Vì vậy để có một cái nhìn tổng quan về vai trò của hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án, cũng như mong muốn tìm ra một số nguyên nhân, hạn chế trong hoạt động của hội thẩm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG TRÍ LÝ
CHẾ ĐỊNH HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG
(TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS TS ĐỖ NGỌC QUANG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7
1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân và vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân 7
1.1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự 7
1.1.2 Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân 12
1.2 Quá trình hình thành và phát triển quy định về Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân 17
1.2.1 Giai đoạn 1945 đến 1975 17
1.2.2 Giai đoạn 1976 đến 1988 21
1.2.3 Giai đoạn 1989 đến nay 23
1.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hội thẩm nhân dân 24
1.3.1 Trách nhiệm, quyền hạn và tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Hội thẩm nhân dân 24
1.3.2 Những nguyên tắc tố tụng hình sự điều chỉnh hoạt động của hội thẩm nhân dân 41
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT 55
2.1 Thực tiễn thực thi pháp luật tố tụng hình sự về Hội thẩm nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 55
2.1.1 Một số nội dung về địa chính trị, kinh tế tỉnh Đắk Lắk 55
2.1.2 Tình hình thành phần của Hội thẩm nhân dân trên địa bản tỉnh Đắk Lắk từ năm 2006 đến 2015 57
Trang 42.1.3 Kết quả đạt được và những tồn tại của Hội thẩm nhân dân trong
hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Đắk Lắk 65
2.1.4 Những nguyên nhân làm phát sinh những tồn tại, hạn chế của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Đắk Lắk 70
2.2 Các kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân 75
2.2.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về Hội thẩm nhân dân 75
2.2.2 Kiến nghị, đề xuất về lựa chọn bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân 81
2.2.3 Kiến nghị, đề xuất nâng cao trình độ, năng lực Hội thẩm nhân dân 84
2.2.4 Những kiến nghị, đề xuất khác 85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 94
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để quá trình xét xử vụ án được công bằng, đúng người, đúng tội, nhân dân được thể hiện ý kiến của mình trong quá trình xét xử, thì một trong những nguyên tắc là phiên tòa cấp sơ thẩm đều phải có sự tham gia của hội thẩm nhân dân Tại các phiên tòa sơ thẩm, số lượng Hội thẩm nhân dân đều nhiều hơn số lượng Thẩm phán, khi quyết định bản án đều bỏ phiếu và quyết định theo đa số, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán trong quá trình xét xử Qua đó, chúng ta thấy được vai trò của hội thẩm nhân dân khi xét hỏi tại phiên tòa, cũng như quá trình nghị án là hết sức quan trọng Vấn đề này đã được quy định rất chặt chẽ trong Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam
bên cạnh những ưu điểm còn có một số tồn tại, khuyết điểm nhất định Vì vậy để
có một cái nhìn tổng quan về vai trò của hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án, cũng như mong muốn tìm ra một số nguyên nhân, hạn chế trong hoạt động của hội thẩm nhân dân hiện nay, để đưa ra những giải pháp, kiến nghị đối với cấp trên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm trong hoạt đồng xét
xử của Toà án, học viên quyết định chọn đề tài: “Hội thẩm nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiển trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu:
đã có rất nhiều những bài viết, những công trình nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề có liên quan đến Hội thẩm nhân dân như: Khóa luận tốt nghiệp: "Khi xét xử thẩm phán, hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật", của Hàn Mạnh Thắng, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997; Luận văn "Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự", của Trần Thị Nhung San, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1995; "Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật", của Trần Văn Kiểm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 1(186), 2011; "Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của tòa án", của Đỗ Thị Phương, Đề tài nghiên cứu khoa học, Viện Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao; cùng nhiều những bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành khác
Trên cơ sở tiếp thu, tổng hợp những đề tài, bài viết trước, cùng với sự tìm tòi, và quá trình nghiên cứu của mình, tác giả đi vào phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của tòa án đối với các vụ án hình sự, để thấy rằng, việc áp dụng chế định này thực tế vẫn còn nhiều bất cập và đưa ra những giải pháp thích hợp để được thực thi có hiệu quả hơn Đề tài lựa chọn của tác giả cũng nhằm mục đích khẳng định đường lối chủ trương của Đảng trong cải cách tư pháp là đúng đắn, kịp thời và nên được thống nhất thực hiện
3 Đối tượng và mục đích của đề tài:
Trang 6Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của đề tài là chế định Hội thẩm nhân dân trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu, luận văn nêu lên những vấn đề lý luận về chế định hội thẩm nhân dân, có sự so sánh về cơ sở pháp lý qua các thời kỳ, quan điểm chỉ đạo của Đảng ta hiện nay và việc áp dụng chế định này trong thời gian tới tại Việt Nam Những khó khăn và thuận lợi tác động tới việc áp dụng, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện, góp phần vào quá trình nghiên cứu, cũng như áp trên thực tế
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm định hướng của Đảng về vai trò của Hội thẩm nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Toà án
Trong quá trình thực hiện, tác giả luận văn sử dụng đồng bộ và tổng hợp các phương pháp nghiên cứu gồm: Phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo phương phát luận triết học của Mác-Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu: phân tích, tổng hợp, so sánh, logic biện chứng, hệ thống
5 Phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu nội dung chế định hội thẩm nhân dân trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam, luận văn đi sâu vào nghiên cứu chế định này trên phương diện lập pháp và việc áp dụng chế định này trong thực tiển xét xử, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện, góp phần đảm bảo vai trò, vị trí tham gia xét xử của hội thẩm nhân dân với tư cách là người đại diện cho tiếng nói của xã hội, của nhân dân vào trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự tại Toà án
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
Ý nghĩa về mặt lý luận của luận văn là ở chỗ tác giả làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong luật tố tụng hình sự Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến nay, từ đó rút ra một số nhận xét, đánh giá
Ý nghĩa về mặt thực tiễn là trên cơ sở phân tích quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về chế định hội thẩm nhân nhân, qua đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản Trên cơ sở này, đề xuất hoàn thiện và các giải pháp bảo đảm thực hiện
Ngoài ra, luận văn còn làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết cho các nhà khoa học, cán bộ thực tiễn, các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh, cũng như phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn của Toà án Từ đó nhằm nâng cao vai trò của hội thẩm nhân dân trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục người phạm tội
7 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về Hội thẩm nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn thực thi pháp luật về Hội thẩm nhaand ân trong hoạt động xét xử vụ án hình sự tại tỉnh Đăk Lắk và những kiến nghị đề xuất
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân và vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
1.1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt, “Hội thẩm nhân dân” được hiểu là “người do Hội
đồng nhân dân bầu ra trong một thời gian nhất định cùng với Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử các vụ án xảy ra ở địa phương” Qua nội dung khái niệm trên có
thể thấy, Hội thẩm nhân dân là người được Hội đồng nhân dân bầu theo nhiệm kỳ
để thực hiện nhiệm vụ của họ cùng với Thẩm phán xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “Hội thẩm nhân dân” xuất phát từ thuật ngữ “Hội thẩm” Theo khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH 11, ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm
Toà án nhân dân) được định nghĩa, “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo
quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án” Từ khái niệm trên được hiểu, ở nước ta, Hội thẩm Toà án nhân dân gồm
có:
- Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Hội thẩm nhân dân);
- Hội thẩm quân nhân tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quan sự quân khu và tương đương, Hội thẩm quân nhân tham gia xét
xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự khu vực (gọi chung là Hội thẩm quan nhân)
Điều 3, Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định: “Chế độ bầu
Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với các Toà án nhân dân địa phương Chế
độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với các Toà án quân sự quân khu
và tương đương, các Toà án quân sự khu vực”
Với quy định trên, “Hội thẩm nhân dân”, thuộc hệ thống Toà án nhân dân được hiểu là người được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân; “Hội thẩm quân nhân” được hiểu là người được cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những
vụ án thuộc thẩm quyền xét của Toà án quân sự Như vậy, có thể thấy Hội thẩm nhân dân và Hội thẩm quân nhân cùng tham gia các hoạt động xét xử có sự khác nhau về chế độ bầu và cử Tham gia hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân là các Hội thẩm được nhân dân tín nhiệm được bầu lên, còn tham gia hoạt động xét xử tại Toà án quân sự là các hội thẩm được đề cử
Như vậy, thuật ngữ “Hội thẩm” theo Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa
Trang 8án nhân dân bao gồm “Hội thẩm nhân dân” và “Hội thẩm quân nhân” Trong phạm
vi luật văn của mình, tác giả chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Hội thẩm tham gia xét xử tại Toà án nhân dân trong Luật tố tụng Hình sự Việt Nam
Theo Quy chế về Tổ chức và Hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân, thì Hội thẩm Tòa án nhân dân được gọi chung là Hội thẩm, và được định nghĩa là
"Hội thẩm là người được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án
Khi đối chiếu với thuật ngữ "Hội thẩm Tòa án nhân dân" trong pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân và thuật ngữ "Hội thẩm" được sử dụng trong Quy chế về Tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân, thì hai thuật ngữ này nói chung đều đề cập đến "Hội thẩm nhân dân" là người được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, thuật ngữ "Hội thẩm Tòa án nhân dân" theo Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân, bao gồm cả
"Hội thẩm nhân dân" và "Hội thẩm quân nhân", do đó, theo quan điểm của tác giả, việc sử dụng thuật ngữ "Hội thẩm Tòa án nhân dân" hay "Hội thẩm" trong Quy chế để nói đến những người được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm
vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án là chưa chính xác, không đúng theo quy định của Pháp lệnh Do đó, để đảm bảo tính khoa học pháp lý của việc sử dụng thuật ngữ cũng như đảm bảo tính phù hợp của văn bản (Quy chế là văn bản dưới luật, có giá trị pháp lý thấp hơn Pháp lệnh và được ban hành để cụ thể hóa Pháp lệnh, nên không thể trái với quy định của Pháp lệnh, theo tác giả, thuật ngữ “Hội thẩm Toà án nhân dân” hay “Hội thẩm” sử dụng trong Quy chế cần phải được hiểu và nên sửa lại là “Hội thẩm nhân dân” và được định nghĩa “Hội thẩm nhân dân” là người được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án Khái niệm này không nêu chủ thể bầu ra Hội thẩm nhân dân là ai mà chỉ đề cập Hội thẩm nhân dân được bầu theo quy định của pháp luật và làm nhiệm vụ của họ là xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án
Từ các phân tích trên có thể thấy, khái niệm Hội thẩm nhân dân trong Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm, Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội thẩm nhân dân chặt chẽ hơn so với khái niệm trong Từ điển Tiếng Việt Nghĩa là trong Pháp lệnh
và Quy chế có ghi nhận thêm là “Hội thẩm nhân dân là người được bầu theo quy định của pháp luật, do đó tác giả đồng tình với khái niệm Hội thẩm nhân dân theo Pháp lệnh và quy chế: Hội thẩm nhân dân là người được bầu theo quy định của
pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án Vì vậy trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, thì Hội thẩm nhân dân là người được
bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân
1.1.2 Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân
Xét ở khía cạnh xã hội và khía cạnh lập pháp trong Nhà nước pháp quyền, chúng ta cần lưu ý đến hai khía cạnh khá quan trọng trong các lý thuyết cũng như
Trang 9thực tiễn pháp lý Đó là, tính “trễ” của các quy phạm pháp luật so với thực tiễn Nghĩa là, các quy phạm pháp luật chỉ được xây dựng trên cơ sở các vấn đề đã có trên thực tiễn một hoặc nhiều lần hay bằng cách dự liệu nó sẽ xảy ra trên thực tiễn Thứ hai, ngoài các quy phạm pháp luật thực định pháp luật còn chứa đựng trong
đó một giá trị lớn hơn đó là tinh thần pháp luật Tinh thần pháp luật có thể hiểu một cách đơn giản là cái đích mà pháp luật mong muốn hướng đến Từ các khía cạnh trên, có thể thấy rằng việc quy định về hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét
xử là hoàn toàn có cơ sở và không trái với các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền
Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước đều chịu sự giám sát cua nhân dân, do đó Toà án cũng không ngoại lệ Chế định Hội thẩm nhân dân có vai trò quan trọng trong tổ chức Tòa án nhân dân nước ta, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong việc quản lý Nhà nước Bản thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng "lấy dân làm gốc", bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án Vì rằng, Tòa án là
cơ quan quyền lực nhà nước, Nhà nước thông qua Tòa án để thực hiện quyền lực
tư pháp của mình Tòa án nhân dân thực hiện chức năng bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án giáo dục công dân trung thành với
Tổ quốc, tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhân dân Hội thẩm nhân dân bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử
mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng
Như vậy có thể thấy vai trò của Hội thẩm nhân dân đầy trọng trách không chỉ có tính đại diện mà còn thực thi quyền lực tư pháp của nhân dân bằng việc tham gia hoạt động xét xử của Tòa án Tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và Điều
4 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân đã quy định rõ: “Việc xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”
Tư pháp với ý nghĩa chung nhất là ý tưởng về một nền công lý, đòi hỏi hoạt động của Tòa án nhằm giải quyết mọi tranh chấp, xử lý mọi hành vi trái pháp luật xảy ra trong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng và bảo đảm trật
tự kỷ cương theo thể chế Nhà nước Hiến pháp và pháp luật quy định Những người tiến hành tố tụng phải tuân thủ pháp luật và không trái với ý chí của nhân dân Mọi quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước phải tuân thủ pháp luật và hiển nhiên là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Pháp luật nước ta đã quy định chế định Hội thẩm để nhân dân có thể trực tiếp tham gia hoạt động xét xử của Tòa án, đồng thời thông qua Hội thẩm nhân dân để kiểm tra hoạt động đó Theo
Trang 10quy định của pháp luật, Hội thẩm tham gia trực tiếp trong việc đưa ra phán quyết của Tòa án, cùng với Thẩm phán ra những bản án và quyết định đúng pháp luật, hợp lý hợp tình Trong Hội nghị học tập của ngành cán bộ tư pháp năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch Như thế cũng chưa đủ Không thể chỉ giới hạn hoạt động của mình trong khung Tòa án Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân " Muốn đưa ra phán quyết đúng, giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật, hợp với lẽ công bằng, xử phạt đúng người, đúng tội, được quần chúng nhân dân ủng hộ, hiển nhiên đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có đạo đứng trong sáng, có bản lĩnh, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng Ngoài ra, để Hội đồng xét xử có phán quyết đúng đắn, đòi hỏi họ cũng phải có kiến thức và vốn hiểu biết cuộc sống, có kinh nghiệm hoạt động xã hội Vì thế quy định của pháp luật có sự tham gia của Hội thẩm trong Hội đồng xét xử là sự bổ sung cần thiết trong những lĩnh vực đó Hơn nữa, Hội thẩm là đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp
và do Mặt trận tổ quốc các cấp giới thiệu cho Hội đồng nhân dân địa phương Do vậy là những người sống, làm việc sát các cơ sở sản xuất, đơn vị, cơ quan, cụm dân cư; có kinh nghiệm hoạt động xã hội, vốn hiểu biết đời sống thực tế, mối quan
hệ chặt chẽ với quần chúng nên có điều kiện hiểu đúng tình hình, đặc điểm hoàn cảnh của người phạm tội, hiểu rõ nguyên nhân và hậu quả do vụ án gây ra, từ đó giúp Tòa án giải quyết vụ án được đúng đắn Hội thẩm tham gia công tác xét xử của Tòa án là trực tiếp cung cấp cho Tòa án những kinh nghiệm sống thực tế, khắc phục bệnh nghề nghiệp của các Thẩm phán chuyên nghiệp trong khi xử án Giúp cho việc xét xử của Tòa án được chính xác, khách quan, phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của quần chúng
Tòa án liên hệ với quần chúng nhân dân ở các đơn vị, cơ quan, cụm dân cư thông qua hoạt động của Hội thẩm Hội thẩm phản ánh cho Tòa án những ý kiến của quần chúng đối với công tác của Tòa án nói chung và công việc xét xét xử nói riêng, giúp cho quần chúng nhân dân hiểu rõ việc xét xử của Tòa án để giáo dục quần chúng Như vậy, không chỉ nâng cao tình thần tự giác tôn trọng, chấp hành
và bảo vệ pháp luật, mà còn thực hiện được sự giám sát của quần chúng đối với việc xét xử của Tòa án Do đó việc thực hiện chế định Hội thẩm nhân dân còn có vai trò tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Tòa án với đông đảo quần chúng nhân dân
Kinh nghiệm thực tế cho thấy những người được cử hoặc được bầu làm Hội thẩm là những người có uy tín trong xã hội, được quần chúng tín nhiệm và có một ảnh hưởng nhất định trong xã hội, họ thường là những người có lối sống gương mẫu, có phẩm chất tốt, là tấm gương trong lao động, công tác, được nhân dân tin cậy vào sự công minh và vô tư của họ Qua sự tham gia xét xử của Hội thẩm, uy tín của Tòa án ngày càng được nâng cao và được nhân dân tin cậy, ủng hộ
Vai trò của Hội thẩm không chỉ dừng lại ở tham gia hoạt động xét xử và đưa
ra những phán quyết đúng pháp luật mà còn giúp Tòa án làm tốt công tác tuyên
Trang 11truyền pháp luật, hoặc chính bản thân Hội thẩm cũng tranh thủ mọi thời gian, hoàn cảnh để tuyên truyền phổ biến pháp luật nâng cao ý thức chấp hành chủ chương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân góp phần nhất định trong việc giữ gìn "tình làng nghĩa xóm", ổn định xã hội, phòng chống tội phạm
1.2 Quá trình hhình tành và phát triển quy định về Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
1.2.1 Giai đoạn 1945 đến 1975
Sắc lệnh số 13/SL, ngày 24-1-1945 ra đời, đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định việc tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán Đây cũng là văn bản đầu tiên ghi nhận sự tham gia của nhân dân vào trong hoạt động xét xử của Tòa án với tên gọi "Phụ thẩm", sắc lệnh này quy định tương đối đầy đủ quyền và nghĩa vụ của Phụ thẩm cũng như việc tuyển cử, tham gia của Phụ thẩm vào hoạt động xét xử của Tòa án Thêm vào đó ngày 09/11/1946 Hiến pháp đầu tiên của nước ta được ban hành đã chính thức ghi nhận sự tham gia của Phụ thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử: "Trong khi xét xử việc hình thì phải có Phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình hoặc cùng quyết định với Thẩm phán nếu là việc đại hình"
Mặc dù sắc lệnh này đã có mầm mống tính chất nhân dân, nhưng còn mang nặng tàn tích tư sản thực dân, được xây dựng theo quan niệm Tư pháp độc lập vô
tư đứng trên nhân dân, điều hòa giai cấp Nó còn chịu ảnh hưởng xấu xa của tư tưởng pháp lý cũ, luật lệ cũ nhất là dân luật vẫn là luật lệ phong kiến tư sản xưa,
do đó qua 5 năm kháng chiến Tư pháp càng xa nhân dân”
Nhận rõ những khuyết điểm đó, Bộ Tư pháp đã xây dựng lý luận Tư pháp nhân dân thông qua việc “đả phá lập trường quan niệm phương pháp của pháp lý
cũ, rồi sau đó đưa lý luận Mác-Lênin vào thực tiễn kháng chiến Việt Nam, theo hướng tiến của Chính quyền Dân chủ Nhân dân Việt Nam mà xây dựng nền pháp
lý mới” Đánh dấu cho việc cải cách đổi mới về tư tưởng này đó là sự ra đời của một thiết chế tư pháp với tên gọi “Tòa án nhân dân” gắn liền với việc ban hành Sắc lệnh 85-SL, ngày 22-5-1950 cải cách bộ máy tư pháp và luật Tố tụng, đây là Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Một trong những điểm nhấn của Sắc lệnh này làm thay đổi về chất của công tác Tư pháp chính là sự vận dụng lý luận Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ đó hình thành một cơ chế mang tính nhân dân, thể hiện bản chất nhân dân của nhà nước ta, đó là chế định hội thẩm nhân dân, thay thế chế định Phụ thẩm nhân dân tại Sắc lệnh số 13 trước đây Tòa
án nhân dân gồm có thành phần vừa chuyên môn vừa nhân dân Hội thẩm nhân dân, đại diện cho thành phần nhân dân nó có tính cách nhân dân hơn vì họ do Hội đồng nhân dân trực tiếp hay gián tiếp bầu ra Chẳng những họ không phụ thuộc vào thành phần chuyên môn, mà trái lại họ có quyền bằng nhau với thành phần chuyên môn, được quyền tham gia tất cả các việc hình và hộ, có quyền xem hồ sơ
và biểu quyết, nhiệm kỳ là một năm Do có quyền hạn ngang với thành phần chuyên môn nên họ là bộ phận chính của Tòa án, vì họ là đa số Vì họ là đa số cho nên các bản án, các quyết định của Tòa án, thật sự là do Hội thẩm nhân dân mà ra
Trang 12Địa vị của thành phần chuyên môn bị thu hẹp lại và nhiệm vụ của họ thật ra là để giúp đỡ thành phần nhân dân trong sự nghiên cứu các luật pháp nhiều khi có phần phức tạp”
Sau đó là một loạt các văn bản ra đời nhằm hoàn thiện chế định Hội thẩm nhân dân bao gồm: Sắc lệnh số 151/SL ngày 17/11/1950 về đặt thể lệ chỉ định các Hội thẩm nhân dân và định thành phần Tòa án nhân dân liên khu trong trường hợp đặc biệt; Sắc lệnh số 156/SL ngày 22/11/1950 về tổ chức Tòa án nhân dân liên khu, Sắc lệnh số 12/SL ngày 30/03/1957 và thông tư số 02 P/4 ngày 05/02/1952 của Bộ tư pháp sửa đổi bộ phận chế định Hội thẩm nhân dân Với những văn bản trên thì quy định Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử tại Tòa án được tăng lên tùy theo cấp xét xử, như ở Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh, Hội đồng xét xử gồm một Thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân; ở Tòa án cấp phúc thẩm khu hoặc thành phố Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Quyền hạn và nghĩa vụ được mở rộng như: Hội thẩm nhân dân được quyết định tất cả các vấn đề trong xét xử vụ án từ giai đoạn nghiên cứu hồ sơ cho đến biểu quyết về tội danh và hình phạt, được Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố triệu tập cuộc họp để phổ biến nhiệm vụ, quyền hạn, lề lối làm việc, trao đổi về lịch công tác; được bồi dưỡng nghiệp vụ, được dự họp tổng kết của Tòa án
Về hình thức lựa chọn, Hội thẩm nhân dân được quy định trong các sắc lệnh
số 151/SL ngày 17/11/1950, Sắc lệnh số 156/SL ngày 22/11/1950, Nghị quyết của Hội đồng chính phủ tháng 09/1951, tháng 09/1952 và thông tư 138/HCTP ngày 23/11/1957 của Bộ tư pháp Theo các văn bản này, Hội thẩm nhân dân được lựa chọn chủ yếu theo hình thức bầu, trong trường hợp đặc biệt Hội thẩm nhân dân Tòa án liên khu có thể do Bộ trưởng bộ tư pháp chỉ định theo đề nghị của Ủy ban hành chính liên khu hoặc chọn trong đại biểu đoàn thể thuộc Mặt trận Tổ quốc khu hoặc tỉnh
Nhằm cũng cố, phát huy vai trò của chính quyền dân chủ nhân dân trong giai đoạn cách mạng mới, ngày sau khi kháng chiến chống thực dân pháp thành công, miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội, thì các quy định
về Hội thẩm nhân dân tiếp tục được hoàn thiện hơn Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân được ghi nhận trong hiến pháp 1959, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
1960 và các văn bản pháp luật khác Nguyên tắc xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia (Điều 99), nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập (Điều 100) đã chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp 1959; địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân được nâng lên ngang quyền với Thẩm phán trong hoạt động xét xử (Điều 11 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960) Việc tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân ở các cấp Tòa án theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 cũng được mở rộng hơn so với các quy định trước đây Hội thẩm nhân dân chủ yếu tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, còn cấp phúc thẩm, Hội thẩm nhân dân chủ yếu tham gia trong trường hợp đặc biệt; thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có một Thẩm phán
và hai Hội thẩm nhân dân; trường hợp xét xử những vụ án nhỏ, đơn gian và không quan trọng thì có thể không có Hội thẩm nhân dân tham gia
Trang 131.2.2 Giai đoạn 1976 đến 1988
Có thể nói giai đoạn này các nguyên tắc trong hoạt động xét xử đã được ghi nhận và quy định rõ hơn trong hiến pháp, cũng như các văn bản pháp luật khác Quyền hạn của Hội thẩm được mở rộng hơn; quy định cụ thể về mức độ tham gia
và số lượng Hội thẩm nhân dân được tham gia trong từng vụ án, từng cấp xét xử
Tiêu chuẩn đối với Hội thẩm nhân dân ở giai đoạn này cũng khá đơn giản đó
là "Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có quan hệ tốt với nhân dân" Về hình thức bầu chọn Hội thẩm ở mỗi cấp tòa có quy định khác nhau: Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân tối cao do Hội đồng Nhà nước
cử, theo sự giới thiệu của Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam ở địa phương Nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân là tham gia công tác xét xử của Tòa án; quyền lợi, chế độ của Hội thẩm nhân dân là được bồi dưỡng về nghiệp vụ và được hưởng phụ cấp khi tham gia xét xử
1.2.3 Giai đoạn 1989 đến nay
Giai đoạn này tiếp tục hoàn thiện chế định hội thẩm nhân dân tham gia xét
xử tại Tòa án, do đó có nhiều văn bản quy định về Hội thẩm nhân dân như: Bộ luật
tố tụng hình sự năm 1988,(được sửa đổi bổ sung năm 2000), Hiến pháp năm 1992, (được sửa đổi bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 1993, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm
2002 (được sửa đổi bổ sung năm 2011), Luật tổ chức Tòa án năm 2002; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), luật tố tụng hành chính năm 2010, Quy chế tổ chức và hoạt đông của Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2005 Những văn bản này đã cụ thể hóa thành những quy định về vị trí, vai trò cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong từng lĩnh vực tố tụng cụ thể
Ở giai đoạn này, Hội thẩm chủ yếu tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, còn cấp phúc thẩm, Hội thẩm có thể tham gia trong trường hợp cần thiết Hội thẩm nhân dân tham xét xử ở cấp sơ thẩm phụ thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng, phức tạp của từng vụ án: "Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp vụ an có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Đối với vụ án mà
bị cáo bị truy tố, xét xử về một tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình, thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân"
1.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hội thẩm nhân dân
1.3.1 Trách nhiệm, quyền hạn và tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Hội thẩm nhân dân
Trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân: Hiện nay trong rất nhiều văn bản pháp
luật quy định quyền của Hội thẩm nhân dân, từ Hiến pháp, Luật tố tụng, pháp lệnh, cho đến các văn bản khác đề quy định rất cụ thể các quyền của Hội thẩm nhân dân trong hệ thống Tòa án nhân dân Tuy nhiên theo Tác giải tổng hợp lại thì Hội thẩm nhân dân có các quyền chung đối với bất kỳ Hội thẩm nhân dân nào sau