Do vậy, phát huy vai trò chủ thể của phụ nữ là một vấn đề cấp bách và mang tính thực tiễn cao để huy động tối đa các nguồn lực về con người cho phát triển kinh tế xã hội Các nghiên cứu c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ MẠNH LỢI
Phản biện 1: GS.TS Hoàng Bá Thịnh
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Đức Chiện
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội
Vào hồi 14 giờ 00 ngày 14 tháng 04 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ nông thôn là một cộng đồng người phong phú, đa dạng gồm những dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình độ học vấn khác nhau và sinh sống ở những vùng nông thôn khác nhau Theo thống
kê, lao động nữ nông thôn chiếm 60,0% lực lượng lao động và họ, hiện đang sản xuất ra hơn 60% sản phẩm nông nghiệp Phụ nữ nông thôn Việt Nam là một trong hai chủ thể kinh tế quan trọng nhất mang lại thu nhập cho các hộ gia đình Do vậy, phát huy vai trò chủ thể của phụ nữ là một vấn đề cấp bách và mang tính thực tiễn cao để huy động tối đa các nguồn lực về con người cho phát triển kinh tế xã hội
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, cần tiếp tục có các chính sách hướng đến nâng cao nhận thức của cộng đồng, các cơ quan hoạch định chính sách trong nhìn nhận, đánh giá đầy đủ những đóng góp của phụ nữ ở nông thôn trong phát triển kinh tế và tham gia xã hội Bên cạnh đó là các giải pháp nhằm thu hẹp bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực, tiến bộ khoa học, công nghệ, thị trường lao động ở nông thôn; giải pháp về phát huy vốn xã hội cho phụ nữ thông, pháp về tuyên truyền, nâng cao năng lực cho phụ nữ trong phát huy vai trò phát triển kinh tế và tham gia xã hội
Trang 4Vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại Nghệ An” nhằm vào việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu về mặt thực tiễn, từ đó đề xuất một vài giải pháp
để nâng caao vai trò vị thế của phụ nữ nông thôn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
a) Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông thôn trong sản xuất, các nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng về việc tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn nói chung và các vùng miền nói riêng Ngoài ra, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những thuận lợi, khó khăn của phụ nữ nông thôn trong việc thực hiện vai trò sản xuất, đặc biệt là những khó khăn trong tiếp cận các nguồn lực
Một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của phụ nữ nông thôn trong sản xuất và công việc nội trợ Phụ nữ đã thực hiện nhiều hoạt động sản xuất và đã đóng góp đáng kể đến thu nhập gia đình Họ không chỉ tham gia vào công việc sản xuất mà còn cả làm các công việc nội trợ Vì vậy, vai trò nhân đôi của họ rất nặng nhọc (Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Lân, 1996)
Một số nghiên cứu đã tập trung đánh giá vai trò của phụ nữ trong thực hiện các công việc nhà nông, cũng như những đóng góp của họ trong kinh tế - xã hội ở địa phương (Nguyễn Thị Lân, 2006;
Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân 1996; Đỗ Thị Bình 1999, Lưu Song Hà
và cộng sự, 2013; Nguyễn Sinh, 2004)
Các tác giả cũng đánh giá rằng, các ngành nghề kinh tế phi nông ở nông thôn tạo ra các cơ hội tăng thu nhập cho phụ nữ hơn là các ngành nông nghiệp (Lê Thi, 1998; Nguyễn Thị Bích Thủy, Đào
Trang 5Ngọc Nga, Annalise Moser và April Phạm, 2009), (Lê Thi, 1998; Nguyễn Thị Bích Thủy, Đào Ngọc Nga, Annalise Moser và April Phạm, 2009)
Phụ nữ cũng gặp phải những khó khăn, trở ngại trong công việc sản xuất kinh doanh cụ thể cũng như trong sự phát triển các ngành nghề ở khu vực nông thôn (Lê Thị Nhâm Tuyết, 2006)
Bên cạnh các nghiên cứu đề cập đến cơ hội tiếp cận các nguồn lực của phụ nữ nông thôn, một số nghiên cứu khác quan tâm đến cơ hội việc làm, chế độ đãi ngộ và mức lương, khả năng được đào tạo về kỹ thuật và văn hóa đối với phụ nữ nông thôn (Nguyễn Thị Bích Thủy, Đào Ngọc Nga, Annalise Moser và April Phạm, 2009); Đoàn Thị Bình Minh, 1997: Phạm Đỗ Nhật Thắng, 1997)
Sự khác biệt về giới trong giáo dục đã làm cho nam nông dân thu nhận được kiến thức tốt hơn so với nữ nông dân về phòng trừ sâu bệnh hại (Chi và CTV, 1999) Điều này sẽ ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp của phụ nữ nông thôn
Có thể nói rằng, trong một thời gian dài, các nhà nghiên cứu rất quan tâm đến vai trò của phụ nữ trong sản xuất ở nông thôn
cả trong sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp với những nhóm phụ nữ khác nhau và các vùng miền khác nhau Chính vì vậy, luận
văn khi đi sâu vào nghiên cứu “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại Nghệ An” sẽ cố gắng đề cập đến một vài khía
cạnh mới trong trong một chủ đề mà đã có rất nhiều những nghiên cứu đã tiến hành, đây cũng được xem như một phát hiện và đóng góp mới của đề tài
b) Nghiên cứu ngoài nước
Trang 6Vai trò của nữ giới trong lĩnh vực nông nghiệp và thị trường lao động ở nông thôn
Theo số liệu điều tra trong 30 năm (1980-2010) của FAOSTAT, trong lĩnh vực nông nghiệp nữ giới chiếm 43% lực lượng lao động ở các nước đang phát triển, và dao động từ 20% ở các quốc gia châu Mỹ đến gần 50% ở khu vực Đông và Đông Nam Á
và Châu Phi
Đối với thị trường lao động ở nông thôn, ở hầu hết các nước đang phát triển, số lượng nữ giới được tuyển dụng tương đương thậm chí nhiều hơn nam giới, ngoại trừ ở các nước Mỹ Latin
Sự chênh lệch về giới trong sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với nữ giới, tuy nhiên khả năng tiếp cận các nguồn lực và dịch vụ sản xuất
của nữ giới như đất đai, chăn nuôi, nguồn nhân lực, dịch vụ khuyến nông, dịch vụ tài chính và các công nghệ tiên tiến bị hạn chế hơn so
với nam giới
Các lợi ích và giải pháp nâng cao vai trò của nữ giới trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn
Nâng cao vai trò của nữ giới bằng cách phát huy bình đẳng giới, thu hẹp sự chênh lệch về giới trong các lĩnh vực nông nghiệp ở nông thôn Thu hẹp sự chênh lệch về giới mang lại các lợi ích khác nhau về sản xuất và các lợi ích về kinh tế, xã hội Về sản xuất, nhiều nghiên cứu đã giả thiết rằng nữ giới làm việc hiệu quả tương đương như nam giới Kết quả cho thấy năng suất mà nam giới tạo ra lớn hơn 20-30% so với nữ giới, đó là do sự khác biệt các yếu tố đầu vào Thu hẹp sự chênh lệch giới bằng cách giả sử năng suất mà nữ giới tạo ra bằng với nam giới sẽ dẫn đến sự gia tăng sản lượng đầu ra nông
Trang 7nghiệp cho các nước đang phát triển lên đến 2,5-4% Hơn nữa, các bằng chứng từ châu Phi, châu Á và Mỹ Latin cho thấy, gia đình được hưởng lợi khi nữ giới có địa vị và quyền lực trong các hộ gia đình
Có thể thấy, các nghiên cứu, báo cáo đánh giá ngoài nước
đã đề cập thực trạng vài trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, vị thế của họ trong thị trường lao động cũng như khả năng tiếp cận các nguồn lực cho phát triển kinh tế còn hạn chế cho thấy những chênh lệch rõ nét về giới trong nông nghiệp
Các kết quả nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu sẽ giúp gợi ý cho đề tài tập trung vào những vẫn đề mang tính cốt lõi, phổ quát mà tất cả các quốc gia đang phát triển (đặc biệt là các quốc gia có điều kiện tương tự Việt Nam) gặp phải trong chính sách phát huy vai trò của phụ nữ ở nông thôn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu xã hội học bao gồm phương pháp định tính và định lượng, kết hợp với việc phân tích tài liệu có sẵn
- Khai thác các khía cạnh về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh
tế hộ gia đình trong bộ số liệu thuộc đề tài “Nghiên cứu phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới” để có được các kết quả nghiên cứu có tính mới
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phụ nữ trong độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn
Đây là một nghiên cứu thực hiện theo cách tiếp cận toàn diện
và hệ thông và tiếp cận liên ngành giữa kinh tế, xã hội và giới
a) Tiếp cận toàn diện và hệ thống
b) Tiếp cận liên ngành khoa học xã hội
c) Tiếp cận giới
5.2 Phương pháp nghiên cứu
a) Nghiên cứu tài liệu thứ cấp
b) Phương pháp phân tích thống kê
c) Nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, nghiên cứu các biên bản
gỡ băng tại Nghệ An
d) Nghiên cứu định lượng
Sử dụng bộ số liệu của Nghệ An với 101 bảng hỏi định lượng
được thu thập và xử lý thông tin
e) Xử lý số liệu: số liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS
5.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu bao gồm: (1) Phụ nữ nông thôn có
vai trò, đóng góp như thế nào trong hoạt động sản xuất, phát triển
Trang 9kinh tế hiện nay? (2) Lực lượng lao động nào đang giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình tại Nghệ An?
5.3.2 Giả thiết nghiên cứu
- Phụ nữ đang đóng vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế gia đình trên mọi lĩnh vực
- Phụ nữ hiện đang đóng góp tích cực vào thay đổi cơ cấu lao động của địa phương
5.3.3 Khung phân tích
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Góp phần xây dựng chủ trương, chính sách phát huy vai trò của phụ nữ trong sản xuất và tham gia xã hội
Góp phần nâng cao nhận thức xã hội về vai trò, đóng góp của phụ nữ và các khía cạnh liên quan đến giới, bình đẳng giới
Kết quả nghiên cứu và các khuyến nghị sẽ hướng đến thay đổi nhận thức của xã hội trong đánh giá vai trò của phụ nữ ở xã hội nông thôn - vốn bị xem nhẹ và ứng xử bất bình đẳng so với nam giới
Nghiên cứu nhằm khẳng định them quan điểm nữ hóa nông nghiệp ở Việt Nam ngày càng rõ rệt
7 Kết cấu của luận án
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương
* *
*
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm làm việc
Vai trò, vai trò của phụ nữ: Người ta hiểu vai trò là một “tập hợp
những kỳ vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi của những người mang các địa vị ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tổ hợp hay nhóm các kỳ vọng hành viˮ (Endruweit.Gunter,
Trommsdorff.Gisela, Nhóm dịch thuật: Ngụy Hữu Tâm, and Nguyễn Hoài Bão 2002: 536) 536) Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình được hiểu là những hoạt động, những đóng góp của phụ nữ với tư cách là cá nhân trong quá trình phát triển kinh tế của gia đình
1.2 Quan điểm lý thuyết giải quyết vấn đề
Lý thuyết vai trò: Áp dụng lý thuyết này vào trong nghiên cứu
trường hợp tại Nghệ An sẽ cho ta thấy rõ tại sao phụ nữ ngày càng phải đảm nhận nhiều vai trò trọng trách trong xã hội nông thôn, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp Xu hướng nữ hóa nông nghiệp là không tránh khỏi khi mà nam giới ngày càng có xu hướng rời bỏ làng quê lên các đô thị lớn làm việc Phụ nữ trung niên và người già
bị bỏ lại nông thôn vì vai trò của họ mặc nhiên bị gắn với trách nhiệm gia đình, con cái, ruộng vườn
1.3 Phương pháp thực hiện
Trên cơ sở kế thừa các kết quả đã được công bố của đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới”, tác giả sử dụng riêng bộ số liệu của tỉnh Nghệ
An để phân tích làm rõ vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
Trang 11gia đình tại Nghệ An Các kết quả đưa ra trong luận văn là của riêng tác giả không trùng lặp với các kết quả đã đưa ra của đề tài
1.4 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
1.4.1 Tỉnh Nghệ An
Nghệ An nằm ở Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông
- Tây nối liền Myanmar - Thái Lan - Lào - Việt Nam theo Quốc lộ 7 đến cảng Cửa Lò Nghệ An có 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện Nghệ An có diện tích tự nhiên 1.648.997,1 ha, là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước, địa hình phong phú, đa dạng, có biển, đồng bằng, trung
du và miền núi Trong đó: Đất nông nghiệp 1.249.176,1 ha (đất sản xuất nông nghiệp: 276.047,1 ha, đất lâm nghiệp có rừng 963.691 ha, đất nuôi trồng thủy sản 7.984,1 ha, đất làm muối 837,8 ha, đất nông nghiệp khác 616,1 ha), Đất phi nông nghiệp 129.171,6 ha, Đất chưa sửa dụng: 270.649,4 ha
1.4.2 Huyện Diễn Châu
Diễn Châu là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, toàn huyện có 38 xã và 1 thị trấn, trong đó có 1 xã miền núi (Diễn Lâm), 4 xã vùng bán sơn địa (Diễn Phú, Diễn Lợi, Diễn Thắng và Diễn Đoài), 8 xã vùng biển (Diễn Trung, Diễn Thịnh, Diễn Thành, Diễn Ngọc, Diễn Bích, Diễn Kim, Diễn Hải và Diễn Hùng), số còn lại là các xã vùng lúa và vùng màu
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng tăng Huyện đã xây dựng được Cụm công nghiệp Diễn Hồng, Cụm công nghiệp Tháp - Hồng - Kỷ
Trang 121.5 Đặc điểm nhân khẩu của nhóm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 101 phụ nữ tại xã Diễn Hồng huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An, trong đó có 18 phụ nữ là chủ
hộ gia đình, 83 người không phải là chủ hộ nhưng là vợ/phụ nữ làm kinh tế chính ở trong hộ gia đình
Độ tuổi của phụ nữ được hỏi thấp nhất là 24 tuổi và cao nhất
là 64 tuổi, độ tuổi trung bình là
Trình độ học vấn của người được hỏi là khá tốt, đa số đều có trình độ cấp 2 (58 người) và trình độ cấp 3 (26 người), trình độ cao đẳng đại học là 9 người
Thành phần dân tộc thì 101 người được hỏi đều là người kinh, không có người dân tộc thiểu số
Hoàn cảnh gia đình của những người được hỏi thì có 6 người thuộc diện hộ nghèo có sổ, 6 người hộ nghèo nhưng không có sổ, còn lại 89 hộ không thuộc diện hộ nghèo là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 2 nhóm lĩnh vực chính mà phụ nữ tại địa bàn nghiên cứu đang tham gia vào nhiều nhất là nông nghiệp và buôn bán, dịch vụ Do đó các kết quả nghiên cứu tác giả chỉ tập trung vào phân tích làm nổi bật vai trò vị thế của phụ nữ, đóng góp của họ trong 2 lĩnh vực ngành nghề nói trên
* *
*
Trang 13CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 2.1 Đóng góp của phụ nữ trong hoạt động nông nghiệp của gia đình
2.1.1 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động trồng trọt
Tại địa bàn nghiên cứu, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có nhiều hoạt động sinh kế khác nhau như trồng trọt, chăn nuôi
a Quyền quyết định trong hoạt động trồng trọt của nam giới và nữ giới trong gia đình
Vai trò của phụ nữ trong hoạt động trồng trọt của các hộ gia đình, nghiên cứu chủ yếu dựa vào hai khía cạnh thể hiện sự tham gia
và đóng góp trực tiếp của phụ nữ đối với sản xuất nông nghiệp của
hộ gia đình Cụ thể quyền quyết định các hoạt động và trực tiếp thực hiện các hoạt động trồng trọt của hộ gia đình
Kết quả khảo sát 52 hộ gia đình có hoạt động mua công cụ sản xuất số lượng hộ gia đình do phụ nữ quyết định mua công cụ sản xuất là cao nhất 50% so với số hộ gia đình do nam giới 23,1% hoặc
số hộ gia đình do nam và nữ cùng quyết định 17,3
Về hoạt động mua vật tư nông nghiệp kết quả khảo sát 80 hộ gia đình, có 65% hộ gia đình do phụ nữ là người quyết định mua vật
tư nông nghiệp; 12,5% hộ gia đình do nam giới quyết định và 22,5%
hộ gia đình do cả nam và nữ cùng quyết định
Về hoạt động thuê phương tiện, lao động, kết quả khảo sát 81
hộ gia đình có 65,4% hộ gia đình do phụ nữ là người quyết định thuê phương tiện, lao động; 9,9% hộ gia đình do nam giới quyết định và 24,7% hộ gia đình do cả nam và nữ cùng quyết định