1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn HƯỚNG TÍCH hợp về TRUYỀN THỐNG LỊCH sử, địa lý, nét đẹp văn hóa QUA tác PHẨM “CHỮ NGƯỜI tử tù” của NGUYỄN TUÂN

31 489 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 278 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HƯỚNG TÍCH HỢP VỀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, ĐỊA LÝ, NÉT ĐẸP VĂN HÓA QUA TÁC PHẨM “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN A/ PHẦN MỞ ĐẦU: I.. “ Hướng tích hợp về truyền thống lịch sử, địa lý, né

Trang 1

HƯỚNG TÍCH HỢP VỀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, ĐỊA LÝ, NÉT ĐẸP VĂN HÓA QUA TÁC PHẨM “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA

NGUYỄN TUÂN

A/ PHẦN MỞ ĐẦU:

I CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP:

1 Sự cần thiết của giải pháp:

Chúng ta biết rằng, bộ môn Ngữ Văn có vai trò rất quan trọng trongchương trình THPT, bởi nó là yếu tố quyết định đối với việc hình thành phẩmchất và nhân cách đạo đức cho học sinh M.Gorki đã nói “Văn học là nhânhọc”, và càng đi sâu vào phân tích và tìm hiểu chức năng của văn học thì tacàng thấy được tính cần thiết của bộ môn này trong đời sống của mỗi conngười nói chung và học sinh nói riêng Môn Ngữ Văn trước hết là một mônhọc thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trongviệc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Môn Ngữ Văn còn

là một môn học thuộc nhóm công cụ Điều đó nói lên mối quan hệ giữa NgữVăn và các môn khác Học môn Ngữ Văn sẽ có tác động tích cực đến kết quảhọc tập các môn khác và các môn khác cũng góp phần giúp học tốt môn NgữVăn Hơn nữa, Ngữ Văn cũng là môn học góp phần hình thành nên nhữngkiến thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thành nhân cách con người, chuẩn

bị cho các em một hành trang để bước vào đời hoặc học lên những bậc họccao hơn Đó cũng chính là chiếc chìa khóa mở cửa cho tương lai

Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn ở bậc

THPT, đồng thời tôi muốn phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạytheo tinh thần đổi mới sách giáo khoa và quan điểm tích hợp là vấn đề cầnđược quan tâm nhất hiện nay Bởi tích hợp là một xu thế phổ biến trong dạyhọc hiện đại Nó giúp học sinh tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn mang lạihiệu quả nhận thức, có thể tránh được những biểu hiện cô lập, tách rời từngphương diện kiến thức, đồng thời phát triển tư duy biện chứng, khả năngthông hiểu và vận dụng kiến thức linh hoạt vào các yêu cầu môn học, phânmôn cụ thể trong chương trình học tập theo nhiều cách khác nhau Và vì thế

việc nắm kiến thức sẽ sâu sắc, hệ thống và lâu bền hơn.

Trang 2

Hơn nữa, khi học sinh học tác phẩm “Chữ người tử tù”, đa số các em cònhiểu chưa sâu sắc và đầy đủ về vùng đất giàu truyền thống văn hiến, kiêncường trong đấu tranh, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất Đặc biệtvùng đất đã hội tụ rất nhiều bậc hiền tài một lòng vì dân vì nước Là một giáoviên trực tiếp giảng dạy, tôi thấy tính ưu việt của phương pháp dạy học tíchhợp các kiến thức liên môn này hơn hẳn những phương pháp trước đây đượcvận dụng Tính ưu việt của phương pháp thể hiện rõ qua thái độ, niềm say mê,kết quả tiếp nhận của học sinh trong từng bài học Tiếp nối vấn đề đó, cho nên

tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Hướng tích hợp về truyền thống lịch sử, địa

lý, nét đẹp văn hóa qua tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân”.

2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp:

Trong quá trình hình thành đề tài, tôi đã tìm hiểu những tài liệu liênquan đến nhà văn Nguyễn Tuân, tác phẩm Chữ người tử tù, và đặc biệt là các

tư liệu về vùng đất Sơn Tây Đã có một số nhà nghiên cứu về các tư liệu này,nhưng mới chỉ là lý thuyết và chỉ là chung, chưa đi sâu vào cụ thể Cho nêngiải pháp tôi đưa ra là cần áp dụng thực tế vào đối tượng học sinh và giải phápnày cũng chưa có tác giả khác

3 Mục tiêu của giải pháp:

Việc khai thác về “ Hướng tích hợp về truyền thống lịch sử, địa lý, nét đẹp văn hóa qua tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân” Là giúp

cho các em có cái nhìn đúng đắn và đầy đủ hơn về mảnh đất một ngàn nămvăn hiến đầy tự hào của dân tộc, một mảnh đất đầy trang sử hào hùng, mộtmảnh đất đã hội tụ “địa linh nhân kiệt”, mà nhà văn Nguyễn Tuân đã gởi gắmcho chúng ta, đặc biệt qua nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tùđược nhà văn Nguyễn Tuân lấy nguyên mẫu ngoài đời của anh hùng Cao BáQuát Hay nét đẹp văn hóa của các bậc tao nhân mặc khách của các nhà nhoxưa Cho nên qua lối dạy văn cần tích hợp thêm lịch sử của nước nhà haynhững nét đẹp của truyền thống…, mà quan trọng trong tác phẩm Chữ người

tử tù cần làm rõ cho học sinh hiểu một cách sâu sắc, để khơi thêm sự hiểu biết

và niềm tự hào dân tộc và nguồn cảm hứng khi học văn trong các em

4 Căn cứ đề xuất giải pháp:

Trang 3

Cần áp dụng rộng rãi cho tất cả khối 11, chứ không chỉ trong phạm vilớp dạy.

5 Phương pháp thực hiện:

- Phương pháp nghiên cứu để viết phần lý thuyết:

+ Đọc các tài liệu viết về tác giả Nguyễn Nguyễn Tuân

+ Đọc các tài liệu về tác phẩm của Nguyễn Tuân

+ Đọc các tài liệu về mảnh đất Tây Sơn

+ Đọc lý luận văn học để tổng hợp

- Phương pháp điều tra khảo sát thu thập thông tin thực tế:

+ Cho học sinh viết phiếu đề nghị

+ Cho học sinh trả lời theo phiếu trắc nghiệm sau khi học tác phẩm

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu:

+ Cho học sinh trả lời theo phiếu trắc nghiệm sau khi học tác phẩm.+ Cho học sinh viết bài thu hoạch về đề tài của sáng kiến

6 Đối tượng nghiên cứu:

Trong quá trình giảng dạy tác phẩm “Chữ người tử tù” của NguyễnTuân, giáo viên đã tìm tòi, nghiên cứu nhiều giá trị nội dung và nghệ thuật.Trong những năm gần đây việc ra đề kiểm tra cho môn ngữ văn có sự nângcao và mở rộng, đặc biệt là phần liên hệ với bản thân, với cuộc đời, với xãhội, hay những bài học rút ra cho bản thân, cho xã hội được thể hiện qua tác

phẩm mà các em đã học Cho nên việc đầu tư nghiên cứu về “ Hướng tích hợp về truyền thống lịch sử, địa lý, nét đẹp văn hóa qua tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân” là một vấn đề hết sức cần thiết cho học sinh.

7 Phạm vi áp dụng: Áp dụng cho khối 11.

II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG GIẢI PHÁP:

1 Quá trình hình thành:

- “ Hướng tích hợp về truyền thống lịch sử, địa lý, nét đẹp văn hóa qua tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân”, cho học sinh hiểu một

Trang 4

cách trọn vẹn thực tế không có gì là lạ, nhưng để cảm thụ một cách trọn vẹn đốivới học sinh thì không phải là dễ Nên qua đề tài tôi tập trung khai thác truyềnthống lịch sử, địa lý, nét đẹp văn hóa, để giúp học sinh của mình có cách nhìntoàn vẹn nhằm nâng cao ý thức, niềm tự hào của dân tộc để có thái độ sống tốthơn.

- Tôi cần làm rõ cơ sở lý luận về hướng tích hợp, để học sinh cảm thụ

và có cái nhìn toàn diện hơn khi học tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn

Tuân

- Khảo sát, đánh giá qua cách cảm thụ của học sinh về hướng tích hợp

về truyền thống lịch sử, địa lý, nét đẹp văn hóa qua tác phẩm Chữ người tử tùcủa Nguyễn Tuân”,

Giúp học sinh cảm thụ thêm một cách sâu sắc về truyền thống lịch sử,địa lý, nét đẹp văn hóa qua tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân”, thìchắc chắn các em học sinh sẽ có cái nhìn đúng đắn, toàn vẹn hơn, đồng thời

có thái độ sống đúng đắn hơn đối với đất nước, với xã hội ngày nay

2 Nội dung của giải pháp:

Trong cuộc sống hiện nay, tuổi trẻ, mà đặc biệt là học sinh, thường cónhững suy nghĩ sai lệch và chưa hiểu biết một cách toàn diện về lịch sử, địalý, của vùng đất Tây Sơn ngày xưa và ngày nay, cũng như các nét đẹp về vănhóa của dân tộc Do đó, qua tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân”,tôi muốn khai thác thêm về truyền thống lịch sử, địa lý, nét đẹp văn hóa củadân tộc để giúp các em hiểu rõ hơn về tác phẩm mà nhà văn Nguyễn Tuân đãgửi gắm đến bạn đọc, đồng thời giúp các em thông hiểu và vận dụng một cáchtinh tế vào bài làm của mình Đặc biệt sau khi các em học xong tác phẩm Chữngười tử tù, trong các em luôn có niềm tự hào về truyền thống lịch sử và niềm

tự hào của dân tộc ta

Về tác phẩm “Chữ người từ tù” của Nguyễn Tuân trong sách giáo khoaNgữ văn lớp 11 tập I là một tác phẩm hay, nhưng không dễ cảm nhận đối với

Trang 5

học sinh Do vậy để đạt được mục tiêu, tăng hiệu quả cho việc dạy và học cần

đa hóa các hình thức đọc – hiểu, kết hợp đọc truyện, với hoạt động nhóm,lồng ghép tích hợp, liên môn, tạo các slide, tranh ảnh về tác giả, tác phẩm,xem phim Đặc biệt tập trung làm rõ hướng tích hợp về truyền thống lịch sử,địa lý, nét đẹp văn hóa cho học sinh dễ dàng thông hiểu, tự hào và khơi niềmcảm hứng học văn trong các em

2.1/ Ở phần tìm hiểu chung: (Tiểu dẫn ở sách giáo khoa)

* Cuộc đời tác giả: Ở phần này giáo viên dạy với việc liên hệ mở rộng về tác giả Nguyễn Tuân bằng hệ thống những câu hỏi gợi mở:

- Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân

- Tích hợp giáo dục về lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và tình yêu cái Đẹpcủa Nguyễn Tuân

- Những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân

- GV tích hợp về chữ Tâm và chữ Tài trong con người và sáng tác củaNguyễn Tuân

- GV tích hợp giáo dục về sự trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống

- Trình chiếu tranh, ảnh về Nguyễn Tuân

+ Nguyễn Tuân (10 - 7 – 1910) quê xã Nhân Mục, thôn Thượng Đình, naythuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội

+ Ông sinh ra trong một gia đình Nho học thuộc thế hệ cuối cùng

+ Bắt đầu cầm bút vào những năm 30 nhưng đến năm 1938, ông mới thật sựnổi tiếng

+ Từ 1945 trở đi, Nguyễn Tuân nhiệt tình, tự nguyện tham gia cách mạng và

có đóng góp nhiều cho nền văn học mới

+ Ông đã từng giữ chức Tổng thư kí Hội nhà văn VN

+ Ông mất ở Hà Nội năm 1987

* Sự nghiệp văn học

- Trước năm 1945: Nguyễn Tuân là một nhà văn lãng mạn Sáng tác của

ông xoay quanh ba đề tài chính:

Trang 6

+ Chủ nghĩa xê dịch: Một chuyến đi (1938, du kí); Thiếu quê hương (1940,

- Sau 1945, Nguyễn Tuân là một nhà văn cách mạng

+ Ông tự nguyện, tự giác, nhiệt tình, hăng hái đi thực tế, sản xuất, chiến đấu;

đi để viết được nhiều, viết đúng, viết hay

+ Ông sáng tác phục vụ hai cuộc kháng chiến của dân tộc và sự nghiệp xâydựng miền Bắc XHCN

+ Hình tượng chính trong sáng tác của Nguyễn Tuân thời kỳ này là nhân dânlao động và những người chiến sĩ trên các mặt trận

Những tác phẩm chính: Đường vui (1949, tùy bút), Tình chiến dịch (1950,

tùy bút), Sông Đà (1960, tùy bút), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972, kí)…

* Phong cách nghệ thuật: độc đáo, sáng tạo, tài hoa, uyên bác

+ Nguyễn Tuân luôn tiếp cận và phản ánh đối tượng ở phương diện văn hóathẩm mĩ, miêu tả con người ở góc độ tài hoa, nghệ sĩ Cái nhìn nghệ thuật củaông luôn có ý thức khám phá nhiều vẻ đẹp tài hoa, sang trọng của cuộc sống.Trước cách mạng tháng 8.1945, ông đi tìm vẻ đẹp trong quá khứ, vẻ đẹp củamột thời vang bóng để đối lập với hiện tại ngột ngạt của xã hội thuộc địa; saucách mạng tháng 8.1945, ông đi tìm vẻ đẹp ở hiện tại, trong cuộc sống thườngngày, ở những người lao động bình thường Ông là nhà văn suốt đời đi tìmkiếm và khẳng định những giá trị nhân văn cao quý

+ Nguyễn Tuân không thích những gì nhợt nhạt, yên ổn; bằng phẳng màthích những cái khác thường, biệt lệ Nguyễn Tuân là nhà văn của cảm giácmạnh, cá tính mạnh

+ Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa, uyên bác

+ Nhà văn có một vốn tri thức rất rộng, rất sâu của nhiều ngành nghề khácnhau như điện ảnh, âm nhạc, điêu khắc, quân sự, võ thuật… và khai thác, vậndụng chúng có hiệu quả Nhờ đó, người đọc tiếp xúc với những trang văn của

Trang 7

Nguyễn Tuân không chỉ được thưởng thức cái đẹp của văn chương mà cònnâng cao kiến thức.

+ Một Nguyễn Tuân tài hoa thể hiện ở khả năng dựng cảnh, dựng người vàtạo nên những liên tưởng, so sánh vừa bất ngờ, vừa thú vị

+ Ông có một vốn ngôn ngữ phong phú và cách sử dụng ngôn ngữ linh hoạtđầy biến hóa Nguyễn Tuân có khả năng tổ chức những câu văn đầy chất thơ,

có giá trị tạo hình, có chất nhạc gây ấn tượng mạnh cho người đọc Hơn nữa,khi cần Nguyễn Tuân phá vỡ những quy tắc ngữ pháp để miêu tả đối tượng(câu văn giàu hình ảnh, nhịp điệu)

→ Văn Nguyễn Tuân vừa đĩnh đạc cổ kính; vừa trẻ trung, hiện đại

+ Thể loại sở trường của Nguyễn Tuân là tùy bút - một thể văn rất tự dophóng túng không tuân theo lệ quy phạm nào cả Sức hấp dẫn của loạt bài tùybút phụ thuộc vào cái tôi của tác giả có độc đáo tài hoa uyên bác hay không.Thể văn này phù hợp với cá tính và phong cách của Nguyễn Tuân Với thểloại đó cái Tôi của Nguyễn Tuân được bộc lộ một cách rõ nét Ông gọi đó làlối độc tấu của riêng mình

Tóm lại: Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của văn học VN hiện đại Sựnghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân không chỉ lớn về số lượng tác phẩm, thểloại mà còn ở giá trị tư tưởng nghệ thuật cao Với đóng góp đó, Nguyễn Tuânxứng đáng được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn họcnghệ thuật đợt 1 năm 1996

* Giáo viên hướng cho học sinh tìm hiểu sơ lược về tác phẩm Chữ người tử tù:

- Xuất xứ:

“Vang bóng một thời” (1940)

- Nội dung:

+ Gồm 11 truyện ngắn viết về một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng

+ Tác giả đi tìm lại những vẻ đẹp xưa, những thú chơi tao nhã và nghệ thuật

của cha ông như chơi chữ (Chữ người tử tù), làm thơ (Thả thơ), thưởng trà (Chén trà trong sương sớm)…

+ Nhân vật chính là các Nho sĩ tài hoa, bất đắc chí, mâu thuẫn sâu sắc với xã

hội đương thời tuy vậy họ vẫn giữ được “thiên lương” và “sự trong sạch của

tâm hồn” bằng cách “thực hiện cái đạo sống của người tài tử”.

Trang 8

- Nghệ thuật: Độc đáo, tài hoa, uyên bác

+ Xây dựng hình tượng sắc nét

+ Tạo dựng cảnh, tạo không khí tài tình, văn phong đĩnh đạc, cổ kính

→ “Một văn phẩm gần đạt tới sự toàn thiện, toàn mĩ” (Vũ Ngọc Phan)

- Hoàn cảnh sáng tác

+ Tác phẩm được sáng tác vào năm 1940

+ Nhan đề ban đầu: “Dòng chữ cuối cùng”.

- Cảm hứng sáng tác

Được nhà văn lấy từ nguyên mẫu về cuộc đời và sự nghiệp của Cao Bá Quát

Phần này giáo viên Tích hợp kiến thức lịch sử về danh nhân và tác giả

Cao Bá Quát qua tác phẩm Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca)

đã học ở phần Văn học trung đại ( SGK Ngữ Văn 11, tập 1).

- Tích hợp giáo dục về sự trân trọng đối với các danh nhân lịch sử.

- Trình chiếu tranh, ảnh về Cao Bá Quát.

+ Một người nổi tiếng “văn hay chữ tốt”

→ Suy tôn: “Thần Siêu, Thánh Quát”

Và “ Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”.

+ Một người anh hùng có bản lĩnh, có khí phách, đã từng đứng về phía nhândân, khởi nghĩa chống lại triều đình nhưng thất bại

→ Tên tuổi ông đã được lưu danh vào sử sách

Cao Bá Quát, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh nay là xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội) Ông là con Cao Tửu Chiếu, tuy không đỗ đạt nhưng là một nhà nho khá nổi danh; và là em (song sinh) vớiCao Bá Đạt (cha Cao Bá Nhạ, tác giả Tự tình khúc)

Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong cảnh nghèo khó, nhưng nổi tiếng là trẻ thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt Năm 14 tuổi, ông trúng tuyển kỳ thikhảo hạch ở Bắc Ninh Năm Tân Mão (1831) đời vua Minh Mạng, ông thi hương đỗ Á Nguyên tại trường thi Hà Nội, nhưng đến khi duyệt quyển, thì bị

bộ Lễ kiếm cớ xếp ông xuống hạng cuối cùng trong số 20 người đỗ Cử nhân Sau đó trong chín năm, cứ ba năm một lần, Cao Bá Quát vào kinh đô Huế dự thi Hội, nhưng lần nào cũng bị đánh hỏng

Trang 9

Năm 1841, lúc này ông đã 32 tuổi, mới được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử lên triều đình, triệu vào Huế để nhận một chức tập sự ở bộ Lễ (Hành tẩu) Tháng

8 năm đó, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng có chỗ phạm trường quy, ông bàn với bạn đồng sự là Phan Nhạ rồi lấy son hòa muội đèn chữa giúp 24 quyển Việc bị phát giác, Giám trườngthi là Hồ Trọng Tuấn đàn hặc, ông bị bắt giam, bị tra tấn rồi bị kết vào tội chết Nhưng khi án đưa lên, vua Thiệu Trị đã giảm cho ông từ tội trảm quyết xuống tội giảo giam hậu, tức được giam lại đợi lệnh

Sau gần ba năm bị giam cầm khổ sở, ông được triều đình tạm tha, nhưng phải

đi xuất dương hiệu lực (để lấy công chuộc tội) trong phái bộ do Đào Trí Phú làm trưởng đoàn Phái đoàn ông đi sang Batavia (Indonesia) và Campuchia với mục đích chính là đem đường bán cho nước ngoài để mua về những hàng

xa xỉ cho triều đình

Vào tháng 8 năm 1844, đoàn thuyền của phái bộ về đến Việt Nam, và sau đó Cao Bá Quát được gọi về bộ Lễ Ở đây không lâu, ông bị thải hồi về quê Trước đây, ông vốn ở phố Hàng Ngang (nay gần phố Nguyễn Thái Học), năm

24 tuổi ông vào kinh thi Hội, thì vợ ông ở nhà đã xin phép cha chồng cho sửa lại một ngôi nhà gần Cửa Bắc về phía Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch

Về Hà Nội, ông dạy học nhưng luôn sống trong cảnh nghèo và bệnh tật Ở đây những lúc rỗi, ông thường xướng họa với các danh sĩ là Nguyễn Văn Siêu, Trần Văn Vi, Diệp xuân Huyên

Sau ba năm bị thải về, Cao Bá Quát nhận được lệnh triệu vào kinh (1847) làm

ở Viện Hàm lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ Được hơn một tháng, ông nhận lệnh đi công cán ở Đà Nẵng, rồi trở về công việc cũ Thời gian ở kinh lần này, ông kết thân với các văn nhân như Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận, Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Nguyễn Phúc Miên Trinh và ông đã gia nhập Mạc Vân Thi xã do hai vị hoàng thân này sáng lập

Năm 1851, không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát phải rời kinh đô Huế đi làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây cũ) Một lần nữa, ông lại trở về quê để cùng khổ với dân, để suy nghĩ thêm về những chính sách hà khắc của triều đình, để thêm quyết tâm đánh đổ nó

Giữa năm 1853, lấy cớ về nuôi mẹ già, ông xin thôi dạy học Gặp lúc vùng Sơn Tây bị hạn nặng, lại có nạn châu chấu làm cho mùa màng mất sạch, đời sống người dân hết sức đói khổ Phần thì phẫn chí, phần thì thương dân, khoảng cuối năm 1854, Cao Bá Quát tham gia lãnh đạo (tự lãnh chức Quốc sư) cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương (Sơn Tây), do Lê Duy Cự làm “Minh chủ”.Đang trong quá trình chuẩn bị, thì việc bị bại lộ Trước cục diện này, Cao Bá Quát đành phải phát lệnh tấn công vào cuối năm 1854 Buổi đầu cuộc khởi nghĩa giành được một số thắng lợi ở Ứng Hòa, Thanh Oai Nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung đông đảo và tổ chức phản công thì nghĩa quân liên tiếp bị nhiều thiệt hại

Tháng Chạp năm Giáp Dần (tháng Chạp năm này rơi vào năm dương lịch

Trang 10

1855), sau khi bổ sung lực lượng (chủ yếu là người Mường và người Thái ở vùng rừng núi Mỹ Lương), Cao Bá Quát đem quân tấn công huyện lỵ Yên Sơn lần thứ hai Phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận đem quân nghênh chiến Cuộc đối đầu đang hồi quyết liệt tại vùng núi Yên Sơn, theo sử nhà Nguyễn, thì Cao Bá Quát bị Suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận Tiếp theo, thủ lĩnh Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Văn Thực cũng lần lượt sa vào tay đối phương (sau, cả hai đều bị chém chết) Ngoài những thiệt hại này, hơn trăm nghĩa quân bị chém chết và khoảng 80 nghĩa quân khác bị bắt.

Nghe tin đại thắng, vua Tự Đức lệnh cho ban thưởng và cho đem thủ cấp của nghịch Quát bêu và rao khắp các tỉnh Bắc Kỳ rồi giã nhỏ quăng xuống sông

- Tóm tắt tác phẩm : Phần này GV cho HS tóm tắt tác phẩm, sau đó GV trình chiếu sơ đồ.

+ Huấn Cao văn võ toàn tài, nổi tiếng viết chữ đẹp, phạm tội chống triều đình,

bị xử án chém, bị giải về nhà giam tỉnh Sơn (Sơn Tây) của Quản ngục chờngày xử chém

+ Quản ngục vốn quý trọng người tài và có sở nguyện chơi chữ, ước có được bức chữ của ông Huấn nên đã sai viên thơ lại biệt đãi rượu thịt hàng ngày cho Huấn Cao

+ Huấn Cao thản nhiên nhận rượu thịt nhưng khinh bỉ bọn quan tù - tiểu nhân

thị oai, thẳng thừng đuổi Quản ngục ra khỏi buồng giam

+ Một chiều, trước ngày xử chém, Huấn Cao nghe viên thơ lại kể nỗi lòng củaQuản ngục, ông cảm động và quyết định cho chữ Quản ngục Đêm đó, trong

buồng giam dơ nhớp, với bó đuốc sáng rực, Huấn Cao “cổ mang gông, chân

vướng xiềng” đứng hiên ngang cho chữ, hai ngục quan khúm núm đứng bên.

Viết xong bức chữ, Huấn Cao khuyên Quản ngục hãy về quê mà ở để giữ tròn

thiên lương

+ Quản ngục cảm động, nghẹn ngào nói: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

2.2/ Tìm hiểu vùng đất Sơn Tây:

- Tích hợp kiến thức Lịch sử, Địa lý, Văn hóa, Giáo dục quốc phòng về vùngđất Sơn Tây

- Tích hợp giáo dục về tình yêu quê hương, lòng tự hào về mảnh đất nơimình sinh ra và lớn lên

- Trình chiếu những tư liệu và hình ảnh về vùng đất Sơn Tây xưa và nay

* Sơn Tây trong quá khứ

Trang 11

- Từ thủa xưa, Sơn Tây là một trong 4 trọng trấn ở phía Bắc (Sơn Tây, Kinh

Bắc, Hải Dương, Sơn Nam) Trấn Sơn Tây (chữ Hán: 山西 ), tục gọi là trấn Tây hay trấn Đoài (Đoài nghĩa là Tây) Tỉnh lị là thị xã Sơn Tây Tỉnh Sơn Tây thường được gọi là xứ Đoài

- Là vùng đồng bằng trù phú, cư dân Việt sinh sống lâu đời, đông đúc, đóng

vai trò “phên dậu” che chở cho kinh thành Thăng Long xưa và là bàn đạp để

triều đình có thể vươn ra vùng biên giới

- Thời Nguyễn, Sơn Tây là một trong số 13 tỉnh được thành lập sớm nhất ở Bắc Kỳ (năm 1831), dưới thời vua Minh Mạng) → vẫn giữ vai trò nội trấn

quan trọng đó:

+ Phía trong che chở Thăng Long

+ Phía ngoài làm bàn đạp, hậu cứ để bảo vệ vùng thượng lưu sông Đà, sôngHồng, sông Lô

- Nhà Nguyễn đặt Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên đóng tại thành Sơn Tây để giữyên cả vùng rộng lớn Tây Bắc và Việt Bắc gồm 5 phủ, 24 huyện (ngày nay làtoàn bộ tỉnh Vĩnh Phúc, huyện Sơn Dương - Tuyên Quang, gần toàn bộ tỉnhPhú Thọ trừ vài châu xa thuộc trấn Hưng Hóa và hơn một nửa tỉnh Hà Tâycũ)

- Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau khi đánh chiếm và đô hộ Bắc Kỳ, chínhquyền thực dân Pháp thực thi chính sách chia để trị, tỉnh Sơn Tây đã bị cắtphần lớn đất đai để lập mới các tỉnh Hưng Hóa, Vĩnh Yên, Phù Lỗ, Hòa Bình

- Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Sơn Tây vẫn là một tỉnhgồm có 6 huyện: Bất Bạt, Quảng Oai, Tùng Thiện, Phúc Thọ, Thạch Thất,Quốc Oai và trụ sở tỉnh lỵ là thị xã Sơn Tây

- Ngày 1 tháng 7 năm 1965 tỉnh Sơn Tây nhập với tỉnh Hà Đông thành tỉnh

Hà Tây Địa danh "tỉnh Sơn Tây" từ đó mất hẳn trên các văn bản chính thức

- Ngày 27 tháng 12 năm 1975 tỉnh Hà Tây nhập với tỉnh Hòa Bình thành tỉnh

Hà Sơn Bình

- Năm 1978, tỉnh Sơn Tây cũ (trừ huyện Quốc Oai) tách khỏi tỉnh Hà SơnBình và nhập vào thành phố Hà Nội

- Từ 1991 nhập trở lại tỉnh Hà Tây

- Từ 1/8/2008 Quốc Hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quyết định nhậpSơn Tây cùng toàn bộ tỉnh Hà Tây vào Hà Nội

Trang 12

* Sơn Tây trong hiện tại

- Là một đô thị vệ tinh quan trọng của thủ đô Hà Nội trên con đường Hộinhập và phát triển

- Thị xã Sơn Tây vẫn là trung tâm văn hóa, chính trị quan trọng ở phía Bắcthủ đô Hà Nội

- Thành cổ là niềm tự hào của người dân Sơn Tây và là địa chỉ văn hóa hấp

dẫn thu hút rất nhiều du khách khi đến với xứ Đoài

+ Xây dựng từ thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786), trấn thành Sơn Tây ở LaPhẩm, xã Duy Phẩm, huyện Tiên Phong (nay là Ba Vì), ở hữu ngạn sôngHồng, phía dưới ngã ba Bạch Hạc độ 5 km

+ Vì nước lụt đe dọa nên vào thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786) chúa Trịnh cho

di chuyển về Mông Phụ (ngoại vi thị xã Sơn Tây ngày nay)

+ Thời Nguyễn, vua Minh Mạng cho dời thành xa sông Hồng hơn để tránh bị

lở đất → chuyển đến vùng đất giáp giới hai xã Mai Trai, Thuần Nghệ

+ Thành mới xây năm 1822 nằm dưới ngã ba Bạch Hạc độ 12 km ở trung tâmtrấn Sơn Tây:

● Phía Đông đến địa giới Hà Nội là 37 km

● Phía Tây đến địa giới Tam Nông, Thanh Thuỷ, Hưng Hóa là 44 km

● Phía Nam đến địa giới huyện Yên Hoá, Ninh Bình (vùng Nho Quan) là 49

km

● Phía Bắc đến địa giới các huyện Đại Từ, Thái Nguyên là 138 km

+ Thành xây bằng đá ong theo kiểu vauban, chu vi dài 1.304m, xung quanh

có hào nước sâu 3m rộng 20m dài 1.795m, tường bằng đá ong cao 5m

+ Thành mở 4 cửa Đông, Tây, Tiền, Hậu Ở mỗi cửa đều có đặt một khẩusúng thần công và một vọng lâu

+ Trong thành có cột cờ, hành cung (vọng cung), là nơi khi vua đi qua thì

nghỉ lại hoặc vào ngày khánh tiết, các quan vào chúc mừng vọng nhà vua xemnhư nơi ở riêng của vua

+ Kiến trúc thành Sơn Tây có dinh Tổng đốc, Bố chính, Án sát và Đề đốc;còn có kho tiền, kho vũ khí, kho lương là những thứ rất quan trọng dùng trongviệc binh cho cả một vùng rộng lớn

Trang 13

→ Thành cổ Sơn Tây rất khang trang, thể hiện uy thế của triều đình, uy thế

của dân tộc và tiêu biểu cho trình độ kỹ thuật, văn hóa của nước ta ở đầu thế

+ Tháng 10/1954, thành cổ Sơn Tây đã được xếp hạng Di tích Lịch sử - Kiếntrúc cấp quốc gia

→ là một di sản quý báu cần được trân trọng giữ gìn

- Trường THPT Sơn Tây bên Thành cổ với bề dày 55 năm (1959- 2014) xâydựng và trưởng thành luôn là nơi “Chắp cánh ước mơ” cho bao thế hệ học trò.Rất nhiều người con ưu tú của mảnh đất Sơn Tây trưởng thành từ mái trườngnày và tiếp tục xây dựng, gìn giữ và phát huy truyền thống lịch sử của quêhương

2.3/ Tìm hiểu nghệ thuật thư pháp:

- Ở phần này GV tích hợp kiến thức với bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên đã học ở cấp THCS.

Ví dụ như: Hoa tay thảo những nét

Như rồng múa phượng bay

- Hệ thống câu hỏi gợi mở:

+ Những hiểu biết của em về Nghệ thuật thư pháp của cha ông?

- Tích hợp giáo dục về nét chữ nết người.

- Thư pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp, có nguồn gốc từ Trung Hoa, sau được

phổ biến sang Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên…

- Ban đầu là thư pháp chữ Hán, thứ chữ khối vuông, được viết bằng bút lôngnên có nét đậm, nét nhạt, vừa mềm mại vừa sắc sảo, rắn rỏi, giàu chất tạohình, mang đậm nét cá tính, nhân cách người viết

- Sau này có cả thư pháp chữ Quốc ngữ

- Chất liệu để viết thư pháp rất phong phú như giấy, gỗ, sứ, đá…

Trang 14

- Có 4 kiểu viết chữ Hán là Chân, Triện, Lệ, Thảo, mỗi kiểu lại có sắc tháithẩm mĩ riêng.

- Chữ để treo vừa như một tác phẩm hội họa, vừa là món ăn tinh thần thể hiệnmột tâm nguyện, khát khao, ước vọng… của con người

→ Nội dung một bức thư pháp sẽ cho thấy tài năng, tư tưởng, kiến thức, vẻđẹp tâm hồn của người viết

* Tình huống độc đáo của truyện.

- Hệ thống câu hỏi gợi mở:

+ Tình huống độc đáo của truyện là gì?

- GV tích hợp giáo dục về cách ứng xử trọng nhân tài, đề cao cái Đẹp, trọngtình, trọng nghĩa của cha ông

- GV trình chiếu sơ đồ về tình huống

+ Ý nghĩa của tình huống độc đáo trên?

- Không gian: chốn lao tù trong xã hội phong kiến.

+ Nơi bẩn thỉu, tăm tối, cái xấu, cái ác ngự trị…

+ Nơi đầy rẫy những “kẻ quay quắt, lừa lọc”…

→ Không có chỗ cho cái Đẹp tồn tại

- Thời gian: Những ngày cuối đời của một tử tù

→ sức ép về thời gian tâm lý “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” → luôntrong trạng thái lo lắng, căng thẳng

- Mối quan hệ giữa các nhân vật:

+ Ở bình diện xã hội:

Trang 15

▪ Huấn Cao → chống lại triều đình → tử tù.

▪ Quản ngục → đại diện cho trật tự XHPK → cai quản, trấn áp kẻ phạm tội.

→ họ là những kẻ đối địch → khó tìm thấy điểm gặp gỡ

- Ở bình diện nghệ thuật:

+ Huấn Cao là người có thư pháp tuyệt vời

+ Quản ngục suốt đời ngưỡng mộ cái tài đó

→ Cả hai đều trân trọng cái đẹp của những con chữ, cái đẹp trong nhân cáchcủa nhau

→ Họ là tri âm tri kỉ dù gặp nhau muộn màng

- Diễn biến mối quan hệ:

+ Quản ngục trọng vọng, kính nể, tận tụy chăm sóc tử tù

+ Huấn Cao: Từ coi thường → coi trọng tấm lòng của quản ngục

→ Một cuộc gặp gỡ đầy éo le, trớ trêu của những tri âm, tri kỉ trong hoàncảnh đối địch

→ Cuộc gặp gỡ của “những tấm lòng trong thiên hạ”

- Ý nghĩa:

+ Tình huống độc đáo, giàu kịch tính → là cái nền để các nhân vật bộc lộ,tính cách, phẩm chất

+ Thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm: Ca ngợi cái Đẹp, cái Tài và “thiên

lương” con người.

→ cái Tài và cái Tâm của Nguyễn Tuân

* Hình tượng nhân vật Huấn Cao:

-GV đưa ra hệ thống câu hỏi gợi mở:

+ Nhân vật Huấn Cao được khắc họa ở những phương diện nào? Nhân vật

này có những vẻ đẹp gì?

- GV tích hợp giáo dục về “nét chữ nết người”

+ Khí phách hiên ngang của Huấn Cao được thể hiện như thế nào? Qua những hành động, cử chỉ gì?

Ngày đăng: 26/05/2017, 01:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w