LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sỹ “Tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại Khu công nghiệp Sài Đồng - Long Biên – Hà Nội” được hoàn thành, tôi chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, truyền đạ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ NGỌC NGA
TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRẺ TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
SÀI ĐỒNG – LONG BIÊN – HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực Các số liệu và kết quả nghiên cứu công bố trong luận văn này là công trình nghiên cứu nghiêm túc của tác giả Cá nhân tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả của luận văn
Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2017
Tác giả
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ “Tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại
Khu công nghiệp Sài Đồng - Long Biên – Hà Nội” được hoàn thành, tôi
chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, truyền đạt của các thầy cô giáo trong và ngoài Khoa Xã hội học, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tham gia giảng dạy, cung cấp các kiến thức, kỹ năng nghiên cứu
và sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện cho học viên của các cán bộ Khoa xã hội học, Ban Đào tạo Học viện Khoa học xã hội trong suốt quá trình đào tạo tại đây để tôi có thể tiến hành thực hiện đề tài này Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo cơ quan cùng các anh chị em đồng nghiệp, lãnh đạo cán bộ UBND quận Long Biên, trạm y tế phường Sài Đồng, phường Thạch Bàn – quận Long biên đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Nguyên Anh - người thầy tận tụy đã gợi mở, định hướng, chỉ bảo tôi hoàn thành nghiên cứu này
Mặc dù tôi đã cố gắng song luận văn vẫn không tránh khỏi thiếu sót Tôi mong sẽ tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2017
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU 17
1.1 Thao tác hóa khái niệm 17
1.2 Các lý thuyết liên quan 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CỦA LAO ĐỘNG TRẺ Ở KHU CÔNG NGHIỆP SÀI ĐỒNG – LONG BIÊN – HÀ NỘI 28
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 28
2.2 Thực trạng tiếp cận các dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng - Long Biên - Hà Nội 31
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ RÀO CẢN VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CỦA LAO ĐỘNG TRẺ KHU CÔNG NGHIỆP SÀI ĐỒNG – LONG BIÊN – HÀ NỘI 39
3.1 Rào cản từ yếu tố cá nhân 39
3.2 Những rào cản từ phía cộng đồng, xã hội 53
KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Dân tộc thiểu số Khu công nghiệp Tổng cục Thống kê Trung học cơ sở Chương trình liên hiệp quốc về phát triển Quỹ hoạt động dân số Liên Hợp quốc
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Loại hình công việc chính của lao động trẻ tại KCN theo giới tính (đơn vị %) 30Bảng 2.2: Loại hình dịch vụ y tế lao động trẻ tại KCN Sài Đồng thường xuyên sử dụng, chia theo tình trạng hôn nhân (đơn vị %) 32Bảng 2.3: Loại hình dịch vụ y tế lao động trẻ KCN Sài Đồng 33thường xuyên sử dụng, chia theo trình độ học vấn ( đơn vị %) 33Bảng 2.4: Mức độ sử dụng dịch vụ y tế tại nhà máy, xí nghiệp của lao động trẻ tại KCN Sài Đồng (đơn vị %) 36Bảng 2.5: Đánh giá của công nhân chất lượng dịch vụ y tế của nhà máy, xí nghiệp 37Bảng 3.1: Thu nhập bình quân của các lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng (đơn vị %) 40Bảng 3.2: Loại hình dịch vụ y tế người lao động trẻ tại KCN Sài Đồng thường xuyên sử dụng, chia theo thu nhập (đơn vị: %) 42Bảng 3.3: Tỷ lệ lao động trẻ tại KCN Sài Đồng lên phương án điều trị khi bị bệnh, chia theo giới tính và tình trạng hôn nhân (Đơn vị %) 44Bảng 3.4: Tỷ lệ lao động trẻ nhập cư cho biết phương án điều trị khi bị bệnh, chia theo thu nhập (Đơn vị %) 45Bảng 3.5: Đánh giá về cơ sở hạ tầng y tế dịch vụ công của người lao động trẻ KCN Sài Đồng (đơn vị %) 53Bảng 3.6: Thời gian chờ đợi khi đi khám chữa bệnh (đơn vị %) 55Bảng 3.7: Tỷ lệ lao động trẻ nhập cư biết các chính sách chăm sóc sức khỏe dành cho người lao động nhập cư ở địa phương (đơn vị %) 58Bảng 3.8: Lý do lao động trẻ KCN Sài Đồng không biết các chính sách chăm
sóc sức khỏe dành cho người lao động nhập cư ở địa phương (đơn vị %) 59
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của ngành y tế, đây cũng là một trong những mục tiêu chính nhằm đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe tiến tới đảm bảo công bằng xã hội Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ quan điểm cơ bản là để đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe thì phải đảm bảo công bằng trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là những lao động trẻ Đây là chủ đề thu hút được sự quan tâm của các nhà quản lý và giới nghiên cứu khoa học
Trong quá trình phát triển, xây dựng và hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng, trong đó thanh niên là nhóm lao động chính, có sức khỏe, tiềm năng trí tuệ, khả năng tiếp cận và hội nhập nhanh, với nhiều cơ hội khởi nghiệp Do vậy, có được nguồn nhân lực có kỹ năng và sức khỏe thực sự là đòi hỏi quan trọng nhất trong để phát triển kinh tế
xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhưng cũng chính với nhóm tuổi này, vấn đề chăm sóc sức khỏe và tiếp cận các dịch vụ y tế về chăm sóc sức khỏe có nhiều vấn đề cần được chú ý
Trong đề tài này, tôi quan tâm đến vấn đề tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm lao động trẻ tại khu công nghiệp Nhóm thanh niên này chủ yếu di cư từ nông thôn lên các thành phố lớn, nơi có các khu công nghiệp, khu chế xuất để sinh sống và tham gia lao động sản xuất Vấn đề đặt ra là họ có thực sự quan tâm tới vấn đề sức khỏe của mình hay không khi đang được nhìn nhận là nguồn nhân lực trẻ khỏe? Cách họ tiếp cận với các dịch vụ y tế như thế nào? Những yếu tố và rào cản nào đang ảnh hưởng đến việc tiếp cận các dịch khám chữa bệnh của nhóm dân cư này? Đặc biệt, với đặc điểm chủ yếu là các lao động trẻ từ nơi khác đến, sinh hoạt trong một môi trường sống mới, thì cần có
Trang 8các các giải pháp chính sách nào để tăng cường cơ hội tiếp cận các dịch vụ y
tế có chất lượng một cách thuận tiện và hiệu quả?
Đó cũng chính là lý do để tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tiếp cận dịch
vụ y tế của người lao động trẻ tại Khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội” làm đề tài luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề người lao động trẻ tại các khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch
vụ y tế là một vấn đề lớn được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên nhiều góc cạnh Một số đề tài nghiên cứu, sách, tạp chí có liên quan đã được công bố như:
Bài viết về “Lao động nông thôn di cư ra thành thị: Thực trạng và
khuyến nghị”, tác giả Nguyễn Đình Long và Nguyễn Thị Minh Phượng
(2003) [24] đã chỉ ra rằng di cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp ở nước ta ngày càng có xu hướng gia tăng và có tính rộng khắp trên các vùng nông thôn trong cả nước Đặc trưng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp ở nước ta là ngày càng trẻ hóa Di cư tự do
từ nông thôn ra thành thị góp phần mang lại sự chuyển dịch và phân phối lực lượng lao động Tăng thu nhập phi nông sẽ có điều kiện cải thiện cuộc sống bản thân và gia đình
Tuy nhiên, việc có quá đông người nhập cư cũng gây ra những áp lực nhất định về cơ sở hạ tầng, vệ sinh môi trường, giáo dục, y tế và an ninh trật
tự tại các địa bàn nơi đến Lượng người nhập cư ngày một tăng trong khi cơ
sở vật chất, áp lực môi trường và dịch vụ xã hội không đáp ứng kịp đã gây ra tình trạng quá tải tại các trường học, cơ sở y tế Tệ nạn xã hội (trộm cắp, nghiện hút) tăng lên trong những năm gần đây cũng được cho là hệ lụy của lượng người nhập cư tăng quá nhanh
Báo cáo “Chuyển đổi thị trường và an sinh xã hội ở Việt Nam”, chủ
biên Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng (2008) [15] cho thấy người dân di
Trang 9cư không chỉ bị cô lập về mặt xã hội mà còn bị cô lập về mặt không gian bởi
họ phải sống trong những nơi không có đủ nhà ở và không được tiếp cận đầy
đủ với nước sạch và vệ sinh Thực trạng này một phần là do tác động của mục đích tiết kiệm cao trong điều kiện thu nhập thấp của người di cư, nhưng phần lớn là do các chính sách hiện hành đang thành những rào cản người di cư tiếp cận với các dịch vụ xã hội Cùng với nhận thức còn kém và thu nhập thấp của bản thân người lao động thì những rào cản chính sách là nguyên nhân chủ yếu Việc quản lý theo hộ khẩu hoặc hợp đồng lao động khiến cho nhiều người lao động di cư không bao giờ có thể tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội vì rất khó để họ có thể có được hộ khẩu ở thành phố và công việc của họ phần lớn là công việc mùa vụ, ngắn ngày Hơn nữa, các quy định hiện nay của hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, kể cả chế độ tự nguyện, thường quá cao so với khả năng đáp ứng của người lao động di cư
Trong báo cáo “Tận dụng cơ hội dân số „vàng‟ ở Việt Nam: Cơ hội,
thách thức và các gợi ý chính sách” của Quỹ Dân số Liên Hợp quốc UNFPA
(2010) [38] ,cho thấy, dịch chuyển lao động thông qua di cư, đặc biệt là lao động trẻ tuổi, sẽ tạo động lực phát triển kinh tế, góp phần giảm nghèo nhanh
và bền vững Lao động di cư trong thanh niên tăng nhanh, nhưng các chính sách
an sinh xã hội , việc làm và các dịch vụ xã hội liên quan còn nhiều bất cập, đặc biệt các chính sách về tiền lương, nâng cao kỹ năng và tay nghề Khả năng tiếp cận với các dịch vụ an sinh xã hội của nhóm lao động di cư - nhóm lao động dễ tổn thương nhất trước các cú sốc kinh tế - xã hội còn rất thấp Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của các nhóm dân số rất khác nhau, trong đó người nghèo, người dân tộc thiểu số và lao động di cư ít có khả năng tiếp cận nhất
Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ nhất (2003) và lần thứ hai (2009), gọi tắt là SAVY 1 và SAVY 2 của Bộ y tế và Tổng cục Thống kê [36], tính chung cho cả người đã kết hôn lẫn những người
Trang 10còn chưa kết hôn, có 9,5% thanh niên ở SAVY 2 cho biết họ đã từng có quan
hệ tình dục trước hôn nhân (tỷ lệ này ở SAVY 1 là 7,6%) Tỷ lệ nam thanh niên đã từng có quan hệ tình dục khi chưa lập gia đình (kể cả những người hiện đã kết hôn) là 13,6%, cao hơn hai lần tỷ lệ này ở nữ là 5,2% (Điều tương ứng ở SAVY 1 là 11,1% và 4%) Cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới trong giai đoạn hiện đại hóa, tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình của thanh niên có xu hướng giảm từ 19,6 tuổi (20 cho nam và 19,4 cho nữ) ở SAVY 1 xuống còn 18,1 tuổi (18,2 cho nam và 18 cho nữ) ở SAVY 2 Thanh niên ngày nay tỏ ra có quan niệm cởi mở hơn về quan hệ tình dục trước hôn nhân, đặc biệt ở những nhóm tuổi cao hơn, ở nam giới, và ở những người sống ở đô thị Kiến thức về mang thai ở thanh thiếu niên ở cả hai cuộc điều tra còn rất hạn chế và điều này dường như không có tiến bộ đáng kể nào giữa hai
kỳ điều tra Thanh thiếu niên chủ yếu biết được thông tin về mang thai hay kế hoạch hóa gia đình qua các nguồn thông tin đại chúng Mức độ cho biết các thông tin này từ nhà trường, gia đình, nhân viên y tế/dân số hay các cơ sở tư vấn sức khỏe sinh sản còn rất khiêm tốn
Trong báo cáo “Thanh niên Việt Nam: Tóm tắt một số chỉ số thống kê
Từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam,” Quỹ Dân số Liên Hợp quốc
UNFPA (2009) [39] chỉ ra thanh niên trong độ tuổi 15-24 có xu hướng di cư
ra thành thị, trong khi ở độ tuổi từ 25 trở lên lại có xu hướng di cư đến cả hai khu vực thành thị và nông thôn Điều này cho thấy di cư của thanh niên đóng vai trò quan trọng trong phát triển khu vực đô thị trong thập kỷ vừa qua Điều này cũng có nghĩa là chỉ khi chính sách phát triển đô thị phù hợp có tính đến các dòng di cư và sự biến động dân số thì lúc đó người di cư mới có thể tiếp cận được tới các dịch vụ xã hội và cơ hội việc làm Quan trọng hơn, do nữ giới chiếm tỷ trọng lớn trong số thanh niên di cư nên việc cung cấp các dịch
Trang 11vụ sức khỏe sinh sản cho nữ thanh niên di cư nhằm bảo vệ họ trước các rủi ro sức khỏe không đáng có là điều rất cần thiết
Theo “Thanh thiếu niên nhập cư ở Hà Nội: Điều kiện sống, nhận thức
và hành vi của họ đối với sức khỏe sinh sản” của tác giả Bùi Thị Như Quỳnh
(2007) [29], Bài báo này tóm lược những kết quả của một nghiên cứu về nhóm vị thành niên thanh niên nhập cư tại Hà Nội , cuộc sống cũng như kiến thức, thái độ và hành vi của “nhóm xã hội” này đối với các vấn đề sức khỏe sinh sản Cuộc sống của những người lao động nhập cư không được đảm bảo
Họ thiếu việc làm an toàn, thiếu nơi ở và gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế cũng như thông tin về nhiều mặt của đời sống, trong đó
có sức khỏe sinh sản Các dự án và chương trình sức khỏe sinh sản thoáng bỏ qua đối tượng này bởi họ không được coi là cư dân chính thức về mặt pháp lý Hiện nay, có quá ít biện pháp được thực hiện nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho lao động nhập cư Đặc biệt, vị thành niên và thanh niên là nhóm đối tượng có những biểu hiện ban đầu của thời kì sinh sản nhưng lại ít hiểu biết về những thay đổi trong sức khỏe sinh sản Cuộc khảo sát nói trên cho thấy thanh niên vị thành niên nhập cư còn thiếu hiểu biết, thậm chí có những hiểu biết lệch lạc về các vấn đề sức khỏe sinh sản Kiến thức của
họ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, các biện pháp phòng tránh thai, tiêm phòng
và phòng chống các bệnh lây qua đường tình dục, HIV/AIDS còn rất hạn chế
Đa số đều tiếp cận tới kiến thức sức khỏe sinh sản thông qua các phương tiện truyền thông như ti vi, báo, đài, đôi khi qua bạn bè Thiếu một thái độ tích cực
có lẽ là nét quán triệt thái độ và hành vi của những người nhập cư trẻ tuổi trước những vấn đề liên quan tới sức khỏe sinh sản Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt khá rõ về giới: các nhóm nữ quan tâm nhiều hơn vấn
đề này so với nhóm nam giới Những kết quả nghiên cứu cũng gợi ý rằng việc xây dựng các chương trình trên ti vi, tư vấn qua điện thoại, sách cẩm nang có
Trang 12thể thích hợp hơn cả trong việc quảng bá các kiến thức về sức khỏe sinh sản đối với nhóm nhập cư Nhìn chung, những người nhập cư có thu nhập tạm đủ sống và nhiều người trong số họ có cuộc sống khá dần lên Các cơ hội việc làm, thu nhập, khả ngừng phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội, niềm tin vào tương lai là những lĩnh vực được đánh giá là hơn trước
“Báo cáo Dân số và Phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược
mới 2011-2020” của UNFPA (2009) [41] cho thấy người di cư vẫn gặp khó
khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế hay học hành cho con em họ Việc đăng ký tạm trú chính thức ở nơi ở mới cũng không phải dễ dàng và điều này
có thể dẫn đén những hệ lụy nhất định; người nhập cư thường khó vay được tiền ngân hàng và không có tiền gửi tiết kiệm, không được đăng ký xe máy, bị nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các chế độ an sinh xã hội cũng như các dịch
vụ phúc lợi y tế, giáo dục tại địa phương cư trú Ngoài ra, một vấn đề liên quan khác là người nhập cư đa phần là phụ nữ trẻ, chưa lập gia đình thường
có ít kiến thức và thực hành về sức khỏe sinh sản
Nghiên cứu “Tìm hiểu rào cản tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản của phụ nữ di cư và các mô hình can thiệp” , Vũ Thị Hoàng Lan
[22] Nghiên cứu này xem xét phân tích rào cản văn hóa xã hội và chính sách trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của người di cư và rà soát các mô hình can thiệp chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) cho phụ nữ di
cư Nghiên cứu áp dụng phương pháp tổng quan tài liệu các nghiên cứu trong vòng 20 năm (1992 – 2012) để tìm hiểu các rào cản văn hóa, xã hội, chính sách trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như phỏng vấn sâu các cán bộ thực hiện các chương trình can thiệp CSSKSS cho người di cư Kết quả nghiên cứu chỉ ra các rào cản trong tiếp cận dịch vụ SKSS bao gồm thiếu khuôn khổ pháp lý bảo vệ người di cư, bảo hiểm y tế, thái độ của chính quyền với người di cư, tình trạng cư trú lưu động, thời gian làm việc dài, thu
Trang 13nhập thấp, chi phí khám chữa bệnh cao, thiếu hiểu biết về Sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục Các mô hình can thiệp hiện tại chưa giải quyết được các rào cản một cách toàn diện, tính bền vững của mô hình còn thấp.Địa bài nghiên cứu của đề tài này cũng là một địa bàn mà dân số chủ yếu là dân di cư, người lao động làm việc tại các khu công nghiệp Bởi vậy, từ những thuận lợi của bài viết sẽ gợi mở cho tác giả luận văn có những nhận định chung nhất là đối tượng này
Trong bài viết “Một số yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận dịch vụ
chăm sóc sức khỏe của người nghèo ở nước ta hiện nay” Nguyễn Đình Tuấn
[37] chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nghèo ở nước ta hiện nay bao gồm : Chi phí khám chữa bệnh cao so với mức thu nhập, Khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở khám chữa bệnh còn tương đối xa, phân bổ cơ sở khám chữa bệnh và cán bộ y tế chưa hợp lý, nhận thức của người nghèo về chăm sóc sức khỏe chưa cao
Báo cáo “Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp cùng tham gia vòng
4” của Oxfam và AAV (2011) [28] chỉ ra nhữngbất lợi của người nghèo đô
thị, trong đó có nhiều người di cư, khi đối mặt với đa cú sốc, điển hình là lạm phát cao trong năm 2011 Giá cả tăng đã làm giảm sức mua, giảm chất lượng cuộc sống nhất là về dinh dưỡng và sức khỏe, giảm tiếp cận dịch vụ công, làm trầm trọng thêm các khó khăn cố hữu của người nghèo Giá cả tăng cũng làm giảm mạnh khả năng tiết kiệm và gửi tiền về quê, gây bất ổn nghề nghiệp
và căng thẳng trong quan hệ lao động của người nhập cư
Báo cáo “Di cư trong nước và Phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam:
Kêu gọi hành động” của UNDP (2010) [43] chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực
của hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam đến sự tiếp cận các dịch vụ cơ bản
và các dịch vụ hỗ trợ đặc biệt của người di cư Các dịch vụ do Chính phủ cung cấp như các dịch vụ y tế (bao gồm cả sức khỏe sinh sản, giáo dục, chăm
Trang 14sóc và điều trị HIV và tiếp cận với các dịch vụ xóa đói giảm nghèo đều gắn chặt với hệ thống đăng ký hộ khẩu Người di cư không bị cản trở về mặt luật pháp trong việc tiếp cận một số dịch vụ nhưng trên thực tế họ thường phải chịu những hạn chế này Chẳng hạn con cái của những người không có hộ khẩu thường trú vẫn được đi học tại các trường trong huyện/địa bàn cư trú nhưng chỉ trong trường hợp trường còn chỗ sau khi con cái của người có hộ khẩu thường trú đã nhập học Thông thường, những người dân di cư đặc biệt cần các dịch vụ xã hội lại thường là những người yếu thế về xã hội và kinh tế liên quan tới tình trạng di cư của họ Rất nhiều người dân di cư không đăng ký
hộ khẩu làm việc trong khu vực phi chính thức và sống trong các nơi ở không
an toàn và không hợp vệ sinh và chính những điều đó khiến họ dễ gặp rủi ro hơn về sức khỏe Trong bối cảnh khi mà các chi phí sinh hoạt tại thành thị ngày càng tăng, mức tăng lương lại không tương đương với mức tăng giá, nên việc thiếu các dịch vụ hỗ trợ xã hội cho người dân di cư tại thành thị sẽ là vấn đề đặc biệt quan ngại hiện nay
Trong bài viết “Đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động
phổ thông tại các cơ sở sản xuất nhỏ ở TP Hồ Chí Minh” Phạm Thanh
Thôi [32]chỉ ra sự nghèo nàn trong đời sống văn hóa, giải trí và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của thanh niên nhập cư Sau giờ làm ca là về nhà trọ ngủ bù, không có điều kiện và thời gian giao tiếp với bên ngoài Một khi người lao động tai nạn lao động hay bệnh tật, họ phải tự chịu trách nhiệm, chủ cơ sở sản xuất hay doanh nghiệp có giúp chăng cũng chỉ mang tính động viên, hỗ trợ một phần Các cơ sở sản xuất chưa có chính sách hay
kế hoạch cụ thể hay khả thi để cải thiện vấn đề này trong chiến lược đầu tư, phát triển kinh doanh của họ
Như vậy, qua sơ lược tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng về tiếp cận dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe chủ yếu nhằm đến
Trang 15các bộ phận lao động nhập cư đặc thù như phụ nữ, thanh niên, người nghèo,… về các vấn đề nghiên cứu liên quan đến sức khỏe sinh sản, phòng tránh HIV/AIDS, mức độ tiếp cận của họ đối với hệ thống an sinh xã hội, cơ
sở hạ tầng tại các điểm đến Đây là nguồn tài liệu giúp tác giả có thể tiếp thu, kế thừa khi xây dựng cơ sở lý luận và quá trình thực tiễn nghiên cứu để hoàn thiện luận văn của mình Tuy nhiên, nhìn chung, những nghiên cứu về dịch vụ y tế của lao động nhập cư đặc biệt là của lao động trẻ tại khu công nghiệp mới được đề cập ở mức độ nhất định Nhiều vấn đề liên quan đến tìm hiểu việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế của nhóm đối tượng lao động trẻ và những rào cản mới chỉ ở bước đầu Ngay ở các khu công nghiệp tại đô thị lớn như Hà Nội, thực trạng riếp cận các dịch vụ y tế còn rất hạn chế Lao động đến các khu công nghiệp địa bàn này còn gặp nhiều khó khă, trở ngại trong cuộc sống và công việc Sự khác biệt giới chưa được làmrõ trong nhiều nghiên cứu… Những khoảng trống này sẽ được xem xét, đi sâu tìm hiểu trong luận văn nghiên cứu này, góp phần làm sáng tỏ thêm được một số rào cản hiện nay đối với việc khám chữa bệnh cho người lao động tại các khu công nghiệp Trên cơ sở đó đó, nghiên cứu sẽ đề xuất giải pháp phù hợp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng
cho lao động trẻ khu công nghiệp hiện nay Do vậy, đề tài nghiên cứu “Tiếp
cận dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng- Long Biên – Hà Nội” là cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội, nhận diện được một số rào cản hiện nay đối với việc khám chữa bệnh cho người lao động di cư tại đây, trên cơ sở đó đó đề xuất giải pháp phù hợp nhằm tăng cường khả năng
Trang 16tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng cho lao động trẻ khu công nghiệp hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Tổng quan tư liệu hiện có về tiếp cận các dịch vụ y tế, các yếu tố tác
động đến việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe đối vói lao động di cư
- Xử lý, phân tích số liệu, thông tin thu thập được để tìm hiểu việc tiếp cận
và sử dụng các dịch vụ y tế của lao động trẻ, từ đó làm rõ những rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế
có chất lượng cho người lao động trẻ tại khu công nghiệp hiện nay
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế của lao động trẻ ở khu công nghiệp hiện nay như thế nào?
Những rào cản nào là yếu tố tác động đến việc tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ ở khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội?
Liệu có sự khác biệt trong việc tiếp cận dịch vụ y tế giữa lao động nam
và lao động nữ?
3.4 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Mức độ tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm người lao động
trẻ tại khu công nghiệp còn hạn chế
Giả thuyết 2: Chi phí khám chữa bệnh cao, thủ tục khám chữa bệnh
rườm rà, vị thế cư trú tạm thời là những rào cản chính đối với việc tiếp cận các dịch vụ y tế của lao động trẻ khu công nghiệp hiện nay
Giả thuyết 3: Lao động nữ gặp nhiều rào cản trong tiếp cận các dịch vụ
y tế hơn so với lao động nam
Trang 174 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội
4.2 Khách thể nghiên cứu
Lao động trẻ nhập cư là nam – nữ trong độ tuổi từ 18 – 30 tại khu công nghiệp Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Trong khuôn khổ đề tài này, tôi chỉ đề cập nghiên cứu
tới một số khía cạnh cơ bản nhất của các vấn đề tiếp cận dịch vụ y tế như:
+ Thực trạng tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh của nhóm lao động trẻ nhập cư (chiếm đến 95% lao động trẻ khu công nghiệp)
+ Một số rào cản đối với việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, liên quan đến chi phí, nhận thức, thủ tục khám chữa bệnh
Phạm vi không gian: địa bàn nghiên cứu tại Khu công nghiệp Sài Đồng,
quận Long Biên, Hà Nội
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động
trẻ khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên từ năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 (là thời điểm thực hiện khảo sát)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Vấn đề phương pháp luận của các nghiên cứu xã hội học đã được xem xét
và bàn đến từ rất nhiều cho đến nay Đây là việc hệ thống các lý thuyết, các quan điểm, các nguyên tắc được thay đổi trong sự phụ thuộc vào đặc tính cụ thể của khoa học Phương pháp luận chung nhất của xã hội học Mácxit là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử yêu cầu khi xem xét đánh giá bất kỳ một sự vật, hiện
Trang 18tượng nào cũng được đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và đánh giá nó một cách khách quan để tìm ra được quy luật phát triển của xã hội Do đó, nghiên cứu về thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ khu công nghiệp cần được đặt vào trong mỗi hoàn cảnh xã hội, điều kiện kinh tế - xã hội - môi trường cụ thể Đời sống còn người lao động ở các khu công nghiệp còn nhiều khó khăn, đặc biệt là những trường hợp thu nhập thấp, đời sống không ổn định Yếu tố kinh tế
là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động nói chung đặc biệt là lao động trẻ với mức sống, tay nghề và thu nhập còn thấp Điều đó cho thấy nguyên lý “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội” của phương pháp luận Mácxit Tuy nhiên, cũng cần tìm hiểu sâu các yếu tố và rào cản khác ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ của lao động trẻ nhập cư ở các khu công nghiệp Bởi theo phương pháp luận Mác-xít, nhìn nhận vấn đề nghiên cứu một cách khách quan là phương thức tốt nhất, đúng đắn nhất đề giải quyết vấn đề nghiên cứu một cách khách quan và khoa học
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Thu thập thông tin sơ cấp
Với phương pháp này, chúng tôi phân tích những tư liệu, những nghiên cứu có từ trước đây nhằm tìm hiểu về cơ sở lý luận cũng như những phân tích về vấn đề các dịch vụ y tế cho nhóm đối tượng lao động trẻ nhằm tìm hiểu được thực trạng việc sử dụng những dịch vụ y tế, từ đó đánh giá được mức độ tiếp cận dịch vụ y tế của các lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội
5.2.2 Phương pháp khảo sát định lượng
Bảng hỏi được xây dựng thông qua những câu hỏi nhằm thu thập thông tin về nhận thức của người lao động trẻ về vấn đề tiếp cận dịch vụ y tế; cách thức chữa bệnh khi sức khỏe cần được chăm sóc; những hiểu biết về các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe; việc sử dụng và mức độ sử dụng dịch vụ y tế cơ sở nhằm tìm
Trang 19hiểu và đánh giá những khác biệt giữa nhận thức và hành vi tiếp cận dịch vụ y tế trên địa bàn thành phố
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được sử dụng, với đơn vị chọn mẫu là người lao động trẻ, trong độ tuổi 18 – 30 tuổi nhằm thu thập được những thông tin chính xác và khách quan về nhận thức cũng như hành
vi tiếp cận các dịch vụ y tế Do hạn chế cả về thời gian, kinh phí, nhân lực nên mẫu khảo sát định lượng bao gồm 200 lao động trẻ (100 nam và 100 nữ) hiện sinh sống tại các nhà trọ trong khu công nghiệp và làm việc tại khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội và đã từng ít nhất một lần sử dụng các dịch vụ y tế trong khoảng phạm vi thời gian từ năm 2014 đến thời điểm nghiên cứu Mẫu khảo sát sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên tại các nhà trọ xung quanh khu công nghiệp Sài Đồng, nơi có nhiều các lao động trẻ tập trung sinh sống
5.2.3 Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp phân tích tài liệu:
Được thực hiện chủ yếu thông qua việc sử dụng các tài liệu, sách tham khảo, báo cáo, bài viết tạp chí liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu… Qua đó cho phép nhà nghiên cứu thu thập và cập nhật được các thông tin thứ cấp, hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu đồng thời chỉ ra những khoảng trống và
hướng đi trong nghiên cứu của mình
Phương pháp phỏng vấn sâu
Kỹ thuật phỏng vấn sâu cá nhân được áp dụng để thu thập những thông tin chi tiết, định tính mà khảo sát định lượng khó thu thập được Phương pháp này giúp tác giả hiểu biết sâu sắc hơn về nhận thức, mức độ nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ khu công nghiệp Tìm hiểu các nguyên nhân, yếu
tố ảnh hưởng, rào cản tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động trẻ nhập cư
Đồng thời giúp kiểm chứng lại tính xác thực của thông tin định lượng thu được qua khảo sát mẫu
Trang 20Mẫu nghiên cứu định tính bao gồm:
+ Đối với người lao động trẻ: Lựa chọn những khu nhà trọ xung quanh khu công nghiệp, nơi có đông các lao động trẻ nhập cư thuê trọ và làm việc tại khu công nghiệp Sài Đồng Phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng lao động trẻ bao gồm 10 cuộc phỏng vấn sâu Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm khai thác những thông tin sâu hơn của đề tài nghiên cứu Hơn nữa, tác giả cũng bổ sung thêm cho phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi nhằm khai thác sâu hơn khía cạnh quan tâm nhưng chưa được đề ra trong bảng hỏi chính Những thông tin phỏng vấn sâu sẽ giải thích thêm những yếu tố chưa rõ nét trong bảng hỏi
+ Đối với cán bộ y tế: 02 cán bộ y tế phường Thạch Bàn và phường Sài Đồng, quận Long Biên Long Biên – Hà Nội (nơi có nhiều công nhân cư trú tại khu công nghiệp Sài Đồng)
+ Đối với cán bộ phường: phỏng vấn sâu 2 cán bộ phường Sài Đồng và phường Thạch Bàn (nơi tập trung nhiều nhất lượng lao động trẻ làm việc tại KCN Sài Đồng cư trú)
+ Đối với chủ nhà trọ: phỏng vấn sâu 2 chủ nhà trọ tại phường Sài Đồng và Thạch Bàn
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Sử dụng các phần mềm xử lý chuyên dụng như SPSS, Excel để nhập,
mã hóa, làm sạch và chuẩn bị số liệu cho phân tích Quá trình này được thực hiện ngay sau khi kết thúc khảo sát thực địa
Trang 215.3 Khung phân tích
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn cung cấp phương pháp luận cần thiết trong nghiên cứu thực
trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ
khu công nghiệp Đồng thời có thể mở rộng để nghiên cứu đánh giá tác động
của di cư lao động sự thích ứng của lao động di cư ở các khu công nghiệp
Những phát hiện của luận văn sẽ góp phần cung cấp thêm tư liệu và bổ sung
TIẾP CẬN DỊCH VỤ
Y TẾ
- Mức độ tiếp
cận dịch vụ
- Thói quen sử dụng dịch vụ
Yếu tố cá nhân:
- Tuổi
- Nghề nghiệp
- Tình trạng hôn nhân
Rào cản từ cộng đồng, xã hội:
- Chất lượng dịch vụ
- Hạn chế thông tin CSSK và hệ thống y
tế nơi đến
- Thủ tục khám chữa bệnh bằng BHYT rườm rà
Trang 22tri thức về điều kiện sống của lao động trẻ di cư tại khu công nghiệp Sài Đồng vốn ít được biết đến qua các nghiên cứu cho đến nay
Đề tài nghiên cứu còn góp phần tìm hiểu và vận dụng một số lý thuyết trong nghiên cứu xã hội học nói chung và nghiên cứu xã hội học y tế, sức khỏe nói riêng gắn với thực tiễn xã hội Việt Nam, trong đề tài này chúng tôi vận dụng một số lý thuyết như: hành động xã hội; một số lý thuyết xã hội học
Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu cùng lĩnh vực về sức khỏe y tế, những người giảng dạy về xã hội học, làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý ở địa phương trong lĩnh vực y tế
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ khu công nghiệp Sài Đồng - Long Biên – Hà Nội
Chương 3 Một số rào cản và yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận dịch vụ y
tế của lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng - Long Biên – Hà Nội
Trang 23tuổi đến 30 tuổi
Người lao động
Ở Việt Nam, theo ghi nhận tại điểm 1 điều 3 Luật lao động thì người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Tuổi lao động được tính từ đủ 15 tuổi, còn tuổi nghỉ hưu thì đối vơi nam là 60 và nữ là 55 Như vậy độ tuổi lao động là 15 – 60 tuổi đối với lao động nam và 15 – 55 tuổi đối với lao động Lao động được phân chia thành
2 thành phần lao động cơ bản: lao động phổ thông và lao động trí óc
Người lao động là lực lượng về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho
xã hội, bao gồm toàn bộ dân số có thể phát triển bình thường cả về thể lực lẫn trí lực (không bị khiếm khuyết, dị tật bẩm sinh)
Như vậy, “lao động trẻ” hay “lao động trẻ tuổi” được hiểu là những
cá nhân trong độ tuổi thanh niên từ đủ 16 đến 30 tuổi làm việc, hoạt động có mục đích nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội Đây là những người tham gia quan hệ lao động nằm trong độ tuổi lao động được pháp luật thừa nhận
Trang 24Di cư
Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa về di cư (1958) như sau: “Di cư là một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc sự di chuyển với khoảng cách tối thiểu quy định Sự di chuyển này diễn ra trong một khoảng thời gian di cư xác định và đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên”
Trong khái niệm di dân, người ta còn phân biệt và đặc biệt quan tâm đến hai yếu tố cấu thành quá trình này là xuất cư và nhập cư Nhập cư và xuất
cư bao gồm sự chuyển đến và chuyển đi khỏi khu vực nào đó Dựa vào những quy ước nói trên mà hai cấu thành được xác định:
- Xuất cư là việc di chuyển nơi cư ra khỏi một đơn vị hành chính tạm thời hay vĩnh viễn, thời gian ngắn hoặc dài Đây là hiện tượng phổ biến ở nhiều quốc gia do tình trạng dự mức sống, thu nhập và lao động phân bố không đồng đều Xuất cư có ảnh hưởng đến mọi mặt kinh tế, văn hóa xã hội, nhân khẩu của địa bàn nơi đến cũng như nơi đi
- Nhập cư là sự di chuyển đến một khu vực hoặc đơn vị hành chính khác, thậm chí tại một quốc gia khác Quá trình này thường xuyên bị chi phối bởi nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo … Cũng như xuất cư, nhập cư có ảnh hưởng quan trọng đến địa bàn đầu đến và đầu đi Đặc biệt nhập cư đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nên các đơn vị hành chính mới ở một số khu vực còn thưa dân của một quốc gia, cũng như góp phần hình thành dân số của nhiều quốc gia trong lịch sử Hoa Kỳ, Canada, Ôxtrâylia, Morixớt
Sự chênh lệch giữa nhập cư và xuất cư gọi là di cư thuần túy, sự tương quan này sẽ làm cho trị số của gia tăng cơ học của dân số là dương (nếu số người xuất cư ít hơn số nhập cư) hoặc là âm (khi số người xuất cư nhiều hơn số người nhập cư)
Trang 25Nhập cư là hoạt động di chuyển chỗ ở đến vào một vùng hay quốc gia mới Người nhập cư là người dân di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để định cư hoặc tạm trú
Trên cơ sở mục đích của luận văn, di cư trong nghiên cứu này được
xác định là sự di chuyển về không gian của lao động trẻ khu vực nông thôn
vào Hà Nội, cư trú và làm việc tại khu công nghiệp Sài Đồng - Long Biên –
Hà Nội trong thời gian tối thiểu 3 tháng
1.1.2 Khái niệm dịch vụ y tế:
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): Dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch
vụ về chẩn đoán, điều trị bệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khoẻ Chúng bao gồm các dịch vụ y tế cá nhân và các dịch vụ y tế công cộng
Có nhiều quan niệm về dịch vụ y tế được phản ánh dưới những góc
độ khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ y tế chính là một loại hàng hóa công đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng Nội hàm bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng: Nhóm dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu (mang tính chất hàng hóa tư nhiều hơn có thể áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thị trường này) và nhóm dịch
vụ y tế công cộng như phòng chống dịch bệnh (mang tính chất hàng hóa công nhiều hơn)…do Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm
1.1.3 Khái niệm tiếp cận dịch vụ y tế
Tại Điều 2, Luật Khám bệnh chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày
23/11/2009 định nghĩa: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc
lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh; Người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
Dịch vụ y tế là dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khoẻ
cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thoả mãn kịp thời
Trang 26thuận tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng
và con người về chăm sóc sức khoẻ
Dịch vụ y tế gồm 2 yếu tố: Tiêu thụ và đầu tư, sức khoẻ là kết quả trực tiếp của việc tiêu thụ phúc lợi đồng thời người lao động có sức khoẻ sẽ đóng góp cho sản xuất và đầu tư
Tiếp cận là một cụm từ chung dùng để miêu tả mức độ một sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, hoặc môi trường có thể được sử dụng bởi càng nhiều người càng tốt Sự tiếp cận có thể được xem như khả năng sử dụng
và khả năng hưởng lợi từ một hệ thống dịch vụ khám chữa bệnh
Tiếp cận dịch vụ y tế là khả năng mà người sử dụng dịch vụ y tế khi
cần có thể đến sử dụng dịch vụ tại nơi cung cấp Tiếp cận đươc hiểu với nghĩa bao hàm cả đánh giá, cách nhìn nhận dịch vụ y tế theo quan điểm của người dân về các dịch vụ y tế theo không gian và thời gian, chi phí và chất lượng dịch vụ Tiếp cận dịch vu y tế bao gồm cả tiếp cận về chiều cạnh kinh tế, có nghĩa là mức độ mà mọi người có thể hoặc không thể chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà họ cần Tiếp cận về mặt địa lý là khoảng cách tới các cơ sở y tế và ảnh hưởng của nó tới việc sử dụng các dịch vụ của cơ sở y tế đó, nó còn được đo bằng cả phương tiện và thời gian đến cơ
sở y tế đó; tiếp cận về văn hóa – xã hội như ngôn ngữ, tập quán hoặc thái
độ giao tiếp có ảnh hưởng đến việc sử dụng các dịch vụ y tế
Sử dụng dịch vụ y tế là khả năng và mức độ được cung ứng các dịch
vụ chăm sóc, phát hiện và điều trị bệnh khác nhau theo nhu cầu và mức độ bệnh của người dân khi ốm đau Điều này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng, giá thành, mức độ bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cận của người dân
Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế là hai yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tuy nhiên tiếp cận và sử dụng dịch vụ không phải bao giờ cũng
Trang 27song hành cùng nhau, một khi người bệnh đã sử dụng thì có thể bao hàm cả yếu tố tiếp cận, song tiếp cận không có nghĩa là bao hàm cả sử dụng Một
ví dụ khác như khoảng cách ngắn (gần cơ sở y tế) của người có nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế sẽ làm tăng khả năng tiếp cận, nhưng việc lựa chọn và sử dụng các dịch vụ trên thực tế còn phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật, vào sự
tư vấn của thầy thuốc, mức độ chi phí, tính sẵn có, thông tin và sự hiểu biết
về dịch vụ
1.1.4 Khu công nghiệp
Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/3/2008 về Quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, khu công nghiệp được định nghĩa là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này
Theo Bách khao toàn thư mở Wikipedia: Khu công nghiệp còn gọi
là khu kỹ nghệ là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường Khu công nghiệp thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng Những khu công nghiệp có quy mô nhỏ thường được gọi là cụm công nghiệp
1.2 Các lý thuyết liên quan
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội
Đại diện cho lý thuyết này là nhà xã hội người Đức – Max Weber Ông cho rằng, hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học Nhiệm vụ của xã hội học là nghiên cứu các thiết chế xã hội như “nhà nước”, “tổ chức”,
“cộng đồng”,… với tư cách là hành động của cá nhân, là kiểu hành động của các cá nhân đang tương tác với nhau Weber đã chỉ ra sự khác nhau giữa hành
Trang 28động xã hội khác và những hành vi, hoạt động khác của con người Nói tới hành động là nói tới việc chủ thể gắn cho hành vi của mình một ý nghĩa chủ quan nào đó Hành động, kể cả hành động thụ động và không hành động (ví dụ hành động im lặng, hành động chờ đợi không làm gì cả), được gọi là hành động
xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính đến hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại hay trong tương lai; ý nghĩa chủ quan đó định hướng hành động
Không phải hành động nào cũng có tính xã hội hay đều là hành động xã hội Ví dụ, hành động chỉ nhằm tới các sự vật mà không tính đến hành vi của người khác thì không được coi là hành động xã hội Hành động giống nhau của các cá nhân trong một đám đông cũng không được coi là hành động xã hội Thậm chí hành động thuần túy bắt chước hay làm theo người khác cũng không phải là hành động xã hội Hành động đó có thể là hành động có nguyên nhân từ phía người khác, nhưng không có ý nghĩa hướng tới người đó, do vậy không được coi là hành động xã hội Tuy nhiên, cũng là hành động bắt chước người khác, nhưng nếu việc bắt chước đó là do mốt và mẫu mực, nếu không bắt chước theo sẽ bị người khác chê cười thì hành động bắt chước đó trở thành hành động xã hội Tóm lại hành động xã hội của Weber định nghĩa là hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác và vì vậy được định hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó
Thành tố trong cấu trúc của hành động xã hội là chủ thể hành động Chủ thể hành động có thể là các cá nhân, cộng đồng hay toàn thể xã hội Hành động xã hội là hành vi có ý nghĩa chủ quan nhất định đối với chủ thể thành động, nhưng nó cũng lại định hướng, đối chiếu các giá trị, mục đích, lợi ích
… với người khác Một thành tố khác trong cấu trúc của hành động xã hội là hoàn cảnh và môi trường hành động Sự ảnh hưởng của môi trường, bối cảnh
đã tác động đến việc lựa chọn hành động của chủ thể hành động
Trang 29Công thức hành động xã hội của ông là: hoàn cảnh tác động tới cá nhân nhưng cá nhân trước khi hành động suy nghĩ về những nhu cầu, những động
cơ của mình trong bối cảnh đó, từ đó sẽ tính toán những phương cách thực hiện các mục tiêu Như vậy, theo M.Weber con người không chỉ hành động như một phản xạ mà còn bị chi phối bởi thế giới nội tâm: tình cảm, tư duy Người ta không chỉ hành động khi có lợi mà còn vì cái mà người ta coi là có ý nghĩa Từ những quan điểm đó, M.Weber đã đưa ra hệ thống mang tính chất khuôn mẫu bao gồm bốn kiểu hành động:
- Hành động do cảm xúc: là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc tình cảm bộc phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động
- Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác
- Hành động hợp lý về giá trị: là những hành động có tính định hướng giá trị, là những hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân)
- Hành động hợp mục đích: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả nhất Loại hành động này chỉ có đến xã hội hiện đại mới được thực hiện đầy đủ
Áp dụng lý thuyết hành động xã hội nhằm giải thích và đánh giá tình hình chăm sóc sức khoẻ của người lao động trẻ tại khu công nghiệp Yếu tố nào là chủ yếu tác động, chi phối hành vi chăm sóc sức khỏe, đó là các yếu
tố quan niệm truyền thống trong xã hội; điều kiện kinh tế xã hội ngày một nâng cao; hay sự xã hội hóa về Y tế và chăm sóc sức khỏe
Trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế về khám chữa bệnh, các lao động trẻ có sự cân nhắc để lựa chọn các dịch vụ phù hợp với kinh tế, đi khám bệnh chữa bệnh tại trạm y tế hay bệnh viện, bệnh viện nhà nước hay
Trang 30phòng khám ngoài Lý thuyết hành động cho chúng ta thấy sự lựa chọn các dịch vụ dựa trên tính hệ thống
1.2.2 Một số lý thuyết xã hội học sức khỏe và y tế
Theo chủ nghĩa chức năng của các nhà xã hội học tiêu biểu như Emile Durkheim (1858-1917), Tacolt Parson (1902-1979), Robert Merton (1910- 2003), đã dựa trên giả thiết xã hội có một số các “nhu cầu” mà những nhu cầu này cần phải được thỏa mãn để có thể tồn tại Các nhà chức năng đã nghiên cứu những vấn đề khác nhau của xã hội để hiểu được mối liên hệ giữa chứng và chức năng để phát triển tính bền vững của xã hội Chủ nghĩa chức năng tập trung vào những khó khăn của nó trong việc giải thích xung đột xã hội và thay đổi xã hội
Các nhà chức năng phân tích sức khỏe bằng cách tập trung vào cái mà Parsons gọi là “vai trò của đau ốm”, trong đó sự trông chờ của xã hội có xu hướng khuôn cách thức một người ốm trong xã hội được trông chờ sẽ được đối
xử ra sao Ví dụ, khi bị ốm, một cá nhân thường không được trông chờ sẽ đóng những vai trò xã hội bình thường, sẽ đi tìm kiếm những hỗ trợ của thuốc men, và phục tùng theo những chỉ định chữa bệnh Khái niệm “vai trò đau ốm” định hướng chú ý mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân và kinh nghiệm chủ quan của người bệnh Nghiên cứu này sử dụng những lý giải của chức năng luận trong việc xem xét vai trò chức năng của các thiết chế xã hội tại khu công nghiệp trong việc chăm lo sức khỏe và đời sống cho lao động trẻ di cư Những chức năng này được thể hiên trong quy định chính sách liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến điều kiện sống và an sinh xã hội cho người lao động trẻ
Có những yếu tố tác động đến sức khỏe cá nhân như: sinh học, gen, môi trường; chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe; hành vi và lối sống Với những hiểu biết cơ bản, chúng ta có thể nhận thấy có một số yếu tố góp phần làm cho con người khỏe mạnh và duy trì được sức khỏe, cũng như những
Trang 31nguyên nhân làm cho con người bị đau ốm Những điều kiện khó khăn về nhà
ở, nơi làm việc, trong gia đình và cộng đồng dễ dẫn đến các vấn đề sức khỏe tâm thần Tuy nhiên khi chúng ta hiểu rõ và biết cách ứng phó với những nguy cơ tiềm ẩn thì có thể phòng tránh bệnh tật và những điều bất lợi cho sức khỏe Có thể phân loại các yếu tố quyết định đến sức khỏe thành bốn nhóm chính: yếu tố sinh học hay yếu tố di truyền; yếu tố về hành vi hay phong cách sống; yếu tố chất lượng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe và yếu tố môi trường, bao gồm cả môi trường tự nhiên và xã hội như: Không khí, nguồn nước, đất, điều kiện sống và làm việc…
Như vậy, dịch vụ y tế đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sức khỏe Các nhà xã hội học y học/sức khỏe đã chia các yếu tố tác động đến việc quyết định chọn, sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe thành 3 nhóm sau (theo Anderson và Newman, 1973):
- Các yếu tố thuộc về cá nhân;
- Các yếu tố liên quan đến nguồn lực;
- Các yếu tố liên quan đến mức độ ốm đau
Có thể để nhận thấy sự đa dạng của các yếu tố tác động đến quyết định chăm sóc sức khỏe của mỗi người
Có thể tìm hiểu những rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế của lao động trẻ tại khu công nghiệp Thông qua các yếu tố: Yếu tố thuộc về cá nhân (nhân khẩu học, đặc điểm xã hội, lòng tin); yếu tố liên quan đến nguồn lực (gia đình, cộng đồng); yếu tố liên quan đến mức độ ốm đau (cảm nhận, đánh giá) có thể thấy rõ nhưng yếu tố nào cản trở việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại khu công nghiệp Ở mỗi nhóm người lao động mỗi yếu tố cản trở sẽ xuất hiện khác nhau và tùy từng độ cản trở nhiều hay ít Thông qua tìm hiểu những rào cản chúng ta có thể đưa ra những giải pháp giúp cho lao động trẻ tiếp cận tốt hơn dịch vụ y tế, đồng thời cũng giúp họ hòa nhập dễ dàng hơn cuộc sống mới ở đô thị
Trang 321.2.3 Lý thuyết sựa lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn hợp lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỷ 18-19 Thuyết sự lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Theo Marx, mục đích của con người như
là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất, phương pháp của hành động và có ý chí của con người
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thực hiện có để đạt được trong điều kiện khan hiếm nguồn lực Phạm vi của mục đích đây không chỉ có yếu tố vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn có cả yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần
Định đề này được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau: Khi lựa chọn thông số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách nào mà họ cho là tính của xác suất thành công của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó là lớn nhất Tức là Homans đã nhấn mạnh đến đặc trưng thứ hai của sự lựa chọn hợp lý là quá trình tối ưu hóa Tương tự John Elster, dùng câu nói có vẻ đơn giản sau đây đã tóm lược nội dung cơ bản của thuyết lựa chọn duy lý Thuyết này cho biết “Khi đối diện với một số cách hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất”
So với các thuyết xã hội học khác, thuyết lựa chọn hợp lý được phát triển mạnh trong kinh tế học hiện đại Coi hành vi kinh tế là hành vi lựa chọn một cách duy lý, các nhà kinh tế học luôn chú ý đến các yếu tố vật chất như chi phí, giá cả, lợi nhuận, ích lợi để giải thích hành vi kinh tế Từ đó giải thích nhiều người suy luận ra để lý giải hành vi xã hội Như đối với câu hỏi: tại sao nhiều lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh tư nhân thay vì khám chữa bệnh bằng
Trang 33bảo hiểm y tế, có thể nói đến lý do dịch vụ khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y
tế không được đảm bảo bằng khám dịch vụ tư nhân
Georg Simmel nêu ra nguyên tắc “cùng có lợi” của mối tương tác xã hội giữa các các nhân và cho rằng mỗi cá nhân luôn phải cân nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuổi mục đích cá nhân, để thỏa mãn các nhu cầu các nhân Simmel cho rằng mọi mối tương tác giữa người với người đều dựa vào cơ chế cho – nhận tức là trao đổi những thức ngang giá nhau Như vậy,
xã hội được hiểu là mạng lưới các quan hệ trao đổi giữa các cá nhân Thuyết sự lựa chọn hợp lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của
cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu tư của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý chỉ được tác giả áp dụng để phân tích một phần trong các vấn đề cần nghiên cứu Cụ thể như lý do vì sao người lao động trẻ nhập cư hay lựa chọn các dịch vụ y tế khác nhau Nhận diện nguyên nhân gây ra rào cản lao động trẻ tiếp cận các dịch vụ y tế này Sự khác nhau giữa nhu cầu, mong đợi về chất lượng dịch vụ y tế, cơ sở hạ tầng của các dịch vụ y tế so với thực tế
Tiểu kết chương 1
Ở chương này, luận văn đã làm rõ các khái niệm liên quan về: lao động, lao động trẻ, di cư, dịch vụ y tế, tiếp cận dịch vụ y tế Bên cạnh đó cũng xem xét một số lý thuyết vận dụng vào vấn đề nghiên cứu của luận văn để làm cơ sở đánh giá và lý giải thực trạng, từ đó nhận diện các rào cản là nguyên nhân tác động đến việc tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục và dần xóa bỏ các rào cản đó
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CỦA LAO ĐỘNG TRẺ Ở KHU CÔNG NGHIỆP SÀI ĐỒNG – LONG BIÊN – HÀ NỘI
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Theo số liệu của Ủy ban nhân dân quận Long Biên cung cấp, khu công nghiệp Sài Đồng có diện tích 97.11 ha được hình thành xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 1996 nằm tại phường Sài Đồng và một phần diện tích tại phường Thạch Bàn - quận Long Biên, Thành phố Hà Nội cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 8km Khu công nghiệp Sài Đồng là hệ thống các Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc UBND Thành phố Hà Nội Ngày 11/3/1996, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 151/TTg phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN Sài Đồng B Sau đó, ngày 26/7/1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 583/TTg về việc cho phép Hanel thuê đất
để đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN Sài Đồng B tại quận Long Biên . Tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng: 120,36 tỷ đồng Quy mô phát triển KCN Sài Ðồngcó diện tích đất chiếm 97.11 ha và được phát triển làm 03 giai đoạn Giai đoạn 1 (48,5 ha), đã cho thuê Giai đoạn 2 (48,61 ha) Giai đoạn 3: Xây dựng các công trình phụ trợ khác Lĩnh vực ưu tiên: lắp ráp linh kiện điện
tử, sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi gia súc, bao bì, …
Cũng theo số liệu của Ban quản lý dự án – UBND quận Long Biên cho biết, trong khu công nghiệp Sài Đồng có khoảng 60 các đơn vị doanh nghiệp hoạt động như: công ty Trách nhiệm hữu hạn RF, Công ty Sam Sung SMD, công ty khuôn đúc Stukuba Việt Nam, công ty công nghệ tự động và rô – bốt Sài Đồng, công ty Wictor Vina, công ty phần mềm Hanel, công ty điện tử Jaewon Việt Nam, công ty dây Sumi Hanel, công ty Dynapac Hà Nội, …nên thu hút lượng lớn các lao động về làm việc và công tác tại đây Tính tới số
Trang 35liệu hiện tại năm 2016, khu công nghiệp Sài Đồng có gần 13.000 công nhân cán bộ làm việc tại khu công nghiệp Đặc biệt, trong khu công nghiệp còn xây dựng hệ thống nhà ở cho công nhân, cán bộ quản lý của các doanh nghiệp, nên lượng công nhân lao động di cư sống chủ yếu tập trung trong khu công nghiệp hoặc xung quanh khu công nghiệp thuộc các phường Sài Đồng, Thạch Bàn Từ đây, các nhu cầu về các vấn đề xã hội như: nhà ở, việc làm, y tế, giáo dục, tệ nạn,v,v…luôn là các vấn đề nóng tại địa bàn này, rất phù hợp và thuận lợi cho vấn đề nghiên cứu của tôi
2.1.2 Đặc điểm của các lao động trẻ
Nhóm công nhân nhập cư ở khu vực chính thức chủ yếu là những người làm việc trong các nhà máy, doanh nghiệp, công ty tại khu công nghiệp Sài Đồng Qua phiếu phỏng vấn người lao động trẻ tại KCN Sài Đồng cho thấy, phần lớn là những người trẻ tuổi từ 18-30 tuổi, chiếm 91,5% Tỷ lệ nữ công nhân (69,2%) nhiều hơn nam công nhân (30,8%) Trình độ học vấn chiếm tỷ lệ cao nhất là tốt nghiệp phổ thông trung học (69,5%), tiếp theo là Tốt nghiệp cấp 3 và
đã qua trường dạy nghề/công nhân kỹ thuật chiếm 18,2%, chỉ có tỷ lệ nhỏ tốt nghiệp trung cấp 9.5% Nguồn thu nhập chính của gia đình ở quê của công nhân
là tự sản xuất nông nghiệp (95,4%), tiền gửi về nhà của công nhân (63,7%), các công việc được trả lương khác (61%), làm thuê trong nông nghiệp (25,1%), kinh doanh và dịch vụ hộ gia đình (10,3%)
Các lao động trẻ đã có gia đình đến làm việc và sinh sống tại khu công nghiệp Sài Đồng chiếm tỉ lệ đáng kể Qua kế quả điều tra cho thấy tỷ lệ lao động trẻ nhập cư độc thân chiếm 60,6%, công nhập đã lập gia đình cũng chiếm tỷ lệ cao 39,4% Công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Sài Đồng đa
số đều xuất thân từ các vùng nông thôn, chủ yếu đến từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung Một vài năm trở lại đây, đã có một số công nhân quê ở phía Bắc, trước đây vào Nam tìm việc đã quay trở lại phía Bắc để làm việc, với hai lý
Trang 36do chính được đưa ra: sống trong Nam chi phí cao (mặc dù thu nhập cũng cao hơn), và muốn ra Bắc làm gần nhà để có điều kiện về thăm bố mẹ hoặc chăm sóc gia đình Từ khoảng năm 2014 - 2015, đã có khá đông lao động trẻ nhập
cư là người DTTS, ước tính chiếm khoảng 5-10%, chủ yếu là người Thái, Tày, Nùng, H’mong đến từ các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Đây là một xu hướng mới nổi, làm tăng thêm sự đa dạng về văn hóa, lối sống trong nhóm công nhân nhập cư tại các đô thị
Phần lớn người lao động trẻ trên địa bàn khu công nghiệp Sài Đồng đang làm việc trong những công ty 100% vốn nước ngoài, chỉ một số ít làm cho các công ty liên doanh, công ty tư nhân Việt Nam Phương thức tìm việc của họ chủ yếu qua bạn bè, người thân giới thiệu Theo phiếu phỏng vấn các lao động trẻ tại KCN Sài Đồng cho thấy, loại hình công việc chiếm số lượng lớn là làm việc trong ngành linh kiện điện tử (31,5%, ), phụ tùng lắp giáp xe máy, máy tính máy
in (20,1% ), sản xuất bao bì (18,6%) ) Tỷ lệ công nhân nữ chiếm đa số do đặc thù công việc đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ (nữ chiếm tỷ lệ lần lượt là 39,8% và 28,7%, còn nam chiếm tỷ lệ lần lượt là 6,3% và 5,4%) Nam công nhân làm nhiều hơn ở các công việc liên quan đến lắp giáp xe máy, bồn vệ sinh, bảo vệ
Bảng 2.1: Loại hình công việc chính của lao động trẻ tại KCN theo giới tính
(đơn vị %)
Trang 37Xét theo vị trí làm việc, lao động trẻ tại KCN Sài Đồng có thể được chia thành hai nhóm chính: nhóm có trình độ cao, tốt nghiệp cao đẳng/đại học làm việc tại các vị trí quản lý, hành chính hoặc giữ vị trí phụ trách chuyên môn kỹ thuật cao; nhóm có trình độ thấp hơn, tốt nghiệp THCS, THPT làm các công việc thủ công tại các dây chuyền sản xuất
2.2 Thực trạng tiếp cận các dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội
Theo Phiếu phỏng vấn lao động trẻ tại KCN Sài Đồng cho thấy, có 93.1% công nhân nhập có đến cơ sở y tế hoặc mời nhân viên về nhà để khám chữa bệnh Loại hình dịch vụ y tế mà công nhân thường xuyên sử dụng nhiều nhất đó là: bác sỹ Tây y gần nhà (92,1%), phòng khám tư nhân (94,6%), bệnh viện tuyến trên (34,1%)
Bên cạnh đó, các lao động trẻ đã lập gia đình cũng chọn thêm các dịch vụ y tế tại trạm y tế phường và bệnh viện tư, tuy nhiên tỉ lệ không cao (xem ở bảng trên ta có thể thấy tỉ lệ khám chữa bệnh và sử dụng dịch vụ y
tế tại trạm y tế phường và bệnh viện tư lần lượt là 1,7% và 2,9% Các lao động trẻ đã lập gia đình chọn trạm y tế để tiêm phòng cho con nhỏ hoặc khám các loại bệnh nhẹ Từ bảng 2.2 thấy rằng, đối với những lao động trẻ độc thân và đã kết hôn, tỉ lệ tiếp cận các dịch vụ y tế không có nhiều sự chênh lệch, phần lớn những người được hỏi đều đã từng sử dụng các dịch
vụ phòng khám bác sỹ tây y gần nhà, phòng khám tư nhân, bệnh viện tuyến trên, chỉ có số ít sử dụng phòng dịch vụ y tế tại trạm y tế phường, bệnh viện tư và phòng khám tại nhà máy/xí nghiệp
Trang 38Bảng 2.2: Loại hình dịch vụ y tế lao động trẻ tại KCN Sài Đồng thường xuyên
sử dụng, chia theo tình trạng hôn nhân (đơn vị %)
Nguồn: Khảo sát của đề tài luận văn tháng 9/2016
Theo bảng 2.3, với nhóm lao động trẻ có trình độ học vấn tốt nghiệp cấp 3, đã qua trường dạy nghề/công nhân kỹ thuật và tốt nghiệp trung cấp
có sự đa dạng hơn trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế như: bác sỹ tây y gần nhà, phòng khám tư nhân, bệnh viện tư, bệnh viện tỉnh Nhóm lao động trẻ có trình độ tốt nghiệp tiểu học và tốt nghiệp trung học cơ sở thường lựa chọn dịch vụ khám gần nhà chủ yếu như: bác sỹ tây y gần nhà, phòng khám
tư nhân Khi được hỏi về vấn đề này đối với các phòng khám y tế tại nhà máy/xí nghiệp, tất cả những người có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở cho biết đều đã từng khám tại đây, những lao động trẻ có trình độ học vấn cao hơn thì có tỷ lệ thăm khám tại phòng khám y tế tại nhà máy/xí nghiệp nhỏ hơn Bảng 2.3 cho thấy, trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn các loại hình dịch vụ y tế của các lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng Những người có trình độ học vấn cao thì sẽ có những lựa chọn nhiều hơn cho các dịch vụ y tế tại các phòng khám/bệnh viện lớn, những người
có trình độ học vấn thấp hơn thì cách chọn các loại hình dịch vụ y tế cũng
có phần dễ tính hơn, ưu tiên cho tính thuận tiện là chính
Trang 39Bảng 2.3: Loại hình dịch vụ y tế lao động trẻ KCN Sài Đồng
thường xuyên sử dụng, chia theo trình độ học vấn ( đơn vị %)
Loại hình dịch vụ Tốt
nghiệp tiểu học
Tốt nghiệp Trung học
cơ sở
Tốt nghiệp Phổ thông trung học
Tốt nghiệp cấp 3 và đã qua trường dạy nghề CNKT
Nguồn: Khảo sát của đề tài luận văn tháng 9/2016
Lao động trẻ nhập cư khám tại trạm y tế phổ biến là các bệnh như cảm sốt, đau đầu, chấn thương nhẹ, khám thai phụ… Hiện nay trung bình mỗi ngày số lượng bệnh nhân khám tại trạm khoảng 35 người, cao điểm lên đến
50 người trong đó theo ước tính khoảng 2/3 là lao động trẻ tại Khu công nghiệp mà chủ yếu là lao động trẻ nhập cư Có một số lượng không nhỏ công nhân không có bệnh nhưng vẫn đến khám để xin ngày nghỉ phép do theo quy định của các công ty, với những trường hợp nghỉ ốm phải có giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế Tỷ lệ khám thường tăng vào các ngày cuối tuần do công nhân khám xin giấy ốm để nghỉ về quê Đây cũng là một khó khăn với cán bộ trạm y tế khi phải giải thích với các trường hợp không có bệnh đến khám để xin giấy nghỉ ốm
Theo phiếu phỏng vấn các lao động trẻ tại KCN Sài Đồng, có 98% công nhân có thẻ BHYT, chỉ có 27,8% công nhân có sử dụng thẻ BHYT đi
Trang 40khám chữa bệnh Trong đó tỷ lệ lao động trẻ đã lập gia đình thường xuyên đi khám bằng thẻ BHYT là 80,6% cao hơn nhiều so với những lao động trẻ độc thân (19,4%) Tỷ lệ lao động nữ đi khám bằng thẻ BHYT là 69,9% cao gấp đôi so với tỷ lệ lao động nam (30,1%) Tuy nhiên, các lao động trẻ tại KCN Sài Đồng vẫn coi thẻ BHYT là để dự phòng khi ốm đau bệnh nặng, còn đa số vẫn sử dụng các dịch vụ y tế tư nhân để đi khám, chữa bệnh Với nhiều lý do được đưa ra : thủ tục khám BHYT lâu, thuốc không đầy đủ và có nhiều loại
thuốc đặc trị không có trong danh mục BHYT “Khám BHYT chờ đợi lâu,
thuốc không đầy đủ, khám dịch vụ nhanh chóng, thuốc đắt song bọn em phải chấp nhận” (PVS, nữ 29 tuổi, công nhân KHCN Sài Đồng).Công tác chăm
sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại phường Sài Đồng đã được cải thiện trong những năm gần đây Đội ngũ cộng tác viên dân số, y tế với 28 cán bộ được phân bổ ở các cụm dân cư đã hoạt động khá tốt, thường xuyên sâu sát nắm tình hình di biến động dân số, số lượng trẻ em, độ tuổi của trẻ… Do đó, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu (cho trẻ uống Vitamin, tiêm chủng mở rộng…) được thực hiện đầy đủ Hàng tháng, trạm tổ chức khám thai định kỳ (ngày mùng 5) và tiêm chủng mở rộng (ngày mùng 6) cho tất các các hộ dân thường trú và tạm trú trên địa bàn xã Trước mỗi đợt khám, cán bộ y tế tổ/thôn cộng tác viên dân số làm nhiệm vụ rà soát, lập danh sách đối tượng gửi về trạm y tế xã để tổng hợp và chuẩn bị số thuốc cần thiết Thời gian và địa điểm tổ chức khám sẽ được cán bộ
y tế cơ sở thông báo trực tiếp tới từng hộ gia đình hoặc thông qua các chủ nhà trọ (đối với hộ tạm trú), đảm bảo không bỏ sót đối tượng Tỷ lệ lao động trẻ nhập cư
có con được hưởng chế độ khám chữa bệnh miễn phí khá cao, chiếm 92,1% Các chế độ miễn phí dành cho trẻ em dưới 6 tuổi được hưởng là: khám và chữa bệnh, phát thuốc, tiêm phòng…
Tuy nhiên, tình trạng quá tải trong khám chữa bệnh và tiêm chủng vẫn tiếp tục tiếp diễn và ngày càng trầm trọng hơn tại trạm y tế phường Sài Đồng