1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh

79 520 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 848,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình KSV căn cứ vào các quy định của pháp luật để đề nghị Toà án Nhân dân tuyên bị cáo đúng tội danh, đề nghị mức án có căn cứ pháp luật, phù hợp với hành vi mà bị cáo đã gây ra, đó

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Phùng Thế Vắc

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học Viện Khoa học xã hội

Vậy tôi xin viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật – Học Viện Khoa học

xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

TRƯƠNG KHẮC DƯƠNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 7

1.1 Khái niệm quyền công tố 7

1.2 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự 16

1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 17

Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH 27

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 27

2.2 Thực trạng thực hiện quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh 31

2.3 Những hạn chế vướng mắc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh 38

2.4 Đánh giá ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân của các tồn tại từ thực tiễn áp dụng pháp luật 40

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 44

3.1 Quan điểm về quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh 44

3.2 Nguyên nhân của kết quả đạt được và những hạn chế trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh 45

3.3 Giải pháp 50

3.4 Kiến nghị 66

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, công bằng và nghiêm minh, với xu hướng đề cao bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

và chống làm oan người vô tội góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Vì thế, trong những năm qua cùng với việc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh đổi mới về tổ chức và hoạt động đối với hệ thống các cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân

Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì Viện kiểm sát (VKS) có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hình sự, do vậy hoạt động của VKS là một quy trình xuyên suốt

từ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Trong tố tụng hình sự Viện kiểm sát có chức năng đặc biệt quan trọng bởi lẽ quyết định truy tố của VKS (bản cáo trạng) là cơ sở pháp lý để Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm Hầu hết các vụ án bị tuyên oan, sai, bỏ lọt tội đều có nguyên nhân

từ việc không làm tốt chức năng, nhiệm vụ hoặc do nghiệp vụ còn non yếu của KSV hoặc do KSV chưa bảo đảm đúng quy trình trong xét xử sơ thẩm Vì thế hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm của Viện kiểm sát theo đúng quy định của pháp luật sẽ giúp cho Toà án nhân dân tuyên một bản án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và có tính thuyết phục cao, góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng ngừa vi phạm và tội phạm, đồng thời hạn chế việc kháng cáo, kháng nghị lên cấp trên Quá trình KSV căn cứ vào các quy định của pháp luật để đề nghị Toà án Nhân dân tuyên bị cáo đúng tội danh, đề nghị mức án có căn cứ pháp luật, phù hợp với hành vi mà bị cáo đã gây ra, đó chính là việc Kiểm sát viên thực hành tốt quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 6

Thêm vào đó, Theo quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam thì xét xử là một trong những hoạt động tư pháp quan trọng của Nhà nước nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật có tính chất nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu tội phạm phải được đưa ra xử lý trước pháp luật Tuy nhiên, dư luận nhân dân còn chưa hài lòng với một số phiên toà xét xử mà ở đó, Kiểm sát viên còn yếu kém về trình độ và năng lực, không nắm vững các quy định của pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm nên đã xảy ra tình trạng bỏ lọt tôi phạm, đề nghị truy

tố không đúng tội danh, không đúng khung hình phạt, áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không đúng pháp luật; do đó dẫn đến đề nghị mức hình phạt chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo; số lượng án bị Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm còn nhiều Hậu quả của những yếu kém trên là phải cải sửa án sơ thẩm, phải huỷ án sơ thẩm để điều tra lại, xét xử lại, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của công dân, của các tổ chức, cơ quan có liên quan, chưa làm tròn nhiệm vụ ổn định tình hình chính trị tại địa phương, cũng như ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động của toàn ngành Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh

Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật tại Học viện khoa

học xã hội, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố đã được đề cập ở một số sách báo và các công trình nghiên cứu như Tiến sĩ khoa học Lê Cảm có bài “Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố” (nhìn nhận từ góc độ nhà nước pháp quyền) (tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2001; Lê Thị Tuyết Hoa: Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học; Hà Nội, 2002;

- “Tranh luận tại phiên toà sơ thẩm”, của Dương Thanh Biểu, Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2007

- “Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra,

TS Lê Hữu Thể làm chủ biên, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008

Trang 7

- Luận văn Thạc sĩ Luật học của Phạm Thị Bình (2008): “ Cơ sở lý luận và thực tiễn về THQCT của VKSND trong XX các vụ án hình sự tỉnh Thanh Hóa

- Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Thị Đông (2008): “ Chất lượng THQCT trong giai đoạn XX sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Hà Nam”

- Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Quốc Hoàn (2009): “ Ap dụng pháp luật THQCT trong giai đoạn XX sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND tinhr Nam Định”

- “Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ Luật của Hoàng Tùng, năm 2009

- “Năng lực áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử

sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân Quận Hà Đông- Thành phố hà Nội”, Luận văn thạc sĩ Luật của Nguyễn Thị Tuyết Mai, năm 2011

Ngoài các tác giả nêu trên còn có rất nhiều công trình khoa học, các bài viết của nhiều tác giả khác tập chung nghiên cứu liên quan đến các vấn đề: áp dụng pháp luật trong XX các vụ án hình sự, nâng cao chất lượng THQCT các vụ án hình sự; nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong

XX và KSXX các vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp… Có thể kể ra một số công trình, bài viết đó là:

- Bàn về việc tranh luận của KSV tại phiên toà hình sự sơ thẩm (2007), TS Dương Thanh Biểu, Tạp chí kiểm sát;

- Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động THQCT của KSV (2007), ThS Trần Văn Quý, Tạp chí nghiên cứu lập pháp

- Phương hướng hoàn thiện các quy định của Bộ luật TTHS về XX sơ thẩm các

vụ án hình sự (2011), TS Đinh Văn Quế, Tạp chí Tóa án nhân dân

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trình bày cơ sở lý luận về đánh giá đúng thực trang cũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức một cách thống nhất và đầy đủ trong việc áp dụng thực hành QCT trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở thành phố Bắc Ninh, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, góp phần cùng với

Trang 8

các cơ quan tư pháp trong tỉnh bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức và công dân, tăng cường pháp chế XHCN

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố

ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh Trong đó, tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, quy trình và các yếu tố đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công

tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh Kết quả đạt được (ưu điểm) và hạn chế, tìm ra những nguyên nhân hạn chế, dẫn đến những tồn tại, hạn chế của công tác này

- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm việc thực hành quyền công tố

ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tthành phố Bắc Ninh trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án sơ thẩm của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh từ năm 2012 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để phân tích khái quát các vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp trong thực hành

Trang 9

quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh

Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, xem xét vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận với thực tiễn, các quy định của pháp trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và thực

tế áp dụng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh

Phương pháp lịch sử đòi hỏi nghiên cứu hoạt động trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phải đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể Thực trạng thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh chỉ được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ khi đặt chúng trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể

Phương pháp thống kê: được sử dụng khi đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả cũng sử dụng phương pháp

so sánh, phương pháp khảo sát thực tế

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh Luận văn đã góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, làm phong phú thêm những vấn đề lý luận của lĩnh vực này

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các Trường Đại học chuyên ngành luật và không chuyên ngành luật,

hệ thống các trường chính trị của Đảng

Kết quả nghiên cứu luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các Điều tra viên, Kiểm sát viên trong Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhất là những Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự để nâng cao trình độ lý luận và thao tác chuyên môn

Trang 10

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Luận văn gồm 3 chương Chương 1 Lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân

Chương 2 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh

Chương 3 Quan điểm và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thực hiện quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 11

Chương 1

LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1 Khái niệm quyền công tố

Quyền công tố cũng như các chế định pháp luật khác, là một phạm trù lịch sử,

là sản phẩm của xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định, nó xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước Trên thế giới, do có sự khác biệt về mặt thể chế chính trị, điều kiện lịch sử, truyền thống văn hoá…nên chế định quyền công tố cũng có sự khác biệt trong cơ chế vận hành, nhưng quá trình diễn biến của nó đều thể hiện rõ quy luật tất yếu chung của sự phát triển lịch sử Đó là, quyền công tố luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không tách rời khỏi công quyền

"Công tố" theo Đại từ điển tiếng Việt, "công" có nghĩa là "thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư", còn "tố" có nghĩa là "nói về những sai phạm tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người", "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án" [17, tr.453, 459, 1663]

Như vậy, công tố có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự Bất kỳ Nhà nước nào cũng hết sức quan tâm đến lĩnh vực hình sự, khi một hành vi bị coi là tội phạm được thực hiện sẽ làm phát sinh một quan hệ pháp luật giữa một bên là Nhà nước và bên kia là người phạm tội Trong mối quan hệ này, Nhà nước

là chủ thể quyền lực (quyền lực công), là người thực hiện sự buộc tội, đối tượng bị Nhà nước cáo buộc là người đã thực hiện hành vi tội phạm Công tố, vì thế được hiểu hành vi bị coi là tội phạm trước Toà án

Ở Việt Nam, quyền công tố và thực hành quyền công tố được nhắc đến nhiều khi đề cập đến chức năng của Viện Kiểm sát các cấp Thuật ngữ "thực hành quyền công tố" được đưa ra trong Hiến pháp 2013 (Điều 138 Hiến pháp 2013) và được nhắc lại ở Điều 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, bên cạnh khái niệm truyền thống "kiểm sát việc tuân theo pháp luật" đã xuất hiện khái niệm "quyền công tố" và

Trang 12

"thực hành quyền công tố" Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh vực, phạm vi chủ thể tham gia thực hành quyền công tố Nhưng về nội dung và phạm vi thực hành quyền công tố là những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào Có thể khái quát một số quan điểm chính sau

Quan điểm thứ nhất cho rằng, "Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho

Viện kiểm sát truy tố người phạm tội ra Toà án, thực hiện sự buộc tội tại phiên toà (thực hiện quyền công tố)" [38]

Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với

cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật bao gồm vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, luật kinh tế, luật hình sự và là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó

Quan điểm thứ ba cho rằng, "quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ

quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội" [30, tr.380]

Quan điểm thứ tư cho rằng, "quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước

đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra Toà án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước,

xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật" [40, tr.84-87]

Quan điểm thứ năm cho rằng, "quyền công tố là quyền của Nhà nước, được

Nhà nươc giao cho một cơ quan (ở Việt Nam là cơ quan Viện kiểm sát) thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng từ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên toàn" [38, tr.40]

Theo quan điểm này, quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội Quyền công tố chỉ được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật

đã gắn liền không thể tách với việc nhân danh nhà nước chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự Do vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà không có trong các lĩnh vực khác

Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm trong đó có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng cũng bộc lộ những bất cập nhất định, hạn chế là không phân định rõ ràng khái niệm, bản chất, nội dung,

Trang 13

phạm vi quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Nên coi quyền công tố chỉ là quyền năng của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công

tố là một hoạt động độc lập nhân danh quyền lực công

Với nhận thức của mình, tác giả ủng hộ quan điểm thứ năm nêu trên về khái niệm quyền công tố, bởi các lý do sau đây:

Thứ nhất, tác giả nhận thấy quan điểm này đã khẳng định được quyền công tố

là quyền của Nhà nước, nhân danh nhà nước để buộc tội đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm xâm hại trật tự chung của xã hội và nó chỉ

có trong lĩnh vực hình sự Quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm truyền thống nghiên cứu của lịch sử nhà nước và pháp luật về quyền công tố

Thứ hai, quan điểm này cũng thừa nhận quyền công tố gắn liền với quyền tài

phán của toà án Đó là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ra toà và bảo vệ sự buộc tội trước phiên toà Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, không

có nghĩa cứ phải đưa được người phạm tội ra toà mới là thực hành quyền công tố Trên thực tế, quyền công tố có thể bị triệt tiêu bất cứ lúc nào khi sự việc là đối tượng tác động của quyền công tố có đủ căn cứ để triệt tiêu

Thứ ba, quan điểm cũng thừa nhận quyền công tố chỉ có thể do một cơ quan

thực hiện và độc lập với cơ quan tài phán (ở Việt Nam thực hiện quyền này là Viện kiểm sát)

Thứ tư, quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng về xây dựng nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp hiện nay

Từ những phân tích như trên tác giả xin đưa ra khái niệm quyền công tố: Quyền

công tố là quyền của nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện các quyền năng theo quy định của pháp luật để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, trên cơ sở bảo đảm việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội

Hiến pháp năm 2013, điều 109 cũng nói thêm “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.”

Trang 14

1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Khi nghiên cứu chức năng của VKS chúng ta hay đề cập đến khái niệm thực hành quyền công tố Có quan điểm cho rằng: "Thực hành quyền công tố là việc thực hiện các hoạt động tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước tòa

án và bảo vệ sự buộc tội đó"

- Quyền công tố là quyền lực công, xuất hiện và gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật

- Công tố là quyền lực thuộc về Nhà nước, là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm

- Bản chất của tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, xác định và xử lý chủ thể thực hiện hành vi phạm tội được thể hiện ở ba chức năng chính là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử

Như vậy: "THQCT là hoạt động của VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng

pháp lý thuộc nội dung QCT để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố và trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử"

1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Hiện nay, vấn đề QCT và THQCT còn có nhiều quan điểm của các nhà khoa học khác nhau, các quan điểm đó cũng đều có những hạt nhân hợp lý Ngay cả những người đang tiến hàng tố tụng cũng còn nhiều nhầm lẫn giữa QCT và THQCT cho rằng

là một, nhưng đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau nhưng có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Trong khoa học luật, việc xác định QCT và THQCT có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn rất quan trọng Điều đó giúp cho việc chính xác vai trò, vị trí của VKS trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung và trong các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ chức năng của VKS để từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức VKSND các cấp Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta

Trang 15

đang đẩy mạnh thực hiện các Nghị quyết của Đảng về cải cách bộ máy nhà nước nói chung, cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói riêng

Như đã trình bày ở phần trên, tác giả luận văn tán thành với quan điểm cho rằng QCT là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện nhằm truy cứu TNHS đối với người phạm tội Đây là quyền chỉ có trong lĩnh vực TTHS, bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc khi có quyết định đình chỉ

vụ án theo quy định của pháp luật Theo đó, Nhà nước đã xây dựng các thiết chế, các

cơ chế để đảm bảo thực hiện QCT, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung QCT Như vậy, có thể thấy QCT là quyền lực Nhà nước, còn THQCT là cách thức Nhà nước tổ chức thực hiện quyền lực ấy Việc tổ chức THQCT được quy định rất khác nhau ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử, tuỳ thuộc vào bản chất chế độ chính trị, điều kiện và hoàn cảnh của từng nước

Song thực tế ở nước ta, theo quy định của pháp luật hiện hành và chủ trương của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp, chức năng THQCT chính thức được giao cho

hệ thống cơ quan nhà nước độc lập, đó là VKSND - Cơ quan duy nhất THQCT Tuy vậy, việc phát động QCT cũng có cả ở cơ quan điều tra nhưng chỉ có hiệu lực khi các quyết định khởi tố của cơ quan điều tra được VKS phê chuẩn Nếu các quyết định của

cơ quan điều tra không có căn cứ hoặc trái pháp luật thì VKS có quyền hủy bỏ các quyết định này Nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội mới thì Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định khởi tố vụ

án hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự nhưng quyết định đó phải được gửi cho VKS xem xét, nếu không có căn cứ thì VKS sẽ kháng nghị lên cơ quan cấp trên

Theo đó, về mặt pháp lý chỉ có VKS là cơ quan có quyền độc lập phát động QCT mà không phải chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào và THQCT là chức năng Hiến định mà không cơ quan nhà nước nào làm thay VKS, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã khẳng định: “Không có cơ quan nhà nước nào thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng QCT Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính là VKS phải trông nom, bảo đảm làm tốt [42, tr.38]

Trang 16

Từ những phân tích trên, có thể đi đến khái niệm THQCT trong giai đoạn xét

xử là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung QCT của VKS để

truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Phạm vi:

Công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử bắt đầu từ khi Viện kiểm sát ra bản cáo trạng, quyết định truy tố (với vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn) đến khi có Bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội thì kháng nghị cấp trên

Ý nghĩa:

Quyền năng này được thể hiện qua các hình thức: văn bản pháp luật cá biệt có tính

“mệnh lệnh” - quyết định; biên bản; công văn; hành vi và lời nói của Kiểm sát viên

Ở nước ta trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, đòi hỏi phải đề cao vai trò của hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt là hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp Việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn sẽ tạo ra

cơ chế đồng bộ bảo đảm trật tự kỷ cương, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, công bằng

và tiến bộ xã hội

Thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân là hoạt động phức tạp Trên cơ sở những quyền năng pháp lý mà pháp luật trao cho ngành kiểm sát nói chung và những vụ án thuộc thẩm quyền truy tố, xét xử của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, thành phố nói riêng để thực hành quyền công tố các vụ án thuộc thẩm quyền Việc ban hành các văn bản áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, thành phố khi thực hành quyền công tố các vụ án thuộc thẩm quyền có giá trị bắt buộc thi hành không chỉ đối với người tham gia tố tụng và đối với cả những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng

Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có quyền luận tội bị cáo tại phiên toà, đề xuất hình phạt và các biện pháp tư pháp khác Vì vậy, việc

áp dụng pháp luật một cách đúng đắn trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm cho hoạt động

Trang 17

truy tố và xét xử các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm được đúng người,

đúng tội, đúng pháp luật

THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là một dạng hoạt động áp dụng pháp luật nói chung Vì vậy, nó cũng tuân theo các quy trình chung và được thực hiện qua những giai đoạn sau:

- Giai đoạn thứ nhất: Nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét, đánh giá các tình tiết,

chứng cứ có liên quan đến sự kiện pháp lý, đối tượng và quyết định xử lý do cơ quan

có thẩm quyền ở giai đoạn điều tra, truy tố cung cấp

Đây là khâu đầu tiên, có ý nghĩa rất quan trọng đến quá trình thực hành quyền công tố ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân Đây là nhiệm vụ trọng tâm của Kiểm sát viên khi được phân công thực hành quyền công tố vụ

án hình sự Chỉ có nghiên cứu hồ sơ, nắm vững nội dung vụ án để đưa ra các Yêu cầu điều tra chính xác, đầy đủ cho Điều tra viên thì Kiểm sát viên mới có đầy đủ căn cứ để thể hoàn thành việc buộc tội bị cáo tại phiên toà Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, đánh giá các tình tiết cụ thể của nó để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do đối tượng đã gây ra như: Có hành vi phạm tội hay không? Hành vi đó ở mức độ nào (đủ điều kiện để khởi tố chưa)? Năng lực chịu trách nhiệm hình sự (đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự chưa)? Xảy ra ở đâu? Khi nào? Ai là người thực hiện? Công cụ phương tiện phạm tội? Nhân thân? Trình tự, thủ tục thu thập tài liệu chứng cứ; Các chứng cứ buộc tội, các chứng cứ gỡ tội, những vấn đề còn mâu thuẫn trong hồ

sơ vụ án; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo; Vật chứng của vụ án cần xử lý…

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nói chung và nhất là các vụ án xét xử sơ thẩm ở cấp thành phố nói riêng cũng có nhiều vụ án phức tạp, khung hình phạt cao, có khi có nhiều bị cáo, Kiểm sát viên phải trích cứu những tài liệu quan trọng được sử dụng làm chứng cứ buộc tội, nhất là bản tường trình, biên bản ghi lời khai của bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác Việc trích cứu này giúp Kiểm sát viên nắm chắc thêm quá trình diễn biến của vụ án và làm cơ sở khi đấu tranh với bị cáo trong trường hợp bị cáo có thái độ khai báo quanh co, chối tội tại phiên toà Tài liệu cần phải sắp xếp khoa học theo từng tập, có viện dẫn bút lục trong

Trang 18

hồ sơ để dễ tra cứu khi cần thiết Tránh tình trạng lười ghi chép, chỉ photocoppy lại các biên bản lời khai, không chịu nghiên cứu Làm như vậy, tất yếu sẽ dẫn đến thiếu chủ động, lúng túng, nhất là khi gặp trường hợp tại phiên tòa bị cáo hoặc người bào chữa đưa ra những lý lẽ trái ngược với lời buộc tội của Kiểm sát viên Đối với những chứng

cứ quan trọng, như biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định… cần phải sao chụp để sử dụng tại phiên toà

Khi nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị cho việc tham gia xét xử vụ án hình sự, Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án cần đi phúc cung đối với bị cáo còn đối với những vụ án có diễn biến phức tạp… thì Kiểm sát viên cần báo cáo lãnh đạo có thể hỏi lại người bị hại, nhân chứng để cúng cố chứng cứ đảm bảo việc buộc tội bị cáo chắc chắn, để đảm bảo Kiểm sát viên cũng cần chủ động xem xét tận nơi xảy ra vụ án (hiện trường) hoặc xem lại vật chứng, dấu vết Nếu không nắm vững hồ sơ, thì đề cương xét hỏi tại phiên toà sẽ không chuẩn xác, không có cơ sở để tranh luận; chất lượng tham gia xét hỏi của Kiểm sát viên sẽ không đạt yêu cầu dẫn đến việc đề nghị áp dụng pháp luật về đường lối giải quyết và đưa ra bản luận tội của vụ án sẽ không chính xác Ngoài việc nghiên cứu các chứng cứ buộc tội thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án đó phải nghiên cứu các chứng cứ gỡ tội cho bị cáo, xem xét các chứng cứ buộc tội thu thập có đảm bảo đúng theo các quy định của pháp luật hay không?

Như vậy, việc nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị thực hành quyền công tố tại phiên toà

là giai đoạn khởi đầu hết sức quan trọng của quá trình giải quyết vụ án, nó có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ của Kiểm sát viên tại phiên toà Nếu chuẩn bị tốt ở giai đoạn này, Kiểm sát viên có điều kiện chủ động, tự tin tiến hành hoạt động tố tụng tiếp theo Việc nghiên cứu hồ sơ ở mỗi vụ án có đặc thù riêng, tuỳ thuộc vào từng

vụ án cụ thể mà Kiểm sát viên có phương pháp nghiên cứu phù hợp Từ kết quả nghiên cứu định hướng cho Kiểm sát viên có những quyết định nhạy bén và đúng đắn tại phiên tòa Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ban đầu có một ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo cho việc ra quyết định áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát đảm bảo đúng pháp luật, việc giải quyết vụ án hình sự được tuân thỉ theo đúng quy định của pháp luật

Trang 19

- Giai đoạn thứ hai: Xem xét, dẫn nguồn, lựa chọn các quy phạm pháp luật để

áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố giai đoạn XXST các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Giai đoạn này được thực hiện dựa trên ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết, kiến thức pháp luật của Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố xét xử

sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND Kiểm sát viên có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cần phải xem xét, đánh giá đầy đủ sự kiện pháp lý đã xảy ra, những công việc đã xử lý ở giai đoạn điều tra, đề xuất của Cơ quan điều tra về quan điểm áp dụng pháp luật để xử lý vụ án, quyết định truy tố người phạm tội để xét xử ở Toà án có đúng thẩm quyền hay không, đồng thời phải nghiên cứu, xem xét các quy định pháp luật áp dụng để xử lý vụ án Để từ đó xác định nội dung quy phạm được áp dụng, phạm vi quy phạm pháp luật được áp dụng trong hoạt động thực hành quyền công tố xét xử các vụ

án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, đảm bảo đúng quy định của pháp luật Muốn làm được điều đó, đòi hỏi Kiểm sát viên áp dụng pháp luật phải tiến hành giải thích quy phạm pháp luật; phải làm sáng tỏ tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật được lựa chọn Lựa chọn quy phạm pháp luật đúng là yêu cầu quan trọng để quyết định áp dụng pháp luật sẽ chính xác

Tóm lại, giai đoạn áp dụng pháp luật này cần đòi hỏi phải lựa chọn đúng quy phạm pháp luật được trù tính cho trường hợp đó; quy phạm pháp luật áp dụng phải là quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật và không mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật khác; xác định tính chân chính của văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng quy phạm này; nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật

- Giai đoạn thứ ba : Ban hành quyết định áp dụng pháp luật

Ban hành quyết định áp dụng pháp luật trong giai đoạn này là việc Viện kiểm sát nhân dân ra các quyết định về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Toà án quyết định tội phạm và hình phạt cụ thể đối với từng bị cáo và bảo vệ cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát Đây là giai đoạn quan trọng nhất của cả quá trình áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND Tuy nhiên, đây là dạng ADPL đặc thù nên quyết định ADPL của Viện kiểm

Trang 20

sát nhân dân trong giai đoạn này thường là trực tiếp bằng lời nói trong bản luận tội đối với bị cáo tại phiên toà Quyết định về đường lối giải quyết vụ án như tội phạm, hình phạt, xử lý vật chứng, bồi thường thiệt hại,… được công bố sau khi đã xem xét, đối chiếu một cách thận trọng, khách quan với toàn bộ những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án; các tình tiết, chứng cứ đã được điều tra công khai tại phiên toà, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan

Đây là giai đoạn trọng tâm của hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, hội tụ kết quả của các giai đoạn trước đó, là kết quả áp dụng các quy định của pháp luật vào vụ

án, bị cáo cụ thể để đề ra các quyết định chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

- Giai đoạn thứ tư: Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật

Việc tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật Khác với các quyết định áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước khác, quyết định áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân được thi hành ngay mà mặc nhiên không phải triển khai các biện pháp tổ chức thi hành

Chẳng hạn khi Viện kiểm sát rút toàn bộ cáo trạng trước khi mở phiên toà thì vụ án phải đình chỉ theo quy định tại Điều 108 Bộ luật tố tụng hình sự, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên toà

1.2 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

- Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm

Sau khi kết thúc điều tra, nếu xác định có tội phạm và cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can thì Cơ quan điều tra phải làm bản kết luận điều tra Trường hợp vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn, khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra không làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố Bản kết luận điều tra (quyết định đề nghị truy tố) cùng toàn bộ hồ sơ vụ án phải được chuyển sang VKS để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền (Điều 162 BLTTHS 2003) Trong thời hạn không quá hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối

Trang 21

với với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày VKS nhận được hồ

sơ vụ án và bản kết luận điều tra; Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát

có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng VKS xem xét thấy có đủ các căn cứ để truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử thì VKS ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, VKS phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án

- Tại phiên tòa sơ thẩm

Tại phiên tòa sơ thẩm chức năng thực hành quyền công tố của VKS là buộc tội thông qua việc công bố bản cáo trạng, quyết định truy tố, tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận nhằm buộc tội bị cáo, bảo vệ cáo trạng tại phiên Tòa Đồng thời Kiểm sát viên cũng ghi chép lại đầy đủ diễn biến phiên tòa (Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014)

- Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm

Sau phiên tòa sơ thẩm, chức năng thực hành quyền công tố của VKS vẫn được duy trì thông qua việc KSV tham gia phiên tòa vẫn tiếp tục nghiên cứu, xem xét, đánh giá kết quả hoạt động xét xử để kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của việc ra Bản

án, quyết định của Tòa án thông qua đó để phát hiện những sai sót, vi phạm pháp luật

để kịp thời kháng nghị theo trình tự của pháp luật (Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014)

1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

Trang 22

thiện thì hoạt động này của VKSND ngày càng được bảo đảm Sau Hiến pháp, đạo luật gốc quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của VKS thì BLHS, BLTTHS là những cơ sở pháp lý cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động THQCT ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự

Bộ luật hình sự là văn bản pháp luật duy nhất quy định về tội phạm và hình phạt, được hiểu là các quy phạm nội dung của pháp luật hình sự; căn cứ pháp lý quan trọng nhất trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự Nó là yếu tố bảo đảm hàng đầu cho việc THQCT nói chung và đặc biệt là trong giai đoạn XXST các vụ án hình sự nói riêng Xuất pháp từ tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm xây dựng, hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự, là lĩnh vực được pháp điển sớm hơn so với những ngành luật khác Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985, là công cụ hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống tội phạm, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức trong xã hội Song trước đòi hỏi của thực tiễn, BLHS đã được 4 lần sửa đổi bổ sung (ngày 28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992, 10/5/1997) và được thay thể bởi BLHS năm 1999 (Quốc hội khoá X thông qua ngày 21/12/1999); tiếp tục được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009

Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời đánh dấu một bước phát triển mới cao hơn của hoạt động lập pháp hình sự nước ta trong suốt hơn năm mươi năm qua, vì nó được hình thành không chỉ trên cơ sở tổng hợp những kinh nghiệm, thành tựu của thực tiễn hình

sự và các tri thức về khoa học tiên tiến trên thế giới Đây chẳng những là công cụ sắc bén, hữu hiệu của Đảng, Nhà nước và của nhân dân để đấu tranh phòng, chống tội phạm mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng bậc nhất cho việc THQCT nói chung và THQCT ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự

Ngày 27/11/2015 Bộ luật hình sự 2015 được ban hành gồm 3 Phần, 26 Chương,

426 Điều thay vì Bộ luật hình sự 1999 gồm 2 Phần, 24 chương, 344 Điều Mặc dù đến nay chưa có hiệu lực nhưng theo tinh thần Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội thì các điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định về hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án

Trang 23

tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với các hành

vi phạm tội trước ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử, hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích

BLTTHS được coi là luật hình thức, là căn cứ pháp lý quan trọng nhất quy định: Trình tự, thủ tục khỏi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hễ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc

tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Cũng như BLHS, BLTTHS đã được 3 lần sửa đổi bổ sung (ngày 30/6/01990, 22/12/1992, 09/6/2000) và được thay thế bởi BLTTHS năm 2003 (Quốc hội khoá XI thông qua ngày 26/11/2003) Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời đánh dấu một bước phát triển mới cao hơn về tư tưởng và kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta và nhằm điều chỉnh kịp thời các mối quan hệ trong thời kỳ đổi mới của đất nước

Ngày 27/11/2015 BLTTHS số 101/2015/QH13 được ban hành với nhiều nội dung sửa đổi, cụ thể: BLTTHS năm 2015 với nhiều sửa đổi, bổ sung tăng thêm 154 điều luật với 176 điều mới, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều Trong đó một số quy định về THQCT như mở rộng diện người tham gia tố tụng; bổ sung diện người tham gia tố tụng, một số cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra; quy định rõ quyền hạn, nhiệm vụ của cấp trưởng, cấp phó các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra; bổ sung quyền của những người tham gia tố tụng theo hướng mở rộng hơn diện người tham gia tố tụng

Tuy nhiên ngày 30/06/2016, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo về Lệnh số 10/2016/L-CTN của Chủ tịch nước công bố Nghị quyết số 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13; và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung

Trang 24

một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016

Bên cạnh hai Bộ luật nói trên, cơ sở pháp lý để đảm bảo TTHQCT ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự còn phải kể đến các Thông tư liên tịch, Nghị quyết của các cơ quan chức năng hướng dẫn thi hành

Bộ luật hình sự, BLTTHS Việt Nam hiện hành và các văn bản hướng dẫn về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân và yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp Song hiện nay, qua thực tế áp dụng cũng còn nhiều quy định chưa cụ thể, chưa được hướng dẫn để áp dụng thống nhất, có những quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo… điều đó, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động hình sự nói chung và trong THQCT ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng

Bảo đảm về tổ chức

Bảo đảm về mặt tổ chức là yêu cầu không thể thiếu và là yếu tố quan trọng nhất

để nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi cơ quan tổ chức, trong đó công tác cán bộ được xác định là khâu then chốt

Người cán bộ, công chức tốt là người phải có đủ trình độ, năng lực hoàn thành tốt công việc được giao, đồng thời là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt Đối với Viện kiểm sát nhân dân thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chuyên viên, công chức trong

cơ quan nếu trình độ năng lực yếu kém sẽ tác động trực tiếp đến việc oan, sai, bỏ lọt tội phạm, xét xử thiếu công minh Thực hiện pháp luật nghiêm minh là yêu cầu đối với tất

cả các chủ thể thực hiện pháp luật, nhưng đối với cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu khắt khe và chuẩn mực hơn vì hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Ngoài ra, phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ công chức nhất là đối với các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, cán bộ, công chức công tác trong ngành Kiểm sát có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật nói riêng Đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chuyên viên, công chức công tác trong ngành Kiểm sát phải có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng không những luôn chấp hành, tuân thủ pháp luật nghiêm minh, có những xử sự theo đúng yêu cầu của pháp

Trang 25

luật mà quan trọng hơn là trong quá trình thực thi công vụ việc thực hiện pháp luật của

họ phải bảo đảm nghiêm minh, kịp thời Sở dĩ có thể khẳng định như trên vì khi những người thực thi nhiệm vụ có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng thì nhân cách, phẩm giá, lương tâm của họ sẽ đạt được các giá trị chuẩn mực phù hợp với yêu cầu thực hiện pháp luật Bản thân họ với những giá trị ấy không làm gì trái pháp luật mà còn tích cực chủ động, nêu cao tinh thần phụ trách và trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực được giao Trái lại, những cán

bộ, công chức thoái hoá biến chất về phẩm chất đạo đức, lối sống sẽ dễ buông thả, vi phạm pháp luật, thậm chí tiếp tay, bao che cho các hành vi vi phạm pháp luật để trục lợi Như vậy, để bảo đảm thực hiện pháp luật theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, đối với đội ngũ cán bộ, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

Trong những năm qua, đội ngũ Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố cũng ngày càng được kiện toàn theo hướng chú trọng nâng cao cả về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức để có thể thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Cùng với quá trình đổi mới, kiện toàn tổ chức

và hoạt động của ngành Kiểm sát, cũng phải đổi mới kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp khác, đặc biệt là Toà án và Cơ quan điều tra, các cơ quan bổ trợ tư pháp… Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các

cơ quan này là yếu tố quan trọng bảo đảm việc áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Các bảo đảm khác

Thứ nhất, đó là sự giám sát của các thiết chế xã hội

Nghị quyết số 08 năm 2002 của Bộ chính trị đã nhấn mạnh tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân sân, của các tổ chức xã hội và của công dân đối với công tác tư pháp , điều đó chứng minh rằng Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng và đặc biệt quan tâm, nhìn nhận chính xác tầm quan trọng của việc phải tăng cường giám sát đối với cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo sự độc lập trong xét xử, nhưng cũng

Trang 26

tránh trường hợp lạm dụng quyền lực của Nhà nước phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Cụ thể sự giám sát đó thể hiện ở những cơ quan sau:

* Giám sát của cơ quan dân cử

Một trong những cơ chế kiểm tra, giám sát hữu hiệu hoạt động tư pháp đó là sự giám sát từ phía cơ quan dân cử: Quốc hội, Hội đồng nhân dân Với sự giám sát của cơ quan dân cử, sẽ giúp cho VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách có trách nhiệm, đúng pháp luật, qua đó phát hiện sớm, kịp thời những việc làm sai trái của cán

bộ, kiểm sát viên, từ đó phản ánh, chấn chỉnh nhằm đảm bảo việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật ở địa phương nói riêng trên toàn quốc nói chung, ngăn chặn được tình trạng làm quyền của VKSND

* Giám sát của các tổ chức xã hội và của nhân dân

Trong giai đoạn XXST, để bảo đảm việc xử lý hành vi phạm tội được khách quan, đúng pháp luật không những phải có cơ quan chuyên môn, người có chuyên môn nghiệp vụ am hiểu pháp luật thực thi quyền này mà pháp luật còn quy định cụ thể vai trò của giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, của báo chí và của nhân dân đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong XXST Tại phiên tòa, người đại diện của nhân dân giám sát hoạt động xét xử của thẩm phán, kiểm sát viên

đó là Hội thẩm nhân dân Mặt khác, tại phiên tòa, công dân có quyền tham dự phiên toà xét xử công khai, qua đó có những nhìn nhận về năng lực, trình độ của KSV cũng như các thành viên khác của HĐXX, thấy được việc THQCT của KSV tại phiên toà có đúng pháp luật hay không

Giám sát của các cơ quan, tổ chức đại biểu dân cử, tổ chức xã hội và nhân dân

là hình thức giám sát từ bên ngoài Đây là những hình thức giám sát luôn đem lại những hiệu quả rất lớn song thực tế nó chưa đem lại hiệu quả như mong muốn, chất lượng hoạt động của các cơ quan, tổ chức này chưa đáp ứng được yêu cầu vì chủ yếu việc giám sát này chỉ thực hiện trên báo cáo

Thứ hai, đó là công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, thanh tra, kiểm tra trong

ngành Kiểm sát nhân dân

Cần tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra thanh tra trong ngành Kiểm sát được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng bảo đảm việc THQCT trong

Trang 27

giai đoạn XXST các vụ án hình sự Mặt khác, một trong các nguyên tắc hoạt động cơ bản của VKS là tập trung thống nhất thì vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành càng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thúc đẩy chất lượng công tác THQCT Thực tiễn cho thấy, ở đâu vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ lãnh đạo tốt, công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện thường xuyên có hiệu quả thì ở đó sẽ phát huy được sức mạnh của Kiểm sát viên trong việc THQCT kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và uốn nắn những thiếu sót trong quá trình thực thi nhiệm vụ

Thứ ba, đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của cấp uỷ Đảng

Trong tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân, Đảng giữ vai trò lãnh đạo về chính trị, tư tưởng, đưa ra các quan điểm, nguyên tắc, hoạch định đường lối, chủ trương Đảng lãnh đạo về tổ chức, cán bộ, đó là việc xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch cán bộ, lãnh đạo quá trình bổ nhiệm các chức danh, đó là việc sắp xếp cán bộ có đủ đức, đủ tài, có năng lực trình độ vào những công việc trọng yếu của công tác tư pháp nói chung và công tác THQCT nói riêng Đảng lãnh đạo bằng phương thức kiểm tra, kịp thời uốn nắn sai phạm, loại bỏ những cái bộ thái hoá biến chất, không giữ được phẩm chất người cán bộ cách mạng Về phương thức, Đảng lãnh đạo nhưng không can thiệp trực tiếp, không làm ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập, khách quan, vô tư của ngành kiểm sát và chỉ tuân theo pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thông qua việc cấp uỷ Đảng định kỳ nghe báo cáo tình hình hoạt động, thông qua kết quả kiểm tra, sẽ giúp cấp uỷ Đảng đánh giá được những ưu, khuyết điểm trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND Từ đó, các chủ trương lãnh đạo, kiện toàn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân

Thứ tư, đó là yếu tố cơ sở vật chất, chế độ, chính sách đối với cán bộ, kiểm sát viên

Vấn đề cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật cần thiết phục vụ cho công tác tuy chỉ là những yếu tố hỗ trợ nhưng lại có tác dụng rất lớn trong quá trình giải quyết vụ án Thực tiễn cho thấy, để làm tốt chức năng THQCT, KSV phải tham gia tố tụng ngay từ đầu, kể cả khi chưa khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; phải tiến hành một số hoạt động cần thiết như phúc cung, xác minh lời khai của người làm chứng dựng lại hiện trường, đặc biệt là áp dụng nguyên

Trang 28

tắc suy đoán vô tội… Để hoạt động đạt hiệu quả thì ngoài khả năng trình độ, nhiệt huyết của cán bộ, KSV thì các yếu tố bổ trợ như cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật cũng hết sức cần thiết

Chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ đối với KSV cũng đóng một vai trò không nhỏ trong việc đảm bảo chất lượng THQCT Hiện nay, chế độ tiền lương của cán bộ công chức nói chung, của ngành Kiểm sát nói riêng đã được quan tâm nhất định song thực tế vẫn còn khó khăn cho người cán bộ so với các khoản chi phí sinh hoạt cần thiết hàng tháng Trong khi đó, KSV làm công tác này lại phải tiếp xúc với những cám dỗ bởi những lợi ích vật chất do những đối tượng vi phạm pháp luật đưa đến, họ sẽ dễ bị

sa ngã, nếu KSV không giữ được bản lĩnh, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp Vì vậy, đảm bảo tiền lương và các chế độ trợ cấp cho cán bộ làm công tác bảo vệ pháp luật nói chung, cán bộ KSV nói riêng để KSV toàn tâm, toàn ý phục vụ công tác và cống hiến cho sự nghiệp chung, chắc chắn chất lượng, hiệu quả công tác sẽ được nâng cao Ngoài ra, cũng cần nghiên cứu cơ chế đặc biệt để bảo vệ cán bộ công chức làm công tác tư pháp, thân nhân của họ, tránh sự trả thù, sự xâm hại từ các đối tượng vi phạm pháp luật và bị xét xử

Thứ năm, đó là mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Hoạt động phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, trước hết là cơ quan điều tra, VKS và Toà án trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm kịp thời, triệt để, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và không để lọt tội phạm

Quan hệ phối hợp này thể hiện trong việc phối hợp triển khai các luật, pháp lệnh mới và các văn bản hướng dẫn khác; phối hợp trong công tác giải quyết các thông tin về tội pham, trong việc chọn và giải quyết các vụ án điểm và đưa ra xét xử lưu động; phối hợp giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tố tụng của các Điều tra viên, KSV, Thẩm phán và phối hợp trong công tác kiểm tra, chỉ đạo hướng dẫn các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp thành phố Sự phối hợp phải dựa trên các quy định của BLTTHS, các thông tư liên tịch và quy ước phối hợp liên ngành đã được xây dựng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Thứ sáu, đó là vai trò của báo chí, truyền thông

Trang 29

Thực tiễn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, quá trình giải quyết

vụ án là quá trình mà báo chí, truyền thông có thể đưa tin về vụ án, trong đó có những bài viết có tính chất đưa tin, có những bài bình luận về vụ án Đây là nhưng biểu hiện dân chủ, công khai trong đời sống xã hội, chính trị ở nước ta Tuy nhiên, những thông tin này cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến việc THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm của KSV nói riêng và những người tiến hành tố tụng nói chung Là người trưc tiếp THQCT ở giải đoạn xét xử sơ thẩm án hình sự, KSV cũng chịu những

áp lực từ phía dự luận, do đó KSV phải nghiêm túc, cầu thị nghiên cứu kỹ các thông tin này và có biện pháp xử lý

Xét về mặt ảnh hưởng tích cực, thì đây cũng chính là một trong những nguồn tin quan trọng giúp cho KSV có những tư liệu để xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ

án một cách khách quan, toàn diện hơn Mặt khác, khi nghiên cứu các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, KSV còn cần phải tổng hợp, đối chiếu, so sánh với các tình tiết của vụ án để xem xét thông tin đó phản ánh như thế nào, có điểm nào đúng, điểm nào sai, điểm nào mới mà hồ sơ chưa phản ánh để từ đó KSV lưu ý khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Thông tin đó không phải chỉ là của phóng viên mà có thể là ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự…Vì vậy, đòi hỏi KSV phải chú ý nghiên cứu, xem xét xử lý cho phù hợp nhằm THQCT tại phiên toà XXST được chính xác, đúng pháp luật và được dư luận nhân dân đồng tình ủng hộ

Ngược lại, nếu kiểm sát viên không chú ý nghiên cứu đến các thông tin trên báo chí, truyền thông về vụ án mà mình thụ lý, thì khi ra phiên toà sẽ khó có thể chủ động,

để tranh luận với bị cáo, người bào chữa; do đó sẽ dẫn đến việc THQCT ở XXST không chích xác, đúng pháp luật, thấu tình đạt lý, không được những người tham dự phiên toà và nhân dân ủng hộ, thậm chí dẫn đến THQCT ở XXST không đúng, làm oan người vô tội

Tuy nhiên, dư luận của báo chí, truyền thông cũng là một trong những áp lực ảnh hưởng lớn đến tâm lý kiểm sát viên, từ đó ảnh hưởng đến quy trình THQCT của KSV ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự nói riêng, của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, nó tạo ra những tâm lý đối phó, tâm lý làm

Trang 30

theo dư luận của truyền thông… o đó ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định của KSV ở giai đoạn XXST không được chính xác đúng pháp luật

Kết luận chương 1

Nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành, luận văn đã khái quát được những vấn đề

cơ bản về khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự sơ thẩm Trên cơ sở phân tích, lý luận pháp luật tố tụng hình sự luận văn làm sáng tỏ chức năng, vai trò, của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thực hành quyền công tố Luận văn đã khái quát được nội dung hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thực hành quyền công tố nói chung

và trong hoạt động xét xử các vụ án sơ thẩm nói riêng

Trang 31

Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ

SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang;

- Phía Nam giáp huyện Tiên Du, huyện Quế Võ;

- Phía Đông giáp huyện Quế Võ;

- Phía Tây giáp huyện Tiên Du, huyện Yên Phong

Địa hình: Thành phố Bắc Ninh địa hình của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ, tương đối bằng phẳng, gồm địa hình đồng bằng và địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du Hướng dốc chính của địa hình theo hướng Đông Bắc - Tây Nam

- Hàng năm có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau; gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm, gây mưa rào

Đặc điểm thủy văn: Thành phố có chế độ thủy văn thuộc hệ thống lưu vực Sông Cầu (bắt nguồn từ tỉnh miền núi Bắc Kạn), đoạn chảy qua thành phố dài đến 30km (chiếm khoảng 1/4 tổng chiều dài qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh), lòng sông mùa khô rộng (60 - 80m), mùa mưa rộng (100 - 120m) số liệu đo mực nước tại Đáp Cầu: mực nước

(năm 1960), lưu lượng tối thiểu 4,3m3/s Mực nước báo động cấp 1 là 3,8m; mực nước báo động cấp 3 là 5,8m Trên địa bàn thành phố còn có các nhánh nhỏ của sông Cầu như: sông Ngũ Huyện Khê, đoạn chảy qua địa bàn từ xã Phong Khê đến xã Hòa Long

Trang 32

dài khoảng 15km; sông Tào Khê, từ xã Kim Chân - Cầu Ngà dài khoảng 9km Ngoài

ra, có các tuyến kênh mương, ao hồ chính như: kênh Nam dài 8,8km; kênh Tào Khê dài 9,4km; hồ nước Đồng Trầm (diện tích khoảng 40ha, mực nước mùa kiệt 1 - 1,5m);

hồ Thành Cổ (diện tích khoảng trên 8,0ha, mực nước mùa kiệt 0,5m)

Theo số liệu thống kê đất đai, diện tích tự nhiên của thành phố có 8.260,88ha Trong đó: đất nông nghiệp 3.745,16ha, đất phi nông nghiệp 4.459,76ha và đất chưa sử dụng 55,96ha

Nguồn nước mặt: Với lợi thế nằm cạnh sông Cầu về phía Bắc thuộc vùng trung

hạ lưu của hệ thống sông Cầu, có sông nhánh Ngũ Huyện Khê nằm tại khu vực phía Tây và sông Tào Khê nằm tại khu vực phía Đông của thành phố Các dòng chảy đã cung cấp nước mặt phong phú cho các hoạt động sản xuất, giữ vai trò quan trọng về công tác thủy lợi của địa phương mà còn tạo giá trị kinh tế cao về giao thông đường thủy: cảng sông Đáp Cầu chuyên phục vụ bốc xếp vật tư, nguyên liệu cho nhà máy Kính cùng nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn Ngoài ra, trên địa bàn thành phố có hệ thống hồ, ao phân bố rải rác trong các khu vực cùng với

hệ thống kênh mương thủy lợi đảm nhận chức năng điều tiết, lưu chuyển lượng nước mặt cho thành phố và tạo cảnh quan, không gian môi trường sinh thái

Nguồn nước ngầm: theo kết quả điều tra địa chất thủy văn thì vùng Bắc Ninh có nguồn nước ngầm mạch nông, chiều dày tầng trung bình 10 - 12m và là tầng chứa nước có áp, lưu lượng nước khá phong phú (3,5 - 10,6l/s.m) Vùng phía Bắc có trữ lượng khá lớn, khả năng khai thác với trữ lượng cao và chất lượng đảm bảo: khu vực làng Hữu Chấp, Đẩu Hàn thuộc xã Hòa Long với trữ lượng khoảng 13.000 m3/ngày.đêm Khu vực phía Đông Nam thành phố có trữ lượng nước dồi dào song chất lượng không đảm bảo

b Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2016 ước đạt 868.609 triệu đồng, tăng 137,4% so với cùng kỳ năm trước và đạt 110,1% so với kế hoạch năm

Nhìn chung có 4/5 nguồn thu chính đều tăng so với cùng kỳ năm trước đó là: Thuế VAT, và thuế tiêu thụ đặc biệt 6 tháng đầu năm thu đạt 103.208 triệu đồng, tăng

Trang 33

90,1% so với cùng kỳ năm trước và đạt 94,3% kế hoạch năm; Thu thuế thu nhập doanh nghiệp 16.592 triệu đồng, bằng 46,1% kế hoạch năm; thu thuế thu nhập cá nhân đạt 33.302 triệu đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước và đạt 51,2% kế hoạch năm; thu lệ phí trước bạ đạt 78.000 triệu đồng, tăng 31,2% so với cùng kỳ năm trước

và đạt 63,9% kế hoạch năm, còn lại nguồn thu tiền sử dụng đất đạt 121.189 triệu đồng, tăng 83,0% so với cùng kỳ năm trước và đạt 40,4% kế hoạch năm Về thu ngân sách địa phương 6 tháng đầu năm 2016 đạt 803.933 triệu đồng, tăng 59,8% so với cùng kỳ năm trước và đạt 159,3% so với kế hoạch năm

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo đựơc đổi mới và nâng cao chất lượng toàn diện hướng tới mục tiêu “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài”, ngành giáo dục luôn khẳng định là đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh với 90% cán bộ giáo viên đạt trình độ trên chuẩn Đầu tư xây dựng cụm trường trọng điểm chất lượng cao, hiện đại, đồng bộ (trường MN Phương Anh, Tiểu học, THCS Suối Hoa, THPT Chuyên Hàn Thuyên) và tăng cườg cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị phục vụ dạy học Hệ thống giáo dục phát triển mạnh ở cả 4 cấp Đến nay, trên địa bàn thành phố có 66 trường học và 16 trường đại học, cao đẳng, trung cấp, dạy nghề và đang quy hoạch khu đô thị đại học trên địa bàn

Phong trào khuyến học, khuyến tài thành phố phát triển cả về bề rộng và chiều sâu; việc xây dựng quỹ khuyến học được quan tâm và kịp thời khen thưởng, trao học bổng, hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn và tuyên dương hơn 750 học sinh đỗ đại học chính quy nguyện vọng 1 hàng năm Đồng thời tiếp nhận gần 60 thạc sỹ, sinh viên Đại học tốt nghiệp lọai giỏi về thành phố công tác

Trên địa bàn thành phố hiện có 19/19 trạm y tế xã, phường và mạng lưới các bệnh viện, trung tâm y tế, trung tâm chăm sóc sức khoẻ nằm rải rác trên địa bàn với

cơ sở vật chất và đội ngũ y, bác sĩ có kinh nghiệm Trong đó, đến tháng 4/2014, có 8 đơn vị đạt tiêu chí quốc gia y tế xã Từ đầu năm 2016, đã thực hiện tiêm chủng mở rộng cho 1408/4720 trẻ em trên địa bàn thành phố

2.1.2 Đặc điểm tội phạm trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

Bên cạnh sự phát triển kinh tế mà thành phố Bắc Ninh trong những năm qua đã đạt được, thì tình hình tội phạm cũng diễn biến hết sức phức tạp với phương thức, thủ

Trang 34

đoạn phạm tội ngày một tinh vi, xảo quyệt Đối tượng phạm tội có tuổi đời trẻ, số vụ trọng án, phạm tội có đông người tham gia ngày một tăng cả về số lượng và tính chất nguy hiểm của hành vi Với tình hình trên các cơ quan bảo vệ pháp luật thành phốBắc Ninh đã ban hành nhiều văn bản, xây dựng kế hoạch và đề ra nhiều biện pháp để huy động các lực lượng đấu tranh phòng chống tội phạm Các ngành, các cấp, các lực lượng và quần chúng nhân dân đã tích cực tham gia đấu tranh, tố giác và xử lý tội phạm

Năm 2016, tình hình an ninh chính trị trên địa bàn thành phố Bắc Ninh ổn định, không xảy ra vụ án nào thuộc lĩnh vực an ninh, quốc gia

Về tội phạm trật tự, xã hội: VKSND thành phố đã kiểm sát khởi tố 60 vụ/154 bị can (tăng 04 vụ/14 bị can so với năm 2015) Tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Bắc Ninh vẫn tiếp tục có diễn biến phức tạp, số người phạm tội là người chưa thành niên chiếm tỷ lệ ngày càng cao Hoạt động của tội phạm manh động, có sử dụng “vũ khí nóng”, tội phạm sử dụng công nghệ cao, chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích do mẫu thuẫn trong nội bộ nhân dân gia tăng gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

Tội phạm về kinh tế, sở hữu: VKS thành phố đã kiểm sát khởi tố 114 vụ/119 bị can (giảm 18 vu/28 bị can so với năm 2015)

Tội phạm ma túy: số vụ đã kiểm sát khởi tố là 117 vụ/125 bị can (tăng 35 vụ/31

bị can so với năm 2015) Tổng trọng lượng ma túy thu được gồm 24,2589g là chế phẩm Heroin; 1627,0644g Methamphetami…Tình hình tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, số lượng các vụ án được điều tra xử lý vẫn chủ yếu là tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ít hơn nhưng diễn biến khá phức tạp, các đối tượng bán ma túy ngày càng hành động với thủ đoạn tinh vi nên việc phát hiện, xử lý gặp nhiều khó khăn

Về tai nạn giao thông: năm 2016 xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng (tăng 20 vụ so với năm 2015), làm 50 người chết, 07 người bị thương và nhiều phương tiện bị hư hỏng

Năm 2016 trên địa bàn thành phố xảy ra 19 vụ chết người không rõ nguyên nhân, 01 vụ tai nạn lao động dẫn đến chết người, 04 vụ cháy, 01 vu án mạng, 01 vụ

Trang 35

điện giật và 02 vụ giết người Cơ quan chức năng đã tiến hàng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi tiếp tục điều tra làm rõ

Công tác phòng chống tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội được quan tâm, đặc biệt là công tác đảm bảo an ninh trật tự phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021; trong tháng, lực lượng công an chủ động phối hợp cùng với các ngành và các địa phương tăng cường công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để chuẩn bị cho sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và của tỉnh; quản lý chặt chẽ các loại đối tượng, kịp thời phát hiện và ngăn chặn hoạt động âm mưu, phá loại của các phần tử xấu, đối tượng quá khích nhằm bảo vệ tuyệt đối an toàn cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021

2.2 Thực trạng thực hiện quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh

Bảng số liệu vụ án Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công

tố giai đoạn xét xử sơ thẩm từ 2012-2016

Năm 2014 số vụ án xét xử tăng 40 vụ/88 bị cáo so với năm 2013, trong đó cũ

21 vụ/44 bị cáo; mới 243 vụ/405 bị cáo; Tỉnh ủy quyền xét xử 08 vụ/40 bị cáo

Trang 36

Năm 2015 số vụ án VKS thụ lý kiểm sát xét xử tăng 35 vụ, giảm 12 bị cáo so với năm 2014, trong đó cũ 52 vụ/67 bị cáo; mới 247 vụ/381 bị cáo; VKS tỉnh ủy quyền xét xử 06 vụ/25 bị cáo; phục hồi 02 vụ/04 bị cáo

Năm 2016 tăng 10 vụ/10 bị cáo so với năm 2015, trong đó: cũ 37 vụ/ 67 bị cáo; mới 261 vụ/392 bị cáo; VKS tỉnh ủy quyền xét xử 11 vụ/20 bị cáo; phục hồi 04 vụ/04 bị cáo; trả tòa án 03 vụ/03 bị can Trong năm VKS thành phố Bắc Ninh đã phối hợp Tòa án nhân dân thành phố tổ chức 14 phiên tòa hình sự/12 Kiểm sát viên thực hành quyền công

tố để rút kinh nghiệp (trong đó có 02 phiên tòa đơn vị tổ chức mời Viện kiểm sát tỉnh và đơn vị bạn cùng rút kinh nghiệm và 01 phiên tòa tổ chức rút kinh nghiệm trực tuyến); xét

xử lưu động 18 vụ tại UBND các phường Thị Cầu, Ninh Xá, Vân Dương, Khắc Niệm, Đáp Cầu và Khúc Xuyên nhằm tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong quần chúng nhân dân và phuc vụ nhiệm vụ chính trị địa phương

Công tác thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh bước đầu được đánh giá là có chuyển biến tích cực, các vụ án đưa ra xét xử đảm bảo đúng hạn luật định Kiểm sát viên tham gia xét xử đã nghiên cứu kỹ hồ sơ, chuẩn bị luận tội, dự kiến thẩm vấn, tích cực tranh luận tại phiên tòa Việc áp dụng pháp luật chính xác, không có trường hợp nào Viện kiểm sát truy tố mà Tòa án tuyên không phạm tội hoặc khác tội danh Viện kiểm sát đã truy tố

Từ thực tiễn áp dụng quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình

sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tổng kết qua Báo cáo tổng kết các

năm, có thể đưa ra những ưu điểm cơ bản về hoạt động này như sau:

2.2.1 Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét, đánh giá các tình tiết, chứng cứ có liên quan của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đảm bảo khách quan, toàn diện, thận trọng và đúng pháp luật

Việc nghiên cứu hồ sơ và chuẩn bị kế hoạch tham gia xét xử, đề cương xét hỏi,

đề cương tranh luận, dự thảo bản luận tội và đặc biệt bản cáo trạng được chú trọng hơn, nên đã thể hiện đúng vị trí vai trò của Viện kiểm sát tại phiên tòa Nội dung của bản cáo trạng thể hiện được đầy đủ những thông tin cần thiết đối với việc giải quyết vụ

án như: Diễn biến hành vi phạm tội; tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi đó gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; đặc điểm

Trang 37

nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng phần kết luận quy định rõ điểm, khoản trong điều luật được áp dụng

Đây là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng để phục vụ công tác thực hành quyền công tố xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh Trong những năm qua, thực hiện chủ trương thông khâu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (hoạt động thực hành quyền công tố trong điều tra và xét xử

sơ thẩm do cùng một bộ phận đảm nhiệm), nên các Kiểm sát viên vừa thực hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn điều tra, lại trực tiếp thực hành quyền công tố

ở giai đoạn xét xử sơ thẩm Điều này, tạo điều kiện cho Kiểm sát viên nắm chắc diễn biến và hồ sơ vụ án, áp dụng pháp luật được chính xác Hầu hết Kiểm sát viên đã nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, do vậy khi được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã cố gắng thực hiện đúng các thao tác nghiệp vụ theo quy định tại Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình

sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao như nghiên cứu hồ sơ vụ án để nắm vững nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, các chứng cứ buộc tội và gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Trên cơ sở

đó, Kiểm sát viên dự thảo kế hoạch tham gia xét xử, đề cương xét hỏi, dự thảo bản luận tội, đề cương tranh luận dự kiến những vấn đề luật sư có thể nêu ra để đối đáp tranh luận

2.2.2 Việc xem xét, dẫn nguồn, lựa chọn các quy phạm pháp luật để áp dụng về cơ bản phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án

Việc xem xét, dẫn nguồn, lựa chọn các quy phạm pháp luật để áp dụng trong thực hành quyền công tố giai đoạn xét xử sơ thẩm của VKSND thành phố Bắc Ninh về

cơ bản phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, các quy phạm pháp luật áp dụng đều đảm bảo là quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật và không mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật khác

Ở phiên tòa sơ thẩm, các Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố đều đã thực hiện tốt nhiệm vụ công bố cáo trạng của Viện kiểm sát, đã đọc rõ ràng, mạch lạc,

Trang 38

đầy đủ nội dung bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) để bổ sung những vấn đề cáo trạng chưa đề cập hoặc có nêu nhưng cần thay đổi

Về xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Xét hỏi của kiểm sát viên vừa là phương thức thực hành quyền công tố, vừa là trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân nhằm chứng minh, kiểm tra lại toàn bộ chứng cứ một cách công khai, chứng minh luận điểm đã nêu và kết luận trong bản cáo trạng bằng việc chủ động xét hỏi, góp phần cùng Hội đồng xét xử làm rõ sự thật khách quan của vụ án, qua đó đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật chính xác Trong thời gian qua, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã làm tốt nhiệm vụ này, hoạt động xét hỏi đã được chủ động, có trọng tâm, trọng điểm phục vụ tốt việc tranh luận và quyết định áp dụng pháp luật Khi xét hỏi Kiểm sát viên đã thể hiện thái độ ứng xử có văn hóa, dân chủ, cởi mở, tránh những câu hỏi có tính chất áp đặt và câu hỏi trùng lặp với những câu mà Hội đồng xét xử đã hỏi Việc xét hỏi của Kiểm sát viên cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay đồng thời phát huy dân chủ tại phiên tòa

Thông qua phần xét hỏi, tranh luận Kiểm sát viên đã bảo vệ được quan điểm truy tố của Viện kiểm sát Ví dụ vụ án Phạm Công Thái cùng đồng bọn phạm tội

"Cướp tài sản" và "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" Đây là vụ án có nhiều bị cáo, phạm nhiều tội, có bị cáo là người dưới 18 tuổi, có luật sư tham gia bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo Trong quá trình xét xử, Kiểm sát viên đã theo dõi sát diễn biến phiên tòa từ đó kịp thời phát hiện những thiếu sót của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và đưa ra những yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận Kiểm sát viên tích cực tham gia xét hỏi, làm rõ vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; chủ động tranh luận với luật sư một cách linh hoạt đồng thời viện dẫn các căn cứ pháp luật làm cơ sở vững chắc để bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát

2.2.3 Việc ban hành quyết định áp dụng pháp luật của VKSND thành phố Bắc Ninh vào từng vụ án, bị cáo cụ thể về cơ bản đảm bảo, chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Trang 39

Về luận tội: Mặc dù, ở mức độ khác nhau nhưng nhìn chung các bản luận tội ngày càng nâng lên về chất, đã phát huy tác dụng hỗ trợ Hội đồng xét xử ra một bản án nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung Đồng thời luận tội do Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa từng bước nâng cao được tính thuyết phục và có ý nghĩa trong việc tuyên truyền pháp luật

Đa số các Kiểm sát viên đã quan tâm, đầu tư thời gian làm tốt công tác chuẩn

bị, xây dựng dự thảo bản luận tội, bám sát hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đạt được tính chính xác, sự chặt chẽ trong diễn đạt Tại phiên tòa, nhìn chung Kiểm sát viên đã chú ý những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, những ý kiến đề nghị của người tham gia tố tụng để bổ sung kịp thời vào bản dự thảo luận tội cho phù hợp với diễn biến của phiên tòa Do vậy, phần lớn luận tội đã chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo bằng các chứng cứ của vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà còn phân tích, phê phán thủ đoạn phạm tội của bị cáo, chỉ ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội Việc bổ sung kịp thời những chứng cứ, tài liệu được điều tra công khai tại phiên tòa vào bản dự thảo luận tội làm cho việc luận tội tại phiên tòa được sinh động và có tính thuyết phục cao Thái độ, tác phong trình bày lời luận tội của nhiều Kiểm sát viên đã thể hiện không những bình tĩnh, đúng mức, vững vàng về chứng cứ, lý lẽ mà còn sâu sắc về thực tế, tạo nên sức thuyết phục cao cho người nghe

Nhiều bản luận tội, nhất là đối với những vụ án trọng điểm, phức tạp, có tính thời sự được dư luận quan tâm, Kiểm sát viên đã gắn với tình hình thực tế ở địa phương để tuyên truyền giáo dục pháp luật và chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân góp phần phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật ở địa phương

Việc đối đáp giữa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng là nội dung tranh tụng quan trọng nhất, thể hiện vai trò, năng lực của Kiểm sát viên Trong quá trình tranh tụng, Kiểm sát viên phải tích cực, chủ động bảo vệ quan điểm buộc tội, bám sát diễn biến phiên tòa nhưng vẫn phải đáp ứng các yêu cầu đặt ra về văn hóa ứng

Ngày đăng: 25/05/2017, 19:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ -TƯ ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ -TƯ ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
4. Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền,Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2004
5. Tô Xuân Dân - Nguyễn Thanh Bình (2004), "Xây dựng Nhá nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng", Tạp chí Cộng sản, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Nhá nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Tác giả: Tô Xuân Dân - Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2004
6. Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
7. Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2009
8. Đại Từ điển Tiếng Việt (2002), Nxb Khoa học Xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Đại Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội và nhân văn
Năm: 2002
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần "thứ "IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thú VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thú VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đỗ Văn Đương (2006), “ Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta”
Tác giả: Đỗ Văn Đương
Năm: 2006
15. Lê Thị Tuyết Hoa (2002), “Quyền công tố ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền công tố ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa
Năm: 2002
16. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2007), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
17. Trần Mai Lâm (2013), “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự về trật tự xã hội của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự về trật tự xã hội của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tác giả: Trần Mai Lâm
Năm: 2013
19. Trần Công Phàn (2012), Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần tập trung làm tốt việc tằng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, Tạp chí Kiểm sát, (16), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Trần Công Phàn
Năm: 2012
20. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
21. Quốc hội (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật hình sự
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
22. Quốc hội (2005), Luật Doanh nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
35. Trang Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh, http://BacNinh.gov.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm