đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (2011 – 2015)……… 51

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Là một tỉnh vùng núi biên giới phía Đông Bắc của Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn có diện tích 8.323,78 km2 với 11 huyện, thành phố, trong đó có 5 huyện giáp biên giới, dân số khoảng 727.535 người bao gồm nhiều dân tộc khác nhau như Kinh, Tày, Nùng, Dao….Phía Bắc giáp với tỉnh Cao Bằng , phía Đông giáp với khu tự trị Quảng Tây – Trung Quốc, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Nam giáp tỉnh Bắc Kạn

và Thái Nguyên Lạng Sơn là tỉnh có chung đường biên giới với Trung Quốc dài 253km, có cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và ga đường sắt quốc tế liên vận Đồng Đăng,

có nhiều cửa khẩu và cặp chợ đường biên thông thương với Trung Quốc như Tân Thanh, Cốc Nam, Chi Ma, Bình Nghi, Na Hình, Bảo Lâm và nhiều đường mòn, đường tắt cư dân hai nước biên giới thường xuyên qua lại Lạng Sơn có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng và giao lưu văn hóa thương mại giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc, nằm trong vành đai kinh tế trọng điểm Nam Ninh – Hà Nội – Hải Phòng và đồng thời là cửa ngõ của nước bạn nối xuống ASEAN

Là một tỉnh miền núi có đường biên giới đường bộ khá dài với địa hình tương đối thuận lợi cho việc thông thương, xuất nhập cảnh sang Trung Quốc nên từ trước đến nay Lạng Sơn luôn là điểm nóng của các loại tội phạm như buôn lậu, mua bán người, vận chuyển tiền giả… đặc biệt là các tội phạm về ma túy Mặc dù đã có nhiều

cố gắng về mặt lập pháp và tổ chức lực lượng đấu tranh nhưng tình hình tội phạm về

ma túy có xu hướng gia tăng với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, có sự câu kết chặt chẽ hình thành đường dây mua bán, vận chuyển ma túy lớn Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, nhưng vì lợi nhuận của ma túy đem lại rất lớn nên tội phạm về ma túy vẫn có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây, kéo theo hàng loạt các vấn đề như sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức, các tệ nạn xã hội phát sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chính trị, trật tự và an toàn

xã hội

Thực tiễn xét xử tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả nhất định, phát huy

Trang 7

hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Bên cạnh đó còn tồn tại những hạn chế, sai sót như một số vụ án chưa đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra, nhiều bản án tuyên khác với điều khoản, khung hình phạt và Viện kiểm sát đã truy tố sau đó bị kháng nghị

và phải chờ hướng giải quyết… dẫn đến chất lượng và hiệu quả chưa cao Quy định

về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trong BLHS Việt Nam còn nhiều hạn chế, bất cập gây ra những khó khăn, vướng mắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này

Từ các lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Tác giả đã tham khảo: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), GS -

TS Võ Khánh Vinh, Nxb Khoa học xã hội năm 2014; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), GS – TS Võ Khánh Vinh, Nxb Khoa học xã hội năm 2014; Giáo trình luật hình sự Việt Nam, (2007) GS – TS Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên), Nxb Công

an nhân dân, Hà Nội; “Hoàn thiện một số quy định về hình phạt của BLHS năm 1999

nhằm đảm bảo hơn nữa nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự” (2008) - PGS.TS Hồ

Sỹ Sơn, Luật học……

- Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác: Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Tuyết Mai: “Đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy ở Việt Nam ” năm 2007; luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Quang Hóa “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” năm 2015…

Các công trình nghiên cứu trên có giá trị liên quan đã được tác giả tham khảo khi thực hiện đề tài: “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn”

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích: Mục đích nghiên cứu của đề tài này là hoàn thiện pháp luật hình

sự, bao gồm hoàn thiện quy định về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy và các văn bản hướng dẫn áp dụng

3.2 Nhiệm vụ: Để đạt được các mục đích như đã nêu trên, tác giả đặt ra các

nhiệm vụ sau:

- Làm rõ những vấn đề về lý luận và pháp luật về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

- Khái quát những vấn đề lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt, đánh giá hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn từ năm

2011 đến năm 2015

- Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến năm 2015

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử tội tàng trữ,

vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

4.2 Phạm vi nghiên cứu Về lý luận: Nghiên cứu quy định tại Điều 194 BLHS

năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy; đề tài được thực hiện trong phạm vi chuyên ngành Luật

hình sự và Tố tụng hình sự

- Về thực tiễn: Nghiên cứu thực tiễn xét xử tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy từ năm 2011 đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước, pháp luật và những chủ trương, đường lối của Đảng,

Trang 9

Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống ma túy Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê…để giải quyết những vấn đề khoa học

được đặt ra từ nội dung đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo quy định của BLHS Việt Nam năm 1999, có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập và nghiên cứu của học viên Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy nói chung và trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

- Chương 2: Áp dụng các quy định về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái

phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

- Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma túy

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP

HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY

1.1 Những vấn đề lý luận về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

1.1.1.1 Khái niệm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

Khái niệm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy gắn rất chặt với khái niệm ma túy Tuy nhiên trên thế giới hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về ma túy hay chất ma túy

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới: Ma túy là chất độc, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng Năm 1982 WHO đã phát triển định nghĩa

ma túy như sau: “Ma túy theo nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hóa học hoặc là những

thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khỏe bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học ” [ 45]

Về quy định của pháp luật Việt Nam, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chất ma túy :

Theo từ điển Tiếng Việt thì ma túy là những chất thuốc làm đê mê tinh thần, cảm giác bạc nhược hay buồn ngủ, phần nhiều rút trong á phiện [41]

Theo quy định của Luật phòng chống ma túy năm 2000 (sửa đổi năm 2008) thì:

“Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” Đồng thời Luật cũng giải thích: “Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng”.[36]

Trang 11

Thông tư liên tịch số 17/ 2007/ TTLT – BCA – VKSNDTC – TANDTC – BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp đưa ra khái niệm chất ma túy tương tự như Luật phòng chống ma túy năm 2000 đó là: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành” [1]

Các chất ma túy được quy định trong danh mục do Chính phủ Việt Nam ban hành tại Nghị định số 82/2013/NĐ – CP gồm có 235 chất ma túy, chia thành 3 danh mục và 41 tiền chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất chất ma túy [ 3]

Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân; xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”

Từ các khái niệm về chất ma túy nêu trên, khái niệm tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999, khái niệm các tội phạm về ma túy và từ quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, có thể đưa ra khái niệm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy như sau: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước và bị đe dọa áp dụng hình phạt

1.1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam

* Khách thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Vậy, khách thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma túy là chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về tàng trữ, vận chuyển, mua bán các chất ma túy

Trang 12

Đối tượng tác động của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là các chất ma túy Tại Thông tư liên tịch số 17/ 2007/ TTLT – BCA – VKSNDTC – TANDTC – BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn thì: “Chất

ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành” Các chất ma túy được quy định trong danh mục

do Chính phủ Việt Nam ban hành tại Nghị định số 82/2013/NĐ – CP Các dạng ma túy thường gặp ở nước ta là Hêrôin, Mooc phin, cần sa, thuốc phiện và một số loại ma túy

ở dạng thuốc tân dược như Dolagăng, Methamphetamine……

* Mặt khách quan của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội…

Mặt khách quan của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là tổng hợp những dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội do người

có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện Đây là tội có cấu thành tội phạm hình thức, tội phạm này được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi khách quan cụ thể sau:

- “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp

chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất

ma túy Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này Nếu tàng trữ trái phép chất ma túy cho người khác mà biết rõ người này mua bán trái phép chất ma túy đó thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất

ma túy với vai trò đồng phạm

- “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất

ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào (có thể bằng các phương tiện khác nhau như ô tô, tàu bay, tàu thủy….; trên các tuyến đường khác nhau như đường

bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy, đường bưu điện…; có thể để trong

Trang 13

người như cho vào túi áo, túi quần, nuốt vào trong bụng, để trong hành lý như vali, túi xách…) mà không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác Người giữ hộ, hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy cho người khác, mà biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của người đó thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm

- “Mua bán trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:

+ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;

+ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

+ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

+ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);

+ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;

+ Tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

+ Vận chuyển trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác

Nếu người nào đó có hành vi chào bán trái phép chất ma túy, thỏa thuận mua bán về giá cả, địa điểm, thời gian để tiến hành việc mua bán nhưng chưa thực hiện được việc mua bán thì cấu thành tội phạm này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội

Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy

Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm này Trường hợp khác, sau khi giám định không phải là chất ma túy nhưng người thực hiện hành vi mua bán ý thức rằng đó là chất ma túy thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 của BLHS năm 1999

Trang 14

- “Chiếm đoạt chất ma túy” là một trong các hành vi trộm cắp, lừa đảo, tham ô,

lạm dụng tín nhiệm, cưỡng đoạt, cướp, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt chất ma túy của người khác Trường hợp người có hành vi chiếm đoạt chất ma túy nhằm mục đích bán lại chất ma túy đó cho người khác, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ đối với hành vi đã thực hiện theo Điều 194 BLHS và chỉ phải chịu một hình phạt

Nhà nước quản lý độc quyền về chất ma túy, vì vậy luật không quy định dấu hiệu trái phép trong hành vi chiếm đoạt mà mọi hành vi của cá nhân nhằm có được chất ma túy đều là bất hợp pháp Chất ma túy bị chiếm đoạt có thể thuộc quyền quản

lý của Nhà nước hoặc đang do cá nhân khác chiếm giữ

Ngoài những hành vi trên thì theo quy định tại mục 3.6 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007 còn quy định:

“3.6 Người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười mililít trở xuống” [ 1]

* Chủ thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma túy

Theo quy định của luật hình sự Việt Nam thì chủ thể của tội phạm là con người

cụ thể đã cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm và thỏa mãn điều kiện có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS Ngoài ra ở một số tội phạm đặc biệt, để có thể thực hiện được hành vi khách quan của tội phạm hay để phản ánh chính sách hình sự riêng của Nhà nước, chỉ coi là chủ thể của tội phạm khi có thêm các dấu hiệu đặc biệt khác như đặc điểm xấu về nhân thân

Trang 15

của chủ thể vì đặc điểm này mà hành vi nguy hiểm cho xã hội nhất định bị coi là tội phạm Đó là chủ thể đặc biệt của tội phạm

Chủ thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma túy cũng phải đảm bảo đủ các yếu tố (điều kiện) cần và đủ là độ tuổi và năng lực TNHS quy định tại Điều 12, 13 BLHS Đối với chủ thể của tội này không yêu cầu phải

là chủ thể đặc biệt, tuy nhiên trong từng khoản của tội danh, cần xác định độ tuổi chịu TNHS cho đúng, cụ thể như sau:

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy quy định tại Khoản 1 Điều 194 BLHS, vì khoản 1 Điều 194 BLHS là tội phạm nghiêm trọng, và theo quy định tại Điều 12 BLHS thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Chỉ người đủ 16 tuổi trở lên mới bị truy cứu TNHS về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu TNHS về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 194 BLHS, vì các trường hợp phạm tội này là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Tuy nhiên khi truy cứu TNHS đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên cần phải lưu ý đến vấn đề người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 194 BLHS vì theo hướng dẫn tại mục 10 Nghị quyết số 01/2006/ NQ – HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS có quy định:

“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên, nếu tổng trọng lượng chất ma túy của các lần cộng lại dưới mức tối thiểu hoặc không xác định được tổng trọng lượng chất ma túy của tất

cả các lần đó đến mức tối thiểu quy định tại điểm g, h, i, k, l, m, n hoặc o khoản 2 Điều

194 BLHS thì họ không phải chịu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy” Như vậy, không phải cứ người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi “phạm tội

Trang 16

nhiều lần” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 194 BLHS cũng đều bị truy cứu TNHS

* Mặt chủ quan của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

Mặt chủ quan là mặt bên trong của tội phạm bao gồm các yếu tố: Lỗi, động cơ

và mục đích phạm tội Mặt chủ quan phản ánh mối liên hệ giữa ý thức của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó đã thực hiện

Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy được thực hiện với lỗi cố ý, trong đó tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy bao giờ cũng thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, còn tội chiếm đoạt chất ma túy có thể thực hiện với cả lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này

1.2 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

Điều 194 BLHS 1999 có quy định 4 khung hình phạt Khung hình phạt cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 194 với mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm Khung hình phạt tăng nặng được quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 194 có mức hình phạt cao hơn mức hình phạt quy định tại khung hình phạt cơ bản Theo đó phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 194 thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm; phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 194 thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm; phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 194 thì bị phạt tù từ hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình Hình phạt bổ sung đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy được quy định tại khoản 5 Điều 194, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm

Ngày 09/12/2000, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Phòng, chống ma túy Đây là đạo luật đầu tiên về phòng, chống ma túy và đã tạo cơ sở pháp lý hiệu quả hơn trong việc đấu tranh, phòng ngừa tệ nạn ma túy

Trang 17

Ngày 14/11/2015 Thông tư liên tịch số 08/2015/ TTLT – BCA – VKSNDTC – BTP sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT – BCA- VKSNDTC – TANDTC – BTP quy định hướng dẫn cụ thể việc áp dụng Điều 194 nói riêng và chương XVIII “các tội phạm về ma túy nói chung” của BLHS 1999 Thông tư này đã góp phần tháo

gỡ những vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án về ma túy

* Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự

Khoản 1 Điều 194 là cấu thành tội phạm cơ bản của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy Khi một người thực hiện hành vi phạm tội thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy nhưng không thuộc các tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 194 thì có thể bị xử phạt tù từ hai năm đến bảy năm

Khi quyết định hình phạt Tòa án căn cứ vào các quy định để quyết định hình phạt được quy định tại chương VII, từ Điều 45 đến Điều 54 BLHS 1999

* Khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự

Khung tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm, với các tình tiết

định khung tăng nặng sau:

- Điểm a khoản 2 Điều 194 BLHS: Phạm tội có tổ chức

Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 quy định thì: “Phạm tội có

tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ với những người cùng thực hiện tội phạm ” Như vậy, tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma túy có tổ chức là trường hợp có từ hai người trở lên cùng cố ý bàn bạc, phân công, cấu kết chặt chẽ với nhau để thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

Trong phạm tội có tổ chức có các dạng người như người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức Người thực hành là người trực tiếp thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma túy Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma túy Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma túy Người giúp sức là người tạo những

Trang 18

điều kiện về tinh thần hoặc vật chất cho việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma túy Trong trường hợp phạm tội có tổ chức tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma túy cần lưu ý có thể có tất cả những người đồng phạm, hoặc có thể chỉ có hai người cùng cố ý thực hiện tội phạm, nhưng bắt buộc phải có người tổ chức

và người thực hành, đồng thời người thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy đến đâu thì đồng bọn phải chịu đến giai đoạn đó và áp dụng tình tiết có tổ chức với tất cả những người đồng phạm

- Điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS: Phạm tội nhiều lần

Tiểu mục 2.3 mục 2 phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT – BCA – VKSNDTC – TANDTC – BTP có giải thích cụ thể: “Phạm tội nhiều lần là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều luật (hoặc tại cùng một khoản của điều luật) tương ứng trong phần riêng BLHS, đồng thời đối với những tội

ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử” Tình tiết “phạm tội nhiều lần” đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy được hiểu là đã có từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần tàng trữ trái phép chất ma túy, hai lần bán trái phép chất ma túy…) mà mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự

và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng chất ma túy của các lần cộng lại, nếu điều luật có quy định về số lượng chất ma túy để định khung hình phạt

- Điểm c khoản 2 Điều 194 BLHS: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn

Điểm 2.1 mục 2 phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT – BCA – VKSNDTC – TANDTC – BTP hướng dẫn tình tiết “lợi dụng chức vụ quyền hạn” được hiểu là người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy đã dựa vào chức vụ, quyền hạn mà mình được đảm nhiệm để thực hiện hành vi phạm tội

Chủ thể của tội phạm là người phải có chức vụ, quyền hạn và hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ, nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì khó có thể

Trang 19

thực việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy Chức

vụ, quyền hạn của người phạm tội là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các hành vi phạm tội Nếu tội phạm do họ thực hiện không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của mình thì dù có chức vụ, quyền hạn cũng không thuộc trường hợp phạm tội này

- Điểm d khoản 2 Điều 194 BLHS: Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức

Điểm 2.2 mục 2 phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT – BCA – VKSNDTC – TANDTC – BTP hướng dẫn tình tiết “lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” được hiểu là người phạm tội đã lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc hoặc công tác để thực hiện hành vi phạm tội Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là trường hợp người phạm tội lợi dụng cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để thực hiện việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

- Điểm đ khoản 2 Điều 194 BLHS: Vận chuyển, mua bán qua biên giới

Vận chuyển ma túy qua biên giới là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy bằng cách sử dụng bất kì phương tiện, cách thức, thủ đoạn nào để đưa chất ma túy qua biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng Việt Nam hoặc vận chuyển ma túy qua biên giới của một nước khác với một nước thứ ba mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất Mua bán ma túy qua biên giới là hành vi mua bán, trao đổi, thanh toán chất ma túy trái phép qua biên giới nước này với nước khác Người nào vận chuyển ma túy qua biên giới cho người khác mà biết mục đích của người đó là mua bán trái phép chất ma túy thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới với vai trò là đồng phạm Tội phạm chỉ hoàn thành khi người phạm tội đã vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới, nếu người phạm tội có mục đích đưa chất ma túy qua biên giới nhưng vì lý do nào đó mà người phạm tội chưa đưa được chất ma túy qua biên giới thì không áp dụng tình tiết này

- Điểm e khoản 2 Điều 194 BLHS: Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc

bán ma túy cho trẻ em

Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội là trường hợp người phạm tội đã dụ dỗ, mua chuộc, hăm dọa, khống chế, lôi kéo hoặc dùng bất kì thủ đoạn nào để người dưới 16 tuổi thực hiện một hoặc nhiều hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt

Trang 20

chất ma túy Nếu xúi giục trẻ em thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy mà người bị xúi giục là trẻ em chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì người phạm tội vẫn bị coi là sử dụng trẻ em vào việc phạm tội

Bán ma túy cho trẻ em là dùng ma túy mà mình có được bằng bất kì hình thức nào để bán cho người dưới 16 tuổi để lấy tiền, tài sản hoặc bất kì lợi ích nào khác

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam; i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

m) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

n) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ một trăm mililit đến dưới hai trăm năm mươi mililit;

o) Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm

n khoản 2 Điều này;

- Điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS: Tái phạm nguy hiểm

Theo quy định tại khoản 2 Điều 49 BLHS thì những trường hợp sau đây được

coi là tái phạm nguy hiểm: “a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt

nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do

cố ý”

Tình tiết tái phạm nguy hiểm được hiểu là người bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thuộc trường hợp quy

Trang 21

định tại khoản 2 Điều 194 BLHS; hoặc đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy Nếu người đã

bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 194 BLHS thì tình tiết “tái phạm nguy hiểm” được áp dụng là tình tiết tăng nặng TNHS, không phải là tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm p, khoản 2 Điều 194 BLHS

* Khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự

Khung tăng nặng thứ hai có mức hình phạt tù từ 15 đến 20 năm có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam; c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ hai mươi lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm năm mươi kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililit đến dưới bảy trăm năm mươi mililit;

h) Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản

3 Điều này

* Khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự

Khung tăng nặng thứ ba có mức phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình

có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

Trang 22

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

c) Lá, hoa, quả, cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên; e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililit trở lên;

h) Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản

vi vi phạm thể lệ quản lý cây thuốc phiện Điều 5 của Nghị định cũng nghiêm cấm hành vi tàng trữ và vận chuyển nhựa thuốc phiện hay thuốc phiện đã nấu

Đến ngày 22/12/1952, Thủ tướng Chính phủ lại tiếp tục ban hành Nghị định số 225/TTg quy định những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện sẽ bị xử phạt hoặc bị truy tố trước Tòa án nhân dân

Ngày 15/9/1955, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 580/TTg quy định các trường hợp có thể bị Tòa án đưa ra xét xử: Buôn lậu thuốc phiện có nhiều người tham gia và thủ đoạn gian lận, tang vật có trị giá trên 1 triệu đồng, người buôn bán thuốc phiện nhỏ hoặc làm môi giới có tính chất thường xuyên chuyên nghiệp sau

Trang 23

khi đã bị phạt tiền nhiều lần mà còn vi phạm Để cụ thể hóa đường lối xét xử đối với hành vi phạm tội về thuốc phiện, ngày 13/9/1958 và ngày 07/5/1958 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 635 – VHH/HS và Thông tư số 33 – VHH/HS hướng dẫn đường lối truy tố, xét xử những hành vi buôn lậu thuốc phiện

Sau khi thống nhất đất nước, ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 76 – CP về chống buôn lậu thuốc phiện, TANDTC, VKSNDTC, Bộ Nội vụ cũng đã ban hành các Thông tư hướng dẫn áp dụng pháp luật khi điều tra, truy tố, xét

xử tội phạm nói chung và tội phạm buôn lậu thuốc phiện nói riêng Nói chung trong thời kì này các tội phạm về ma túy được Nhà nước ta quy định cụ thể trong các Nghị định của Chính phủ, tuy nhiên các văn bản quy định vẫn còn rải rác, chất ma túy được quy định mới chỉ là thuốc phiện và hình phạt được áp dụng đối với hành vi phạm tội chủ yếu là hình phạt tiền

Đến năm 1980, tình hình tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đặc biệt

là tình trạng mua bán, vận chuyển không chỉ có thuốc phiện mà còn là các chất ma túy khác qua biên giới vào nước ta và từ nước ta đi một số nước trên thế giới, do ảnh hưởng của các nước trong khu vực và các nước có cùng đường biên giới với nước ta Ngày 30/6/1982 Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm giả, kinh doanh trái phép, quy định mức hình phạt cao nhất là tử hình và phạt tiền đến 10 lần giá trị hàng phạm pháp hoặc thu lợi bất chính Hành vi buôn bán

ma túy được coi là hành vi buôn lậu

Trang 24

hiểm của hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển thuốc phiện và các chất ma túy khác nên ma túy mới chỉ được coi là đối tượng được pháp luật hình sự điều chỉnh ngang hàng với ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, vàng bạc và chỉ quy định mức hình phạt cao nhất đối với tội này là 20 năm tù

Trước những bất cập đó, ngày 28/12/1989 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, trong đó có bổ sung thêm Điều 96a quy định về “tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy” và được đặt trong Chương “các tội xâm phạm an ninh quốc gia” với 03 khung hình phạt rất nghiêm khắc, loại hình phạt cao nhất là tử hình đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Điều 203 quy định về “tội tổ chức dùng chất ma túy” với mức hình phạt cao nhất đến mười năm tù Sau khi BLHS được sửa đổi, bổ sung, tình hình tội phạm về ma túy vẫn không giảm

mà càng gia tăng và diễn biến vô cùng phức tạp, các quy định của pháp luật cũng không thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn xử

lý hành vi có liên quan đến ma túy

Hiến pháp 1992 được ban hành, Điều 61 của Hiến pháp quy định nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm khác

Cụ thể hóa những tư tưởng của Hiến pháp, ngày 10/5/1997, tại kỳ họp thứ 11, khóa IX một lần nữa Quốc hội lại sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS, trong đó các tội phạm về ma túy được quy định bổ sung thành một chương riêng (là chương VIIA) gồm 14 điều, quy định 13 tội danh khác nhau liên quan ma túy, đã quy định tương đối đầy đủ các hành vi phạm tội mà thực tiễn đấu tranh đã đặt ra Trong đó tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội vận chuyển trái phép chất ma túy, tội mua bán trái phép chất ma túy, tội chiếm đoạt chất ma túy được quy định thành các tội độc lập, các chất ma túy được đề cập trong điều luật không chỉ đơn thuần là thuốc phiện mà còn bao gồm cây

cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy Đặc biệt đã định lượng hóa các chất ma túy làm căn cứ để truy cứu TNHS với những hình phạt nghiêm khắc

Trang 25

hơn, các khung hình phạt được quy định cụ thể hơn, ngoài khung cơ bản còn có khung tăng nặng

Ngày 02/01/1998 thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/BNV – VKSNDTC – TANDTC được ban hành, thông tư hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1985 Tiếp đó, ngày 02/8/1998 thông tư liên tịch

số 02/1998/TTLT/BNV – VKSNDTC – TANDTC ban hành đã hướng dẫn chi tiết hơn các quy định của tội phạm về ma túy, góp phần hoàn thiện các quy định của BLHS

1985 Chính sách hình sự mới thể hiện thái độ kiên quyết trừng trị nghiêm khắc các tội phạm về ma túy, song hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh đã gây khó khăn cho thực tiễn phòng, chống ma túy, do vậy việc sửa đổi BLHS 1985 chỉ là biện pháp tình thế

Trong tình hình đất nước ta có nhiều biến đổi, theo đó là tình hình về kinh tế, xã hội và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cũng có nhiều thay đổi, đòi hỏi BLHS cần phải được sửa đổi toàn diện Do đó, ngày 21/12/1999 Quốc hội khóa X, kì họp thứ 6 đã thông qua BLHS 1999 BLHS 1999 đã có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện, được xây dựng trên cơ sở có kế thừa những nội dung tích cực, hợp lý của BLHS 1985 qua 4 lần sửa đổi, bổ sung BLHS 1999 trong đó có chương XVIII quy định các tội phạm về ma túy gồm 10 điều luật, từ Điều 192 đến Điều 201 BLHS 1999 đã ghép 04 hành vi phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, vận chuyển trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy, chiếm đoạt chất ma túy được quy định tại các Điều 185c, 185d, 185đ và 185e của BLHS 1985 thành Điều

194 là “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” Cơ

sở để nhập bốn tội thành một tội quy định trong BLHS 1999 là vì trên thực tế các hành

vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán thường gắn liền với nhau Trong hoạt động mua bán

có hoạt động tàng trữ, vận chuyển; trước khi tàng trữ thường là có hành vi mua bán; tàng trữ ma túy thường là cũng có mục đích để bán; vận chuyển ma túy là để tàng trữ, mua bán Vì vậy trong nhiều vụ án rất khó để phân biệt đâu là vụ án tàng trữ, vụ án nào là mua bán, vụ án nào là vận chuyển trái phép chất ma túy Hành vi chiếm đoạt chất ma túy cũng có cấu trúc điều luật và hình phạt tương tự như các hành vi còn lại cho nên việc nhập các tội này thành một tội quy định tại Điều 194 BLHS đã thể hiện

sự tiến bộ về kỹ thuật lập pháp và toàn diện trong việc quy định tội danh

Trang 26

BLHS năm 1999 tại Điều 194 còn quy định cụ thể về trọng lượng ma túy để xứ

lý người phạm tội Việc quy định cụ thể trọng lượng ma túy áp dụng cho từng khoản tương ứng với mỗi hành vi phạm tội tạo điều kiện thuận lợi cho việc định tội, định khung hình phạt được khách quan, công bằng hơn

Kết luận chương 1

Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm chung về tội phạm trong BLHS năm 1999, Điều 194 BLHS cùng một số quan điểm, định nghĩa của các nhà khoa học, tác giả đã đưa ra được khái niệm về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy; phân tích được các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy và khái quát được lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy Việc nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là cơ sở, tiền đề giúp cho hoạt động nghiên cứu định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015

Trang 27

Chương 2

ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN

TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

2.1 Định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

2.1.1 Cách tiếp cận để định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

2.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

Quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự là một quá trình diễn ra hết sức phức tạp và đa dạng, được tiến hành qua các giai đoạn nhất định, trong đó định tội danh là một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự Định tội danh là một trong những biện pháp, cách thức đưa quy phạm pháp luật vào cuộc sống, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm và thực hiện đường lối chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Định tội danh còn là tiền đề,

cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật hình sự và pháp

luật tố tụng hình sự Như vậy: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt

pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [42, tr 10]

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy định tội danh có 4 đặc điểm sau:

Thứ nhất, định tội danh là một quá trình nhận thức có tính logic giữa lý luận và

thực tiễn, thể hiện ở hai khía cạnh: xác định xem hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện có phù hợp với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể trong BLHS và đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi đã thực hiện trong thực tế

Thứ hai, quá trình hoạt động định tội danh phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy

phạm pháp luật của nội dung là BLHS cũng như các quy phạm pháp luật hình thức là BLTTHS

Trang 28

Thứ ba, định tội danh là một hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến

hành tố tụng để cụ thể hóa các quy phạm pháp luật hình sự trìu tượng vào đời sống thực

tế Trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết của hành vi phạm tội đã thực hiện và

sự nhận thức đầy đủ, đúng đắn nội dung của các quy phạm pháp luật hình sự

Thứ tư, định tội danh với tính chất là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng

pháp luật hình sự được tiến hành theo 04 bước sau:

Bước một, xác định các tình tiết của vụ án Đối với bước này đòi hỏi người định tội danh phải đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, vô tư, không định kiến, không suy diễn, dựa vào các chứng cứ đã thu thập được và đánh giá theo quy định của BLTTHS

Bước hai, nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các quy phạm pháp luật hình sự phản ánh các dấu hiệu của CTTP về tội danh có hướng lựa chọn

Bước ba, so sánh đối chiếu hai quá trình trên

Bước bốn, ra văn bản áp dụng pháp luật chính là bản án và các quyết định có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về 3 bước trên để xác định tội danh cần áp dụng đối với trường hợp phạm tội của người đó

Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Hoạt động định tội danh của các chủ thể được quyết định bởi hai xu hướng: Định tội danh đúng hoặc định tội danh sai

Đối với hoạt động định tội danh đúng

Định tội danh đúng là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh và có căn cứ pháp luật Định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền như: Nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi, trách nhiệm cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự, nguyên tác công minh nhân đạo và nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm Định tội danh đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về tạm giam, về thẩm quyền điều tra, xét

xử, qua đó góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và tự do dân chủ của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự

Đối với hoạt động định tội danh sai

Trang 29

Định tội danh sai không chỉ làm cho việc quyết định hình phạt không đúng, không công bằng mà còn áp dụng không có căn cứ Định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: Không đảm bảo được tính công minh có căn cứ đúng pháp luật, truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ lọt tội phạm, xâm phạm thô

bạ danh dự nhân phẩm các quyền tự do dân chủ của công dân Định tội danh sai làm giảm uy tín của các cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế XHCN, ảnh hưởng đến hiệu quả của đấu tranh phòng chống tội phạm

2.1.1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

Cơ sở pháp lý được sử dụng trong hoạt động định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là các văn bản pháp luật trong lĩnh vực luật hình sự, mà trước hết và chủ yếu là Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự

là cơ sở pháp lý trực tiếp cho toàn bộ quá trình định tội danh, các văn bản pháp luật khác (Luật phòng chống ma túy; Nghị định của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC; Thông tư liên ngành của TANDTC, VKSNDTC, BCA, BTP) chỉ mang tính chất là cơ

sở pháp lý bổ trợ, tiếp tục của BLHS Các nhà làm luật khi xây dựng các quy phạm pháp luật hình sự đã tìm xem các dấu hiệu nào là đặc trưng cơ bản nhất, phổ biến nhất

và hay được lặp lại nhiều nhất trong những hành vi ấy, sau đó mới pháp điển hóa vào trong BLHS với tính chất là các dấu hiệu trong CTTP Các điều luật về tội phạm cụ thể trong BLHS chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng, điển hình bắt buộc không thể thiếu được của một loại CTTP, tất cả các dấu hiệu đó tập hợp thành một hệ thống liên quan chặt chẽ với nhau trở thành khuôn mẫu pháp lý làm cơ sở cho người định tội danh so sánh, đối chiếu với hành vi phạm tội đã xảy ra BLHS quy định, liệt kê tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm cụ thể, sự liệt kê đầy đủ này thể hiện nguyên tắc đã được quy định tại Điều 2 của BLHS năm 1999 “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS”, quy định này loại trừ khả năng cho phép bất cứ một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có sự thay đổi theo hướng mở rộng hay thu hẹp mô hình CTTP đã được quy định trong BLHS, thẩm quyền này chỉ do một

cơ quan duy nhất là Quốc hội thể hiện trong BLHS Các văn bản pháp luật khác chứa

Trang 30

đựng các QPPL về nội dung chỉ là sự tiếp tục, cụ thể hóa các quy phạm đã được quy định trong BLHS là mô hình CTTP

Các QPPL trong BLHS nước ta được chia làm hai phần là quy phạm pháp luật phần chung và quy phạm pháp luật phần các tội phạm, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt Để áp dụng phần các tội phạm phải dựa trên các luận điểm chung và các nguyên tắc được quy định ở phần chung của BLHS và ngược lại bản thân các quy phạm pháp luật phần chung lại không

có ý nghĩa nếu thiếu quy phạm pháp luật phần các tội phạm Vì vậy, các dấu hiệu trong mỗi CTTP được quy định trong cả phần chung và phần các tội phạm cụ thể

Các quy phạm pháp luật thuộc phần chung của BLHS để định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy gồm có: Những quy phạm quy định về chế định như chế định đồng phạm, chế định phòng vệ chính đáng, chế định về các giai đoạn tội phạm, chế định lỗi; những quy phạm quy định khái niệm như khái niệm tội phạm (Điều 25 BLHS); những quy phạm quy định về nguyên tắc như Điều 3 BLHS quy định về nguyên tắc xử lý; những quy phạm quy định về điều kiện như điều kiện áp dụng các loại hình phạt

Các quy phạm phần các tội phạm cụ thể được sử dụng để định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là những quy phạm đã được quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999

Cấu thành tội phạm bao gồm những dấu hiệu cần và đủ cho việc định tội danh,

là các dấu hiệu điển hình nhất, đặc trưng nhất có tính chất lặp đi lặp lại trong các hành

vi phạm tội cùng loại, thể hiện bản chất của tội phạm ấy và được các nhà làm luật pháp điển hóa trong BLHS Tính chất của cấu thành tội phạm là khuôn mẫu pháp lý của tội phạm và là cơ sở pháp lý duy nhất cho việc định tội danh, trên cơ sở xác định sự phù hợp đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì mới có căn cứ để khẳng định hành

vi của một người bị cấm và phạm tội

2.1.2 Thực tiễn định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Từ năm 2011 đến năm 2015 Tòa án nhân dân hai cấp trong tỉnh Lạng Sơn đã xét xử sơ thẩm 1217 vụ án/ 1739 bị cáo về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép

Trang 31

hoặc chiếm đoạt chất ma túy, theo số liệu thống kê của Phòng Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn thì tổng số vụ án chung

mua bán trái phép hoặc

chiếm đoạt chất ma túy Tội phạm chung Tỷ lệ %

Số vụ (1)

Số bị cáo (2)

Số vụ (3)

Số bị cáo (4) (1)/(3) (2)/(4)

Trang 32

Bảng 2.2 Thống kê số bị cáo bị xét xử theo các khoản khác nhau theo Điều 194 BLHS

trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (2011 – 2015)

Năm Tổng số bị cáo Khoản 1 Khoản 2 Khoản 3 Khoản 4

(Nguồn: Phòng Thống kê tội phạm và CNTT – VKSND tỉnh Lạng Sơn)

2.1.2.1 Thực tiễn định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản

Thực tiễn hoạt động định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến năm 2015, cho thấy số bị cáo định tội danh theo khoản 1 Điều 194 là 1458 bị cáo, so với tổng số

1739 bị cáo, như vậy số bị cáo định tội danh theo khoản 1 chiếm 84% trong tổng số bị cáo định tội danh theo Điều 194 BLHS

* Định tội danh theo khách thể của tội phạm

Khoản 1 Điều 194 BLHS quy định: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm” Khách thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là chế

độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy Đối tượng tác động của tội này là các chất ma túy Như vậy, để định tội danh đối với khách thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy phải xác định hành vi xảy

ra trên thực tế có xâm phạm đến chất ma túy mà Nhà nước độc quyền quản lý hay không bằng cách trưng cầu giám định, sau đó đối chiếu với danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành và các văn bản pháp luật hình sự liên quan đến tội này

Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến 2015 số bị cáo thực hiện hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS đa số và chủ yếu là án bắt quả tang Các cơ quan tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định về xác định khách thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

Trang 33

giúp cho việc định tội danh được chính xác Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2014 đến đầu năm 2015, khi TANDTC ban hành công văn số 234/TANDTC – HS ngày 19/9/2014 đã quán triệt và triển khai đến Tòa án nhân dân các cấp thực hiện việc bắt buộc phải giám định hàm lượng của các chất ma túy trong các chất thu giữ nghi là ma túy, lấy đó để làm căn cứ kết tội các bị cáo, thực tế một số Tòa án cấp huyện đã quy đổi hàm lượng ra trọng lượng Hêrôin để định tội danh và tuyên phạt đối với bị cáo là không chính xác

Ví dụ: Hồi 20 giờ ngày 19/8/2015 tổ công tác Công an huyện Cao Lộc, tỉnh

Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang Hoàng Đình Q có hành vi tàng trữ 0,193 gam ma túy Hêrôin, hàm lượng 72%

Tại bản án sơ thẩm hình sự số 86/2015/HSST ngày 11/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc đã tuyên bố bị cáo Hoàng Đình Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Áp dụng khoản 1 Điều 194 Tuy nhiên tại bản án của TAND huyện Cao Lộc xác định: Trọng lượng ma túy Hêrôin bị cáo Hoàng Đình Q tàng trữ trái phép là 0,138 gam Việc TAND huyện Cao Lộc lấy trọng lượng ma túy Hêrôin thu giữ khi bắt quả tang của Hoàng Đình Q là 0,193 gam nhân với hàm lượng 72% để tính tinh chất

và xác định trọng lượng chất ma túy là 0,138 gam làm căn cứ để áp dụng pháp luật khi giải quyết vụ án là không chính xác

* Định tội danh theo mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan là mặt bên ngoài của hành vi phạm tội do Luật hình sự quy định và là yếu tố quan trọng của tội phạm, hành vi khách quan của mặt khách quan là biểu hiện ra bên ngoài của ý chí chủ quan, thể hiện ý thức chủ quan của người phạm tội, trong một số trường hợp có tính quyết định trong việc định tội Hoạt động định tội danh thường bắt đầu từ việc đánh giá, xác định các dấu hiệu trong mặt khách quan, thông qua việc xác định các dấu hiệu trong mặt khách quan, chủ thể tiến hành định tội danh xác định được các dấu hiệu khác trong mặt chủ quan của tội phạm như động cơ, mục đích, lỗi Mỗi dấu hiệu trong mặt khách quan có ý nghĩa khác nhau đối với hoạt động định tội danh Các dấu hiệu về mặt khách quan của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy chỉ cần có dấu hiệu hành vi là đủ yếu tố cấu

Trang 34

thành tội phạm, hậu quả đối với tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với việc định tội danh tội phạm này

Thực tiễn định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến 2015 đã định tội danh cơ bản chính xác, tuy nhiên vẫn còn có một số vụ án việc định tội danh chưa đảm bảo đúng quy định của pháp luật

Ví dụ: Là đối tượng nghiện ma túy nên Lăng Văn H thường xuyên mua ma túy

về sử dụng, trong khoảng tháng 3/2014 H và Éng (người Trung Quốc, không rõ họ tên, địa chỉ) cùng nhau sử dụng ma túy tại nhà của H thì H nói với Éng về việc lần sau nhớ mang ma túy đá để H sử dụng và làm mẫu để bán, trong khoảng tháng 11 năm 2014 Éng đem ma túy đá đến nhà của H ở xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn để

sử dụng và làm mẫu bán Nhưng do H vắng nhà nên Éng đã đưa 02 gói ma túy Methamphetamine có tổng trọng lượng 194,7 gam, hàm lượng 73,2% cho Lăng Văn M (là bố đẻ của H) để cầm hộ 02 gói ma túy trên Sau đó M và Éng đã cất giấu gói ma túy vào cống thoát nước sau bếp nhà M, khi công an đến khám xét nhà của M đã phát hiện thu giữ

Ngày 06/12/2014 H đang ở nhà trọ của mình ở tổ 1 khối 10 thị trấn Cao Lộc thì

có đối tượng tên Ba (quen biết với H từ trước, là người Trung Quốc, không rõ địa chỉ) đến nhà trọ của H và đưa cho H 01 gói ma túy Methamphetamine với trọng lượng 653,3gam, hàm lượng 72,3 %, Ba nói với H đây là ma túy đá, và bảo H đợi khách tin tưởng do Ba đưa đến hoặc giới thiệu mới được phép bán, Ba đưa trước cho H 3.000.000đ (ba triệu đồng) và 100 NDT (nhân dân tệ) và nói sau khi bán được ma túy

Ba sẽ trả thêm tiền cho H 5.000.000đ H cầm lấy túi ma túy chưa kịp tiêu thụ thì bị bắt giữ Khoảng 06 giờ ngày 10/12/2014 H bị công an thành phố Lạng Sơn bắt quả tang về hành vi tàng trữ 8,127 gam ma túy Methamphetamine

Tại phiên tòa các bị cáo H và M phản cung không thừa nhận về hành vi tàng trữ trái phép 194,7 gam Methamphetamine mà trước đó các bị cáo đã khai nhận với cơ quan điều tra Hội đồng xét xử đã nhận định tại phiên tòa: Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Methamphetamine có trọng lượng 194,7 gam thu giữ được tại cống thoát nước sau nhà bếp của M, quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo đều xác

Trang 35

định không có việc trao đổi, bàn bạc với nhau về việc cất giấu số ma túy trên và H cũng không biết M đã nhận được số ma túy đó Bản thân H không được cất giữ số ma túy 194,7 gam Methamphetamine, không có dấu hiệu đồng phạm giữa H và M trong hành vi tàng trữ số ma túy này Do đó, H không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với

số ma túy M đã nhận với Éng

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2015 ngày 10/11/2015 của TAND tỉnh Lạng Sơn đã áp dụng khoản 1; điểm e khoản 4 Điều 194 xử phạt bị cáo H 04 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và 20 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy Tổng hợp hình phạt chung là 24 năm tù Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194 BLHS phạt

bị cáo M 12 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy VKSND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành kháng nghị phúc thẩm theo hướng tăng hình phạt và buộc bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 194,7 gam Methamphetamine

Việc Tòa án không buộc bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép đối với 194,7 gam Methamphetamine thu giữ tại nhà của M là trái với quy định tại Điều 10 BLTTHS về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, chưa thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, không đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống đối với tội phạm về ma túy đang gia tăng mạnh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Quá trình xét xử, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa mà không xem xét, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra và không buộc H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ 194,7 gam Methamphetamine là chưa đảm bảo nguyên tắc xác định sự thật khách quan, toàn diện vụ án theo quy định pháp luật Bởi vì nguồn gốc số ma túy 194,7 gam Methamphetamine thu giữ tại nhà của M là do trước đó bị cáo H bảo đối tượng Éng mang vào cho H để H sử dụng và làm mẫu bán Tuy nhiên khi Éng đến nhà H để gặp

và đưa ma túy thì không gặp H ở nhà, nên Éng đã trực tiếp đưa 194,7 gam ma túy đá cho bố đẻ của H là M để M cất giữ hộ H Do đó, có đủ căn cứ để khẳng định bị cáo H

là người có vai trò chính trong việc tàng trữ 194,7 gam Methamphetamine mà cơ quan điều tra đã phát hiện, thu giữ tại nhà của M

* Định tội danh theo chủ thể của tội phạm

Trang 36

Như đã trình bày ở chương 1, chủ thể của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh cũng như xác định trách nhiệm hình sự Đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy quy định tại Điều 194 BLHS thì chủ thể của tội phạm là bất kì ai, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nêu từ

đủ 16 tuổi thì phải chịu TNHS về tội này; nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì chỉ phải chịu TNHS theo quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 194 BLHS mà không phải chịu TNHS theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS

Thực tiễn hoạt động định tội danh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn cho thấy việc xác định chủ thể của tội phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 TAND hai cấp đã xem xét và

có quyết định chính xác, không có trường hợp nào sai sót

* Định tội danh theo mặt chủ quan của tội phạm

Trong việc định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì mặt chủ quan có ý nghĩa hết sức quan trọng và mang tính quyết định Người thực hiện hành vi phạm tội của mình trong tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra Đối với hành vi chiếm đoạt chất ma túy người phạm tội có thể thực hiện với cả lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Đối với tội này, động cơ, mục đích của tội phạm trong đa số các trường hợp sẽ là yếu tố định tội Các hành vi tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt chất ma túy với mục đích để bán thì

sẽ bị xử lý về tội mua bán trái phép chất ma túy Thực tiễn định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến 2015 theo mặt chủ quan của tội phạm tương đối chính xác, tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể, nếu bị cáo không thừa nhận thì cũng không có căn cứ để khẳng định

Ví dụ: Ngày 25/3/2012 tổ công tác Công an huyện Văn Lãng làm nhiệm vụ tuần

tra tại khu vực đường trục chính, khu 1 xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang đối tượng Hoàng Văn A có hành vi tàng trữ trong túi quần của mình 01 gói giấy kẻ ô ly màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng

Trang 37

Hoàng Văn A khai nhận chất bột màu trắng trong gói giấy kẻ ô ly mà cơ quan công an vừa bắt quả tang là ma túy Hêrôin, A vừa mua với bà Ngô Thị T tại phòng trọ thuộc bãi kiểm hóa, khu 1 xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn với giá 100.000đ, mục đích là đem về sử dụng Căn cứ lời khai của Hoàng Văn A, Công an huyện Văn Lãng đã thực hiện khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Ngô Thị T thuộc bãi kiểm hóa, khu

1 xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, thu giữ được 01 túi nion màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng Tại Kết luận giám định số 135/PC54 ngày 27/4/2012 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn: Chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn A và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Thị T đều là

ma túy Hêrôin, trong đó trọng lượng ma túy Hêrôin của Hoàng Văn A là 0,056 gam; trọng lượng ma túy Hêrôin của Ngô Thị T là 2,569 gam

Tại cơ quan điều tra, Ngô Thị T khai nhận bản thân nghiện ma túy, số ma túy Hêrôin thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của mình T mua về để sử dụng dần cho bản thân, T không được bán cho Hoàng Văn A Do không đủ chứng cứ nên tại bản

án số 68/2012/HSST ngày 13/8/2012 của TAND huyện Văn Lãng đã tuyên bố bị cáo Ngô Thị T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 194 BLHS

* Thực tiễn định tội danh đúng

Qua thực tiễn định tội danh của TAND tỉnh Lạng Sơn đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 cho thấy hoạt động định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản đối với tội này nhìn chung được Tòa án các cấp xét xử đúng người, đúng tội danh Các cơ quan tiến hành

tố tụng đã xem xét, đánh giá và ghi nhận sự phù hợp, chính xác các yếu tố trong cấu thành tội phạm (khách thể của tội phạm; mặt khách quan của tội phạm; chủ thể của tội phạm; chủ quan của tội phạm) được quy định tại Điều 194 BLHS với các dấu hiệu trong thực tế, qua đó giúp cho hoạt động định tội danh về cơ bản là chính xác

* Những vi phạm, sai lầm và nguyên nhân

- Một số vụ án Tòa án căn cứ vào công văn 234/TANDTC – HS của TANDTC

để tiến hành giám định hàm lượng chất ma túy khi thu giữ để phục vụ công tác xét xử thì việc định tội danh giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiều điểm thiếu thống nhất trong việc giải quyết vụ án Trong khi Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát căn cứ

Trang 38

vào trọng lượng chất ma túy thực tế đã phát hiện, bắt giữ thì một số Tòa án căn cứ vào hàm lượng chất ma túy sau khi giám định để quy đổi ra trọng lượng chất ma túy và lấy

đó làm căn cứ để định tội danh và quyết định hình phạt trong một số vụ án là chưa chính xác Thực tiễn những vụ án mà TAND tiến hành trả hồ sơ, tạm đình chỉ… theo công văn 234 đã khiến các cơ quan điều tra và Viện kiểm sát e ngại trong việc bắt các đối tượng có hành vi phạm tội về ma túy nếu ở số lượng ma túy ít như “1 tép” hoặc “2 tép” vì rất khó khăn trong việc giám định hàm lượng tại Viện khoa học – Bộ Công an Thực tế đến nay chưa có hướng dẫn thống nhất của liên ngành Trung ương hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc quy đổi hàm lượng thành trọng lượng để xét xử đối với các bị cáo trong các vụ án ma túy

- Một số vụ án chưa đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội , mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra… chưa xem xét đúng mặt khách quan của tội phạm dẫn đến việc định tội danh còn sai sót (Ví dụ: Vụ án H tàng trữ

194,7 gam Methamphetamine, tr 29,30 luận văn)

- Một số vụ án chưa đủ căn cứ chứng minh tội phạm, chưa làm rõ sự thật khách quan, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nên ảnh hưởng đến việc định tội danh

(vụ án T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tr 31,32 luận văn)

Nguyên nhân của những vi phạm, sai lầm:

- Từ các quy định của pháp luật: Hiện tại chưa có hướng dẫn thống nhất của liên ngành Trung ương hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc quy đổi hàm lượng thành trọng lượng để xét xử đối với các bị cáo trong các vụ án ma túy

- Trong một số trường hợp, việc thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra còn chưa đầy đủ, kịp thời, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán còn hạn chế, chưa đáp ứng tốt về yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình hiện nay

- Do sự không thống nhất về các quy định của pháp luật hình sự của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân khiến cho việc định tội danh và quyết định hình phạt ở các vụ án không có sự nhất quán Có những trường hợp phân hóa trách nhiệm hình sự quá nhẹ hoặc quá nặng dẫn đến sự nghi ngờ tính nghiêm minh của các bản án

Trang 39

- Có những trường hợp Tòa án xác định tội danh còn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của những người tiến hành tố tụng

2.1.2.2 Thực tiễn định tội danh theo cấu thành tội phạm tăng nặng

Cấu thành tội phạm tăng nặng của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 194 BLHS Thực tiễn hoạt động định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến năm 2015 cho thấy rằng đối với cấu thành tăng nặng theo khoản 2 Điều 194 là 183 bị cáo, chiếm

tỷ lệ 10,5 %, số các bị cáo định tội danh theo khoản 3 và khoản 4 Điều 194 chiếm tỷ lệ 5,5% (khoản 3 là 59 bị cáo; khoản 4 là 40 bị cáo) trong tổng số 1739 bị cáo phạm tội theo Điều 194 BLHS

a Thực tiễn định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự

Thực tiễn hoạt động định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép

hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo khoản 2 Điều 194 BLHS trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

từ năm 2011 đến năm 2015, số bị cáo bị định tội danh trong các tình tiết định khung tăng nặng chủ yếu là “phạm tội nhiều lần”; “tái phạm nguy hiểm”; “vận chuyển, mua bán qua biên giới” Lạng Sơn là tỉnh biên giới giáp với Trung Quốc, có nhiều chợ cửa khẩu, các đối tượng bị xét xử theo khoản 2 Điều 194 chủ yếu là các đối tượng nghiện,

để có ma túy để sử dụng các đối tượng thường xuyên sang Trung Quốc hoặc tìm ma túy ở các khu vực cửa khẩu để mua ma túy về sử dụng hoặc bán kiếm lời, vận chuyển thuê, và đa số các đối tượng đã bị kết án về tội phạm ma túy, tội xâm phạm sở hữu

* Định tội danh trong trường hợp phạm tội nhiều lần

Định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma túy đối với trường hợp phạm tội nhiều lần được hiểu là sự đánh giá về mặt pháp lý hình sự những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần tàng trữ trái phép chất ma túy, hai lần bán trái phép chất ma túy…) mà mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự

và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Trang 40

Ví dụ: Hồi 17 giờ ngày 08/4/2012 tại địa phận xã Thanh Long, huyện Văn

Lãng, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện Văn Lãng bắt quả tang Trần Văn Đ có hành vi tàng trữ 01 gói giấy bên trong có chứa 0,075 gam ma túy Hêrôin, Đ khai nhận gói ma túy trên Đ vừa mua với Nông Văn B tại nhà ở của B tại thôn Cao Tiến, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Công an huyện Văn Lãng đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Văn B và thu giữ được 15 gói giấy bên trong tổng cộng 1,387 gam ma túy Hêrôin cùng một cây kéo; 01 quyển vở kẻ ô ly Tại cơ quan điều tra Nông Văn B khai nhận số ma túy mà cơ quan Công an huyện Văn Lãng thu giữ khi khám xét khẩn cấp là của mình, ngày 02/4/2012 một mình B đi xe máy từ nhà đến ngõ chợ Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma túy, tại đây B gặp và mua ma túy với một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, không rõ họ tên, địa chỉ với giá 3 triệu đồng Sau khi mua ma túy, B đem về nhà chia số ma túy thành nhiều gói nhỏ để

sử dụng cho bản thân đồng thời bán cho các con nghiện để kiếm lời, cụ thể:

- Ngày 04/4/2012 Nông Văn B được bán cho Hoàng Ngọc T nhà ở thôn Cao Tiến, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng 01 gói ma túy với giá 100.000đ/ 01gói

- Ngày 06/4/2012 đến ngày 08/4/2012 Nông Văn B đã bán cho Nông Hoàng C nhà ở Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng 02 gói ma túy với giá 100.000đ/ 01 gói

- Ngày 08/4/2012 Nông Văn B đã bán cho Trần Văn Đ nhà ở xã Thanh Long, huyện Văn Lãng 01 gói ma túy với giá 100.000đ/ 01 gói

Tại bản án số 85/2012/HSST ngày 18/10/2012 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng đã tuyên bố bị cáo Nông Văn B phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 194 BLHS

* Định tội danh trong trường hợp vận chuyển, mua bán qua biên giới

Thực tiễn định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn cho thấy, vì là tỉnh miền núi có biên giới giáp với Trung Quốc nên các hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới diễn ra khá nhiều Qua khảo sát các bản án cho thấy các cơ quan điều tra đã xác định rõ chính xác địa điểm, sơ đồ cũng như vị trí các đối tượng đã thực hiện hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới để làm căn cứ xác định tình tiết định khung chính xác

Ngày đăng: 26/05/2017, 16:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao và Bộ Tư pháp (2007), Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLN ngày 24/12/2007 quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLN ngày 24/12/2007 quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao và Bộ Tư pháp
Năm: 2007
3. Chính phủ (2013), Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 quy định về việc Ban hành danh mục chất ma túy và tiền chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 quy định về việc Ban hành danh mục chất ma túy và tiền chất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
4. Chính phủ (2009), Nghị định số 45/2009/NĐ-CP ngày 13/5/2009 quy định về việc hướng dẫn nhập khẩu mẫu, lấy mẫu, quản lí, sử dụng mẫu các chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần về mục đích quốc phòng, an ninh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 45/2009/NĐ-CP ngày 13/5/2009 quy định về việc hướng dẫn nhập khẩu mẫu, lấy mẫu, quản lí, sử dụng mẫu các chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần về mục đích quốc phòng, an ninh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
6. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
7. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
8. Đảng cộng sản Việt Nam (2008), Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2008
9. Nguyễn Thanh Hải (2016), Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hà Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Hải
Năm: 2016
10. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2007
11. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2014), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 1), NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2014
12. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2014), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 2), NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 2)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2014
14. Trần Mạnh Hà (2013), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy
Tác giả: Trần Mạnh Hà
Năm: 2013
15. Cầm Hồng Hà (2014), Tội mua bán trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội mua bán trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Cầm Hồng Hà
Năm: 2014
16. Nguyễn Quang Hóa (2015), Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Quang Hóa
Năm: 2015
17. Trần Văn Luyện (1999), Phát hiện và điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển mua bán trái phép chất ma túy của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Luận văn tiến sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện và điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển mua bán trái phép chất ma túy của lực lượng Cảnh sát nhân dân
Tác giả: Trần Văn Luyện
Năm: 1999
18. Nguyễn Quang Lộc (Chủ biên) (2002), Những giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ án về ma túy – Cơ sở lý luận và thực tiễn, Tòa án nhân dân Tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ án về ma túy – Cơ sở lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Quang Lộc (Chủ biên)
Năm: 2002
19. Liên hợp quốc (1961), Công ước thống nhất về các chất ma túy (đã sửa đổi theo Nghị định thư 1972 sửa đổi Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961), New York (Mỹ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước thống nhất về các chất ma túy (đã sửa đổi theo Nghị định thư 1972 sửa đổi Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961)
Tác giả: Liên hợp quốc
Năm: 1961

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Diễn biến tình hình tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm  đoạt chất ma túy so với tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (2011 - Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh lạng sơn
Bảng 2.1 Diễn biến tình hình tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy so với tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (2011 (Trang 31)
Bảng 2.2 Thống kê số bị cáo bị xét xử theo các khoản khác nhau theo Điều 194 BLHS - Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh lạng sơn
Bảng 2.2 Thống kê số bị cáo bị xét xử theo các khoản khác nhau theo Điều 194 BLHS (Trang 32)
Bảng 2.3. Cơ cấu xét theo mức hình phạt áp dụng đối với tội tàng trữ, vận chuyển,  mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tình Lạng Sơn (2011 – - Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh lạng sơn
Bảng 2.3. Cơ cấu xét theo mức hình phạt áp dụng đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tình Lạng Sơn (2011 – (Trang 56)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w